Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Nguồn: Vốn cố định và vốn lư
Trang 11
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Vấn đề cơ bản về vốn lưu động 1.1.
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh ( Theo Luật Doanh Nghiệp 2005 )
1.1.2 Khái niệm vốn, phân loại các nguồn vốn trong doanh nghiệp
Khái niệm vốn
Theo sự phát triển của lịch sử, các quan điểm về vốn xuất hiện và ngày càng hoàn thiện, tiêu biểu có các cách hiểu về vốn như sau của một số nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế khác nhau
Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật Họ cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh Cách hiểu này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế còn sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện
và bắt đầu phát triển
Theo một số nhà tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người có cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứng khoán của công ty Như vậy, các nhà tài chính đã chú ý đến mặt tài chính của vốn, làm rõ được nguồn vốn cơ bản của doanh nghiệp đồng thời cho các nhà đầu tư thấy được lợi ích của việc đầu tư, khuyến khích họ tăng cường đầu tư vào mở rộng và phát triển sản xuất
Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học”: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là
dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Đất đai không được coi là vốn
Một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuáat hàng hoá, dịch vụ như tài sản tài chính mà còn cả các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được , trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín, lợi thế của doanh nghiệp
Một số quan điểm khác lại cho rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư
Footer Page 1 of 161.
Trang 2Nhưng theo khái niệm trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Trường Đại học Kinh tế quốc dân thì khái niệm về vốn được chia thành hai phần: Tư bản (Capital)
là giá trị mang lại giá trị thặng dư Vốn được quan tâm đến khía cạnh giá trị nào đó của
nó mà thôi Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm Vốn được nhà doanh nghiệp dùng để đầu tư vào tài sản của mình Nguồn vốn là những nguồn được huy động từ đâu Tài sản thể hiện quyết định đầu tư của nhà doanh nghiệp; Còn về bảng cân đối phản ánh tổng dự trữ của bản thân doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp có dự trữ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ rồi sản xuất
và chuyển hoá, dịch vụ đó thàng sản phẩm cuối cùng cho đến khi dự trữ hàng hoá hoặc tiền thay đổi đó sẽ có một dòng tiền hay hàng hoá đi ra đó là hiện tượng xuất quỹ, còn khi xuất hàng hoá ra thì doanh nghiệp sẽ thu về dòng tiền (phản ánh nhập quỹ và biểu hiện cân đối của doanh nghiệp là ngân quỹ làm cân đối dòng tiền trong doanh nghiệp) Một số quan niệm về vốn ở trên tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau Vì vây, để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch toán và quản lý vốn trong cơ chế thị trường hiện nay, có thể khái quát vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài sản chính được các cá nhân, tổ chức
bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận
Phân loại vốn
Căn cứ theo nguồn hình thành vốn:
Vốn chủ sở hữu : Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp
đẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối
Vốn vay : Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho nguời cho vay cả lãi và gốc Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp ) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn
Căn cứ theo thời gian huy động vốn:
Vốn thường xuyên
Trang 33
Vốn thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định và dái hạn mà doanh nghiệp
có thể sử dụng để đầu tư vao ftài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ
sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh nghiệp
Vốn tạm thời
Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh số có thể sử dụng để đap sứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng
Căn cứ theo công dụng kinh tế của vốn:
Vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận đầu tư ứng trước về tài sản cố định
và tài sản đầu tư cơ bản, mà đặc điểm luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Quy mô của vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố định nhưng các đặc điểm của tài sản cố định lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác quản lý cố định Muốn quản lý vốn cố định một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hữu hiệu
Vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục
Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Tài sản ngắn hạn tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ ) sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt trong giai đoạn lưu thông Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản ngắn hạn chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho
Giá trị của các loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng Vì vậy, quản lý và sử dụng vốn lưu động hợp lý có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp, trong đó có công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Footer Page 3 of 161.
Trang 41.1.3 Khái niệm, đặc điểm, phân loại vốn lưu động
Khái niệm
Để tiến hành bất kì một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn Vốn
là điều kiện tiên quyết, quan trong, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh Doanh nghiệp sẽ dùng vốn này để mua sắm các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của nguồn vốn được đầu tư trước vào tài sản cố định, đặc điểm của nó là được luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều kỳ sản xuất, hình thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục
(Nguồn: Vốn cố định và vốn lưu động – Giáo trình TCDN, Học viện tài chính, HN)
Trong quá trình vận động, vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, qua mỗi giai đoạn của chu kì kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn hàng hóa vật tư
dự trữ Qua giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo thành các bán thành phẩm
và thành phẩm, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền
tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó Sau mỗi chu kì tái sản xuất, vốn lưu động mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Trong các doanh nghiệp, quá trình sản xuất kinh doạnh luôn được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục cho nên có thể thấy trong cùng một thời điểm, vốn lưu động của doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó đảm bảo cho việc chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi
Phân loại vốn lưu động
Dựa theo các tiêu thức khác nhau có thể phân chia vốn lưu động thành các loại khác nhau Có một số các phân biệt chủ yếu sau:
Dựa theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn
Trang 55
Vốn vật tư hàng hóa
Vốn bằng tiền: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,…
Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vốn lưu động nằm trong khâu dự trữ: Vốn nguyên vật liệu chính; vốn vật liệu phụ; vốn nhiên liệu… Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục
Vốn lưu động nằm trong khâu sản xuất: Vốn sản phẩm hàng nhập kho; vốn bán thành phẩm tự chế, vốn chi phí trả trước Loại vốn này được dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của các bộ phận được liên tục, hợp lý
Vốn lưu động nằm trong khâu lưu thông: vốn sản phẩm, hàng hóa; vốn tiền tệ; các khoản đầu tư ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên, đều đặn theo nhu cầu của khách hàng
Việc phân loại vốn lưu động theo hình thức này giúp cho việc xem xét đánh giá tình hình phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình chu chuyển vốn lưu động Thông qua đó, nhà quản lí sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Phân loại theo quan hệ sở hữu
Các khoản nợ là các khoản vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn vay các ngân hàng thương mại, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ chưa thanh toán
Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyển chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nguồn gốc từ vốn đầu tư
từ ngân sách nhà nước, vốn chủ doanh nghiệp tự bỏ, vốn cổ phần
Phân loại theo nguồn hình thành:
Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều
lệ ban đầu khi thành lập công ty hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất
Nguồn vốn tự bổ sung là nguồn vốn do doanh nghiệp bổ sung trong quá trình kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp để tái đầu tư
Footer Page 5 of 161.
Trang 6 Nguồn vốn liên doanh liên kết là số vốn lưu động được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia vào công ty liên doanh Vốn liên doanh có thể là tiền mặt, nguyên vật liệu, hàng hóa.,, được góp vốn theo giá thỏa thuận
Vốn đi vay của ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hay của người lao động,…
Vốn huy động từ thị trường vốn từ việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu,
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh vốn cố định thì doanh nghiệp cần có một lượng vốn lưu động thường xuyên cần thiết Vốn lưu động được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, sau đây là một số nguồn chủ yếu
Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Các nguồn vốn lưu động doanh nghiệp được quyền sử dụng trong khoảng thời gian có độ dài ngắn khác nhau và ta có thể chia chúng thành nguồn vốn lưu động thường xuyên và vốn lưu động tạm thời
Nguồn vốn lưu động thường xuyên: Là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên tài sản cố định thường xuyên cần thiết Tài sản lưu động thường xuyên cần thiết này bao gồm các khoản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm Nguồn vốn lưu động thường xuyên tại một thời điểm được xác định như sau:
Nguồn vốn lưu động = Tổng nguồn vốn - Tổng giá trị còn lại thường xuyên thường xuyên của tài sản cố định Trong đó:
Nguồn vốn = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn thường xuyên
Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp là một nguồn vốn ổn định
và vững chắc.Nguồn vốn này cho phép doanh nghiệp luôn chủ động được vốn lưu động, cung cấp kịp thời đầy đủ nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong mỗi doanh nghiệp, tương ứng với qui mô sản xuất kinh doanh và quy trình công nghệ thích hợp đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động thường xuyên, cần thiết ở mức nhất định.Như vậy, mỗi doanh nghiệp sau khi xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết thì vấn đề quan trọng đặt ra là cần huy động và tạo lập nguồn vốn này để hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao Nguồn VLĐ tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm),chủ yếu để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình sản
Trang 77
xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn, vay ngắn hạn, các khoản phải trả cho người bán, các khoản phải trả,phải nộp cho NSNN, các khoản phải trả khác
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu VLĐ cho từng tháng, từng quý có thể lớn hơn khả năng cung ứng của nguồn VLĐ thường xuyên Do đó doanh nghiệp cần phải huy động vốn và sử dụng nguồn vốn tạm thời để đápứng nhu cầu VLĐ phát sinh có tính chất bất thường trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn tạm thời phụ thuộc vào những nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh
do nhiều nguyên nhân khác nhau như: cần thêm vật tư dự trữ, cần vốn để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hàng hoá bị ứ đọng chưa tiêu thụ được…
Từ những phân tích ở trên có thể thấy: Nguồn VLĐ của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.Vốn đó có thể được sử dụng cho nhu cầu VLĐ dài ngày hoặc ngắn ngày Doanh nghiệp dựa vào khả năng cung ứng, sản xuất khác nhau của các nguồn vốn để từ đó có kế hoạch huy động
và sử dụng vốn hợp lý
1.1.4 Vai trò của vốn lưu động
Trong nền kinh tế thị trường, DN muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn.Vốn lưu động là một thành phần quan trọng cấu tạo nên vốn của doanh nghiệp, nó xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.Vốn lưu động đảm bảo cho sự thường xuyên, liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu mua sắm vật tư đến tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Đây cũng chính là vốn luân chuyển giúp cho doanh nghiệp sử dụng tốt máy móc thiết bị và lao động để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận
Trong khâu dự trữ và sản xuất, vốn lưu động đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất.Trong lưu thông, vốn lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhucầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Vốn lưu động với đặc điểm về khả năng chu chuyển của mình có thể giúp doanh nghiệp thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh một cách dễ dàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu thịtrường cũng như các nhu cầu tài chính trong các quan hệ kinh tế đối ngoại cho doanh nghiệp Thời gian luân chuyển vốn lưu động ngắn, số vòng luân chuyển vốn lưu động lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng vốn lưu động luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày.Vốn lưu động luân chuyển một lần vào vào giá trị của sản phẩm và là một trong số nhân tố chính tạo nên giá thành sản phẩm Do vậy,quản lý tốt vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh, tạo ra lợi nhuận cao cho DN
Footer Page 7 of 161.
Trang 8Quy mô của VLĐ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô sản xuất kinh doanh của DN, đặc biệt là đối với các DN thương mại, nó làm tăng khả năng cho DN nhờ cơ chế dự trữ, khả năng tài chính trong các quan hệ đối ngoại, tận dụng được các cơ hội trong kinh doanh và khả năng cấp tín dụng cho khách hàng Đó là một trong số các công cụ đặc biệt hiệu quả trong cơ chế cạnh tranh hiện nay
Từ những vai trò trên, ta có thể thấy VLĐ là một yếu tố quan trọng tạo nên sự cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường VLĐ giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường, làm tăng doanh thu, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp
1.1.5 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Kết cấu vốn lưu động phản ánh tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu đồng trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản
lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
tổ chức tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phầm, phâm bổ hợp lý vốn trên giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ loại này sang loại khác,
từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phân loại vốn lao động Có nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với yêu cầu công tác quản lý.Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho nhà quản trị đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động Cũng như từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu vốn cũng không giống nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động của mình đang quản lý và sử dụng Từ đó, xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả và phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động:
Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, thời gian và khối lượng mỗi lần giao
hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp
Trang 99
Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo, độ dài chu kỳ sản xuất, trình độ
tổ chức quá trình sản xuất
Các nhân tố về mặt thanh toán như phương thức thanh toán, thủ tục thanh
toán, việc chấp hàng kỷ luật thanh toán giữa các doanh nghiệp
1.1.6 Nhu cầu VLĐ và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động
Nhu cầu vốn lưu động Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn khovà khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp
Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động
Phương pháp trực tiếp
Căn cứ vào các yêu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng vốn lưu động doanh nghiệp phải ứng ra để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên Nội dung cụ thể của phương pháp này là:
Bước 1: Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Bước 2: Xác định chính sách tiêu thụsản phẩm và khoản tín dụng cung cấp cho khách hàng
Bước 3: Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp; Tổng hợp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Trên cơ sở tính toán nhu cầu vốn dự trữ hàng tồn kho, dự kiến khoản phải thu và phải trả Có thể xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết năm kế hoạch của doanh nghiệp theo công thức:
Nhu cầu vốn =Mức dự trữ + Khoản phải thu– Khoản phải trả lưu động hàng tồn kho khách hàng nhà cung cấp Phương pháp này giúp xác định nhu cầu vốn lưu động khá chính xác và sát với thực tế nhưng nó hạn chế do việc tính toán tương đối phức tạp, khối lượng tính toán nhiều, mất thời gian nên ít được áp dụng
Phương pháp gián tiếp
Trường hợp 1: Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành, cụ thể là dựa vào hệ số vốn lưu động tính theo doanh thu được rút ra từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùng loại trongngành Trên cơ sở xem xét quy
Footer Page 9 of 161.
Trang 10mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của doanh nghiệp mình để rút ra nhu cầu vốn lưu động cần thiết
Trường hợp 2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu vốn lưu động cho các thời kỳ tiếp theo Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành vốn lưu động với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu vốn lưu động tính theo doanh thu, từ đó xác định nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp mình
Nội dung quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp 1.2.
1.2.1 Chính sách quản lý Vốn lưu động
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận.Việc quản lý sử dụng tốt vốn lưu động sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu đã đề ra Bởi vì quản lý sử dụng vốn lưu động không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối với việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán hàng, trên cơ sở đó sẽ tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Các chính sách quản lý Vốn lưu động :
Chính sách mạo hiểm Với sự kết hợp giữa chính sách quản lý TSCĐ mạo hiểm và NVNH mạo hiểm, doanh nghiệp sử dụng một phần vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định Ưu điểm của chính sách này là chi phí huy động vốn thấp hơn, tuy nhiên sự ổn định của nguồn không cao do nguồn ngắn hạn được sử dụng nhiều, khả năng thanh toán ngắn hạn cũng không được đảm bảo Tóm lại, chính sách này đem lại thu nhập cao và rủi ro cao
Chính sách tài trợ thận trọng
Là sự kết hợp giữa chính sách quản lý TSLĐ thận trọng và NVDH thận trọng.DN
đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động.Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên, DN lại mất chi phí huy động vốn cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn Tóm lại, chính sách này, DN có mức thu nhập thấp và rủi ro thấp
Chính sách tài trợ dung hòa Với hai kiểu chính sách trên, DN chỉ có thể đạt được thu nhập cao với mức rủi ro cao (chính sách cấp tiến) hoặc mức rủi ro thấp nhưng thu nhập lại thấp (chính sách thận trọng) Để dung hòa giữa hai phương án, DN có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lí tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lí tài sản cấp tiến với nợ thận trọng Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: TSLĐ
Trang 1111
được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và TSCĐ được tài trợ bằng nguồn dài hạn Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được trạng thái tương thích không hề đơn giản do vấp phải những vấn đề như sự tương thích kì hạn, luồng tiền hay khoảng thời gian, do vậy chính sách này chỉ cố gắng tiến tới trạng thái tương thích, duy hòa rủi ro và tạo ra mức thu nhập trung bình
Trên đây là các mô hình cơ bản về chính sách quản lí vốn lưu động trong doanh nghiệp.Mỗi DN có thể lựa chọn một chính sách vốn lưu động riêng và việc quản lí vốn lưu động tại mỗi DN sẽ mang những đặc điểm rất khác nhau.Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung chính của quản lí vốn lưu động vẫn quản lí các bộ phận cấu thành nên vốn lưu động
1.2.2 Quản lý vốn bằng tiền
Tiền mặt tại quỹ là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp.Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ tiền mặt ở quy mô nhất định.Vốn tiền mặt đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý một cách chặt chẽ hơn các loại tài sản khác vì nó rất dễ bị tham ô, lợi dụng, mất mát
Đảm bảo dự trữ tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để thựchiện nhiệm vụ thanh toán, dùng để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hóa, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết của doanh nghiệp Mặt khác, còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực “đầu cơ” trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện cơ hội kinh doanh tốt Việc duy trì một mức dự trữ đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp cơ hội thu được chiết khấu khi mua hàng, làm tăng hệ số khả năng thanh toán
Nội dung cơ bản của quản lý vốn tiền mặt là: xác định mức tồn quỹ tối thiểu giúp doanh nghiệp tránh rủi ro khi không thanh toán ngay, mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp Người ta thường xác định mức tồn quỹ tối thiểu bằng cách lấy mức xuất quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ tồn quỹ
1.2.3 Quản lý các khoản phải thu khách hàng
Để cạnh tranh và tồn tại được trên thị trường, các doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược về chất lượng sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, về dịch vụ giao hàng và các dịch vụ sau khi mua bán như vận chuyển, lắp đặt… Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, không thể thiếu hoạt động mua bán chịu Doanh nghiệp có thể sử dụng các khoản phải trả chưa đến kỳ hạn thanh toán như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn và đương nhiên doanh nghiệp cũng bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn Việc bán chịu sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tiêu thụ được sản phẩm đồng thời góp phần xây dựng mối quan hệ làm ăn tốt đẹp với khách
Footer Page 11 of 161.
Trang 12hàng Tuy nhiên, nếu tỷ trọng các khoản phải thu là quá lớn trong tổng số vốn lưu động thì nó sẽ gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Chính sách quản lý các khoản phải thu được xây dựng trên việc so sánh lợi ích tăng thêm từ doanh thu tăng, giá bán cao với các chi phí liên quan đến thực hiện chính sách tín dụng tăng tương ứng, sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Đồng thời, chính sách tín dụng thương mại hợp lý sẽ tạo ra một khoản thu có tính chất thu hồi cao, giảm thiểu sự xuất hiện của các khoản thu khó đòi, tăng thời gian luân chuyển vốn lưu động và giảm thiểu áp lực vốn vay
1.2.4 Quản lý hàng lưu kho
Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì dự trữ là yếu tố quan trọng quyết định việc doanh nghiệp có sản xuất được ổn định hay không Việc quản lý tồn kho dự trữ đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý doanh nghiệp sẽ không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu hụt sản phẩm hàng hóa sản xuất ra trên thị trường, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động
Mức tồn kho dự trữ từng loại tài sản thường khác nhau, tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh mà mức tồn kho dự trữ cao thấp khác nhau, nhưng đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: quy mô sản xuất, khả năng cung ứng của thị trường, giá cả của các loại nguyên vật liệu, đặc điểm công nghệ sản xuất, trình độ quản lý…
Phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ, phương pháp tổng chi phí tối thiểu, phương pháp tồn kho bằng không… Tài sản tồn kho dự trữ biểu hiện bằng tiền là vốn tồn kho dự trữ, để tiết kiệm vốn và sử dụng có hiệu quả, doanh nghiệp phải sử dụng phương pháp quản trị sao cho phù hợp
Mô hình kiểm soát hàng tồn kho thường được định dạng trong hai trường
hợp: trường hợp xác định khi nhu cầu hàng tồn kho và thời gian chuẩn bị giao nhận hàng được xem là biết trước và không thay đổi; trường hợp có biến động khi nhu cầu
hàng tồn kho và thời gian chuẩn bị giao nhận hàng có biến động ngẫu nhiên tuân theo phân phối sác xuất
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp 1.3.
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thi trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải luôn quan tâm đến hiệu quả kinh tế.Hiệu quả kinh tế là tổng hợp của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận.Trong đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp
Trang 1313
Đặc trưng cơ bản nhất của vốn lưu động là sự luân chuyển liên tục trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản phẩm trong chu kì kinh doanh Do vậy khi đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động, người ta chủ yếu đánh giá về tốc dộ luân chuyển của nó Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt công tác dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không tốt, các khoản phí tổn trong kinh doanh cao hay thấp, tiết kiệm hay không tiết kiệm
Ngoài mục tiêu sử dụng cho mua sắm, dự trữ, vốn lưu động còn được sử dụng trong thanh toán Bởi vậy hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn thể hiện ở khả năng đảm bảo vốn lưu động cần thiết để thực hiện thanh toán Bởi vậy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn thể hiện ở khả năng đảm bảo lượng vốn lưu động cần thiết để thực hiện thanh toán Đảm bảo đầy đủ vốn lưu động trong thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp tự chủ hơn trong kinh doanh, vừa tạo uy tín với bạn hàng và khách hàng
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác,
sử dụng và quản lý nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.Ở mỗi thời kì khác nhau, doanh nghiệp
có những mục tiêu khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là hiệu quả kinh tế, là lợi nhuận và sự ổn định để phát triển
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa các khoản phải thanh toán trong kì với tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu dưới đây:
Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi trong ngắn hạn các tài sản lưu động thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn.Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm của doanh nghiệp là tốt.Tuy nhiên không phải chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt vì có thể gây ứ đọng vốn và tạo ra chi phí cơ hội không cần thiết khi dự trữ tài sản lưu động quá nhiều thay vì đầu tư sinh lời
Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh =
Footer Page 13 of 161.
Trang 14Hệ số này đo lường khả năng nhanh chóng đáp ứng của vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn, vì vậy mà hàng tồn kho được loại trừ Độ lớn hay nhỏ của khả năng thanh toán nhanh còn tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể để kết luận là tích cực hay không Tuy nhiên nếu hệ số này quá nhỏ, doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc thanh toán nợ
Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời =
Chỉ tiêu này cho biết khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền đang có của doanh nghiệp Do tiền có tầm quan trọng đặc biệt nên chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khắt khe khả năng thanh toán ngày khi có biến động bất thường của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản:
Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh Còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán Chính vì lấy từ bảng cân đối kế toán, nên cần tính giá trị bình quân tài sản doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản= Tỷ suất lợi nhuận biên * Số vòng quay tổng tài sản
Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này
Trang 1515
trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn:
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:
Vòng quay vốn lưu động trong kỳ =
Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản doanh nghiệp đã đầu tư Vòng quay càng lớn thì hiệu quả càng cao Suất hao phí vốn:Là chỉ tiêu nghịch đảo chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, phản ánh một đồng doanh thu cần có bao nhiêu đồng vốn Suất hao phí vốn trong kỳ =
Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận được tạo ra trên một đồng vốn sản xuất trong kỳ Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách tổng quát nhất người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát dưới đây: Chi tiêu lợi nhuận trên doanh thu (ROS) ROS =
ROS là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ doanh thu Nó phản ánh một đồng doanh thu thuần có thể tao ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ROS càng cao chứng tỏ doanh nghiệp quản lý một cách hiệu quả các chi phí hoạt động Chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) ROA =
Hay ROA =
ROA là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận từ đầu tư tài sản, phản ánh một đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROAcàng cao thì chứng tỏ công ty càng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn trên lượng đầu tư ít hơn
Mặt khác, theo phân tích dupont ta có:
Footer Page 15 of 161.
Trang 16
= ROE x Hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản Hay ROA =
= Hệ số x Hiệu suất sử dụng x Hệ số vốn chủ sở hữu lợi nhuận ròng vốn chủ sở hữu trên tài sản Từ đó, doanh nghiệp có thể đề ra những biện pháp làm tăng ROA dựa vào 3 cách là tăng hệ số lợi nhuận ròng hay sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu hiện có hoặc gia tăng hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE =
ROE là thước đo hiệu quả nhất để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn Mặt khác, do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn được hình thành trên tài sản, nên ROE phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản Mối liên hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau: Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng x Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu Hay ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính Vì vậy, mô hình Dupont còn được viết: Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng x Doanh thu x Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu Doanh thu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu Hay ROE = Hệ số lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tài sản x Đòn bẩy tài chính Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE 1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng từng bộ phận cấu thành vốn lưu động của doanh nghiệp Vòng quay vốn lưu động Vòng quay VLĐ =
Trang 17
17
Hệ số này phản ánh tốc độ luân chuyển của VLĐ trong kỳ.Số vòng quay củaVLĐ càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại Tốc độ luân chuyển VLĐ tăng thì tăng tốc độ luân chuyển của vốn kinh doanh, tăng hiệu quả SXKD trong một đơn vị thời gian
Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động có được do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối
Mức tiết kiệm vốn lưu động tương đối
Mức tiết kiệm VLĐ tương đối =
-
Nếu quy mô doanh nghiệp được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc bỏ ra số vốn lưu động ít hơn so với trước Công thức xác định số vốn lưu động tiết kiệm tương đối: Mức tiết kiệm vốn lưu động tuyệt đối
Mức tiết kiệm VLĐ tuyệt đối =
-
Nếu quy mô kinh doanh không đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng vốn lưu động có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác
Tỷ suất sinh lợi VLĐ
Vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số vòng mà vốn lưu động quay được trong một thời kì nhất định, thường là một năm
Footer Page 17 of 161.
Trang 18L =
Trong đó:
L:Vòng quay của vốn lưu động M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ VLĐ: Vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển hàng tồn khoHàng tồn kho là một bồ phận tài sản dự trữ ngắn hạn đẻ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
và chế độ dự trữ khác nhau Sự luân chuyển hàng tồn kho càng nhanh thì sẽ giúp cho
Trang 1919
Doanh nghiệp có thể giảm bớt đƣợc vốn dự trữ nhƣng vẫn đảm bảo vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tốt hơn và ngƣợc lại sự luân chuyển vốn chậm thì doanh nghiệp sẽ phải mất nhiều vốn dự trữ hơn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
Tốc độ luân chuyển khoản nợ phải thu
Số vòng quay nợ phải thu =
Số vòng quay nợ phải thu càng lớn và số ngày một vòng quay càng nhỏ thể hiện tốc độ luân chuyển nợ phải thu càng nhanh, khả năng thu hồi nợ nhanh, hạn chế bớt vốn bị chiếm dụng để đƣa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp có đƣợc thuận lợi hơn về nguồn tiền trong thanh toán Ngƣợc lại, nó sẽ gây khó khăn hơn trong thanh toán của doanh nghiệp và nó cũng có thể dẫn đến rủi ro cao hơn về khả năng không thu hồi đƣợc nợ
Kỳ trả tiền bình quân
Kỳ trả tiền bình quân thiể hiện số ngày bình quân của một lần doanh nghiệp đã trả cho các khoản nợ ngắn hạn từ việc mua bán chịu hàng hóa đƣợc thể hiện bằng công thức:
Kỳ trả tiền trung bình =
(ngày)
= Những nhà quản lý doanh nghiệp luôn mong muốn kỳ trả tiền bình quân dài, nghĩa là khả năng đi chiếm dụng vốn từ các doanh nghiệp, cá nhân sẽ tăng Tuy nhiên, không phải kỳ trả tiền bình quân càng dài càng tốt, vì khi đó khách hàng và nhà cung
Footer Page 19 of 161.
Trang 20cấp bị thiệt hại, và sự đánh đổi ở đây chính là tác động đối với mối quan hệ giữa doanh nghiejp và khách hàng, nhà cung cấp
Thời gian quay vòng tiền mặt (C.C.C) Vòng quay tiền mặt là khoảng thời gian bắt đầu từ khi trả tiền mặt cho nguyên vật liệu và kết thúc khi thu được tiền mặt từ các khoản phải thu, được xác đinh bằng công thức:
Vòng quay tiền mặt =
Các doanh nghiệp luôn mong muốn có vòng quay tiền mặt ngắn vì khi đó số vốn
mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ cho một hiệu quả cao hơn từ đó sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên để làm được điều đó buộc các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý tín dụng cấp cho khách hàng chặt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng vốn cảu khách hàng Nhưng quan hệ của doanh nghiệp
là mối quan hệ giữa các đối tác, khách hàng và nhà cung cấp nên khi doanh nghiệp có lợi thì nhất định các đối tác bị thiệt hại, điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt tới các mổi quan hệ của doanh nghiệp trên thị trường
Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanhnghiệp 1.4.
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chịu rất nhiều tác động làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động Nhưng chung quy lại có hai nhân tố ảnh hưởng là nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan
1.4.1 Nhân tố khách quan
Chính sách kinh tế của Đảng và nhà nước: Các chính sách vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu nhưng chính sách vĩ mô của nhà nước tác động một phần không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chẳng hạn như nhà nước tăng thuế thu nhập của doanh nghiệp, điều này làm trực tiếp làm suy giảm lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, chính sách cho vay đều có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Bên cạnh đó các quy định của nhà nước về phương hướng định hướng phát triển của các ngành kinh tế đều ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Tác động của thị trường:
Kinh tế thị trường là một sự phát triển chung của xã hội nhưng trong nó có những mặt trái tồn tại và khi cơ chế thị trường mới được linh hoạt, nhạy bén bao nhiêu thì mặt trái của nó là là những thay đổi liên tục đến chóng mặt Gía cả của các đồng tiền bị mất giá nghiêm trọng, lạm phát lại vẫn thường xuyên xảy ra Đương nhiên vốn
lưu động của doanh nghiệp bị mất dần
Trang 2121
Chúng ta biết rằng cạnh tranh là quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường Do vậy, doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm có như vậy doanh nghiệp mới có thể thắng trong cạnh tranh, mở rộng tiêu thụ sản phẩm Chúng ta biết rằng thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động rất lớn tới việc hiệu quả sử dụng vốn cua doanh nghiệp Nếu thị trường ổn định sẽ là tác nhân tích cực thúc đẩy cho
doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và mở rộng thị trường
Tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật: Khi khoa học kỹ thuật phát triển đến tốc độ đỉnh cao trong thời đại văn minh này như một sự kỳ diệu thị trường công nghệ biến động không ngừng và chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các nước là rất lớn Mặt khác, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng khốc liệt
Do đó, để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả doanh nghiệp phải xem xét đầu tư vào công nghệ nào và phải tính đến hao mòn vô hình do phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật
Tác động của môi trường tự nhiên: Đó là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khí hậu, thời tiết, môi trường Các điều kiện làm việc trong môi trường tự nhiên phù hợp sẽ tăng năng suất lao động và từ đó tăng hiệu quả công việc Ngoài ra có một số nhân tố mà người ta thường gọi là nhân tố bất khả kháng như thiên tai, dịch hoạ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trình độ quản lý: Trình độ quản lý là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh nói chung và đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng Trình độ quản lý tốt giúp DN sử dụng đồng vốn có hiệu quả, quản lý được tình hình vật tư, tiền vốn của mình và ngược lại trình độ quản lý non kém các DN sẽ không có khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của mình Trình độ quản lý thể hiện ở việc:
Lựa chọn phương án, hình thức đầu tư: Đầu tư, đặc biệt là việc đầu tư vào một phương án SXKD mới thật sự là một việc làm mạo hiểm mà không phải doanh nghiệp nào cũng dám thực hiện Nếu doanh nghiệp đầu tư đúng hướng, chọn được dự
án đầu tư phù hợp có hiệu quả kinh tế cao, sản phẩm làm ra có chất lượng cao, giá
Footer Page 21 of 161.
Trang 22thành hạ, kiểu dáng phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của đông đảo khách hàng thì chẳng những sản phẩm đó được tiêu thụ nhanh, đẩy nhanh vòng quay của VLĐ mà còn giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi đựơc vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp Ngược lại, sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra chất lượng thấp, không phù hợp với thị hiếu khách hàng, hàng hoá không tiêu thụ được, VLĐ bị ứ đọng, hiệu quả sử dụng vốn thấp
Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở của các chính sách gây thất thoát vốn lưu động điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong 1.5.
doanh nghiệp
1.5.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải luôn quan tâm đến hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận Trong đó, hiệu quả sử dụng vốn lưu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp Do đó các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả
sử dụng VLĐ
Bảo toàn VLĐ là yêu cầu tối thiểu, cần thiết đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận, nhưng trước đó vấn đề quan trọng đặt ra tối thiểu cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận là phải bảo toàn VLĐ
Đặc điểm của VLĐ là dịch chuyển toàn bộ một lần vào chi phí giá thành và hình thái vật chất thường xuyên thay đổi Do vậy việc bảo toàn vốn lưu động là bảo toàn về mặt giá trị Để thực hiện mục tiêu này, công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp thường áp dụng các biện pháp tổng hợp như: đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, xử lý kịp thời các vật tư hàng hóa chậm luân chuyển để giải phóng vốn Ngoài ra để nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo toàn VLĐ ở doanh nghiệp cần hết sức tránh và xử lý kịp thời các khoản nợ khó đòi, tiến hành áp dụng các hình thức tín dụng thương mại để ngăn chặn các hiện tượng chiếm dụng vốn
Việc bảo toàn VLĐ giúp doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi
và là điều kiện tối thiểu đối với hoạt động sử dụng vốn nói chung và VLĐ nói riêng Tóm lại, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là yêu cầu tất yếu khách quan của mỗi DN trong nền kinh tế thị trường Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải do quản lý vốn lưu động kém Nhưng cũng cầu thấy rằng sự bất lực của một số DN trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại TSLĐ và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng
Trang 2323
1.5.2 Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Xác định chính xác nhu cầu VLĐ cần thiết cho hoạt động SXKD giúp doanh nghiệp thiết lập kế hoạch tổ chức huy động vốn hợp lý Đảm bảo tỷ trọng hợp lý giữa VLĐ và vốn cố định trong tổng vốn của DN, đảm bảo tính đồng bộ giữa các công đoạn trong quá trình sản xuất Hạn chế mức thấp nhất tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn quá trình sản xuất hoặc phải đi vay vốn bên ngoài với lãi suất cao, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại, nếu thừa vốn, doanh nghiệp cần có biện pháp linh hoạt như: đầu tư mở rộng sản xuất, cho vay tránh để tình trạng vốn chết
1.5.3 Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Việc sử dụng hiệu quả VLĐ thể hiện rõ nét nhất ở chỗ tăng tốc độ luân chuyển
VLĐ Tốc độ luân chuyển VLĐ nhanh hay chậm nói lên hiệu quả sử dụng VLĐ cao hay thấp do lãng phí hay tiết kiệm vốn điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận
Để tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, sử dụng VLĐ tiết kiệm và hiệu quả cần thực hiện tốt các biện pháp quản lý VLĐ ở các khâu của quá trình SXKD, khâu dự trữ sản xuất, khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và thanh toán với bạn hàng Đối với mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh có biện pháp tăng tốc độ luân chuyển VLĐ như sau:
Tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong lĩnh vực sản xuất: Doanh nghiệp thực hiện
rút ngắn thời gian chu kỳ sản xuất thông qua rút ngắn thời gian làm việc của quy trình công nghệ và phải đảm bảo yêu cầu chất lượng kỹ thuật, hạn chế mức thấp nhất thời gian ngừng việc, thời gian gián đoạn các khâu trong quá trình sản xuất
Tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong khâu lưu thông: Thời gian luân chuyển vốn lưu
thông phụ thuộc vào hoạt động tiêu thụ và mua sắm Trong quá trình hoạt động SXKD các
DN luôn cố gắng rút ngắn thời gian tiêu thụ, thu tiền tiêu thụ hàng hóa tới mức tối thiểu
Giải quyết tốt công tác luân chuyển vốn ở khâu dự trữ nguyên vật liệu, hàng hóa:
thông qua đẩy mạnh thanh toán mua bán nguyên vật liệu, hàng hóa dự trữ, xác định nhu cầu VLĐ hàng hóa tồn kho dự trữ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh từ
đó thực hiện tìm nguồn nhập vật tư hợp lý đảm bảo sử dụng đầy đủ mà lượng hàng tồn kho dụ trữ cho sản xuất đạt mức tối thiểu
1.5.4 Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ quản lý
Đội ngũ cán bộ quản lý tài chính, đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ cao phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp sẽ làm động lực mạnh mẽ thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của DN Bởi vậy, DN cần chú trọng đào tạo bồi dưỡng trình
độ, tri thức của cán bộ công nhân viên, đảm bảo làm chủ khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
Footer Page 23 of 161.
Trang 24KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, những lý luận cơ bản về VLĐ cùng một số vấn đề liên quan tới việc quản lý, sử dụng VLĐ trong DN đã được đề cập Phần đầu chương tập trung làm rõ khái niệm VLĐ thông qua tìm hiểu các đặc điểm và cách phân loại VLĐ Phần tiếp theo đề cập đến việc xem xét nội dung công tác quản lý, sử dụng VLĐ trong DN Phần cuối chương xoay quanh vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ và những nhân
tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng VLĐ trong DN
Trang 2525
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI HUY THÔNG
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Huy Thông
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty
Giới thiệu về công ty:
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI HUY THÔNG
Địa chỉ: 67 Hàng Trống , Phường Hàng Trống , Quận Hoàn Kiếm , Hà Nội
Mã số thuế: 0103015066 Đại diện pháp luật : Trương Ngọc Bích Ngày thành lập: 20/3/2006
Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Huy Thông được thành lập từ năm
2006 Sau gần 10 năm thành lập và phát triển, công ty Huy Thông đã có chỗ đứng nhất định trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng các sản phẩm bánh kẹo truyền thống như : Ô mai , mứt , hạt điều … với tiêu chí luôn đem đến cho khách hàng những sản phẩm ngon nhất, hợp khẩu vị nhất với giá cả hợp lý nhất
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty
Mô hình của Công ty Cổ phần sản xuất và thương mai Huy Thông tương đối đơn giản, phù hợp với một công ty có quy mô vừa phải Với quy mô nhỏ nhưng linh hoạt
và hoạt động nhuần nhuyễn giữa các bộ phận Công ty đang hoạt động và phát triển khá tốt Tuy nhiên về lâu dài, quy mô này sẽ dần phải thay đổi để bắt kịp sự phát triển
và lớn mạnh hơn
Chức năng và nhiệm vụ từng bộ phận trong công ty:
Ban giám đốc: là cơ quan điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty Ban giám đốc bao gồm:
Giám đốc: Điều hành, phân công và phối hợp công tác với Phó giám đốc, nhằm
thực hiện đúng và hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ
Phó Giám đốc: Thay mặt cho Giám đốc trong quản lý điều hành các hoạt động
của công ty theo sự phân công của Giám đốc Chủ động triển khai, thực hiện nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về hiệu quả các hoạt động
Phòng Hành chính – nhân sự: tham mưu giúp ban Giám đốc trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, thôi việc người lao động
Footer Page 25 of 161.
Trang 26 Giải quyết các chế độ quyền lợi, chính sách cho người lao động theo quy định hiện hành
Triển khai và giám sát việc tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật hiện hành, bên canh đó, phòng còn có nhiệm vụ về tư vấn pháp luật, xây dựng và kiểm tra nội quy, quy định của công ty
Xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra các hoạt động phong trào
Thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến hoạt động của công ty
Thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, quản lý hồ sơ theo yêu cầu của ban giám đốc Phòng Kế toán: Gồm kế toán nhà máy, kế toán kho nguyên liệu, kế toán kho thành
phẩm
Kế toán nhà máy: hạch toán và quản lý thu chi tất cả các hoạt động của nhà máy
Kế toán kho nguyên liệu: kiểm soát nguyên liệu tồn kho, có kế hoạch đặt hàng, đề xuất thanh toán công nợ khi đến hạn
Kế toán kho thành phẩm: kiểm soát số lượng thành phẩm trong kho, đưa ra kế hoạch sản xuất căn cứ vào lượng hàng tồn kho và tình hình tiêu thụ của thị trường
Phòng Sản xuất:
Gồm xưởng sản xuất bánh kẹo và các sản phẩm thực phẩm truyền thống Là những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, quản lý định mức sản xuất Và chịu trách nhiệm trực tiếp trước ban giám đốc về các sản phẩm của Công ty
Phòng Chất lượng:
Kiểm soát chất lượng nguyên vật liệu nhập vào Kiểm soát dây chuyền sản xuất Tìm kiếm và sáng tạo ra những sản phẩm mới Kiểm soát chất lượng thành phẩm khi xuất xưởng và hậu mãi
Trang 2727
2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Huy Thông
2.2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
Kết quả hoạt động SXKD là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá hiệu quả tổ chức sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng của DN Vì vậy trước khi xem xét hiệu quả sử dụng vốn lưu động, chúng ta sẽ đánh giá một cách khái quát về kết quả hoạt động SXKD của Công ty trong ba năm gần đây được thể hiện qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh :
Căn cứ vào Báo cáo kết quả kinh doanh cho thấy qua ba năm 2011-2012-2013,
có thể thấy doanh thu của các năm là không đồng đều dẫn đến sự sụt giảm của lợi nhuận sau thuế Để hiểu được điều này, từ báo cáo ta có thể vẽ được biểu đồ thể hiện quy mô tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận như sau:
Sơ đồ 2.1 Quy mô tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận
ĐVT: Triệu đồng
(Nguồn: Phòng Kế toán)
Nhìn vào biểu đồ 2.1 ta có thể thấy doanh thu thuần và lợi nhuận của Công ty có
sự sụt giảm mạnh trong ba năm trở lại đây Cụ thể như sau:
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Sự tăng của doanh thu không đều qua các năm, năm 2011 doanh thu đạt 29.347,5 triệu đồng , năm 2012 doanh thu đạt 30328.5 triệu tăng 3,34% so với năm 2011 nhưng đến năm 2013 doanh thu giảm nghiêm trọng khi tỷ trọng giảm 19,61% tương ứng với 5.946 triệu đồng Có thể lí giải do kinh tế vẫn còn khó khăn và đang trên đà phục hồi vào năm 2013, giá các nguyên nhiên vật liệu ngày càng tăng, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của các đối thủ cạnh tranh đặc biệt là các công ty lớn như Công ty Kinh Đô , Công ty bánh kẹo Hải Hà
24382,5
-500005000100001500020000250003000035000
Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế
Footer Page 27 of 161.
Trang 28… mà tiềm lực của Công ty còn yếu nên chưa đủ khả năng đương đầu với những khó khăn này và Công ty cần có biện pháp để khắc phục trong những năm tới
Giá vốn hàng bán: Có thể thấy rằng sự tăng giảm của doanh thu sẽ tất yếu kéo theo sự tăng giảm trong giá vốn hàng bán Năm 2012 giá vốn hàng bán tăng 7,45% tương ứng tăng 1.887 triệu đồng so với năm 2011 Năm 2013, dù tỷ trọng giảm 12,25% tương ứng giảm 3.333 triệu đồng mặc dù vẫn tăng tương ứng so với doanh thu Giá vốn hàng bán được xác đinh bởi tất cả các khoản chi phí của Công ty mà chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất, trong giai đoạn 2011 – 2013 do tỷ giá tăng dẫn đến giá của nguyên vật liệu đầu vào tăng khiến giá vốn tăng theo Tuy nhiên sự tăng giảm giữa các năm không đều phản ánh thực tế rằng công tác quản lý chi phí sản xuất ở Công ty vẫn chưa thực sự hiệu quả
Chi phí tài chính: theo phụ lục 3 trong hai năm 2011 và 2012 chỉ phát sinh chi phí quản lý kinh doanh mà không phát sinh chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, sự không phát sinh này do trong hai năm đó Công ty đã áp dụng quyết định 48 của Bộ Tài chính cho “Chế độ kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa” theo đó chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp được gộp chung vào chi phí quản lý kinh doanh khiến cho giá trị của khoản mục này trong hai năm là rất lớn Sang đến năm 2013, Công ty
áp dụng quyết định 15 của Bộ Tài chính cho “Chế độ kế toán Doanh nghiệp”, do đó hai khoản mục chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp đã được cụ thể hóa làm cho
có sự thay đổi tỷ trọng trong bảng cân đối kế toán
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp: Trong hai năm 2011 và 2012 mặc dù không nhiều nhưng đã đạt giá trị dương điều này chứng tỏ Công ty làm ăn có lãi Tuy nhiên, sang năm 2013 con số này đã âm 1144.5 triệu đồng chứng tỏ Công ty đang trải qua thời kì khủng hoảng Lợi nhuận giảm dần qua các năm cho thấy Công ty cần phải chú trọng vào công tác quản lý, tiết kiệm chi phí và đưa ra những chính sách
và hướng đi phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả kinh doanh trong tương lai
Như vậy trong giai đoạn 2011 - 2013 do vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới và trong nước nên Công ty CP SX&TM Huy Thông đang trải qua giai đoạn hết sức khó khăn, không những để đứng vững trên thị trường mà còn kiếm được
vị trí trong lòng người tiêu dùng Mặc dù còn nhiều tồn tại vẫn chưa được giải quyết nhưng Công ty cũng đã đứng vững, đây cũng có thể coi là một tín hiệu đáng mừng
2.2.2 Kết cấu tài sản tại công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Huy Thông
Trang 2929
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tài sản của Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại
Huy Thông
(Nguồn:Phòng kế toán)
Cơ cấu tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn (hay còn được gọi là tài sản lưu động) là bộ phận vô cùng quan trọng của doanh nghiệp Thông qua quá trình luân chuyển TSLĐ có thể đánh giá kịp thời việc mua hàng hóa, dự trữ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp
Qua phụ lục 1 (bảng tài sản), ta nhận thấy tiền chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản của Công ty và tỷ trọng này giảm dần qua các năm Lượng tiền Công ty nắm giữ qua các năm có sự sai lệch khá lớn, điều này ảnh hưởng đến khả năng sử dụng vốn cũng như việc giữ tiền Các khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao thứ hai trong TSNH của Công ty và con số này tăng dần qua các năm, các khoản phải thu tăng lên đồng nghĩa với việc Công ty đã gia tăng được doanh thu bán hàng, tuy nhiên cần phải xem xét trong tương quan các bộ phận cấu thành TSNH bởi khoản phải thu tăng kéo theo việc giá tăng các khoản chi phí quản lý nợ, trả lãi tiền vay làm mất vốn của Công ty Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao nhất trong TSNH của Công ty CP SX&TM Huy Thông Trong đó năm 2012, hàng tồn kho đã tăng 56,36% tương ứng 2496 triệu đồng so với năm 2011; sang đến năm 2013 mặc dù tỷ trọng giảm mạnh chỉ còn 9,2% so với năm
2011 nhưng lượng hàng tồn kho vẫn còn rất lớn Nguyên nhân là do ảnh hưởng trước các biến động kinh tế như lạm phát – lạm phát năm 2013 đạt mức 6,22%[6] , tỷ giá tăng do tỷ giá hạch toán giữa đồng Việt Nam với USD tháng 12 năm 2013 là 21.036
0 10000 20000 30000 40000 50000 60000
TSDH TSNH
Footer Page 29 of 161.
Trang 30đồng (Theo Báo Cáo của Bộ Tài Chính ) làm tăng giá các yếu tố đầu vào khiến cho giá thành tăng làm các sản phẩm tiêu thụ sụt giảm
Tài sản dài hạn
Tài sản cố định không biến động nhiều trong ba năm gần đây và đang có xu hướng tăng Năm 2012 đã tăng 3022.5 triệu đồng so với năm 2011 và năm 2013 tăng 2.481 triệu đồng so với năm 2012 do Công ty đầu tư mua mới một số TSCĐ Ngoài ra, trong năm 2011 và 2012 Công ty không có bất kỳ khoản đầu tư dài hạn nào, cho đến năm 2013 Công ty mới ra quyết định đầu tư dài hạn cho các nhà phân phối của mình vay nợ dài hạn lên đến 10.620 triệu đồng nhằm mở rộng địa bàn phân phối nhằm tăng khả năng tiêu thụ
Như vậy, sau khi xem xét và phân tích về tình hình Tài sản của công ty CP SX&TM Huy Thông ta thấy được trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, các khoản phải thu và hàng tồn kho là hai khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất do tác động của nền kinh tế trong giai đoạn 2011 – 2013 khiến cho hàng hóa lưu thông chậm, thu hồi nợ kém do nhiều khách hàng kéo dài thời gian nợ Trong cơ cấu tài sản dài hạn, tài sản cố định luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và tỷ trọng này có xu hướng tăng, Công ty cũng bắt đầu đầu tư tài chính dài hạn giúp cho các đại lý của công ty có thể nhân rộng trong giai đoạn sắp tới
Tình hình nguồn vốn
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty
(Nguồn:Phòng kế toán)
0 10000 20000 30000 40000 50000 60000
Vốn chủ sở hữu
Nợ phải trả
Trang 3131
Nhìn vào bảng nguồn vốn ta thấy, tỷ trọng nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty trong năm 2011 và 2012 là xấp xỉ bằng nhau Trong khi năm 2013, tỷ trọng nợ phải trả chỉ chiếm 8,13%, còn tỷ trọng nguồn vốn lên đến gần 92% Có thể thấy rằng trong năm 2012 do tình hình kinh tế khó khăn, công ty phải vay một số lượng vốn lớn để bổ sung VLĐ để đảm bảo khả năng sản xuất kinh doanh tại các ngân hàng và các cá nhân trong Công ty Tuy nhiên, sang năm 2013 tỷ trọng nợ ngắn hạn gần như được thay thế hoàn toàn bằng vốn CSH, sự thay thế này cho thấy việc sử dụng nhiều vốn CSH để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh giúp Công ty giảm bớt được áp lực chi phí sử dụng vốn, chủ động được nguồn vốn để nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh
Nợ ngắn hạn trong năm 2011 chiếm tỷ trọng rất nhỏ và hầu như không đáng kể ở mức 0,68%, tuy nhiên sang đến năm 2012 con số này đã lên đến 23,60% tương ứng với 7.824 triệu đồng Sang đến năm 2013 nợ ngắn hạn giảm xuống còn 8,13% tương ứng 4.055 triệu đồng Ta nhận thấy nợ ngắn hạn trong năm 2012 tăng đột biến và chiếm tỷ trọng lớn, nguyên nhân chủ yếu của sự tăng vọt này là Công ty đã vay một lượng lớn từ ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn và các cá nhân trong Công ty để bổ sung vốn lưu động; tăng vốn chủ sở hữu để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Sang năm 2013, do Công ty đã cân bằng lại sự gia tăng đột biến nợ ngắn hạn bằng cách bổ sung vốn chủ sở hữu và thanh toán các khoản nợ ngắn hạn dẫn tới
nợ ngắn hạn giảm đi một cách đáng kể chỉ còn 8,13% Nợ dài hạn chiếm tỷ trọng rất lớn trong Công ty, năm 2011 -2012 tỷ trọng nợ dài hạn lần lượt là 49,21% và 26,37% Đến năm 2013, công ty ổn định lại được tiềm lực tài chính,nên các khoản nợ dài hạn
đã được chi trả và không phát sinh thêm
Như vậy, qua phân tích tình hình nguồn vốn của Công ty ta thấy Công ty chủ yếu
sử dụng nguồn vốn CSH để tài trợ cho tài sản, nợ phải trả chiếm tỷ trọng thấp hơn so với nguồn vốn CSH
2.2.3 Một số chỉ tiêu tài chính tổng hợp
Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Các chỉ tiêu sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động SXKD trong một chu kì nhất định, là nguồn quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định về tài chính trong tương lai Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời bao gồm ba chỉ số: chỉ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS), chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được thể hiện qua bảng 2.1 dưới đây:
Footer Page 31 of 161.
Trang 32Bảng 2.1 Khả năng sinh lời của Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Huy
Chênh lệch 12-13
là do trong năm 2011 và 2012 Công ty phát sinh các khoản chi phí tương đối lớn khiến cho lợi nhuận sau thuế giảm xuống, điều này cho thấy Công ty cần quản lý các khoản mục chi phí tốt hơn để tăng lợi nhuận trong các năm tiếp theo
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cũng giảm dần qua các năm Năm
2011, cứ 100 đồng tài sản tạo ra 0,51 đồng lợi nhuận sau thuế; năm 2012 giảm xuống chỉ còn 0,31 đồng; năm 2013 tỷ số này giảm mạnh xuống âm 4,31đồng Nguyên nhân ROA giảm là do tốc độ tăng của tài sản qua các năm là rất lớn, đặc biệt là năm 2013 tốc độ tăng của tài sản là 50,48% trong khi lợi nhuận sau thuế giảm là âm 1230,65% so với năm 2012 Điều này chứng tỏ khả năng quản lý đầu tư vào tài sản của Công ty còn chưa tốt, dẫn đến ROA không như mong đợi
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): chỉ số này cho biết cứ 100 đồng vốn CSH sẽ tạo ra cho Công ty 1,03 đồng lợi nhuận sau thuế trong năm 2011, sang năm 2012 tỷ số này giảm còn 0,56 đồng tức là giảm 0,47 đồng so với năm 2011, đến năm 2013 tỷ số này giảm mạnh đến âm 2,29 đồng Theo cách tính ROE được đề cập ở
Trang 3333
cơ sở lý luận, ta thấy ROE phụ thuộc vào ROS mà ROS giảm dần qua các năm đặc biệt là 2013 dẫn đến ROE cũng giảm mạnh tại năm 2013 Ngoài ra, ROE là thước đo hiệu quả nhất để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, có nghĩa là Công ty đang gặp khó khăn khi không tạo ra khả năng sinh lời tại năm 2013
Tóm lại, trong giai đoạn này tuy các chỉ số của Công ty không được khả quan nhưng do quá trình phục hồi kinh tế và số lượng các doanh nghiệp khác cùng ngành vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong ngành hàng tiêu dùng; cùng với sự phát triển ngày càng nhanh chóng và lớn mạnh của các công ty cạnh tranh … Công ty cần quản lý chặt chẽ hơn, giảm bớt chi phí, tăng lợi nhuận để nhóm chỉ tiêu này tăng trong thời gian sắp tới
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu nhằm đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp thông qua khả năng trả nợ (hay khả năng thanh toán) dựa trên ba chỉ tiêu quan trọng: khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời
Bảng 2.2 Khả năng thanh toán của Công ty CP Sản xuất và thương mại Huy
Khả năng thanh
toán hiện hành
21,54 0,72 2,27 (20,82) 1,55
Khả năng thanh
toán nhanh
15,26 0,24 0,97 (15,02) 0,73
Trang 34nhỏ hơn 1 do trong năm này công ty đã huy động vốn từ ngân hàng và nhân viên trong công ty để mở rộng sản xuất kinh doanh dẫn tới tổng nợ ngắn hạn tang mạnh và khả năng thanh toán hiện hành giảm mạnh Năm 2013, công ty đã bổ sung từ nguồn vốn chủ sở hữu nên chỉ tiêu này đã ổn định trở lại Do vậy, để cải thiện được vấn đề này, Công ty cần cân đối giảm lượng hàng tồn kho ở mức thích hợp và bổ sung thêm các công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh: trong giai đoạn 2011-2013 khả năng thanh toán nhanh của Công ty có xu hướng giảm Năm 2011 đạt mức 15,26 lần có nghĩa 1 đồng
nợ ngắn hạn Công ty có thể sử dụng 15,26 đồng TSLĐ để chi trả mà không cần giảm hàng tồn kho Trong năm 2012, chỉ tiêu này giảm đột ngột xuống còn 0,24 lần do nợ ngắn hạn tăng cao Sang năm 2013 chỉ số này đã tăng trở lại, tuy nhiên khi so sánh với khả năng thanh toán nhanh của trung bình ngành là 1,59 lần thì khả năng thanh toán nhanh của Công ty năm 2013 thấp hơn (0,62) Điều này cho thấy Công ty dự trữ hàng tồn kho cao trong cơ cấu TSLĐ so với các doanh nghiệp cùng ngành khác khiến khả năng thanh toán thấp Bên cạnh đó, trong hai năm 2012 và 2013 hệ số này thấp hơn 1
có nghĩa khả năng thanh toán nhanh của Công ty đang ở mức không an toàn
Khả năng thanh toán tức thời: phản ánh khả năng thanh toán ngay tại một thời điểm xác định, không phụ thuộc vào các khoản phải thu và hàng tồn kho Dựa vào bảng số liệu tính toán được ở trên ta thấy đây là chỉ tiêu nhỏ nhất, có xu hướng giảm trong giai đoạn 2012 – 2013 Năm 2011, khả năng thanh toán tức thời của Công ty đạt 8,17 lần có nghĩa 1 đồng nợ ngắn hạn được đáp ứng bằng 8,17 đồng dự trữ tiền mặt Năm 2011, chỉ tiêu này giảm xuống chỉ còn 0,06 do tốc độ giảm tiền là âm 25,49% thấp hơn rất nhiều so với tốc độ tăng của nợ ngắn hạn So với khả năng thanh toán tức thời của ngành năm 2013 ta thấy chỉ số này ở Công ty thấp hơn, cụ thể của ngành là 0,56 lần còn ở Công ty là 0,17 lần Điều này cho thấy lượng tiền mặt tại doanh nghiệp năm 2013 thấp và thiếu công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn như vậy sẽ mất nhiều thời gian để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (hay vòng quay tài sản) dùng để đo lường hiệu quả
sử dụng tổng tài sản nói chung mà không phân biệt tài sản lưu động hay tài sản cố định Dựa vào bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh ta thu được số liệu thể hiện ở bảng 2.3 như sau: