1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Á - Phòng giao dịch Hà Huy Tập

82 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất như sau: - Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ IV về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980, đưa ra khái niệm: "Hộ là một

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Kết thúc khoá luận là khép lại những tháng ngày miệt mài trên giảng đường đại học Ở nơi ấy có biết bao kỷ niệm khó quên về hình ảnh ngôi trường quen thuộc về thầy cô, bè bạn … Tất cả sẽ đọng lại trong em thành một hồi ức tốt đẹp nhất

Nhân đây em xin chân thành cảm ơn Thầy cô trường đại học Thăng Long, đặc biệt là Thầy cô khoa Kinh tế - Quản lý đã không quản khó khăn vất vả trang bị cho chúng em những kiến thức thật hữu ích

Lòng biết ơn sâu sắc em xin gửi đến cô Th.s Nguyễn Phương Mai, tuy bận nhiều công việc nhưng cô đã trực tiếp tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Bên cạnh đó em cũng xin chân thành cảm ơn tất cả anh chị đang làm việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Á – Phòng giao dịch Hà Huy Tập đã hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình thực tập để hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình

Mặc dù đã có nhiều cố gắng cho bản thân nhưng do thời gian có hạn và hiểu biết thực tế của em còn hạn chế nên khoá luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi thiếu sót Rất mong thầy cô, các anh chị góp ý để khoá luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin kính chúc Thầy cô, các anh chị sức khoẻ dồi dào, công tác tốt

Em xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên thực hiện

Ngô Ngọc Minh Anh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng

Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

NGÔ NGỌC MINH ANH

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG CHO VAY HỘ SẢN

XUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1

1.1 Những vấn đề chung về hộ sản xuất 1

1.1.1 Khái niệm hộ sản xuất 1

1.1.2 Phân loại 1

1.1.3 Đặc điểm hộ sản xuất 2

1.1.4 Vai trò kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường 3

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất 4

1.1.5.1 Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên 4

1.1.5.2 Nhóm nhân tố điều kiện kinh tế - xã hội 5

1.1.5.3 Nhân tố từ bản thân hộ sản xuất 6

1.1.6 Xu hướng phát triển của hộ sản xuất kinh doanh 7

1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất 8

1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 8

1.2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng 8

1.2.3 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất kinh doanh 9

1.2.4 Các hình thức tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất 10

1.3 Rủi ro tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất 11

1.3.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 11

1.3.2 Đặc trưng của rủi ro tín dụng 11

1.3.3 Nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng 12

1.3.3.1 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài 12

1.3.3.2 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng 13

1.3.3.3 Nguyên nhân từ phía khách hàng 14

1.3.3.4 Nguyên nhân từ tài sản bảo đảm 15

1.3.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng 15

1.3.5 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng hộ sản xuất 17

1.3.5.1 Chỉ tiêu dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn HSX 17

1.3.5.2 Chỉ tiêu dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu 19

1.3.5.3 Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn tín dụng 19

1.3.5.4 Chỉ tiêu hệ số thu nợ 19

Trang 5

1.3.5.5 Tình hình tổn thất tín dụng 20

1.3.5.6 Khả năng bù đắp rủi ro 20

1.4 Quản trị rủi ro tín dụng 21

1.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng: 21

1.4.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng: 21

1.4.2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng 21

1.4.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng 22

1.4.2.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng 24

1.4.2.4 Tài trợ rủi ro tín dụng 24

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng 25

1.4.3.1 Yếu tố chủ quan 25

1.4.3.2 Yếu tố khách quan 25

1.5 Các dấu hiệu nhận biết RRTD HSX 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI Á – PHÒNG GIAO DỊCH HÀ HUY TẬP 29

2.1 Khái quát tình hình hoạt động của PGD Hà Huy Tập 29

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 30

2.1.3 Lĩnh vực hoạt động chính của PGD Hà Huy Tập 31

2.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn 31

2.1.3.2 Nghiệp vụ tín dụng 31

2.1.3.3 Nghiệp vụ thanh toán và ngân quỹ 32

2.1.4 Khái quát hoạt động kinh doanh của PGD Hà Huy Tập trong giai đoạn 2010 - 2012 32

2.1.4.1 Tình hình lợi nhuận của PGD trong giai đoạn 2010 – 2012 33

2.1.4.2 Hoạt động huy động vốn 35

2.1.4.3 Tình hình sử dụng vốn 37

2.1.4.4 Nghiệp vụ bảo lãnh 38

2.1.4.5 Nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu và chiết khấu Bộ chứng từ 39

2.2 Thực trạng cho vay hộ sản xuất của PGD Hà Huy Tập 39

Trang 6

2.2.1 Quy trình cho vay 39

2.2.2 Tình hình cho vay hộ sản xuất của PDG Hà Huy Tập 39

2.2.3 Tình hình thu nợ hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập 42

2.2.4 Tình hình dư nợ cho vay hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập 43

2.3 Thực trạng rủi ro trong cho vay hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập 45

2.3.1 Chỉ tiêu nợ quá hạn tín dụng hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập 45

2.3.2 Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn tín dụng 47

2.3.3 Chỉ tiêu hệ số thu nợ 47

2.3.4 Chỉ tiêu tổn thất tín dụng 48

2.4 Đánh giá thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập 48

2.4.1 Những thành tựu đạt được 48

2.4.2 Hạn chế còn tồn tại 49

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI NHTMCP ĐẠI Á- PGD HÀ HUY TẬP 52 3.1 Định hướng công tác tín dụng hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập 52

3.1.1 Mục tiêu 52

3.1.2 Định hướng 52

3.2 Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay HSX 53

3.2.1 Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp 53

3.2.2 Thực hiện tốt quy trình quản lý rủi ro tín dụng 55

3.2.3 Nâng cao công tác phân loại nợ, tăng cường theo dõi giám sát nợ 58

3.2.4 Đa dạng hóa hình thức cấp tín dụng HSX nhằm giảm thiểu rủi ro 59

3.2.5 Duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng 60

3.2.6 Nâng cao công tác phân tích và xử lý nợ xấu 61

3.2.7 Thiết lập cẩm nang rủi ro tín dụng 62

3.2.8 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 62

3.2.9 Hoàn thiện bộ máy quản lý rủi ro và xây dựng hoàn thiện hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro 63

3.2.10 Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng về năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp 64

Trang 7

3.3 Kiến nghị 65

3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước và cơ quan chính quyền các cấp 65

3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN Việt Nam 67

3.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Đại Á 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

KẾT LUẬN 70

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC

Trang

Bảng 1.1 Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor 23

Bảng 2.1 Tình hình lợi nhuận PGD Hà Huy Tập năm 2010 - 2012 33

Bảng 2.2 Nguồn vốn huy động tại PGD Hà Huy Tập năm 2010 - 2012 35

Bảng 2.3 Tình hình sử dụng vốn tại PDG Hà Huy Tập năm 2010 - 2012 37

Bảng 2.4 Doanh số cho vay hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập năm 2010 - 2012 40

Bảng 2.5 Doanh số thu nợ tại PGD Hà Huy Tập năm 2010 – 2012 42

Bảng 2.6 Dư nợ cho vay hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập năm 2010 – 2012 43

Bảng 2.7 Thực trạng nợ quá hạn hộ sản xuất tại PGD Hà Huy Tập 46

Bảng 2.8 Tốc độ luân chuyển tín dụng của HSX tại PGD Hà Huy Tập 47

Bảng 2.9 Hệ số thu nợ của HSX tại PGD Hà Huy Tập 47

Bảng 2.10 Tỷ lệ dự phòng RRTD HSX tại PGD Hà Huy Tập 48

Sơ đồ 1.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng 21

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Đại Á – PGD Hà Huy Tập 30

Sơ đồ 2.2 Quy trình cho vay HSX tại NHTMCP Đại Á - PGD Hà Huy Tập 39

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống Ngân hàng được ví như hệ thần kinh của

cả nền kinh tế Hệ thống Ngân hàng hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn tài chính luận chuyển, phân bổ sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng nền kinh tế một cách bền vững Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì rủi

ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, đặc biệt là rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp Sự sụp đổ của các Ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế cũng như chính trị, xã hội của một nước và có thể lan rộng sang quy mô quốc tế

Hiện nay hộ sản xuất ở nước ta họat động trên tất cả các lĩnh vực từ nông – lâm – ngư nghiệp đến tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ do đó tiềm năng của HSX là rất lớn Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế HSX hiện nay còn gặp nhiều trở ngại nhất là trở ngại về vốn Nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh của hộ là rất lớn, song

do quy mô sản xuất nhỏ nên nguồn vốn tích lũy để tái sản xuất kinh doanh còn ít Trước tình hình đó, các NHTM đặc biệt là NHTMCP Đại Á với chức năng và nhiệm

vụ phát triển kinh tế HSX đã và đang thực hiện nhiều dự án cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng nhiều của các hộ sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh Ngân hàng chứa đựng rủi ro rất lớn, nhất là những hoạt động cho vay Đối với hệ thống NHTMCP Đại Á thì cho vay HSX chiếm

tỷ trọng cao nhất Điều này đòi hỏi Ngân hàng Đại Á khi hoạt động trong lĩnh vực này cần quan tâm tới các vấn đề phòng chống rủi ro, đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời tránh tổn thất thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của đơn vị mình

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, cũng với quá trình học tập và thời gian thực tập tại NHTMCP Đại Á – PGD Hà Huy Tập, em đã quyết định chọn đề tài khóa luận của mình là: “Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay hộ sản xuất kinh doanh tại NHTMCP Đại Á – PGD Hà Huy Tập”

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chủ yếu tập trung nghiên cứu các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay HSX tại NHTMCP Đại Á – PGD Hà Huy Tập

Phạm vi nghiên cứu: Được thực hiện tại NHTMCP Đại Á – PGD Hà Huy Tập từ năm 2010 đến hết năm 2012

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế chủ yếu, từ sử dụng bảng biểu, sơ đồ, công thức, cho đến phương pháp tổng hợp và phân tích, so sánh, phương pháp toán học, qua đó rút ra kết luận tổng quát về vấn đề nghiên cứu

5 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro trong cho vay hộ sản xuất tại các Ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng và rủi ro trong cho vay hộ sản xuất tại NHTMCP Đại

Á – PGD Hà Huy Tập

Chương 3: Giải pháp kiến nghị nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay hộ sản xuất tại NHTMCP Đại Á – PGD Hà Huy Tập

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG CHO VAY HỘ SẢN

XUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề chung về hộ sản xuất

1.1.1 Khái niệm hộ sản xuất

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cho đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Cùng với sự phát triển của các nghành kinh tế, hơn hai mươi năm qua sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã có sự chuyển biến lớn Đảng

và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của hộ sản xuất, coi HSX như một nền tảng vững chắc cho sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá Đất nước

Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên Thế giới Chúng ta có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất như sau:

- Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ IV về quản lý nông trại tại Hà Lan năm

1980, đưa ra khái niệm: "Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác"

- Trên góc độ Ngân hàng: "Hộ sản xuất" là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ thể trong các quan

hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên

có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ "hộ sản xuất" là "hộ", "hộ gia đình"

Như vậy, HSX là một tổ chức kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh, tự tổ chức sản xuất kinh doanh theo định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, của địa phương và theo quy định của pháp luật HSX không chỉ độc lập tự chủ về kinh doanh mà còn tự chủ trong quản lý và tiêu thụ sản phẩm Do đó họ luôn luôn tích cực khai thác tiềm năng trí tuệ

và năng lực sản xuất của mình để tổ chức hoạt động kinh tế một cách phong phú và đa dạng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống, mở rộng sản xuất, tăng tích lũy chính cho bản thân mình và xã hội

1.1.2 Phân loại

- Theo địa phận ta có thể phân loại thành hai loại hộ:

+ Hộ sản xuất kinh doanh tại nông thôn có quy mô nhỏ, địa bàn hoạt động hẹp, tính chất chuyên môn hoá chưa cao, tích luỹ vốn nhỏ Với loại hộ này nhu cầu về

Trang 13

vốn thấp nhưng lại chiếm số đông trong xã hội, do vậy cần có phương thức đầu tư nhanh chóng, thuận tiện để tạo điều kiện cho họ tiếp cận được với Ngân hàng

+ Hộ sản xuất kinh doanh tại thành thị có quy mô lớn địa bàn hoạt động rộng, tính chuyên môn hoá cao, có sự phân công lao động, tích luỹ vốn tương đối lớn Với loại hộ này nhu cầu về vốn là tương đối lớn do vậy Ngân hàng cần xây dựng mối quan

hệ tốt để giữ chân khách hàng, tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài, uy tín

- Theo ngành nghề gồm có các loại sau:

+ Hộ sản xuất kinh doanh ngành nghề nông nghiệp + Hộ sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

+ Hộ sản xuất kinh doanh ngành thương nghiệp dịch vụ

+ Hộ sản xuất kinh doanh ngành thuỷ hải sản

+ Hộ sản xuất kinh doanh ngành khác

và chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của hộ mình

- Hộ sản xuất hoạt động trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, nhưng chủ yếu được chia thành các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất và kinh doanh khác Trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề phụ Lao động của hộ chủ yếu

là lao động thủ công, sử dụng lao động của chính gia đình, lấy công làm lãi do đó năng suất lao động chưa cao

- Đối với những hộ sản xuất trong các lĩnh vực kinh doanh khác (dịch vụ, chế biến, sản xuất công cụ, vận chuyển ) các hộ còn hạn chế về vốn, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý chưa cao, chưa có định hướng rõ ràng, thu nhập không

ổn định Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ diễn ra chậm, chưa đồng đều, hộ thuần nông vẫn còn chiếm một tỷ lệ cao

- Hộ sản xuất kinh doanh có sự tích luỹ vốn tương đối ít Do vậy, việc sử dụng vốn có phần hạn hẹp trong việc áp dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất lao động, mở rộng địa bàn hoạt động Sự chuyên môn hoá và phân công lao động cũng chưa cao, cho nên việc tổ chức quản lý vẫn cũn đơn giản Tuy vậy, HSXKD có một ưu

Trang 14

điểm là do quy mô nhỏ cho nên rất dễ chuyển đổi sang lĩnh vực khác khi điều kiện kinh doanh hiện tại gặp khó khăn Và do hộ sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ cho nên sản phẩm cũng có phần nghèo nàn và có địa bàn hoạt động nhỏ hẹp

1.1.4 Vai trò kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường

Hộ sản xuất là một lực lượng kinh tế quan trọng đóng góp không nhỏ vào tỷ trọng GDP hàng năm của cả nước, làm ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân gia đình và xã hội Khi nhắc tới thành tựu chung của nền kinh tế Việt Nam như giữ vị trí thứ 2 Thế giới về xuất khẩu gạo sau Thái Lan (tính đến 2012), đứng hàng đầu Thế giới

về xuất khẩu tiêu với sản lượng 116.000 tấn trong năm 2011 và 4 năm liên tiếp dẫn đầu về sản lượng xuất khẩu điều, đứng thứ 5 về sản lượng trà và thứ 6 về hải sản thì phải nói kinh tế hộ sản xuất đã đóng vai trò chính trong việc tạo ra một lượng hàng hóa lớn để phục vụ xuất khẩu Trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng tính đến năm 2012, có thể nhận thấy vai trò sản xuất to lớn của hộ thể hiện như sau:

- Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế chỉ huy sang nền

kinh tế thị trường

Lịch sử hình thành và phát triển sản xuất hàng hóa đã trải qua giai đoạn đầu tiên

là kinh tế chỉ huy sang kinh tế hàng hóa nhỏ trên quy mô hộ gia đình tiếp theo là giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hóa nhỏ lên kinh tế hàng hóa quy mô lớn, là nền kinh

tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ

- Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải

quyết được công ăn việc làm cho người dân

Việt Nam hiện có khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên việc sử sụng, khai thác nguồn nhân lực này còn đang ở mức thấp do trình độ còn thấp và khoa học kĩ thuật chưa phát triển Trong những năm vừa qua hàng triệu cơ sở sản xuất được thành lập bởi các hộ sản xuất nhờ

đó đã thu hút nhiều lao động và do đó đã giải quyết được một phần lớn công ăn việc làm cho người dân

- Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản

Trang 15

- Góp phần khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống

Sản phẩm của các làng nghề truyền thống chính là nét độc đáo của nông thôn Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc Lao động chính để tạo ra các sản phẩm đó chính là các HSX Chiến tranh và cuộc sống khó khăn thời bao cấp cùng với cơ chế thị trường đã làm mai một một số ngành nghề Nhưng ngày nay với chính sách của Đảng

và Chính phủ cùng với sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất rất nhiều ngành nghề truyền thống đã khôi phục và phát triển Nhiều nơi đã du nhập, phát triển nghề mới, cải

tổ nghề cũ, liên kết lại thành làng nghề, đời sống của người lao động không ngừng nâng cao Chính sự phát triển của ngành nghề truyền thống đã tạo ra sự phân công trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người dân góp phần xây dựng nông thôn mới, duy trì bản sắc văn hóa dân tộc

Người dân Việt Nam từ xưa đến nay vốn có lòng yêu nước cần cù, sáng tạo trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh Họ đã tạo ra khối lượng của cải vật chất vô cùng lớn như các mặt hàng cây công nghiệp, nông nghiệp, lương thực, thực phẩm phục vụ cho cuộc sống trong nền kinh tế thị trường

Hộ sản xuất kinh doanh là những người trực tiếp áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, nông nghiệp, sinh học, hoá chất thúc đẩy việc tăng năng suất lao động và thu nhập cho chính bản thân họ, tạo ra

sự phát triển cân đối nhịp nhàng nền kinh tế thị trường của Đất nước

Hộ sản xuất là người thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong xã hội, tạo ra sự phát triển toàn diện trong công nghiệp, nông nghiệp và trong các lĩnh vực khác, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội, tạo thêm nhiều công ăn việc làm góp phần vào xoá đói giảm nghèo

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất

1.1.5.1 Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên

- Đất đai: Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng quyết định đến kế hoạch sản

xuất, kết quả sản xuất của HSX Dựa vào tính chất đất được sử dụng mà hộ quyết định lựa chọn trồng cây gì cho phù hợp nhằm đem lại năng xuất cao nhất và có hướng cải tạo đất, áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp Ở Việt Nam, nhìn chung các HSX nông nghiệp có quy mô nhỏ, phân tán, manh mún Điều đó làm ảnh hưởng tới việc áp dụng

kỹ thuật vào trồng trọt giảm đáng kể năng suất lao động

- Khí hậu: Có ảnh hưởng lớn, quyết định đến quá trình sinh trưởng và phát

triển của cây trồng, vật nuôi Mỗi mùa, mỗi vùng miền lại có đặc trưng khí hậu khác nhau do đó đối tượng cây trồng, vật nuôi cũng được lựa chọn khác nhau Các yếu tố của khí hậu bao gồm: Nhiệt độ, độ ẩm, không khí, ánh sáng, lượng mưa… tác động

Trang 16

trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vật nuôi Mỗi sự biến đổi của khí hậu có thể gây ra thiệt hại lớn cho sản xuất hộ

Kết luận: Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ

nhất tới các hộ sản xuất trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp; các hộ sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ chịu ảnh hưởng ít hơn, gián tiếp

1.1.5.2 Nhóm nhân tố điều kiện kinh tế - xã hội

- Chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước

Kinh tế HSX là một mô hình của kinh tế nông nghiệp nông thôn do đó mọi chủ trương chính sách của Đảng tác động đến nông nghiệp đều trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế hộ

Trong văn kiện đại hội Đảng XI đã chỉ rõ: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch

cơ cấu lao động; tỉ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30 - 35% lao động xã hội Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

đã có những chương trình hành động, đưa cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư… đến từng hộ sản xuất, để hướng dẫn bà con cách chăm sóc cây trồng vật nuôi đúng kỹ thuật, cách phòng trừ sâu bệnh, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, vào sản xuất nông nghiệp như đưa vào nuôi trồng cây, con giống mới có chất lượng và sản phẩm cao; kỹ thuật bảo quản sản phẩm sau khi thu hoạch

Cùng với các chương trình hỗ trợ về kĩ thuật Nhà nước ta đã và đang tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ về vốn để các hộ sản xuất có điều kiện tiến hành sản xuất, mở rộng kinh doanh như quyết định hỗ trợ về lãi suất Thông qua hoạt động của

hệ thống ngân hàng, hộ sản xuất có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn ổn định, chi phí

sử dụng vốn thấp

- Cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật:

+ Cơ sở hạ tầng như: Hệ thống đường giao thông, mạng lưới điện, các hệ thống tưới tiêu, công trình thủy lợi… Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, tiêu thụ và chế biến thực phẩm Để sản xuất nông nghiệp phát triển và đạt hiệu quả cao thì các yếu tố cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước

+ Khoa học kỹ thuật: Hiện nay trình độ canh tác và áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong nông nghiệp ở nước ta còn thấp Đây là nguyên nhân quan trọng của tình trạng kém phát triển ở nông thôn Phong tục công tác truyền thống đôi khi còn gặp

Trang 17

nhiều khó khăn trong việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, cơ giới hoá nông nghiệp Đầu tư vốn cho sản xuất, tạo điều kiện cho người dân khai thác hết khả năng tiềm tàng hiện có của đất đai, ao hồ,…tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu cây con với hình thức chuyên môn hoá, sản xuất ra các loại hàng hoá có giá trị cao trên thị trường Đồng thời giúp người dân kiến tạo một cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ hiện đại, có khả năng chống thiên tai dịch hại, đưa sản xuất thoát khỏi sự lệ thuộc vào thiên nhiên Bên cạnh các công cụ sản xuất thủ công cũng đòi hỏi phải áp dụng máy móc hiện đại nhằm nâng cao năng suất lao động

- Môi trường kinh doanh

Nước ta đang trên con đường hội nhập với nền kinh tế thế giới Chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước đang trong quá trình điều chỉnh, đổi mới và hoàn thiện Sản xuất kinh doanh trong nước phải cạnh tranh gay gắt với hàng ngoại và nhập lậu Các HSX chuyển hướng và điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh không theo kịp với sự thay đổi của cơ chế và các chính sách Do đó, không ít hộ gặp khó khăn, hàng hoá vật tư tồn kho, dẫn đến thua lỗ, mất khả năng thanh toán, làm phát sinh

nợ quá hạn, nợ khó đòi Hệ quả là rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng

và Ngân hàng là điều khó tránh khỏi, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.1.5.3 Nhân tố từ bản thân hộ sản xuất

- Lao động: Về quy mô, hộ thường có 4 đến 5 khẩu; cơ cấu lao động của hộ đa

dạng cùng với bản tính cần cù, chăm chỉ là lợi thế lớn của hộ để tiến hành sản xuất kinh doanh Tuy nhiên một vấn đề đặt ra hiện nay đối với lao động của hộ là trình độ

kĩ thuật còn hạn chế, chủ yếu là lao động thủ công, trình độ quản lý yếu kém, chưa có kiến thức về kinh tế thị trường, thời gian lao động có tính thời vụ nên có hiện tượng

“thất nghiệp tạm thời” Vì vậy, ngoài việc hăng say lao động, họ phải thường xuyên học hỏi để nâng cao trình độ của mình, áp dụng những quy trình kỹ thuật mới vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất

- Vốn và nhu cầu vốn của hộ sản xuất:

Lao động thủ công, năng suất thấp là nguyên nhân làm cho quá trình tích tụ và tập trung vốn của hộ sản xuất diễn ra chậm chạp Vì vậy, để tái sản xuất mở rộng nhanh chóng hay tái sản xuất theo chiều sâu thì hộ sản xuất luôn gặp khó khăn về vốn, phải dựa vào vốn vay, vốn tự có chiếm tỷ lệ nhỏ

Nhu cầu vốn của hộ sản xuất rất đa dạng, nhằm thỏa mãn nhiều mục khác nhau như xây dựng cơ sở vật chất, mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, xây dựng nhà xưởng…

Trang 18

1.1.6 Xu hướng phát triển của hộ sản xuất kinh doanh

Để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong một Đất nước, Đảng và chính sách Nhà nước ta luôn luôn khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế trong đó có kinh tế hộ sản xuất kinh doanh Để có được những biện pháp, chính sách phù hợp, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất kinh doanh phát triển một cách nhanh chóng, chúng ta cần hiểu được xu hướng phát triển của kinh tế hộ trong thời gian tới Có 3 xu hướng phát triển chính:

- Xu hướng phát triển không đồng đều giữa các hộ sản xuất kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường hộ nào có thế mạnh quản lý, có vốn, có sức lao động, có điều kiện kỹ thuật thì hộ đó sẽ nhanh chóng phát triển Những hộ này sẽ nhanh chóng chuyển sang sản xuất hàng hoá và trở thành chủ thể sản xuất khá độc lập, ngược lại những hộ sản xuất nào không đủ các yếu tố trên có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh và sẽ trở thành những lao động làm thuê Như vậy, việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế từ nền kinh tế chỉ huy sang cơ chế thị trường một mặt làm tăng số hộ giàu, mặt khác cũng làm tăng sự phân cách giữa các hộ giàu và nghèo ở nước ta

- Xu hướng phát triển đa đạng các loại hình, các quy mô sản xuất

Tuỳ thuộc vào khả năng về vốn, lao động điều kiện tự nhiên các hộ sản xuất sẽ lựa chọn đối tượng, phương án sản xuất kinh doanh, quy mô sản xuất sao có hiệu quả nhất Nhờ vậy kinh tế hộ sản xuất kinh doanh phát triển đa dạng, các hộ có kinh nghiệm, có ruộng đất, không đủ điều kiện về vốn, kỹ thuật sẽ tập trung vào việc trồng lúa hoặc một số loại cây trồng, vật nuôi chính như hoa quả, lợn, gà, trâu, bò… Đối với những hộ có đủ điều kiện vốn, lao động, kỹ thuật thì tổ chức sản xuất kinh doanh tổng hợp kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi với kinh doanh ngành nghề phụ

- Xu hướng liên doanh, liên kết, hợp tác trong quá trình sản xuất

Để tồn tại và phát triển được trong cơ chế thị trường, các hộ sản xuất kinh doanh phải liên kết lại với nhau, hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau để nâng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và trên Thế giới Chính sự liên kết hợp tác đó đã tạo ra các hình thức hợp tác mới Sự liên doanh, liên kết hợp tác giữa các HSXKD không đồng nghĩa với việc tập trung sản xuất những đơn vị nhỏ thành xí nghiệp, hợp tác xã mà là hợp tác để tăng sức mạnh của từng đơn vị sản xuất Các hộ sản xuất hợp tác mà không thâu tóm, triệt tiêu lẫn nhau mà chỉ hợp tác những phần việc thực hiện không có hiệu quả khi trình độ sản xuất phát triển, có nhiều vấn đề hộ không tự giải quyết được như thông tin thị trường, khoa học công nghệ, do đó sự phát triển của kinh tế hộ đòi hỏi tất yếu phải hình thành các hình thức hợp tác kinh tế mới

Trang 19

1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất

1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả Tín dụng xuất phát

từ tiếng Latinh có nghĩa là sự tin tưởng (creditum) Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người

sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với lượng lớn hơn

Tín dụng Ngân hàng là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể khác,…) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Hiện nay, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng.”

1.2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng

- Tín dụng Ngân hàng là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao Vì tiền có giá trị theo thời gian Do sự phát triển kinh tế ngày càng nhanh kéo theo tốc độ lạm phát càng nhanh làm cho giá trị của tiền sụt giảm nghiêm trọng gây ra khó khăn cho việc mở rộng hoạt động thậm chí dẫn tới thua lỗ Do vậy kinh doanh trong lĩnh vực này cần nhà quản lý phải có một tầm nhìn chiến lược, nắm được sự thay đổi của các điều kiện kinh

tế xã hội để thay đổi thích ứng duy trì sự tồn tại

- Tín dụng Ngân hàng là tín dụng bằng tiền, không bị hạn chế về không gian và địa lý

- Tín dụng Ngân hàng vận động không hoàn toàn thống nhất với sự vận động của quá trình sản xuất kinh doanh thời kỳ sản xuất phát triển, nhu cầu về vốn vay rất lớn nhưng khả năng cung cấp vốn vay lại có hạn vì trong quá trình cạnh tranh người ta đều đổ xô vào việc đầu tư sản xuất nên cần nhiều vốn Ngược lại số người có tiền đem gửi lại rất ít

- Thời kỳ khủng hoảng, trì trệ sản xuất, khả năng cung cấp vốn vay lại rất lớn vì nhiều người không bỏ vào sản xuất mà đem gửi Ngân hàng Trong khi đó, nhu cầu về vốn vay lại giảm vì không có lĩnh vực nào đầu tư có lợi , lúc này chỉ có một số ít người

đi vay để đảm bảo khả năng thanh toán khỏi bị phá sản

Từ những đặc điểm trên mà tín dụng Ngân hàng đã khắc phục được các hạn chế của tín dụng thương mại Tín dụng Ngân hàng với nguồn vốn rất lớn và vốn bằng tiền

đã giải quyết linh hoạt mọi nhu cầu vốn phát sinh và ngày càng giữ vị trí quan trọng

Trang 20

1.2.3 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất kinh doanh

- Tín dụng Ngân hàng giúp đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế

Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi hộ Do đó, hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế diễn ra nhanh hơn, giúp cho người cần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục

và giúp cho người thừa vốn có thể bảo quản an toàn đồng thời kinh doanh kiếm lời

- Tín dụng Ngân hàng giúp thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn tập trung sản xuất của tín dụng Ngân hàng đã thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ

Bằng cách tập trung vốn vào kinh doanh các hộ có điều kiện để mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời Ngân hàng cũng đảm bảo hạn chế được rủi ro tín dụng

Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay Vì vậy Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông Trên cơ sở đó hộ sản xuất biết phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn

- Tín dụng Ngân hàng góp phần rút ngắn khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn, xoá bỏ phân hóa giàu nghèo góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội Tín dụng Ngân hàng chủ động khơi dậy mọi nguồn lực trong dân cư và không ngừng đáp ứng mọi nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế góp phần tăng thu nhập, ổn định đời sống

- Ngoài những vai trò trên tín dụng Ngân hàng cũng có vai trò trong việc xoá bỏ

tệ nạn cho vay nặng lãi

Qua nhiều năm đổi mới nền kinh tế, tín dụng Ngân hàng cũng chuyển hướng đầu

tư, bắt đầu đi vào từng làng nghề, từng ngành nghề, từng gia đình cần vốn cho sản xuất kinh doanh Nó góp phần làm thay đổi diện mạo xã hội, tạo ra những mối quan hệ kinh

tế lành mạnh, hạn chế và tiến tới góp phần xoá đi hoạt động cho vay nặng lãi

Kết kuận: Qua nghiên cứu chúng ta thấy tín dụng Ngân hàng có vai trò quan

trọng và nhạy cảm trong phát triển kinh tế của hộ sản xuất kinh doanh nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với đất nước trong giai đoạn mới Hoạt động có hiệu quả của Ngân hàng góp phần đáng kể vào việc thực hiện đường lối chính sách chung của Đảng và Nhà nước đã đề ra “Công

Trang 21

nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”, đưa toàn bộ nền kinh tế đi lên, xoá bỏ dần ranh giới về kinh tế giữa thành thị và nông thôn

1.2.4 Các hình thức tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất

- Căn cứ vào phương thức tổ chức cho vay

Có thể chia thành 2 hình thức tín dụng chính Ngân hàng cung cấp cho hộ sản xuất như sau:

+ Cho vay trực tiếp: Là quan hệ tín dụng trong đó khách hàng có nhu cầu về

vốn giao dịch trực tiếp với Ngân hàng để vay vốn và trả nợ Trong cho vay trực tiếp, việc cấp tín dụng có thể tồn tại dưới dạng song phương hoặc đa phương Với thể thức cho vay song phương, Ngân hàng giải ngân/thu nợ trực tiếp với khách hàng Với thể thức cho vay đa phương, hợp đồng tín dụng có nhiều bên tham gia, trong đó có bên thứ 3 (ngoài Ngân hàng và khách hàng cho vay) là những tổ chức có trách nhiệm cung ứng vật tư, hàng hóa hoặc bên thứ 3 là các đơn vị bao tiêu

+ Cho vay gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng cho tổ chức sản xuất thông

qua tổ chức trung gian Tổ chức trung gian thường là các doanh nghiệp chuyên chế biến kinh doanh những mặt hàng nông sản (Các tổ chức trung gian vay để ứng trước vốn cho các hộ sản xuất nông nghiệp) hoặc các đơn vị cấp vật tư nông nghiệp

- Căn cứ vào thời hạn cho vay

Hộ sản xuất tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhiều ngành nghề nên đối tượng cho vay rất đa dạng và phong phú Vì có nhiều mục đích vay vốn khách nhau nên thời hạn vay vốn cũng khác nhau Có thể chia tín dụng đối với hộ sản xuất thành hai loại:

+ Cho vay ngắn hạn đối với HSX: Là các khoản cho vay có thời hạn đến 12

tháng nhằm đáp ứng nhu cầu của HSX để mua các yếu tố đầu vào như: cây, con giống, phân bón, thuốc trừ sâu đối với HSX nông nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; hàng hóa đối với hộ kinh doanh

+ Cho vay vốn trung hạn đối với HSX: Là các khoản vay có thời hạn từ trên

12 tháng đến 60 tháng Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để xây dựng cơ sở vật chất như nhà kho, sân phơi đối với hộ sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; mua sắm máy móc phục vụ cơ khí hóa nông nghiệp đối với HSX nông nghiệp như máy cày, máy bơm nước, máy tuốt lúa, máy làm đất…, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh

+ Cho vay vốn dài hạn đối với HSX: Là các khoản vay có thời hạn cho vay

từ trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm nhằm đáp ứng nhu cầu mua, thuê thêm đất mở rộng trang trại, nông trại, cải tạo ruộng vườn, khai phá vùng đất

Trang 22

trồng rừng mới cải tạo hệ thống tưới tiêu nông nghiệp, cây ăn quả; cải tạo hệ thống tưới nông nghiệp, ao hồ nuôi trồng thủy sản; xây dựng kho chứa, mua dây chuyền bảo quản thực phẩm, mua ô tô vận chuyển hàng hóa… Các nhu cầu này đòi hỏi vốn lớn, lượng vốn bỏ ra không thu hồi được ngay trong vụ mùa tới mà phải khấu hao dần dần Lượng vốn này chỉ có thể được cung ứng một cách an toàn bằng nguồn vốn tín dụng dài hạn của Ngân hàng

- Căn cứ vào tài sản đảm bảo

+ Cho vay không đảm bảo: Là loại vay không có tài sản thế chấp, cầm cố

hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cấp tín dụng chủ yếu dựa vào mức độ tín nhiệm, uy tín, năng lực tài chính của HSX, phương án vay hiệu quả và khả thi

+ Cho vay có đảm bảo: Là loại vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như

thế chấp, cầm cố bằng tài sản của HSX, hoặc phải có sự bảo lãnh cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba hay cho vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay

1.3 Rủi ro tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất

1.3.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Theo khoản 1 điều 2 quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về phân loại nợ, trích và sử dụng

dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng thì rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro rín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xẩy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa

vụ của mình theo cam kết.”

Rủi ro tín dụng được hiểu một cách đơn giản là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay nhưng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng và có khả năng làm cho Ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản

Rủi ro tín dụng là một tất yếu mà các Ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn ra khỏi hoạt động tín dụng của mình, chúng ta cần chấp nhận sự tồn tại của rủi ro như một người bạn đồng hành trong kinh doanh ngân hàng, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ

1.3.2 Đặc trƣng của rủi ro tín dụng

RRTD là một yếu tố tất yếu trong kinh doanh của các ngân hàng, nó thể hiện ở các đặc trưng sau:

- Thứ nhất: Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp, tức là rủi ro xảy ra đối với

khách hàng vay vốn trước khi gây thiệt hại cho Ngân hàng Đặc tính này cho biết hầu hết những RRTD đều bắt đầu từ rủi ro của khách hàng, khi rủi ro xảy ra, người vay

Trang 23

vốn bị thiệt hại trong quá trình sản xuất kinh doanh dẫn đến thu nhập bị giảm hoặc mất trắng Nếu trong thời hạn cho vay kết thúc mà vẫn chưa tìm được nguồn trả nợ thì Ngân hàng sẽ chịu tổn thất do không thu hồi được vốn đã cho vay

- Thứ hai: Các loại RRTD có mối quan hệ mật thiết với nhau, khi một loại rủi

ro nào đó xảy ra sẽ kéo theo các rủi ro khác Ví dụ như khi rủi ro đọng vốn phát sinh, đồng vốn vay được khách hàng sử dụng không hiệu quả dẫn đến mất dần giá trị hay mất vốn là thường khó tránh khỏi

- Thứ ba: RRTD có tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng

của Ngân hàng thương mại Do không có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng đi vay (người trực tiếp sử dụng vốn vay trong thời gian dài) nên bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với Ngân hàng (không thu hồi được vốn vay, vốn thu hồi không đầy đủ và đúng hạn)

- Thứ tư: RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp của nguyên nhân, hình thức,

hậu quả của RRTD Đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản trị Ngân hàng phải lựa chọn chính sách quản lý rủi ro phù hợp với từng khoản vay, từng loại khách hàng khi thực hiện phòng ngừa rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất

kỳ dấu hiệu rủi ro nào; trong quá trình xử lý hậu quả RRTD cần xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp

1.3.3 Nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng

1.3.3.1 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài

- Môi trường tự nhiên: Thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán… Đây là nhóm

nguyên nhân bất khả kháng, Ngân hàng không thể thay đổi được mà phải chấp nhận rủi ro Ngân hàng chỉ có thể giảm thiểu hạn chế rủi ro chứ không thể triệt tiêu rủi ro

Nếu là tín dụng thương mại, rủi ro xảy ra là do nguyên nhân khách quan thì

Ngân hàng xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro của mình, do đó làm giảm thu nhập của Ngân hàng

Nếu là tín dụng chỉ định của chính phủ, rủi ro xảy ra, chính phủ sẽ bù đắp cho Ngân hàng Tuy nhiên vẫn có những ảnh hưởng nhất định đến kế hoạch sử dụng vốn của Ngân hàng

- Môi trường kinh tế: Các yếu tố như chu kỳ kinh tế, tỷ giá hối đoái, thất

nghiệp, lạm phát, lãi suất, chính sách tiền tệ đều ảnh hưởng đến Ngân hàng nhưng yếu

tố điển hình nhất là chu kỳ kinh tế Rủi ro tín dụng thường xảy ra khi kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái Khi đó lạm phát tăng cao kéo theo thất nghiệp và sự thắt chặt trong chính sách tiền tệ của NHNN làm cho các chủ thể kinh tế hoạt động kém hiệu quả, lợi nhuận suy giảm nên việc thanh toán nợ gặp nhiều khó khăn, rủi ro tín dụng

Trang 24

xuất hiện Ngược lại trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng các ngành kinh doanh nói chung đều có thuận lợi do đó để giữ mối quan hệ với Ngân hàng họ thường thanh toán

nợ gốc và nợ lãi đúng kì hạn Tỷ lệ thu hồi nợ tăng lên, đồng thời dư nợ tăng, các khoản nợ xấu đều giảm Đây là thời kỳ mà cả nhà đầu tư, Ngân hàng lẫn người dân đều mong đợi

- Môi trường chính trị, pháp luật: Môi trường chính trị không ổn định, chính

sách thường xuyên thay đổi, các khoản cho vay chính sách được thực hiện bởi NHTM, các văn bản pháp luật không nhất quán, mâu thuẫn, không rõ ràng (luật đất đai, luật phá sản, …) để đạt mục tiêu của người cầm quyền, sự tôn trọng pháp luật của người dân… sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng

1.3.3.2 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng

- Rủi ro đạo đức của cán bộ Ngân hàng + Rủi ro xuất phát từ phía nhà quản lý Nngân hàng

Về chủ quan, một nhà quản lý làm đúng chức năng, nhiệm vụ thì phòng ngừa được sự phát sinh của RRTD Nhưng trên thực tế, vì lợi ích cá nhân hay một nhóm tập thể cán bộ quản lý trong công tác điều hành đã vô tình hay cố ý tạo điều kiện, kẽ hở cho RRTD phát sinh Chẳng hạn khi nhà quản lý hay bộ phận nhóm cán bộ quản lý đã

có quan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù điều kiện vay vốn của khách hàng chưa hội

tụ đủ, thậm chí không đủ điều kiện và đã được CBTD thẩm định, ghi rõ ghi rõ nguyên nhân trong báo cáo thẩm định là không duyệt cho vay Thông thường thì những khoản vay không được phê duyệt, nhưng vì một lý do tế nhị nào đó, nhà quản lý hay nhóm cán bộ quản lý đã bằng cách này hay cách khác, hướng dẫn khách hàng hợp thức hóa

hồ sơ, thậm chí còn yêu cầu cán bộ tín dụng, thẩm định phải thực hiện theo ý kiến chỉ đạo Về khách quan, rủi ro trong quản trị kinh doanh NHTM như là một yếu tố tất yếu

là không thể tránh khỏi Song việc lựa chọn, bố trí sử dụng cán bộ, không đánh giá đúng năng lực cũng như phẩm chất, tư cách đạo đức nghề nghiệp thì sẽ dẫn đến sử dụng những cán bộ thiếu trung thực…

+ Rủi ro xuất phát từ phía cán bộ trực tiếp làm công tác tín dụng (cán bộ

tín dụng, cán bộ thẩm định…)

Cần nhấn mạnh rằng rủi ro trong hoạt động tín dụng là khó có thể tránh khỏi Dù CBTD, những người liên quan đến công tác thẩm định cho vay đã rất tận tâm nhưng không thể tránh được hoàn toàn rủi ro Vì một nguyên nhân khách quan là không phải khách hàng nào vay vốn Ngân hàng cũng đều kinh doanh có hiệu quả Có thể thấy rằng ở đâu chú trọng đến công tác tín dụng, luôn tuân thủ các quy trình xét duyệt, cho vay, kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay, thu hồi, xử lý nợ nghi ngờ, nợ xấu… thì

ở đó, chất lượng tín dụng cao và kiểm soát tốt, giảm thiểu rủi ro Ngược lại, ở đâu sự

Trang 25

quan tâm chú trọng không đầy đủ, đúng mức thì ở đó rủi ro cao Qua kết luận kiểm tra, kiểm toán nội bộ các Ngân hàng cho thấy, nhiều món vay kém chất lượng, tồn đọng không có khả năng thu hồi và có nguy cơ mất trắng đều có nguyên nhân thẩm định hồ

sơ sơ sài, hồ sơ có vấn đề, thiếu kiểm tra, kiểm soát Điều đó một phần do năng lực của cán bộ liên quan, nhưng một phần không nhỏ gây nên tình trạng đó là một bộ phận cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định… liên quan đến công tác cho vay bị sa sút về phẩm chất, đạo đức, thiếu trách nhiệm

- Rủi ro công nghệ và quy trình tín dụng chƣa hợp lý

Công nghệ của Ngân hàng lạc hậu, đặc biệt là công nghệ thu thập, xử lý thông tin dẫn đến thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng, tin cậy, kịp thời, chính xác để phân tích trước khi cấp tín dụng, làm cho chất lượng tín dụng không cao Thêm vào đó, kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng, việc xác định hạn mức tín dụng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng chưa phong phú; quy trình cho vay của Ngân hàng chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, mô hình quản lý tín dụng chưa phù hợp, chưa có bộ phận quản trị rủi ro chuyên biệt Những yếu kém về công nghệ là một nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

1.3.3.3 Nguyên nhân từ phía khách hàng

Rủi ro đạo đức trong kinh doanh của các NHTM không phải chỉ do cán bộ quản

lý, cán bộ nhân viên tín dụng của Ngân hàng mà còn do một số đối tượng là những khách hàng vay vốn Có thể thấy rõ rủi ro tín dụng xuất phát từ phía người vay vốn như sau:

- Đạo đức kinh doanh: Thông thường các HSX khi vay vốn Ngân hàng đều

phải có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Ngân hàng sẽ xét duyệt sau đó quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn hay không và nếu cho vay thì tối đa là bao nhiêu Trên thực tế, các HSX sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo Ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không ít Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp cầm

cố giả mạo, đi vay nhiều Ngân hàng với cùng một bộ hồ sơ gây thiệt hại lớn cho Ngân hàng

- Khả năng quản lý còn hạn chế: Các HSX vay tiền Ngân hàng với mục đích

chung là để mở rộng qui mô kinh doanh Tuy nhiên, đa số các hộ lại chủ yếu tập trung vốn đầu tư vào cơ sở vật chất chứ ít có hộ nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Khi

đó, quy mô kinh doanh quá lớn so với tư duy quản lý, điều này dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế

Trang 26

- Tình hình tài chính yếu kém và thiếu minh bạch: Trên thực tế, các HSX lập

sổ sách kế toán để Ngân hàng xét duyệt cho vay vốn nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi các cán bộ Ngân hàng lập các bảng phân tích tài chính của

hộ dựa trên số liệu do các hộ cung cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng

là lý do vì sao Ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là một chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng Cho nên trách nhiệm của các CBTD là khá nặng nề, chỉ một chút sai sót có thể gây thiệt hại cho Ngân hàng

1.3.3.4 Nguyên nhân từ tài sản bảo đảm

Tài sản bảo đảm có vai trò rất lớn trong quyết định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng, đó là nguồn thu nợ thứ hai của Ngân hàng trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đồng thời là cơ sở thúc đẩy khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay có hiệu quả Vì vậy, việc thẩm định không chính xác giá trị của tài sản bảo đảm hay các tài sản bảo đảm bị tranh chấp về pháp lý đều có thể gây nên rủi ro cho Ngân hàng Đối với các HSX, tài sản bảo đảm vay vốn có thể là các tài sản cố định như đất đai, nhà ở là những tài sản khó định giá Việc thẩm định giá trị tài sản theo giá thị trường là một vấn đề khó khăn cho Ngân hàng bởi cán bộ tín dụng của các Ngân hàng chưa được trang bị đầy đủ khả năng chuyên môn trong việc thẩm định Do đó CBTD thường xác định định giá bằng kinh nghiệm, cảm tính hoặc dựa theo báo cáo tài sản cố định của khách hàng nên Ngân hàng phải tự gánh chịu rủi ro khi thẩm định giá trị tài sản cao hơn giá trị thị trường của tài sản Các tài sản đảm bảo cũng có thể là những tài sản có tính chuyên dụng, đặc thù Do đó khả năng chuyển nhượng hoặc tìm người mua đối với tài sản này là rất khó khăn Thêm vào đó các tài sản bảo đảm cũng có thể biến động về giá trị thanh lý thấp hơn so với giá trị thẩm định ban đầu khiến cho Ngân hàng không thu hồi nợ đủ và lãi từ khách hàng vay

Trong một số trường hợp các tài sản dùng làm tài sản bảo đảm bị tranh chấp về mặt pháp lý gây rủi ro cho Ngân hàng Tài sản đồng sở hữu nhưng không có sự chấp nhận của tất cả các đồng sở hữu; tài sản bảo đảm cho nhiều khoản vay nhưng không có thông tin lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng, không có quy định rõ ràng; sự phân chia quyền hạn trong tài sản bảo đảm không có thỏa thuận trước khiến cho việc dùng tài sản đảm bảo gặp khó khăn

1.3.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng

Thứ nhất, đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng là khách

hàng, khi phát sinh rủi ro tín dụng thì phần lớn đều năm trong tình trạng kinh doanh sa sút hoặc nằm bên bờ phá sản Do đó, khách hàng đứng trước tình trạng phá sản, mất khả năng kinh doanh

Thứ hai, đối với các NHTM thì RRTD tác động đến nhiều mặt:

Trang 27

- RRTD tỷ lệ nghịch với chất lượng tín dụng và làm tăng chi phí cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Theo đó, chất lượng tín dụng càng cao thì rủi ro càng thấp

và khi chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì rủi ro tín dụng lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Hiện nay, ở các tổ chức tín dụng hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn, thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu chính của Ngân hàng, chiếm tới 70% thu nhập Khi xẩy ra rủi ro tín dụng, Ngân hàng không những không thu được lợi mà vẫn phải thanh toán lãi huy động vốn Đồng thời, các chi phí khác tiếp tục phát sinh và có xu hướng tăng cao như chi phí quản lý nợ xấu, các chi phí khách có liên quan đến kết quả kinh doanh thua lỗ khác

Từ đó, làm hạn chế mở rộng tăng trưởng tín dụng, làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng Ngược lại, nếu Ngân hàng kiểm soát tốt rủi ro tín dụng thì để đảm bảo toàn bộ chi phí

và trên cơ sở đó mở rộng quy mô hoạt động của Ngân hàng

- RRTD làm giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng Dù có rủi ro hay không thì Ngân hàng vẫn phải thanh toán vốn huy động trong khi việc bù đắp thiếu hụt từ những nguồn vay khác là rất khó khăn Kết quả là các chi phí kinh doanh bị phá vỡ, Ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản Nếu mức độ rủi ro ngày càng tăng đến mức bản thân Ngân hàng nói riêng và NHNN nói chung không thể kiểm soát được thì Ngân hàng đó sẽ phải tuyên bố phá sản

- RRTD làm giảm uy tín, mất lòng tin của xã hội Một Ngân hàng nếu gặp nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng mà không khắc phục sẽ gây mất lòng tin của các đối tác trong kinh doanh cũng như những người gửi tiền tại Ngân hàng Tất yếu dẫn đến khả năng huy động vốn và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng bị giảm sút

Thứ ba, hệ thống tài chính của một quốc gia: Sự ràng buộc và ngày càng chặt

chẽ giữa các trung gian tài chính trong hệ thống tài chính là yếu tố làm cho hậu quả của rủi ro tín dụng ngày càng trầm trọng hơn Do sự ràng buộc chặt chẽ này rủi ro tín dụng sẽ làm cho hiệu ứng đổ vỡ, hiệu ứng dây chuyền xuất hiện, khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng trầm trọng

Thứ tƣ, RRTD làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành

mạnh của hệ thống tài chính, cũng như hiệu lực của các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ

Tóm lại, từ những hậu quả nặng nề do rủi ro tín dụng gây ra cho thấy sự cần

thiết quan tâm đến hoạt động xác định, đo lường, kiểm soát rủi ro tín dụng để từ đề ra những giải pháp phù hợp Đó không chỉ là nhiệm vụ của Ngân hàng mà còn là các chủ thể liên quan khác

Trang 28

1.3.5 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng hộ sản xuất

1.3.5.1 Chỉ tiêu dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn HSX

Nợ quá hạn là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế Nó tác động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sử đổi một số điều của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì “Nợ quá hạn là khoản

nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”

Dư nợ quá hạn HSX là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền Ngân hàng chưa thu hồi kể từ ngày đến hạn thanh toán Dư nợ quá hạn HSX thấp có thể coi là RRTD với HSX là thấp, tuy nhiên để đánh giá chính xác hơn, Ngân hàng còn dung các chỉ tiêu tương đối sau:

Tỷ lệ nợ quá hạn HSX =

- Nợ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng

suy giảm khả năng trả nợ Hay bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại;

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này

- Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín

dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi Hay bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 90-180 ngày;

Trang 29

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn

đã cơ cấu lại;

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này

- Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là khả năng tổn thất cao Hay bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại;

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này

- Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức

tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Hay bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

+ Các khoản nợ khoanh chớ chính phủ xử lý + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn

đã cơ cấu lại;

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 và

khoản 4 điều này

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng cho vay HSX có bao nhiêu đồng bị

nợ quá hạn Đây là chỉ tiêu quan trọng giúp cho các NHTM lường trước được những hậu quả có thể xảy ra và biện pháp phòng ngừa sớm Theo đánh giá của NHNN, tỷ lệ

nợ quá hạn < 2% được coi là hợp lý Tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng, làm cho Ngân hàng bị ứ đọng vốn tại các khoản vay và do

đó chi phí cơ hội của Ngân hàng tăng lên

Tuy nhiên, có thể thấy rằng do dư nợ quá hạn và tổng dư nợ không vượt quá được xác định tại một thời điểm nhất định nên tỷ lệ nợ quá hạn không phản ánh đúng thực chất chất lượng tín dụng của Ngân hàng Trong điều kiện nền kinh tế gặp khó khăn, cho dù các Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá cao nhưng tỷ lệ mới có khả năng thu hồi lớn thì vẫn được coi là chất lượng tín dụng ổn định (với giả định các yếu tố khác không đổi) Do đó, khi đánh giá RRTD HSX, các Ngân hàng thường quan tâm đến 3 nhóm nợ: Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (Nhóm nợ có khả năng thu hồi), nhóm nợ nghi

ngờ (Nhóm nợ khó có khả năng thu hồi), nhóm nợ có khả năng mất vốn (Nợ khó đòi)

Trang 30

1.3.5.2 Chỉ tiêu dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của NHNN thì “Nợ xấu” được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)”

Như vậy, nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: Đã quá hạn và khả năng trả nợ

đáng lo ngại Dư nợ xấu HSX cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng thấp, các khoản nợ nghi ngờ vẫn chưa được thu hồi, vốn vẫn bị ứ đọng Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh chất lượng tín dụng HSX Để chính xác hơn Ngân hàng thường kết hợp với chỉ tiêu tương đối, tỷ lệ nợ xấu HSX

Tỷ lệ nợ xấu HSX =

Dƣ nợ xấu HSX

x 100%

Tổng dƣ nợ HSX

Ý nghĩa: Tỷ lệ nợ xấu HSX phản ánh trong 100 đồng dư nợ HSX có bao nhiêu

đồng nợ xấu Tỷ lệ này cao sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng, mức độ

an toàn đối với cho vay HSX thấp Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu ở mức 3% được coi là tốt, phù hợp với mức của hệ thống Ngân hàng

1.3.5.3 Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng

HSX =

Doanh số thu nợ HSX

Dƣ nợ bình quân trong kỳ HSX

Ý nghĩa: Vòng quay vốn tín dụng phản ánh tốc độ luân chuyển vốn tín dụng,

thời gian thu hồi nợ vay nhanh hay chậm trong một thời gian nhất định Nếu số vòng quay tín dụng càng cao thì chứng tỏ đồng vốn tín dụng của Ngân hàng quay càng nhanh

1.3.5.4 Chỉ tiêu hệ số thu nợ

Hệ số thu nợ HSX =

Doanh số thu nợ HSX

x 100%

Doanh số cho vay HSX

Ý nghĩa: Hệ số thu nợ đánh giá khả năng thu hồi nợ từ đồng vốn Ngân hàng cho

vay ra Nếu hệ số thu nợ này cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của Ngân hàng tốt, rủi

ro tín dụng thấp Nếu hệ số này thấp cho thấy việc đầu tư tín dụng có khả năng gặp rủi ro

Trang 31

1.3.5.5 Tình hình tổn thất tín dụng

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN thì “nợ có khả năng mất vốn” có thể được định nghĩa theo định lượng hoặc định tính như sau:

- Theo định lượng: “Nợ có khả năng mất vốn là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý và các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn trên 90 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại, các khoản nợ khoanh chờ xử lý”

- Theo định tính: “ Nợ có khả năng mất vốn là các khoản nợ được các tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi vốn, mất vốn”

Chỉ tiêu đo lường rủi ro mất vốn:

Tỷ lệ dự phòng RRTD

HSX =

RRTD đƣợc trích lập cho vay HSX

x 100%

Dƣ nợ HSX cho kỳ báo cáo

Số tiền dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ được tính theo công thức sau:

R = max {0, ( A- C )} x r

Trong đó:

R: Là số tiền dự phòng cụ thể phải trích A: Số dư nợ gốc của khoản nợ

C: Giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm R: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng cho vay HSX thì có bao nhiêu

đồng phải trích lập dự phòng RRTD Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng đối với cho vay HSX càng cao thì RRTD của Ngân hàng đối với danh mục cho vay HSX có nguy cơ cao hơn chất lượng danh mục chất lượng tín dụng này thấp

1.3.5.6 Khả năng bù đắp rủi ro

Tín dụng là nghiệp vụ đóng vai trò chủ chốt trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của Ngân hàng Tuy nhiên đây là hoạt động có tỷ lệ rủi ro cao nhất Do đó để giảm thiểu rủi ro

và đảm bảo rằng khi có RRTD xảy ra Ngân hàng vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu thanh khoản và không đứng bên bờ vực phá sản thì các Ngân hàng đều trích lập dự phòng RRTD

Chỉ tiêu được sử dụng để đo lường khả năng bù đắp RRTD từ cho vay HSX mà các Ngân hàng thường sử dụng

Trang 32

Hệ số khả năng bù đắp RRTD

HSX =

RRTD được trích lập cho vay HSX

x 100% NQH khó đòi cho vay HSX

Trong đó:

Nợ quá hạn khó đòi cho vay HSX = Nợ có khả năng mất vốn cho vay HSX

Hệ số khả năng bù đắp RRTD với HSX dùng để tính toán cho các khoản vay HSX có khả năng không thu hồi được Hệ số này phản ánh cứ 100 đồng nợ quá hạn khó đòi đối với HSX thì có bao nhiêu đồng được bù đắp bởi dự phòng RRTD Để đảm bảo an toàn Ngân hàng phải hạn chế đến mức thấp nhất nợ quá hạn khó đòi đối với cho vay HSX

1.4 Quản trị rủi ro tín dụng

1.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng:

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng

1.4.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng:

Sơ đồ 1.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng

(Nguồn: Theo quy trình quản trị rủi ro của NHTMCP Đại Á)

1.4.2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng

Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục và có hệ thống trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nhận diện rủi ro tín dụng bao gồm các công việc: Theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động tín dụng và toàn bộ hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro

đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với Ngân hàng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng phù hợp Để nhận diện rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dấu hiệu rủi ro đã, đang và có thể xảy ra đối với Ngân hàng bằng phương pháp:

- Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra;

- Phân tích tài liệu, thông tin về HSX, về phương án hoặc dự án vay vốn, báo cáo tài chính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ;

- Phương pháp lưu đồ; thanh tra hiện trường; phân tích các hợp đồng;

Nhận diện Đo lường Kiểm soát Tài trợ

Trang 33

- Làm việc với các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan

1.4.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng

Đo lường rủi ro tín dụng là việc Ngân hàng xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro tín dụng Từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng, cũng như trích lập quỹ dự phòng để tài trợ cho RRTD

Để đo lường rủi ro, Ngân hàng cần thu thập số liệu, thông tin và phân tích, đánh giá rủi

ro Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro

Có hai phương pháp cơ bản để phân tích, đo lường RRTD là phương pháp định tính và phương pháp định lượng Hai phương pháp này không loại trừ lẫn nhau mà hỗ trợ lẫn nhau để phân tích, đo lường RRTD Do vậy, tùy tình hình thực tế mà Ngân hàng có thể sử dụng một trong hai phương pháp hoặc sử dụng cả hai phương pháp để đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng

Phương pháp định lượng: Một số chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá RRTD là: Tỷ lệ nợ xấu; Tỷ lệ nợ quá hạn; Tỷ lệ dự phòng RRTD; Hệ số khả năng bù đắp RRTD

Phương pháp định tính:

- Mô hình 6C

+ Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin

vay của khách hàng, mục đích xin vay của họ có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành củaNgân hàng và phủ hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng không? Đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như từ: Trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ Ngân hàng khác, từ các cơ quan thông tin đại chúng…

+ Năng lực của người vay (Capacity): Tuỳ thuộc vào quy định của quốc gia

Người đi vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

+ Thu nhập của người đi vay (Cashflow): Xác định nguồn trả nợ của khách

hàng như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền bán thanh lý tài sản hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính

+ Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để Ngân hàng cấp tín

dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể trả nợ vay cho Ngân hàng

+ Các điều kiện (Conditions): Các Ngân hàng quy định các điều kiện tùy

theo chính sách tín dụng từng thời kỳ

+ Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề này như sự thay đổi của

luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng đến khách hàng hay

Trang 34

không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của Ngân hàng hay không?

Mô hình 6C tương đối đơn giản, song hạn chế của nó là nó phụ thuộc vào mức

độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng

- Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor

Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay, trong đó Moody và Standard & Poor là những công ty cung cấp dịch vụ này tôt nhất

Bảng 1.1 Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor

CCC-CC Đầu cơ có rủi ro

C Trái phiếu có lợi nhuận DDD-D Không hoàn được vốn

Trang 35

Moody và Standard & Poor xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay theo 9 hạng theo chất lượng giảm dần từ Aa (Moody’s) và AA (Standard & Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó 4 hạng đầu Ngân hàng nên cho vay, còn các hạng sau thì không nên đầu tư, cho vay Nhưng thực tế do phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi nhuận nên những khoản cho vay tuy được xếp hạng thấp nhưng lại có lợi nhuận cao nên đôi lúc Ngân hàng vẫn chấp nhận đầu tư vào những khoản này

1.4.2.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng

Kiểm soát rủi ro tín dụng là sử dụng các biện pháp, các kỹ thuật, các công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với Ngân hàng

Một số biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng:

Cũng như đối với các loại rủi ro khác, kỹ thuật tài trợ rủi ro tín dụng bao gồm các phương án: Tự khắc phục; chuyển giao rủi ro; trung hòa rủi ro

- Trích lập quỹ dự phòng rủi ro Việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro là nhằm giúp Ngân hàng chủ động đối phó với những tổn thất tín dụng dự kiến Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng rủi ro chung và

dự phòng rủi ro cụ thể

- Thu hồi các khoản nợ đã xử lý rủi ro Những khoản vay đã xử lý rủi ro khó thu hồi được theo dõi riêng và từng trường hợp có biện pháp và xử lý cụ thể

Trang 36

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng

1.4.3.1 Yếu tố chủ quan

- Trình độ nhận thức của các cán bộ quản trị rủi ro tín dụng: Các cán bộ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc hạn chế rủi ro tín dụng, chưa có những đánh giá chính xác về khách hàng và khả năng trả nợ của họ Cán bộ chưa có những đánh giá chính xác về phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng, đối tác tham gia bảo lãnh, không dự báo được những vấn đề phát sinh từ phía khách hàng có thể gây bất lợi cho khách hàng

- Hệ thống thông tin đánh giá khách hàng và quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng chưa đạt được yêu cầu về sự tổng hợp và thống nhất: Hệ thống thông tin chưa đầy đủ và thiếu cập nhật đã khiến cho quá trình đánh giá rủi ro gặp nhiều khó khăn Ngân hàng chưa có đủ thông tin về thị trường, không có những kênh thông tin chính xác để kiểm tra về các khách hàng

- Mức độ phức tạp của các hoạt động Ngân hàng: Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng đa dạng và phức tạp đem lại lợi nhuận ngày càng lớn tuy nhiên mức độ rủi ro cũng ngày càng cao hơn

1.4.3.2 Yếu tố khách quan

- Do môi trường pháp lý chưa đầy đủ chặt chẽ, các quy định còn thiếu và chưa đồng bộ Các thay đổi trong các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, trong tiến trình hội nhập quốc tế

- Do các biến động bất thường về tỷ giá hối đoái, lãi suất ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng Hệ thống thông tin về các HSX do các cơ quan khác cung cấp không chính xác, trung thực

Kết luận: Việc phát triển công tác quản trị rủi ro tín dụng phụ thuộc vào nhiều

yếu tố như: Nhận thức về quản trị rủi ro, hiệu quả bộ máy tổ chức, trình độ CBCNV

Do vậy, việc hoàn thiện và nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng là hoàn thiện và nâng cao những yếu tố đó Vấn đề này ở Ngân hàng cần có bộ phận chuyên trách

1.5 Các dấu hiệu nhận biết RRTD HSX

Việc sản xuất kinh doanh của HSX có thể thất bại qua một đêm hay chỉ qua một

sự biến động bất thường của thời tiết đối với các hộ sản xuất nông nghiệp, hộ nuôi trồng thủy sản, hay biến động của nền kinh tế, nhu cầu của thay đổi của thị trường,…

do vậy mà sự thất bại thường có một số dấu hiệu báo động Có dấu hiệu mờ nhạt, có dấu hiệu biểu hiện rõ ràng Ngân hàng cần phải chú ý là các dấu hiệu này đôi khi được nhận ra qua một quá trình xử lý chứ không hẳn là một thời điểm, do vậy, CBTD phải

Trang 37

biết cách nhận biết chúng một cách có hệ thống Ta có thể xếp các dấu hiệu của RRTD thành các nhóm sau:

- Nhóm 1: Dấu hiệu liên quan đến ngân hàng, thể hiện:

+ Khách hàng thanh toán tiền vay không đúng kế hoạch Đây là dấu hiệu rõ ràng và có ý nghĩa nhất để nhận biết rủi ro tín dụng xảy ra

+ Lãi suất cao cho vay của Ngân hàng cao bất thường do Ngân hàng cố gắng

bù đắp rủi ro Lãi suất cho vay quá cao khiến cho chi phí trả lãi Ngân hàng của HSX tăng cao làm giảm thu nhập và khả năng trả nợ của HSX

+ Các nhà cung cấp hiện tại hoặc tương lai của HSX liên lạc với Ngân hàng

để hỏi thăm những thông tin về tín dụng của khách hàng nợ Các nhà cung cấp các yếu

tố đầu vào như hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị… cho sản xuất của hộ

+ Tài sản thế chấp không đủ tiêu chuẩn theo quy định + Việc trông chờ của khách hàng vào các nguồn vốn bất thường để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, còn có thể là thanh toán cho nhà cung cấp hay để trả nợ Ngân hàng

+ Không có báo cáo hay dự đoán về dòng tiền Sản xuất kinh tế hộ thông thường là sản xuất nông nghiệp, thương mại dịch vụ nhỏ lẻ Khác với các doanh nghiệp các HSX thường không có báo cáo tài chính, báo cáo dự đoán dòng tiền Điều

đó gây khó khăn cho Ngân hàng trong việc xác định khả năng trả nợ vốn vay do sản xuất của hộ mang nặng tính thời vụ và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

+ Yêu cầu gia hạn nợ kém hiệu quả, HSX đã được gia hạn nợ tuy nhiên không có hiệu quả (vốn gốc trước mỗi lần gia hạn giảm không đáng kể)

- Nhóm 2: Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng,

thể hiện:

+ Chủ hộ và các thành viên trong hộ luôn bất đồng về mục đích, điều hành sản xuất kinh doanh, phương pháp điều hành sản xuất của chủ hộ độc đoán, hay quá dễ dãi trong quản lý sản xuất của hộ

+ Kế hoạch sản xuất kinh doanh của hộ, như buôn bán gì, nhu cầu mục đích

sử dụng vốn như thế nào, tiêu thụ như thế nào, chỉ được quyết định bởi chủ hộ có trình

độ hiểu biết kỹ thuật không cao dẫn đến tính khả thi, hiệu quả sản xuất không cao, Ngân hàng cho vay với những HSX như vậy dễ gặp rủi ro về vốn

+ Có mâu thuẫn xuất hiện giữa các thành viên trong HSX, giữa các thành viên

có mâu thuẫn về lợi ích… làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, không hiệu quả

Trang 38

+ Các chi phí sản xuất của hộ không hợp lý: Chi phí sản xuất như mua máy móc thiết bị, xây dựng mặt bằng kho bãi, thuê nhân công, máy móc thiết bị… quá cao hay quá thấp so với thực tế đều cho thấy sự bất thường trong sản xuất của hộ

- Nhóm 3: Dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh, thể hiện:

+ Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: HSX bị ấn tượng với một khách hàng (khách hàng này thường là các công ty lớn, có nhu cầu về nguồn cung lớn, ổn định…)

do đó để cắt giảm lợi nhuận đạt được hợp đồng lớn

+ Dấu hiệu hội chứng sản phẩm chạy theo thị trường: Mặt hàng được ưa chuộng, nhu cầu đột biến của khách hàng, sản phẩm là nhất thời… các HSX do còn yếu kém về thông tin, cũng như nhận định về thị trường, thì sẽ đua nhau làm, đến khi rớt giá lại đua nhau bỏ, chuyển sang mặt hàng mới, gây ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu kinh doanh của HSX

- Nhóm 4: Dấu hiệu liên quan đến vấn đề kĩ thuật và thương mại, biểu hiện:

+ Khó khăn trong việc phát triển các mặt hàng mới, có thể thay thế phù hợp cho những sản phẩm cũ không còn được ưa chuộng trên thị trường, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng

+ Thay đổi ngành nghề kinh doanh, thay đổi ngành nghề sản xuất là một việc không dễ dang tiến hành trong thời gian ngắn Vì vậy một sự thay đổi nhanh chóng của HSX đối với ngành nghề kinh doanh của hộ mình là dấu hiệu cho thấy có thể rủi ro

+ Những thay đổi trong chính sách của nhà nước theo hướng bất lợi cho sản xuất của hộ

- Nhóm 5: Dấu hiệu phi tài chính, thể hiện:

+ Có biểu hiện cắt giảm chi phí đầu tư sản xuất, mở rộng sản xuất, chi phí cải tạo + Có sự xuống cấp của tư liệu sản xuất, cơ sở sản xuất, kinh doanh (nguyên vật liệu, mặt bằng kho bãi, phương tiện vận chuyển…)

+ Thay đổi trên thị trường về lãi suất, tỷ giá, mất khách hàng lớn nhất, mất nhà cung ứng, thêm đối thủ cạnh tranh, vấn đề thay đổi thị hiếu khách hàng… Tất cả đều tác động cũng như ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của hộ

+ Nơi lưu trữ, bảo quản sản phẩm quá nhiều, bị hư hỏng và lạc hậu

Như vậy: Dựa trên hệ thống các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng đối cới HSX

kết hợp với kinh nghiệm của bản thân mà CBTD có thể sớm nhận xét, đánh giá được tình hình rủi ro với các khoản vay của HSX mà mình quản lý Qua đó đề ra các biện pháp phù hợp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho Ngân hàng Trong các dấu hiệu

đó, dấu hiệu rõ ràng và có ý nghĩa nhất mà CBTD cần phải chú ý để xem xét rủi ro với khoản vay là sự trì hoãn, chậm thanh toán cho khoản vay của khách hàng vay

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua các lý luận về hộ sản xuất và những ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động Ngân hàng cũng như nền kinh tế đã được nghiên cứu trong chương I có thể thấy rằng rủi ro tín dụng trong bất cứ hoạt động cho vay với bất cứ khách hàng nào là điều không tránh khỏi Vấn đề đặt ra cho các Ngân hàng là làm thế nào để hạn chế rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất mà không ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng, đặc biệt là tín dụng hộ sản xuất

Muốn vậy, bản thân mỗi Ngân hàng phải đánh giá được đúng thực trạng tín dụng HSX của chính mình trong bối cảnh của nền kinh tế, xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển phải đưa ra các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng HSX một cách tốt nhất nhằm hạn chế tổn thất cho chính Ngân hàng

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI Á –

PHÒNG GIAO DỊCH HÀ HUY TẬP 2.1 Khái quát tình hình hoạt động của PGD Hà Huy Tập

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiAbank) được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 30/07/1993, là Ngân hàng cổ phần đầu tiên hoạt động tại địa bàn tỉnh Đồng Nai Khởi đầu chỉ là Ngân hàng TMCP nông thôn hoạt động tại tỉnh Đồng Nai với 1 tỷ VNĐ vốn điều lệ, đến nay DaiABank đã trải qua hơn 20 năm phát triển vượt bậc Vốn điều lệ

hiện nay: 3.100 tỷ VNĐ với mạng lưới hoạt động: 62 điểm giao dịch gồm sở giao

dịch, chi nhánh, PGD, quỹ tiết kiệm trên cả nước (tính đến tháng 12/2012)

Ngày 20-04-2009, Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank) đã khai trương và đưa vào hoạt động phòng giao dịch Hà Huy Tập (thuộc chi nhánh Hà Nội) tại địa chỉ 91 Hà Huy Tập, thị trấn Yên Viên, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Đây là Phòng giao dịch đầu tiên trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh Phía Bắc

Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đang gặp suy thoái, các doanh nghiệp nhà nước và các DN ngoài quốc doanh gặp khó khăn về vốn tự có, vốn vay… điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của Ngân hàng Hơn nữa, các doanh nghiệp

đã có quan hệ truyền thống với một hoặc nhiều NH khác, nên đối với chi nhánh mới hoạt động từ tháng 04/2009 việc chiếm lĩnh thị trường, thị phần gặp rất nhiều khó khăn đòi hỏi phải khai thác triệt để thế mạnh về cơ sở vật chất, các mối quan hệ, phong cách phục vụ, tuyên truyền tiếp thị, đổi mới công nghệ, linh hoạt về lãi suất đáp ứng các dịch vụ và tiện ích của Ngân hàng, khắc phục những khó khăn ban đầu, hoạt động của chi nhánh luôn được điều chỉnh cho phù hợp, kịp thời các chính sách kinh doanh, tích cực tìm hiểu nhu cầu thị trường nhờ đó đem lại những kết quả kinh doanh khả quan được Ngân hàng TMCP Đại Á và đánh giá là một chi nhánh hoạt động có hiệu quả Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về CNH - HĐH nền kinh tế, trong những năm qua NHTMCP Đại Á – PGD Hà Huy Tập luôn lấy hoạt động đầu tư tín dụng là chiến lược kinh doanh hàng đầu của mình Vượt qua khó khăn thách thức thủa ban đầu, đóng góp của phòng trong thời gian qua có những thành tựu đáng kể Trong những năm tới Ngân hàng tiếp tục quá trình đổi mới và phục vụ ngày càng tốt hơn cho mục tiêu phát triển, đương đầu với thách thức và hội nhập quốc tế

Ngày đăng: 26/03/2017, 23:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. “Chương XVII - Những quy định chung”, www.boluatdansu.com, http://www.boluatdansu.com/phan-3-nghia-vu-dan-su-va-hop-dong-dan-su/chuong-xvii-nhung-quy-dinh-chung_t12-m35-c026-a21.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chương XVII - Những quy định chung”
4. Học viện ngân hàng (2007), “Giáo trình Lý thuyết tiền tệ và Ngân hàng”, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết tiền tệ và Ngân hàng
Tác giả: Học viện ngân hàng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
8. PGS. TS. Mai Văn Bạn, (2009), “Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, Xuất bản lần 1, Nhà xuất bản tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại”
Tác giả: PGS. TS. Mai Văn Bạn
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2009
10. “Vai trò tín dụng ngân hàng”, www.dankinhte.vn, http://www.dankinhte.vn/vai-tro-cua-tin-dung-ngan-hang/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò tín dụng ngân hàng”
1. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010 – 2012 của phòng giao dịch Hà Huy Tập Khác
2. Chính phủ (2010), Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 về chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Khác
5. Ngân hàng Nhà nước (2005), Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng Khác
6. Ngân hàng Nhà nước (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng Khác
7. Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Á (2006), Quyết định số 562/2006/QĐ- NHĐA về việc quy chế cho vay Hộ cá thể Khác
9. Quốc hội (2010), Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w