1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý nguồn nhân lực bảo tàng dân tộc học Việt Nam

39 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 594,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi thành lập cho đến nay, bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã không ngừng thay đổi, cải tiến hoạt động của mình nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách tham quan như tăng cường nguồn lực

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục đề tài 4

Chương 1: NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 5

1.1 Những vấn đề chung về nguồn nhân lực 5

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 5

1.1.2 Quản lý nguồn nhân lực 7

1.1.3 Nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tàng 8

1.2 Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 8

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 8

1.2.2.Vai trò nguồn nhân lực với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 13

Chương 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 16

2.1 Cơ cấu nguồn nhân lực 16

2.1.1.Cơ cấu theo độ tuổi 16

2.1.2 Cơ cấu theo giới tính 17

2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 17

2.2.1 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 17

2.2.2 Năng lực ngoại ngữ và tin học 18

2.2.3 Năng lực thể chất 19

2.3 Quản lý nguồn nhân lực tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 19

2.3.1 Quy trình tuyển dụng cán bộ 19

2.3.2 Tổ chức và phân bố nguồn nhân lực 21

Trang 2

2.3.3 Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ 22

2.3.4 Chế độ đãi ngộ cán bộ 24

2.4 Nhận xét 25

2.4.1.Ưu điểm 25

2.4.2 Nhược điểm 27

Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 29

3.1 Phát huy, hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế quản lý 29

3.1.1 Mô hình tổ chức 29

3.1.2 Cơ chế quản lý 30

3.2 Hoàn thiện chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ bảo tàng 31

3.2.1 Tạo động lực về vật chất 31

3.2.2 Tạo động lực về tinh thần 32

KẾT LUẬN 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC 37

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du khách khi đến Hà Nội có nhiều sự lựa chọn như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chùa Một Cột, Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn, chùa Trấn Quốc… và Bảo tàng dân tộc học Việt Nam cũng là một điểm đến không thể thiếu của du khách khi đến Hà Nội

Bảo tàng được xem như “một giảng đường thứ hai”, là nơi lưu trữ rất nhiều tài liệu có giá trị, những sách tham khảo, sách chuyên ngành, tài liệu, hiện vật bảo tàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp những kiến thức cho cán bộ, sinh viên và nhân dân Từ khi thành lập cho đến nay, bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã không ngừng thay đổi, cải tiến hoạt động của mình nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách tham quan như tăng cường nguồn lực thông tin, nâng cấp cơ sở, trang thiết bị, liên kết, chia sẻ với các bảo tàng trong

và ngoài nước…Đặc biệt bảo tàng rất quan tâm, chú trọng đến công tác phát triển nguồn nhân lực, coi việc phát triển tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực như một nhiệm vụ đặc biệt cần thiết của bảo tàng Hiện nay, tại tất cả các bảo tàng trên thế giới, nguồn nhân lực luôn có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hoạt động và chiến lược phát triển của bảo tàng Tuy nhiên, cho đến nay,

do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà hoạt động của bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vẫn đang đặt ra những vấn đề cần giải quyết Một trong số đó là việc cần tổ chức, quản lý và khai thác nguồn nhân lực một cách hữu hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin trên cơ sở khai thác tối đa nguồn lực hiện có

Việc nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực tại bảo tàng trong giai đoạn hiện nay là một việc làm hết sức cần thiết nhằm tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý và khai thác nguồn nhân lực Xuất phát từ lý do trên

nên em quyết định chọn đề tài: “Quản lý nguồn nhân lực tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá các vấn đề cơ sở lý luận về nguồn nhân lực

- Khảo sát thực trạng sử dụng, quản lý nguồn nhân lực tại bảo tàng, đưa ra những đánh giá khách quan về mặt mạnh, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực tại bảo tàng

- Phạm vi nghiên cứu: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài thực hiện có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê, khảo sát, đánh giá

Trang 5

Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO TÀNG

DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề chung về nguồn nhân lực

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực xuất phát từ những góc

độ nghiên cứu khác nhau, do vậy có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực

Từ góc độ kinh tế, các nhà nghiên cứu cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), của một quốc gia (một vùng lãnh thổ) có trong một thời kỳ nhất định”

Từ góc độ khoa học quản lý thì “nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể; nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán bộ, công nhân viên của tổ chức với tư cách vừa là khách thể trung tâm của các nhà quản trị, vừa là chủ thể hoạt động và là động lực phát triển của các doanh nghiệp nói riêng, của mọi tổ chức nói chung”

Từ góc độ dân số học thì “nguồn nhân lực được hiểu là dân số trong độ tuổi lao động, trong đó nhấn mạnh dân số có khả năng lao động đang có việc làm, tức là đang hoạt động kinh tế và đang không có việc làm”

Nói cách khác thì “nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ

sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định”

Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động, còn gọi là vốn con người

Như vậy, dù diễn đạt theo nhiều góc độ khác nhau, theo các phương pháp tiếp cận khác nhau nhưng giữa các định nghĩa về nguồn nhân lực vẫn còn những điểm chung để từ đó ta có thể xác định nguồn nhân lực chính là:

Trang 6

“Nguồn nhân lực hay tài nguyên nhân lực… ở cấp độ vĩ mô hay vi mô đều

là nguồn lực con người

Là nguồn lực con người, nguồn nhân lực được hiểu là tiềm năng lao động của một nước, một địa phương, một tổ chức… bao hàm toàn bộ khả năng về thể lực, trí lực và nhân cách, đáp ứng yêu cầu của xã hội nói chung, của địa phương, của tổ chức… nói riêng”

Có thể thấy rằng nguồn nhân lực có phạm vi rộng lớn, bao gồm lực lượng lao động và những người ngoài tuổi lao động nhưng có tham gia lao động Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao động của con người Xét trên tổng thể: “Nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người trên các mặt số lượng, cơ cấu (ngành nghề và trình độ đào tạo, cơ cấu theo vùng miền, cơ cấu theo ngành kinh tế) và chất lượng bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay ngành, và năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động

quốc tế”

Từ những cách hiểu về nguồn nhân lực nói chung thì ta có thể hiểu được

“nguồn nhân lực của tổ chức văn hóa nghệ thuật là một bộ phận của nguồn lực

xã hội, là toàn bộ đội ngũ cán bộ, viên chức, nghệ sĩ, diễn viên đang làm việc với tất cả khả năng vốn có của mình về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức đặc biệt là khả năng sáng tạo nghệ thuật”

Ở nước ta, vấn đề nguồn nhân lực hiện đang là một trong những vấn đề trọng tâm Trong văn kiện Đại hội biểu toàn quốc IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất của nội lực đất nước, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Phát triển con người và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực được chọn là một trong hai khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội”

Trang 7

1.1.2 Quản lý nguồn nhân lực

Hiện nay, khái niệm quản lý nguồn nhân lực được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau:

Trước hết thì “quản lý là một sự điều tiết cao, mang tính xã hội Nó luôn là một hoạt động có hướng đích giữa chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý, khiến các hoạt động trong xã hội phải tự giác tuân thủ theo những đường hướng

mà Đảng và Nhà nước lãnh đạo vạch ra”

Bên cạnh đó, quản lý nguồn nhân lực bao gồm tất cả các quyết định và hoạt động quản lý có ảnh hưởng tới bản chất mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân Mục tiêu hàng đầu của quản lý nguồn nhân lực là giúp tổ chức đạt được những số lượng phù hợp vào đúng vị trí và đúng thời điểm nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức

Theo Werther và Davis (1996) thì: Quản lý nguồn nhân lực là tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến cho mọi người theo hướng phù hợp với chiến lược của tổ chức

Quản lý nguồn nhân lực là quản lý xã hội, một trong những loại hình quản

lý Nó được thực hiện theo một quá trình bao gồm các hoạt động: tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, phát triển và duy trì con người của tổ chức “Như vậy quản lý nguồn nhân lực cũng chính là cách thức tác động của chủ thể quản lý (cơ quan,

tổ chức, người lãnh đạo…) lên đối tượng quản lý (nguồn nhân lực) sao cho đối tượng được quản lý (tức là nguồn nhân lực) thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đặt ra của chủ thể quản lý”

Đối với các tổ chức văn hóa thì quản lý nguồn nhân lực được hiểu là sự tổ chức sử dụng và điều hành mọi thành viên trong tổ chức một cách có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trên cơ sở tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao cho việc phát huy năng lực sáng tạo của họ

Trang 8

1.1.3 Nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tàng

Nguồn nhân lực là thuật ngữ dùng chung dùng để chỉ tất cả người làm việc trong một cơ quan, đơn vị, tổ chức hay tất cả lao động trong một xã hội

Nguồn nhân lực bảo tàng cũng nằm trong nguồn nhân lực xã hội, được hiểu

là tổng số những người trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động, có đầy đủ trí lực và thể lực, trình độ chuyên môn để hoàn thành và phát triển các công việc của nghề bảo tàng

Trong giai đoạn hiện nay, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động bảo tàng, tạo khả năng kiểm soát và tra cứu thông tin một cách đầy đủ nhất và chính xác qua hệ thống hiện vật là cách thức hữu hiệu để mọi người có thể khai thác nguồn tri thức phong phú được lưu giữ tại bảo tàng

Hoạt động bảo tàng là một lĩnh vực ngày càng có vai trò quan trọng trong

xã hội hiện đại, xã hội thông tin Cũng như trong các hoạt động khác của con người, nguồn nhân lực luôn được coi là yếu tố then chốt quyết định chất lượng

và hiệu quả của hoạt động bảo tàng Nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tàng

có những đặc thù riêng, mang tính chất lao động gắn với thông tin, dữ liệu được lưu giữ và phản ánh qua từng hiện vật bảo tàng Đặc thù của nguồn thông tin này

là có thể bị hao mòn qua quá trình sử dụng, nhưng càng được sử dụng thì nó lại càng có giá trị và càng sản sinh ra nhiều thông tin mới Cán bộ bảo tàng với tư cách là cầu nối trung gian giữa khách tham quan và tài liệu, hiện vật Lao động trong hoạt động bảo tàng mang tính chất lao động trí óc, đòi hỏi tư duy, tri thức

và kinh nghiệm Vì vậy chất lượng, trình độ của cán bộ bảo tàng có vai trò quyết định đến chất lượng hoạt động bảo tàng

1.2 Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 9

tộc học được chính thức phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật ngày 14-12-1987

và được Nhà nước cấp đất để xây dựng: năm 1987 - 2.500m2, năm 1988 - 9.500m2, đến năm 1990 Thủ tướng Chính phủ có quyết định giao toàn bộ 3,27 ha Bảo tàng bắt đầu được cấp vốn chuẩn bị đầu tư vào năm 1986 Công việc xây dựng móng triển khai từ cuối năm 1989 Theo luận chứng kinh tế - kỹ thuật, tổng kinh phí để xây dựng là 27 tỷ đồng, chưa kể khoảng 4 tỷ đồng cho việc sưu tầm hiện vật, tư liệu và tổ chức trưng bày

Suốt nhiều năm, Ban quản lý công trình Bảo tàng và Phòng Bảo tàng là một bộ phận của Viện Dân tộc học Ngày 24-10-1995, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định về việc thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

Ngày 12 tháng 11 năm 1997, đúng vào dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 7 các nước có sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Tổng thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac đã cắt băng khai trương Bảo Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam toạ lạc bên đường Nguyễn Văn Huyên ở quận Cầu Giấy, cách trung tâm thủ đô Hà Nội chừng 8 km Đây vốn là vùng đất ruộng của cư dân sở tại Tất cả các công trình cơ sở hạ tầng đều mới được xây dựng cùng với quá trình hình thành Bảo tàng Đường Nguyễn Văn Huyên và đường Nguyễn Khánh Toàn chạy qua phía trước Bảo tàng cũng đều mới được xây dựng

Công trình Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày, thuộc Công ty Xây dựng nhà ở và công trình công cộng, Bộ Xây dựng) thiết kế Nội thất công trình do Bà kiến trúc sư Véronique Dollfus (người Pháp) thiết kế

Những năm trước đây, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có 2 khu vực chính:

- Khu thứ nhất bao gồm nhà trưng bày, văn phòng và cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường Các khối nhà liên hoàn với nhau, có tổng diện tích 2.480m2, trong đó 750 m2

dùng làm kho bảo quản hiện vật

Trang 10

-Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời, rộng khoảng 2 ha, bắt đầu xây dựng

năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối cùng trong năm 2006

Bên cạnh đó, hiện nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được cấp thêm hơn

1 ha đất, nâng diện tích khuôn viên của Bảo tàng lên gần 4,4 ha Tại phần đất

mở rộng này, từ giữa năm 2007 bắt đầu xây dựng một tòa nhà 4 tầng mang tên

“nhà Cánh diều”, để giới thiệu về văn hóa các dân tộc ngước ngoài, chủ yếu là

các dân tộc ở Đông Nam Á Đây là khu trưng bày thứ 3 của Bảo tàng

Mười năm đầu mở cửa, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã đón tiếp khoảng 1.200.000 lượt khách tham quan, trong đó có trên 530.000 khách quốc tế đến từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ Số du khách đến Bảo tàng ngày càng gia tăng, năm 2007 đạt 337.000 lượt người, trong 6 tháng đầu năm 2008 – hơn 210.000 lượt người…

Có thể nói, Bảo tàng này là một trung tâm trưng bày và lưu giữ quí giá về văn hoá của đủ 54 dân tộc Tính đến năm 2000 đã tích luỹ được 15.000 hiện vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2190 phim dương bản, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa CDRom Đồng thời, đây là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học với những chuyên gia về các dân tộc, các lĩnh vực chuyên ngành Người ta đến đây không chỉ để tham quan, giải trí, mà còn để tìm hiểu, nghiên cứu về các dân tộc, các sắc thái văn hoá đa dạng và đặc sắc của từng tộc, từng vùng cũng như những giá trị truyền thống chung của các dân tộc

Vì vậy, từ nhân dân khắp các miền trong nước đến khách nước ngoài, từ học sinh, sinh viên đến nhà khoa học đều có thể tìm thấy sự hấp dẫn ở đây

Hiện vật của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không phải chỉ là những cổ vật đắt tiền, mà chủ yếu bao gồm nhiều thứ rất bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể và phi vật thể của cộng đồng dân cư, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo văn hoá của

họ Bởi vậy, trong Bảo tàng này, hiện vật rất phong phú, có thể hình thành được nhiều sưu tập theo các tiêu chí khác nhau Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân

Trang 11

tộc, như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai Phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về

vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác Trên cơ sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối tượng, mọi trình độ học vấn Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được triển khai theo nhiều quan niệm mới phù hợp với sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật Trước hết đó là quan niệm Bảo tàng dành cho tất cả mọi người Quan niệm này được thể hiện trong cả kiến trúc lẫn trong kỹ thuật trưng bày Bảo tàng có lối đi riêng thích hợp cho thương binh hay những người khuyết tật phải di chuyển bằng xe đẩy và có thang máy để họ lên xem tầng hai Các bậc lên xuống đều có tay vịn cho người già yếu tiện đi lại Trong trưng bày, kế thừa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế giới, BTDTHVN đã không chọn chữ in mà chọn chữ viết thường cho tất cả các bài viết để người xem ở các lứa tuổi có thể đọc dễ dàng và không mỏi mắt Các tấm

pa nô cũng được treo ở tầm cao có tính toán phù hợp với cả lứa tuổi thiếu nhi Phần trưng bày của Bảo tàng có hiện vật, có ảnh, bài viết, có băng hình, có các

tư liệu tham khảo mà người xem tuỳ trình độ và nhu cầu khác nhau có thể khai thác nhiều hay ít

Bảo tàng lấy hiện vật làm trung tâm vì hiện vật phản ánh những sinh hoạt đời thường của nhân dân các dân tộc Vậy nên một quan điểm xuyên suốt là: trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ, để người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật rất bình dị, đời thường Trong Bảo tàng không có tranh minh hoạ Nếu cần minh chứng cho những sinh hoạt nào đó thì Bảo tàng chỉ dùng ảnh hay băng hình phản ánh cuộc sống thực của các dân tộc Phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng hiện nay chỉ trưng bày một số lượng hiện vật hạn chế: gần 700 hiện vật khối và 280 ảnh Quan điểm chủ đạo là không tham đưa quá nhiều hiện vật vào trong các tủ trưng bày, bởi sẽ gây cảm giác thừa ứ hoặc khó tiếp cận được một cách tập trung

Trang 12

Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của Bảo tàng là kết hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ và vùng lãnh thổ Hầu hết hiện vật trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn và chủ yếu phô bày trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ 1 mặt, có loại 4 mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện vật Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo Mỗi hiện vật đều có phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó Bảo tàng cũng sử dụng manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách cứng, ảnh, phim video, băng âm thanh, một số mô hình và 33 pa nô trong trưng bày Mặc

dù diện tích không lớn, nhưng trong nhà vẫn có một số điểm nhấn được trưng bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá nào đó Người xem có thể hiểu được nội dung tái tạo không chỉ thông qua hệ thống hiện vật,

mà còn có cả phim video

Bảo tàng chủ trương tăng cường lời giải thích để phục vụ người xem Hơn

100 bài viết trên panô và gắn với tủ kính hoặc với tái tạo đều cố gắng cung cấp những thông tin cần thiết và ảnh minh hoạ, nhiều pa nô có cả bản đồ Tuy nhiên,

do hạn chế về khuôn khổ nên phải viết dưới dạng ngắn gọn và cô đọng Với mục đích phục vụ cả khách nước ngoài, các bài viết đó cũng như các phụ đề của hiện vật không chỉ dùng tiếng Việt, mà còn in bằng tiếng Anh và tiếng Pháp Vì vậy,

dù không cần thuyết minh viên giới thiệu, người xem vẫn có thể hiểu được đáng

kể về các phần, các tủ, các hiện vật trưng bày

Bảo tàng cố gắng tìm các giải pháp kỹ thuật hiện đại trong phương pháp thể hiện trưng bày như việc sử lý ánh sáng, dùng đèn chuyên dụng chiếu vào từng hiện vật hay từng bộ phận của hiện vật làm nổi lên vẻ đẹp cần gây sự chú ý quan sát Trong điều kiện hiện nay, Bảo tàng đã lựa chọn phương án thông khí cho toàn bộ khu trưng bày Từng tủ kính đều được lắp hệ thống thông khí để đảm bảo cho hiện vật không bị mốc

Đối với khu ngoài trời, do đất hẹp nên Bảo tàng chỉ có thể dựng 9 công trình kiến trúc dân gian cùng một số hiện vật lớn như: Nhà rông của người Ba

Na, nhà sàn dài của người Ê Đê, nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa đất của

Trang 13

người Dao, nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông, nhà ngói của người Việt, nhà trệt của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà mồ của người Gia Rai Xen giữa các công trình kiến trúc dân gian đó là cây xanh các loại, các lối đi ngoằn ngoèo và cả con suối uốn khúc chảy suốt 4 mùa, có cầu bắc nối đôi

bờ Những trưng bày ở phần này đang từng bước được thực hiện

Phần trưng bày trong nhà hiện nay chiếm trọn tòa nhà hai tầng có dáng mô phỏng hình Trống Đồng - một biểu tượng chung của nền văn minh Việt Nam cũng như nhiều nước khác trong khu vực , Chiếc cầu đá granit dẫn vào tòa nhà bảo tàng tạo cảm giác như chúng ta bước leen căn nhà sàn phổ biến ở nhiều

vùng Sảnh lớn của bảo tàng thể hiện không gian bao quát của đất nước , mặt nền được trang trí bằng đá granit với biểu trưng theo hình thể của tổ quốc có đất liền

và biển cả; trên cao có cánh diều tượng trưng cho bầu trời

1.2.2.Vai trò nguồn nhân lực với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là cơ quan trực thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam trong Bảo tàng được xem như một giảng đường mở rộng của những người yêu thích sự tìm hiểu và khám phá nguồn tri thức vô tận của các tộc người trên khắp đất nước Từ khi thành lập đến nay, bảo tàng Dân tộc học Việt Nam luôn có những cải tiến trong các hoạt động của mình nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của các đối tượng khách tham quan khác nhau Bên cạnh những biện pháp như tăng cường nguồn lực thông tin, đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị, áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động bảo tàng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng đã đặc biệt quan tâm tới việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Từ lâu, bảo tàng đã xác định con người là chủ thể của mọi hoạt động trong

xã hội Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Trong lĩnh vực hoạt động, đội ngũ cán bộ bảo tàng là một trong 4 yếu tố cơ bản để hình thành nên một bảo tàng

Trang 14

Cán bộ bảo tàng là yếu tố quan trọng hàng đầu, vai trò của họ rất lớn Nhiệm vụ của người cán bộ bảo tàng vô cùng đa dạng, phức tạp Họ chính là người lựa chọn, xử lý, bảo quản, sắp xếp tài liệu, hiện vật theo một trật tự nhất định, giới thiệu chúng với khách tham quan khi họ có nhu cầu

Trong mối quan hệ với khách tham quan, cán bộ bảo tàng là người có tổ chức mối quan hệ giữa tài liệu, hiện vật và khách tham quan, nghiên cứu nhu cầu tìm hiểu thông tin, từ đó tuyên truyền giới thiệu một cách tích cực những thông tin mà hiện vật chứa đựng đến với người tham quan, hướng dẫn khách tham quan tìm hiểu hiện vật, tài liệu phù hợp với nhu cầu, đồng thời tạo ra các dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách tham quan

Cán bộ bảo tàng là người tổ chức, tạo điều kiện tốt nhất cho việc phối hợp thành công mối quan hệ giữa con người với thông tin, làm cho việc khai thác, sử dụng thông tin hiện vật có hiệu quả, làm tăng giá trị của thông tin chứa đựng trong từng hiện vật

Đội ngũ cán bộ bảo tàng không chỉ đơn thuần là trông coi, lưu giữ tài liệu, hiện vật mà phải là người hướng dẫn, định hướng cho khách tham quan, cung cấp cho họ những hiểu biết nhất định về hiện vật, những nguồn thông tin cần khai thác Cán bộ bảo tàng cũng cần phải nghiên cứu, sưu tầm thêm thông tin, hiện vật để bổ sung và làm phong phú hơn cho kho cơ sở của bảo tàng

Ngày nay, tuy nhiều khâu trong công tác bảo tàng, máy móc đã giúp con người giải phóng sức lao động nhưng vẫn không thể thay thế hoàn toàn con người Tất cả các công đoạn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đều gắn chặt với yếu tố con người, từ khâu nghiên cứu, sưu tầm tại thực địa, đưa hiện vật nhập kho, bổ sung thông tin cho hiện vật, cho hiện vật nhập kho, đưa hiện vật lên trưng bày, bảo quản hiện vật… Bất cứ công đoạn nào cũng đều cần tới tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghiệp vụ….của người cán bộ bảo tàng Với những công việc có sự tham gia của máy móc, con người vẫn giữ vai trò quan trọng Con người vận hành, điều khiển hoạt động của máy móc, thực chất máy móc hoạt động theo ý chí, mệnh lệnh của con

Trang 15

người Cũng chính con người kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng công việc

do máy móc tiến hành

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo bảo tàng là những người có trình độ cao, có năng lực quản lý, họ vừa là một bộ phận trong yếu tố nguồn nhân lực Cán bộ lãnh đạo là đại diện hợp pháp của bảo tàng, đồng thời là những người đề ra các chủ trương, đường lối, đưa ra các kế hoạch hoạt động của bảo tàng Thêm vào đó, họ

có quyền quản lý, chỉ đạo các cán bộ dưới quyền thực hiện những chủ trương, đường lối, kế hoạch của mình Đây là bộ phận nhân lực đầu não, có vai trò vô cùng quan trọng trong bảo tàng

Song song với công tác xử lý nghiệp vụ và công tác phục vụ, cán bộ của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam còn tham gia tích cực vào nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực văn hóa Chính tinh thần nghiêm túc, tận tụy trong nghiên cứu khoa học của những cán bộ này cùng những thành quả nghiên cứu rất có giá trị của họ đã là nguồn động viên, khích lệ tinh thần cho những cán

bộ khác hăng say đóng góp công sức vào công cuộc nghiên cứu khoa học của cán bộ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trang 16

Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI BẢO TÀNG

DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 2.1.Cơ cấu nguồn nhân lực

2.1.1.Cơ cấu theo độ tuổi

Độ tuổi là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng công việc

Mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những đặc điểm về tâm sinh lý khác nhau Bởi vậy, việc phân tích độ tuổi nguồn nhân lực giúp cho hoạt động quản lý đạt hiệu quả cao hơn Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có số lượng cán bộ tương đối đông đảo Theo thống kê hiện nay, bảo tàng có 52 cán bộ ở các độ tuổi khác nhau Nhóm cán bộ dưới độ tuổi 30 chiếm khoảng 20% Đây là những cán bộ trẻ, mới được đào tạo nên những kiến thức mà học có được khá mới, có tính cập nhật và khả năng nắm bắt những tiến bộ khoa học của họ cũng nhanh hơn Bản thân họ có sức trẻ, sự năng động, nhiệt tình, có nhiều sáng kiến trong công việc Nhưng ở họ lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên có thể còn gặp nhiều khó khăn trong công việc Tuy nhiên, trải qua thời gian công tác, họ sẽ tích lũy được thêm

kinh nghiệm, trình độ ngày càng được nâng cao

Nhóm có độ tuổi từ 30 – 50 chiếm tỷ lệ khoảng 70% so với tổng số cán bộ của bảo tàng Cán bộ ở độ tuổi này là những người đã có kinh nghiệm công tác, đồng thời vẫn ở độ tuổi trẻ trung, năng động, có sức khỏe, lại được đào tạo bài bản, là nguồn nhân lực quý báu của bảo tàng Cán bộ từ 40 – 50 tuổi là những người đã đạt được độ chín về nghề nghiệp Sau nhiều năm công tác, họ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong công việc, có kỹ năng kỹ xảo thành thục, có năng lực giải quyết những công việc có tính chất phức tạp

Những cán bộ trên 50 tuổi chiếm khoảng 10% đều là những cán bộ kỳ cựu, giàu kinh nghiệm, đa số đảm trách những nhiệm vụ quan trọng trong bảo tàng Những kinh nghiệm của họ là nguồn kiến thức vô giá đối với lớp cán bộ trẻ Tuy nhiên, những cán bộ ở độ tuổi này đã bắt đầu gặp phải những vấn đề về sức khỏe, những biến đổi về tâm sinh lý, sự nhiệt tình, năng động trong công việc đã bắt đầu có dấu hiệu giảm sút

Trang 17

2.1.2 Cơ cấu theo giới tính

Do đặc thù của ngành bảo tàng nên cũng giống với nhiều bảo tàng khác trong cùng hệ thống, số lượng cán bộ nữ chiếm tỷ lệ lớn hơn cán bộ nam trong

cơ cấu giới tính của đội ngũ cán bộ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Thực tế cho thấy tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, thậm chí có những phòng hoàn toàn không có cán bộ nam giới như phòng Giáo dục, phòng trưng bày ngoài trời Sự tế nhị và khả năng giao tiếp mềm mỏng, nữ giới có thể phục

vụ khách tham quan với hiệu quả cao hơn Ngay cả trong các khâu xử lý kỹ thuật nghiệp vụ, sự cẩn thận, tỉ mỉ của nữ giới cũng góp phần nâng cao chất lượng xử lý, đáp ứng yêu cầu chính xác, đầy đủ hơn so với nam giới

2.2 Chất lượng nguồn nhân lực

2.2.1 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có trình độ tương đối cao về chuyên môn nghiệp vụ Số lượng thạc sĩ sau 10 năm chỉ tăng

34 người, là mức tăng nhanh Hiện tại, nhiều cán bộ bảo tàng nhận thấy trình độ của mình chưa đáp ứng được nhu cầu của công việc nên họ đã tham gia các khóa học đào tạo thạc sĩ, nghiên cứu sinh để nâng cao trình độ

Về phần số lượng cử nhân tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam bao gồm những cán bộ tốt nghiệp hệ chính quy và tại chức của các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài nước thuộc chuyên ngành đào tạo bảo tàng cũng như chuyên ngành khác

Giai đoạn từ năm 2007- 2011, số lượng cán bộ ở trình độ cử nhân của bảo tàng giảm xuống nhanh chóng Lý do của hiện tượng này là do tổng số lượng cán bộ của bảo tàng có sự suy giảm lớn, bên cạnh đó một số cử nhân đã tham gia các khóa đào tạo sau đại học và trở thành thạc sỹ

Số lượng cán bộ thuộc những trình độ khác trong những năm qua có xu hướng tăng cao Đến năm 2015, số lượng cán bộ ở trình độ này lên tới 11 người bao gồm các phó giáo sư và tiễn sĩ, một số cán bộ đang trong thời gian hoàn thành chương trình học nghiên cứu sinh của mình

Trang 18

Xét về trình độ chuyên môn, tính từ năm 2010 đến nay, nhìn chung nguồn nhân lực của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã có những thay đổi Trước những đòi hỏi ngày càng cao của ngành bảo tàng, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã có những đầu tư nhất định trong việc đào tạo lại nguồn nhân lực ở những trình độ cao hơn

Xét về cơ cấu ngành đào tạo, theo thống kê, cán bộ có trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ cao nhất so với các ngành khác Đây có thể coi là một thành tựu đáng kể của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Có được kết quả như vậy là do chính sách tuyển dụng của bảo tàng vẫn rất chú trọng những người được đào tạo

về bảo tàng và luôn được nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ

2.2.2 Năng lực ngoại ngữ và tin học

Trong bối cảnh hiện nay, khả năng sử dụng ngoại ngữ thành thạo của nguồn nhân lực tác động không nhỏ đối với sự phát triển của hoạt động bảo tàng Nó giúp ta vượt rào cản ngôn ngữ để tiếp cận, nắm bắt, học hỏi kinh nghiệm các nghiệp vụ đổi mới, tiên tiến trên thế giới; tăng cường khả năng hội nhập, giao lưu, hợp tác quốc tế; phát triển kỹ năng xử lý, tổ chức và khai thác thông tin bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau

Mặt khác, bảo tàng thu hút đông đảo khách tham quan không chỉ trong nước mà khách quốc tế Do đó, nếu cán bộ bảo tàng không biết tiếng Anh thì sẽ không thể thao tác, giao tiếp và xử lý được Đây chính là nguyên nhân trên buộc đội ngũ cán bộ bảo tàng phải thông thạo ít nhất một ngoại ngữ thông dụng Ngoài tiếng Anh là loại ngôn ngữ phổ biến, thì ngày nay còn có thêm tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Nhật

Bên cạnh ngoại ngữ thì tin học cũng là một phần quan trọng với hoạt động của bảo tàng và từng cán bộ Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, việc tin học hóa hoạt động bảo tàng là một điều tất yếu Khả năng làm việc với máy tính và thực hiện các thao tác công việc với phần mềm là kỹ năng thường ngày trực tiếp đến các hoạt động của bảo tàng Hiện đại hóa bảo tàng gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động bảo tàng

Trang 19

khiến cho khả năng sử dụng máy tính, các kiến thức về tin học ngày càng chiếm

vị trí quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu công việc Cán bộ bảo tàng cần phải có khả năng sử dụng các phần mềm thông dụng phục vụ công việc hàng ngày cũng như khả năng sử dụng các phần mềm văn bản, xử lý số liệu sưu tầm…

2.2.3 Năng lực thể chất

Công tác bảo tàng là một công việc vất vả cả về trình độ chuyên môn và thể chất Cán bộ bảo tàng thường xuyên ngồi hàng giờ liên tục xử lý nghiệp vụ một lượng lớn tài liệu, hiện vật, khai thác thông tin, sau đó phải vận chuyển, khuân vác, bó, sắp xếp theo những quy tắc nhất định; bộ phận kho và bảo quản thì phải thường xuyên xử lý hàng ngàn tài liệu, hiện vật khác nhau Điều này đòi hỏi cán

bộ bảo tàng không những cần trình độ chuyên môn cao, kỹ năng, kỹ xảo thành thục mà còn cần một sức khỏe tốt, bền bỉ, dẻo dai

Nhận thấy sức khỏe của người lao động là tài sản quý báu của bảo tàng, trong những năm qua, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã có chính sách nhằm nâng cao năng lực thể chất cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên của mình như tiến hành khám sức khỏe định kỳ, hỗ trợ kinh phí khám chữa bệnh cho cán bộ, đầu tư các trang thiết bị bảo hộ lao động, các máy móc hiện đại nhằm giảm bớt

sự vất vả cho cán bộ Bên cạnh đó bảo tàng còn tích cực phát động phong trào thể dục thể thao, tổ chức các hội thao dành cho đội ngũ cán bộ bảo tàng

2.3 Quản lý nguồn nhân lực tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Quy trình tuyển dụng được thực hiện một cách công khai, minh bạch Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam công bố rộng rãi trên website về chỉ tiêu, yêu cầu, thời gian tuyển

Ngày đăng: 26/03/2017, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Kim Dung (2009), “Quản trị nguồn nhân lực”, Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Kim Dung
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2009
2. Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2003), “Giáo trình quản trị nguồn nhân lực”, Nxb Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2003
3. Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên (1998), “Quản lý hoạt động văn hóa”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động văn hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
4. Bùi Văn Nhơn (2006), “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội”, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội
Tác giả: Bùi Văn Nhơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
5. Nguyễn Dương Linh Sơn (2005), “Nghệ thuật sử dụng nguồn nhân lực trong kinh doanh”, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật sử dụng nguồn nhân lực trong kinh doanh”
Tác giả: Nguyễn Dương Linh Sơn
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
6. Nguyễn Thị Lan Thanh (chủ biên), Phan Văn Tú, Nguyễn Thanh Xuân (2009), “Giáo trình quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật”, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Thanh (chủ biên), Phan Văn Tú, Nguyễn Thanh Xuân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2009
7. Phan Văn Tú (2009), “Đại cương về quản lý”, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về quản lý
Tác giả: Phan Văn Tú
Nhà XB: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w