Định hướng nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích đền Thác Bờ .... Tuy nhiên quá trình khai thác và sử dụng di sản văn hóa trong đó có di tích đền
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục đề tài 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỀN THÁC BỜ, TỈNH HÒA BÌNH 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Di sản văn hóa 6
1.1.2 Di tích lịch sử văn hóa 7
1.1.3 Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa 7
1.2 Khái quát về địa điểm tồn tại đền Thác Bờ 8
1.3 Tổng quan về đền Thác Bờ 10
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN THÁC BỜ HIỆN NAY 12
2.1 Các giá trị của khu di tích đền Thác Bờ 12
2.2 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa đền Thác Bờ 14
2.2.1 Hoạt động quản lý, nghiên cứu – bảo tồn 14
2.2.2 Ứng dụng, phát huy giá trị di tích 15
2.3 Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị lịch - sử văn hóa của đền Thác Bờ 16
2.3.1 Ưu điểm 16
2.3.2 Hạn chế 18
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ĐỀN THÁC BỜ 21
3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích đền Thác Bờ 21
3.1.1 Của các cấp chính quyền địa phương 21
Trang 23.1.2 Của ban quản lý di tích 22
3.2 Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di tích 23
3.2.1 Cơ sở pháp lý 23
3.2.2 Các giải pháp chung 25
3.2.3 Giải pháp về đường lối chính sách 26
3.2.4 Giải pháp về giáo dục tuyên truyền 26
3.2.5 Giải pháp về kinh tế tài chính 26
3.2.6 Giải pháp nâng cao trình độ quản lý 27
3.2.7 Giải pháp đẩy mạnh công tác quản lý và khai thác di tích phục vụ cho du lịch văn hóa 27
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 31
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, xong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình
Hòa Bình là tỉnh miền núi phía Bắc, là cửa ngõ của khu Tây Bắc Vị trí này khiến Hòa Bình trở thành đầu mối giao thông quan trọng nối liền các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc với vùng đồng bằng châu thổ Do những thuận lợi về vị trí địa lý
và điều kiện tự nhiên, cách đây hàng vạn năm đất Hòa Bình đã được con người chọn làm nơi sinh sống
Hiện nay, tuy là tỉnh có trình độ phát triển kinh tế còn tương đối thấp nhưng lại được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nhiều thắng cảnh đẹp, những đặc sản nức tiếng gần xa như thắng cảnh vùng hồ thủy điện Hòa Bình nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn mang tầm quốc tế Bên cạnh đó, Hòa Bình còn lưu giữ được một hệ thống di tích lịch sử - văn hóa khá phong phú trong đó phải kể tới đền Thác Bở Tuy nhiên quá trình khai thác và sử dụng di sản văn hóa trong
đó có di tích đền Thác Bờ trong những năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn trong việc bảo tồn và khai thác các giá trị của di sản văn hóa để phục vụ cho phát triển du lịch Bảo tồn cái gì, bảo tồn như thế nào, ai là chủ nhân của tiến trình bảo tồn đó, từ tiềm năng di sản để tạo ra các sản phẩm du lịch, các vấn đề về quản lý các di sản đặc biệt là đền Thác Bờ cần phải được tiến hành như thế nào là hàng loạt những câu hỏi được đặt ra cần có sự giải đáp một cách hợp lý để hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di tích được thực hiện một cách hợp lý và đúng đắn
Xuất phát từ những lý do trên nên em quyết định chọn đề tài “Bảo tồn và
phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa đền Thác Bờ, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài
tiểu luận của mình với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu về di tích để từ đó có
thể đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di tích trong giai đoạn hiện nay
Trang 4Trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu phục vụ cho bài tiểu luận thì
em nhận thấy rằng một số tài liệu công trình nghiên cứu phù hợp với yêu cầu đề
ra sẽ tiếp tục kế thừa để từng bước làm sáng tỏ các giá trị lịch sử - văn hóa của
di tích đền Thác Bờ, những tiềm năng du lịch mà di sản văn hóa đền Thác Bờ tỉnh Hòa Bình hiện đang lưu giữ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các giá trị văn hóa và lịch sử của
di tích đền Thác Bờ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đền Thác Bờ huyện Đà Bắc và Cao Phong, tỉnh Hòa Bình
- Thời gian: Từ năm 2000 đến nay
4 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị đền Thác Bờ trên cơ
sở điều tra, khảo sát các di tích lịch sử, văn hóa của ngôi đền
Trang 5- Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng các giá trị của đền Thác Bờ cho phát triển du lịch
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Thác Bờ hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát, thu thập thông tin
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN
VỀ ĐỀN THÁC BỜ, TỈNH HÒA BÌNH 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Di sản văn hóa
Theo tác giả Quang Thông trong cuốn sách “Từ điển Tiếng Việt” (2006),
Nhà xuất bản Văn hóa – Thông Tin đã định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước
để lại” [7, tr75], nó có vai trò vô cùng quan trọng trong diễn trình văn hóa của một dân tộc nói riêng, và hiểu theo nghĩa rộng là của cả nhân loại nói chung
Để tìm hiểu khái niệm di sản văn hóa trước hết cần phải hiểu thế nào là văn hóa Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm
đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
và xã hội của mình” [8, tr33-34] Thống nhất với quan điểm ấy, có thể hiểu di sản văn hóa cũng chính là những sản phẩm sáng tạo đó Tuy nhiên phải những gì
có giá trị mới được công nhận là di sản, theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa một trong những khái niệm của di sản là “Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa”
Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ di sản văn hóa
“bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đây có thể xem
là khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay, hoàn toàn tương tự khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng trên thế giới Điều
đó cũng có nghĩa di sản văn hóa cũng là của cải, là tài sản quốc gia và mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn
Như vậy, trong di sản văn hoá của một dân tộc, thường được chia ra thành hai loại:
Trang 7- Di sản văn hoá vật thể: là những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử- văn hoá – khoa học, bao gồm di sản lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật cổ vật, bảo vật quốc gia
- Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị văn hoá- khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học - nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
1.1.2 Di tích lịch sử văn hóa
Theo Hán Việt tự điển: Di là còn xót lại; Tích là tàn tích, dấu vết Như vậy
di tích là tàn tích, dấu vết còn xót lại của quá khứ
Theo Từ điển Tiếng Việt thì di tích lịch sử văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị văn hóa được lưu lại Luật Di sản văn hóa của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội khóa X thông qua tại kì họp thứ 9 ngày 29 tháng 9 năm 2001 thì di tích lịch sử văn hóa
là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa địa có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa học
1.1.3 Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử - văn hoá được xếp vào di sản văn hoá vật thể, mặc dù giá trị cuả chúng nhiều khi lại ở giá trị tinh thần
Quản lý di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di sản lịch sử- văn hoá
Trang 8đồng thời nghiên cứu, phát huy các giá trị quý báu của các di sản đó Hoạt động này bao gồm:
- Tu bổ di sản lịch sử văn hoá là hoạt động nhằm tu bổ, sửa chữa, gia cố tôn tạo di sản lịch sử
- Phục hồi di sản lịch sử - văn hoá đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di sản lịch sử - văn hoá
- Tổ chức các hoạt động nhằm phát huy các giá trị của di sản
Di sản lịch sử văn hoá là những công trình được xây dựng, những địa điểm,
đổ vật, tư liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như
có giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá xã hội
Di sản lịch sử văn hoá tồn tại bằng những không gian, hình tượng muôn hình muôn vẻ như một xóm làng, cánh đồng, khu rừng, khu phố Một tầng nhà, hang động, khúc sông, một hầm hào, một con đường hay một bức chạm khắc, một công trình kiến trúc lẻ loi, một quần thể kiến trúc, một tác phầm nghệ thuật riêng rẽ
Đình, chùa là trung tâm văn hoá tín ngưỡng, là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi chuyển tải yếu tố tâm linh mà thiên nhiên xung quanh đóng góp phần quan trọng Xây dựng theo luật “Phong thủy”, kiến trúc đình chùa còn thể hiện trí tuệ, phẩm chất của người trụ trì hay hưng công tạo lập, luôn biểu đạt tối đa giá trị tinh thần bằng phương tiện vật chất tối thiểu
1.2 Khái quát về địa điểm tồn tại đền Thác Bờ
Hòa Bình là tỉnh miền núi thuộc phía nam Bắc Bộ, giới hạn ở tọa độ 20°19'
- 21°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 73 km Cũng giống như Ninh Bình và Thanh Hóa, tỉnh Hòa Bình nằm giáp ranh giữa 3 khu vực: Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của cả nước Thu nhập bình quân đầu người:
1500 USD (tương đương 34.090.909 đồng) (1/2016) Hòa Bình là tỉnh miền núi,
Trang 9tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng, có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng tây bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía tây bắc có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250,
Trước đền Thác Bờ thuộc xã Hào Tráng, sau nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, hiện đền tọa lạc tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Đền Thác Bờ phía tả ngạn thuộc huyện Đà Bắc nằm trên đỉnh đồi Hang Thần ở xóm Phố Bờ Từ dưới bến thuyền du khách phải leo hơn 100 bậc, sau đó theo một triền dốc thoải mới mới đến nơi Đền gồm 3 gian, mái đền bằng bê tông cốt thép, được thiết kế theo kiểu vòm cuốn và kiến trúc mặt bằng hình chữ đinh gồm: nhà Đại bái và nhà Hậu cung, phía trước đền gồm 5 cửa (ngũ quan) Hiện nay tại di tích này còn lưu giữ được một quả chuông đồng được đúc vào tháng 2, năm Thành Thái thứ 6
Đền Thác Bờ phía hữu ngạn huyện Cao Phong tọa lạc trên sườn đồi Sầm Lông, thuộc xóm Đền Trước đây đền Thác Bờ chủ yếu được dựng lên từ tranh,
Trang 10tre, nứa, lá ngay dưới chân Thác Bờ Sau này, nước dâng cao do Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên Sông Đà khởi công xây dựng nên ngôi đền phải di rời lên sườn núi ngay cạnh bờ sông Vào mùa khô muốn thăm đền, du khách phải leo
bộ hết 108 bậc Nhưng vào mùa mưa nước dâng lên sát nền móng đền, khách có thể lên thẳng khi thuyền bè cập bến
1.3 Tổng quan về đền Thác Bờ
Thác Bờ xưa còn gọi là thác Vạn Bờ, được tạo bởi hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà Theo truyền thuyết, đền thờ bà chúa Thác Bờ là Đinh Thị Vân – người Mường và một bà người Dao ở Vầy Nưa, có công giúp vua Lê Lợi về quân lương, thuyền mảng vượt thác Bờ tiến quân lên Mường Lễ, Sơn La dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn Sau khi mất, hai
bà thường hiển linh giúp dân vượt thác an toàn, phù hộ cho trăm dân trong vùng mưa thuận, gió hòa Bởi vậy, nhân dân trong vùng phong cả hai là Bà chúa Thác
Bờ và lập đền thờ phụng
Đền Thác Bờ nằm trong khu vực Thác Bờ giữa dòng sông Đà gồm có đền Trình (đền Chúa) và đền Chầu (đền ông Chẩu) Trên đền thờ hội đồng các quan, thờ Đức Đại Vương Trần Triều, thờ Chúa Thác Bờ và thờ Sơn Trang, nhưng chủ yếu vẫn là thờ hai bà Chúa Thác người Mường và người Dao
Theo truyền thuyết dân gian, vào khoảng năm 1430-1432, vua Lê Lợi niên hiệu Thuận Thiên đem quân đi dẹp loạn giặc Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Sơn La Khi vua Lê Lợi kéo quân đến khu vực Thác Bờ thì thấy giữa dòng nước xoáy phía trước là một thác nước hiểm trở xô bọt trắng trời, với muôn vàn mỏm đá lởm chởm nên đoàn quân không thể tiến lên được Khi đoàn quân của vua Lê đến thác Bờ đã được sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân trong vùng Trong đó
có bà Đinh Thị Vân, người dân tộc Mường ở xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc và một
bà người Dao Các bà kêu gọi nhân dân đứng lên vận động trai tráng trong bản lên rừng xẻ ván, đóng thuyền độc mộc, kêu gọi nhân dân chặt nứa kết thành bè mảng, góp lương thực, thực phẩm để nuôi quân và đã chèo thuyền đưa, dẫn quân
đi đánh giặc
Trang 11Khi đánh thắng giặc, các bà còn tổ chức lễ hội cho nhân dân mừng chiến thắng để tiễn quân của nhà vua về kinh đô Sự tích Đền Bờ hay còn gọi là sự tích
bà Chúa Thác gắn liền với với cuộc chinh phạt giặc do vua Lê chỉ huy và được nhân dân địa phương ủng hộ bằng cách đóng bè, mảng đưa quân cùng với thuyền rồng của nhà vua vượt thác Bờ trở về
Khi nói về Thác Bờ, sách Đại Nam nhất thống chí đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm
ầm, trông rất dữ dội Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long thuỷ, hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua đê Long thuỷ, tức là chỗ này Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5,6 trượng, người ta gọi là “ao vua”, tức là bến sông Vạn Bờ xưa thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc”…lại có tên núi nữa là núi Ngải Sách Đại Thanh nhất thống chí chép: “núi ở huyện Gia Hưng; trông ra sông cái…tương truyền trên núi có cây ngải tiên, mùa xuân nở hoa, sau khi mưa, hoa rụng xuống nước, con cá nào nuốt phải hoa ấy thì vượt được Long
- môn mà hoá thành rồng Nay núi Long môn châu Đà Bắc, trước mặt trông ra sông Đà, gần đê Long thuỷ, có lẽ là đấy” Phần chép về sông Đà, có đoạn như sau: “có 83 thác nổi tiếng mà Vạn Bờ là thác nguy hiểm nhất; bờ bên hữu sông
là động Thượng và động Hạ thuộc Châu Mai, bờ bên tả là các động Tân An, Hào Tráng, Hiền Lương và Dĩ Lí thuộc Châu Mộc”
Ngày nay, thác Bờ và Đền Bờ đã trở thành điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng Lễ hội đền Thác Bờ được mở từ ngày mùng 2 Tết đến hết tháng 4 âm lịch Mỗi ngày đền Thác Bờ đón hàng ngàn khách thập phương nô nức đến lễ cầu may
Trước đây đền Thác Bờ thuộc xã Hào Tráng tuy nhiên đền thờ cũ chìm dưới hàng chục mét nước của thủy điện Hòa Bình Sau nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, hiện đền tọa lạc tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Trang 12Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỀN THÁC BỜ HIỆN NAY 2.1 Các giá trị của khu di tích đền Thác Bờ
Đền Thác Bờ có giá trị cảnh quan không gian lớn Đền được xây dựng trên vùng đất có quy mô lớn, rộng rãi, thoáng mát, xung quanh đền có hồ nước rộng lớn, cây cối quanh năm xanh mát Hơn thế mữa đền tọa lạc ở khu vực yên tĩnh, trong lành nên càng tôn thêm giá trị đặc sắc
Chính quyền và người dân cũng đã đầu tư để tôn tạo và xây dựng, mở rộng thêm không gian đền, trồng thêm nhiều cây xanh, cây ăn quả, mở rộng khu vực xung quanh đền và cải tạo cho sạch đẹp hơn Điều này càng làm tăng thêm giá trị về cảnh quan, không gian cho đền Thác Bờ, làm cho không gian đền càng thêm thoáng mát, trong lành, tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách khắp nơi trong cả nước Cảnh quan không gian tốt cũng góp phần tạo nên sự hứng thú cho
du khách và sẽ càng ngày càng thu hút được nhiều khách đến thăm đền hơn
Di tích đền Thác Bờ đã để lại một giá trị lịch sử, cũng như giá trị văn hoá hết sức to lớn đối với thế hệ chúng ta Công trình kiến trúc và trang trí đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm quý giá, những giá trị hết sức to lớn về trang trí hoạ tiết hoa văn, về những giá trị nguyên bản của nó Để chúng ta ngày nay tìm hiểu và nghiên cứu về nét văn hóa xưa được thuận lợi hơn
Các hệ thống di tích phản ánh các giá trị lịch sử, văn hoá của cư dân địa phương đã được đúc rút qua nhiều thế hệ, nâng niu trong tâm thức, tình cảm của người dân các địa phương Các làng bản khu vực Thác Bờ và hồ thủy điện Hòa Bình còn lưu giữ rất nhiều các mảnh vụn văn hoá truyền thống về các sự tích về các điều linh ứng thể hiện ý thiêng “ứng thiên, thuận nhân” như các bà hiển linh giúp dân, giúp nước…
Đền Thác Bờ có giá trị tâm linh, tinh thần to lớn đối với người dân Hòa Bình nói riêng và người dân Việt Nam nói chung
Trang 13Ngôi đền thờ những người có công với dân với nước trải qua hàng trăm năm lịch sử nên rất linh thiêng Vẻ cổ kính vốn có của đền cũng làm tăng thêm tính thiêng đó
Chính vì tính thiêng vốn có mà đền Thác Bờ luôn có rất đông đảo du khách đến thăm viếng, trở thành một phần không thể thiếu trong tâm linh của mỗi người dân
Đền Thác Bờ là nơi nhân dân địa phương và du khách đến để cầu mong những điều tốt đẹp nhất cho gia đình, cho bạn bè, là nơi để tận hưởng những giây phút tĩnh tâm thoải mái nhất sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi Đền Thác Bờ đã trở thành một biểu tượng tâm linh tinh thần của tỉnh Hòa Bình, là nơi mà mỗi một người dân nào dù đi bất cứ đâu cũng luôn tìm về
Những hoạt động tín ngưỡng tại đền Thác Bờ với những nét linh thiêng, trang nghiêm của nó, cũng đã ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tâm linh người dân địa phương Nó có giá trị văn hoá độc đáo trong đời sống tâm linh của cư dân., nhân dân địa phương cũng như nhân dân cả nước, hàng năm vào dịp lễ hội đã đến đây thắp hương để tưởng nhớ tới công lao to lớn của những bậc tiền nhân và thoã mãn như cầu tâm linh trong đời sống tinh thần của mình
Đền Thác Bờ là một bộ phận đặc biệt của khu văn hoá quanh hồ thủy điện Hòa Binh, nó mang trong lòng những yếu tố đặc trưng của một nền văn hoá lâu đời trong một không gian văn hoá được xác lập, tạo dựng với rất nhiều yếu tố chi phối khác nhưng đều làm tôn nên một không gian thiêng ngay giữa chốn non nước, núi rừng
Di tích đền Thác Bờ là một sản phẩm văn hoá có tính lịch sử và tính tổng hợp các giá trị văn hoá độc đáo của một thời đại Công trình kiến trúc đền chỉ thật sự phát huy giá trị khi được đặt vào đúng không gian văn hoá của chính thời đại của nó Điều này là rất cần thiết cả về mặt thực tiễn và lý luận Rõ ràng các hoạt động văn hoá truyền thống, các hoạt động văn hoá dân gian được tái dựng phải tôn tạo các yếu tố chân thực, khách quan Các yêu cầu hiện thực về nội
Trang 14dung, trình thức nghệ thuật cũng như thời điểm, thời gian, không gian sẽ tạo ra tính “thiêng”, tính hấp dẫn, và những đồng cảm giữa hiện thực và quá khứ
2.2 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa đền Thác Bờ
2.2.1 Hoạt động quản lý, nghiên cứu – bảo tồn
Công tác quản lý đối với hoạt động của di tích đền Thác Bờ là rất cần thiết
Để bảo tồn, phát huy giá trị của di tích, lễ hội đền Thác Bờ gắn với phát triển du lịch thì trong công tác quản lý cần được chú trọng đặc biệt Thực tế hiện nay, công tác quản lý ở đền Thác Bờ còn nhiều vấn đề bất cập
Đền Thác Bờ có Ban quản lý di tích chuyên trách như nhiều nơi khác nhưng đội ngũ cán bộ chuyên môn có trách nhiệm theo dõi và quản lý di tích còn tương đối mỏng và yếu Tại di tích chỉ có các thủ nhang chuyên làm nhiệm
vụ trông coi đền Đền cũng không có đội ngũ hướng dẫn viên giới thiệu, thuyết minh về di tích cho khách tham quan Ở đây cũng không có dịch vụ thu phí tham quan đền Hoạt động du lịch của đền do phòng Văn hóa vàThông tin quản lý và theo dõi (căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ của phòng Văn hóa Thông tin, phòng quản lý các di tích của địa bàn) nhưng do đền nằm trên hai địa điểm khác nhau đã gây ra sự chồng chéo và khó khăn trong công tác quản lý di tích và lễ hội đền Thác Bờ
Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích đền Thác Bờ chưa được các cấp quản lý quan tâm đúng mức Công tác tu bổ và tôn tạo di tích phụ thuộc vào nguồn kinh phí của tỉnh và nguồn tài trợ của các doanh nghiệp và nhân dân địa phương mà thiếu sự chủ động của các cấp quản lý Hiện nay chưa có quy định
cụ thể về thời gian cũng như kế hoạch tu bổ, tôn tạo di tích
Các di tích trải qua quá trình tồn tại lâu dài đều không tránh khỏi sự tác động của các yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Những yếu tố tự nhiên tác động thường xuyên tới di tích như khí hậu, thiên tai, độ ẩm đây đều là những yếu tố tác động tiêu cực đến công tác bảo quản các cấu kiện kiến trúc của di tích Bên cạnh những yếu tố của tự nhiên thì con người cũng là một tác nhân đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tới di tích Chính
Trang 15vì vậy mà công tác bảo tồn các di tích là công việc không hề đơn giản đòi hỏi những người làm công tác bảo tồn di tích phải thường xuyên nghiên cứu các vấn
đề liên quan đến di tích trên mọi phương diện như lịch sử, kiến trúc, mĩ thuật để có thể bảo tồn di tích một cách tốt nhất
Thông thường, người ta sử dụng các hình thức tu bổ di tích như: Tu bổ với quy mô lớn (sửa chữa lớn, tu sửa lớn) và tu bổ mang tính chất sửa chữa nhỏ (tu sửa nhỏ) Căn cứ vào thực trạng di tích đền Thác Bờ hiện nay, trước mắt những người làm công tác Quản lý văn hóa mà trực tiếp là Ban quản lý di tích đã chọn giải pháp thứ hai tức là tu bổ mang tính chất sửa chữa nhỏ Giải pháp này có nhiệm vụ bảo vệ
và tăng cường về mặt kĩ thuật để cho di tích, luôn giữ được trạng thái bảo quản ổn định mà không làm thay đổi hình dáng vốn có của nó Giải pháp này được tiến hành bằng những hình thức như: Bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ cho di tích; kiểm tra
về mặt kĩ thuật; phát hiện, ngăn chặn hoặc loại trừ kịp thời những nguyên nhân gây hại cho di tích Với giải pháp này chúng ta có thể tiến hành trên một số bộ phận của
di tích đền Thác Bờ đang bị mối mọt, mục nát như: Một số hoành, đầu bẩy, các mảng chạm bằng những kĩ thuật cụ thể như: bảo dưỡng, gia cố, tái định vị
Với giải pháp gia cố thì ở các cấu kiện là các xà ăn mộng vào thân cột ta dùng giải pháp tạm thời là dùng một miếng sắt có độ dày vừa phải sau đó bắt bu lông vào thân cột và xà để cho tua mộng của cấu kiện được chắc chắn, tránh những hư hỏng nặng tiếp theo Nếu tiến hành gia cố kịp thời thì có thể sẽ tránh được tình trạng xuống cấp nhanh của công trình
2.2.2 Ứng dụng, phát huy giá trị di tích
Để bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Thác Bờ, chúng ta phải áp dụng nhiều biện pháp đồng loạt Trước hết, các nhà quản lý di tích đã và đang tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng , hiệu quả hoạt động bảo tồn , phát huy giá trị
di tích gắn với phát triển du lịch Hòa Bình Phát huy các thế mạnh tiềm năng của
di tích với phát triển du lịch văn hóa Mặt khác, bên cạnh việc khai thác di tích phục vụ tham quan du lịch , phải chú trọng giữ gìn , bảo vệ tốt di tích Phải tăng cường huy độn g các nguồn lực tài chính để đầu tư tu bổ , tôn tạo di tích Thực
Trang 16hiện tốt phương châm khai thác , phát huy giá trị di tích phục vụ phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ , tôn vinh di tích Đảm bảo gắn kết chặt chẽ giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế , giữa bảo tồn, phát huy giá trị di tích với phát triển
du lịch
Trong quá trình tu bổ , tôn tạo di tích cần tôn trọng tính nguyên gốc của di tích Các hoạt động tu bổ , tôn tạo di tích p hải có dự án, kế hoạch cụ thể được cơ quan chức năng có thẩm quyền phê duyệt Tuyệt đối tránh hiện tượng làm mới
di tích, biến dạng di tích Đặc biệt cần ngăn chặn sự xâm hại di tích do các hoạt động kinh doanh , xây dựng xung quanh khu vực di tích
Di tích chỉ được bảo tổn và phát huy khi nó sống được trong lòng nhân dân , được nhân dân trân trọng và gìn giữ Chính vì vậy công tác tuyên truyền giáo dục về lịch sử, giá trị của di tích đối v ới nhân dân và đặc biệt là thế hệ trẻ rất cần thiết Ban quản lý di tích phối hợp với ngành giáo dục đưa chương trình giảng dậy về di tích đền Thác Bờ vào trong nhà trường Thông qua các hoạt động ngoại khóa , đưa học sinh , sinh viên tham quan di tích Các hoạt động này nhằm nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ những di sản văn hóa của dân tộc mà cụ thể ở đây là di tích đền Thác Bờ Đồng thời tuyên truyền , giới thiệu di tích thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Công tác quản lý là khâu then chốt trong việc bảo vệ , phát huy giá trị của di tích đền Thác Bờ trong thời điểm hiện nay
2.3 Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị lịch - sử văn hóa của đền Thác Bờ
Trang 17Chưa bao giờ xu hướng đề cao tâm linh, tín ngưỡng lại được nhân dân các địa phương coi trọng như hiện nay Di tích, lễ hội cổ truyền được tổ chức phục dựng, hàng loạt các di tích văn hóa, lịch sử được đầu tư, khôi phục Cũng như các di sản văn hóa khác, di tích và lễ hội đền Thác Bờ được quan tâm tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Đây là cơ hội cho các nhà quản lý, các doanh nghiệp khai thác tối đa các giá trị di tích gắn với phát triển du lịch
Những năm gần đay, nhận thức về vai trò của văn hóa ở nước ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó vừa là động lực thúc đẩy vừa là mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của chúng ta Hiện nay trong quá trình hội nhập của đất nước, văn hóa có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân Và khi nói đến văn hóa thì không thể không nói đến Hòa Bình, nơi được ví là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” Du lịch văn hóa lễ hội tại Hòa Bình mà đặc biệt là tại khu di tích lịch sử văn hóa đền Thác Bờ đã có những đóng góp không nhỏ trong sự phát triển du lịch văn hóa lễ hội của cả nước Những hoạt động tích cực mà hoạt động văn hóa mang lại đó là:
Trong lễ hội, mọi người cùng nhâu ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, cùng tự hào về các anh hùng có công dựng nước và giữ nước bảo vệ dân tộc Các lễ hội thường giúp cho con người ta hướng về cái thiện lòng nhân ái của con người với con người
Trong những năm qua , công tác tổ chức , quản lý lễ hội đền Thác Bờ khá tốt Các kỳ lễ hội diễn ra chu đáo , an toàn, tiết kiệm và là nh mạnh Nét ưu điểm nổi bật là lễ hội tổ chức theo đúng nghi lễ cổ truyền , không pha tạp Nhiều trò chơi, trò diễn dân gian được phục hồi ví dụ như trò đẩy gậy , thi vừa hành quân vừa thổi cơm…yếu tố địa phương cũng được đưa vào các trò chơi, cuộc thi ví dụ