Khâu lỗ thủng dạ dày.+ Vết thương ở dạ dày có thể do dao hoặc một vũ khí nhọn đâm phải hoặc do đạn, mảnh bom..., dạ dày cũng có thể bị tổn thương do chấn thương kín ở vùng bụng.. + Khâu
Trang 1CÁC PHẪU THUẬT CƠ BẢN TRÊN
DẠ DÀY
Ths Bs Huỳnh Huy Cường
Trang 21 Khâu lỗ thủng dạ dày.
+ Vết thương ở dạ dày có thể do dao hoặc
một vũ khí nhọn đâm phải hoặc do đạn, mảnh bom , dạ dày cũng có thể bị tổn
thương do chấn thương kín ở vùng bụng Tình trạng tổn thương rất đa dạng, dễ bị
bỏ sót lúc khám xét, thăm dò Chỉ khi mở bụng ra kiểm tra mới xác định được tính chất của từng thương tổn và vị trí của nó trên dạ dày.
Trang 3+ Ổ loét dạ dày tá tràng có thể bị thủng
Vị trí thủng ổ loét thường gặp là vùng môn vị hoặc hành tá tràng, sau đó
mới đến các vùng hang vị, thân vị Lỗ thủng có thể nhỏ hay to, mép lỗ
thủng mềm mại hay xơ chai Qua lỗ
thủng có dịch dạ dày (hoặc dịch tá
tràng) chảy vào ổ bụng
Trang 4+ Trong 12 giờ đầu chưa gây nhiễm khuẩn,
nhưng sau thủng 12 giờ sẽ gây nhiễm khuẩn
trong ổ bụng, dẫn đến viêm phúc mạc toàn
thể Tình trạng nhiễm khuẩn càng nặng thì tiên lượng càng xấu
+ Phải gây mê nội khí quản mới kiểm tra dạ dày
và các nội tạng khác được
+ Đường mổ bụng thường là đường trắng giữa trên rốn, nếu cần thì mở rộng thêm theo yêu cầu của vết thương
Trang 5+ Cần kiểm tra dạ dày cả mặt trước và mặt sau, cả cực trên và cực dưới, kiểm tra cả các nội tạng khác để phát hiện hết các tổn thương, tránh bỏ sót, nhất là đối với các vết thương do hỏa khí.
+ Với thủng ổ loét, thường chỉ có một ổ loét
bị thủng, hiếm gặp trường hợp có nhiều ổ loét cùng bị thủng Tuy vậy, khi mổ vẫn
phải luôn luôn kiểm tra khả năng ít gặp
này.
Trang 6• 1.2 Yêu cầu của phẫu thuật
+ Khâu kín lỗ thủng bảo đảm
không để dịch vị xì rò vào ổ
bụng.
+ Rửa, lau sạch ổ bụng.
+ Nên dẫn lưu ổ bụng.
Trang 7• 1.3 Kỹ thuật.
+ Chuẩn bị trước mổ:
- Hút dịch dạ dày bằng ống thông luồn vào dạ dày qua mũi (không được rửa dạ dày)
- Hồi sức cho bệnh nhân, đặc biệt nếu có choáng (shock) thì cần phải hồi sức thật tốt
+ Tư thế bệnh nhân:
- Đặt bệnh nhân nằm ngửa, đầu hơi thấp
- Phẫu thuật viên đứng bên phải của bệnh nhân, một trợ thủ đứng bên đối diện và một đứng bên trái phẫu thuật viên
+ Gây mê: gây mê nội khí quản là tốt nhất
Trang 8+ Trình tự các thì mổ:
- Mở bụng: Rạch da theo đường trắng giữa trên rốn
- Thăm khám dạ dày và tìm các lỗ thủng:
Có thể thấy ngay lỗ thủng qua đó dịch và
hơi phì ra.
Có trường hợp lỗ thủng bé không tìm thấy,
mà thấy tơ huyết trắng che phủ lỗ thủng, lau sạch màng đó đi sẽ thấy lỗ thủng nhỏ
ở dưới.
Trang 9- Khâu lỗ thủng: cần phải dùng ngón tay đánh giá mức độ cứng của chỗ có ổ loét
Nếu ổ loét non, mép mềm mại, lỗ thủng nhỏ thì có thể khâu kiểu chữ X rồi khâu vùi
Nếu lỗ thủng to, mép xơ cứng ở gần môn vị: nên khâu bằng mối rời hai lớp Nếu thấy
chưa chắc thì đắp thêm mạc nối lớn lên chỗ khâu.
Trang 11Nếu lỗ thủng ở vùng ống môn vị hoặc sát môn vị thì khi khâu phải chú ý không làm chít hẹp môn vị Nếu không đảm bảo lưu thông thì nên làm thêm phẫu thuật nối vị tràng.
Nếu lỗ thủng quá to, bờ mủn nát không khâu được thi làm dẫn lưu kiểu Newmann.
- Kiểm tra lại dạ dày và lau rửa ổ bụng để tránh những
ổ dịch tồn dư gây nhiễm khuẩn, áp xe trong ổ bụng.
- Đóng thành bụng: Nếu mổ sớm chưa có viêm phúc mạc lan toả thì có thể đóng kín bụng hai lớp Nếu
mổ muộn đã có viêm phúc mạc lan toả thì chỉ đóng một lớp, da để hở.
Trang 12Phẫu thuật Newmann.
Trang 132 Mở thông dạ dày (Gastrostomia)
Mở thông dạ dày là một thủ thuật tạo một lỗ thông
từ trong lòng dạ dày ra ngoài qua thành dạ dày và qua thành bụng
2.1 Chỉ định.
+ Để nuôi dưỡng: khi cần nuôi dưỡng bệnh nhân
nhưng đặt ống thông dạ dày qua mũibệnh nhân không thể thực hiện được hoặc gây nguy hiểm Ví dụ: bệnh nhân bị bỏng thực quản, bị chít hẹp thực quản do bệnh lý hoặc do vết thương…
+ Để dẫn lưu dịch dạ dày, tá tràng trong một thời
gian ngắn sau phẫu thuật nếu không thể đưa ống thông vào dạ dày qua đường mũi - thực quản.
Trang 14• Những bệnh nhân được chỉ định mổ thường là
những người đói lả, gầy, dạ dày thường co lại, lên cao dưới mạng sườn trái nên khi phẫu thuật phải nắm vững hai nguyên tắc:
+ Phẫu thuật phải hết sức đơn giản, nhẹ nhàng để
bệnh nhân chịu đựng được.
+ Muốn đạt được yêu cầu nuôi dưỡng, phải bảo đảm không để thức ăn trào ra ngoài Muốn vậy miệng
mở thông dạ dày phải bé, càng ở trên cao càng tốt
Từ chỗ mở thông trên thành dạ dày đến thành
bụng càng dài, càng gián tiếp, càng có nhiều van
càng tốt.
Trang 15• 2.3 Chuẩn bị trước mổ.
+ Hồi sức bệnh nhân: truyền dịch thể các loại theo đường tĩnh mạch vì bệnh nhân
bị mất nước và suy kiệt nặng.
+ Vô cảm: gây tê cục bộ hoặc gây mê.
+ Bệnh nhân nằm ngửa, đầu hơi cao, phẫu thuật viên đứng bên phải, trợ thủ đứng đối diện với phẫu thuật viên.
Trang 16• 2.4 Kỹ thuật.
• Có nhiều kỹ thuật, trong bài này chỉ giới thiệu hai kỹ thuật thường làm:
• 2.4.1 Mở thông dạ dày kiểu Witzel (1891)
+ Mở bụng:
- Rạch da thành bụng dọc theo bờ ngoài cơ thẳng
to bên trái, dài khoảng 8 - 10cm, đầu trên
đường rạch sát bờ sườn trái
- Cũng có thể mổ theo đường trắng giữa trên rốn
Trang 18+ Đặt ống thông vào dạ dày:
- Tìm dạ dày, kéo dạ dày ra, khâu ba mối chỉ căng tạo hình tam giác (hoặc cặp bằng ba kìm
Chaput) ở mặt trước phình vị lớn, mối nọ cách mối kia khoảng 1 - 1,5cm Khâu mối túi thanh mạc - cơ bằng chỉ không tiêu xung quanh ba
mối chỉ căng, che phủ bảo vệ cẩn thận và chọc một lỗ thủng nhỏ giữa vòng khâu đó bằng dao nhọn, kẹp giữ mép niêm mạc, hút bớt dịch dạ dày (không để trào vào ổ bụng)
Trang 19- Đưa đầu ống thông vào lỗ thủng dạ dày (dùng ống thông Nelaton cỡ 20 - 22, đầu ống thông có cắt mở thêm một lỗ nữa ở phía đối diện với lỗ
đã có, buộc một sợi chỉ catgut vào ống thông ở nơi cách đầu ống thông khoảng 3 - 4cm)
+ Cố định ống thông cao su:
- Khâu buộc cố định ống thông vào mép lỗ thủng
dạ dày bằng sợi chỉ catgut nói trên
- Thắt mối túi: chú ý đẩy ống thông để niêm mạc lộn vào trong