Trong quá trình phát triển, mỗi doanh nghiệp đều nỗ lực xây dựng một hệ thống quan điểm giá trị để công nhân viên chức chấp nhận, tạo ra sự hài hòa trong nội bộ doanh nghiệp, một không k
Trang 1CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH KỲ DUYÊN
GVHD : TS Thái Trí Dũng SVTH : Đoàn Kim Thành Lớp : NL 02
Khóa : 33 MSSV : 107210933
TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2011
Trang 2Cám ơn các anh chị, các bạn trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện chuyên đề;
Xin cám ơn tất cả mọi người thời gian qua đã giúp đỡ, hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành chuyên
đề thực tập “Xây dựng và hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Kỳ Duyên”
Kính chúc mọi người luôn vui vẻ, khỏe mạnh và thành công!
TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2011 Đoàn Kim Thành
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA ĐẠI DIỆN CÔNG TY TNHH KỲ DUYÊN
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
Chương 1: Cơ sở lý luận về doanh nghiệp, văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 9
I Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp, văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 9
1 Khái niệm và các quan điểm doanh nghiệp 9
1.1 Khái niệm doanh nghiệp 9
1.2 Các quan điểm văn hóa doanh nghiệp 9
2 Khái niệm và vai trò của văn hóa 12
2.1 Khái niệm văn hóa 12
2 2 Vai trò văn hóa 13
3 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp 14
3.1 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp 14
3.2 Các giai đoạn hình thành và các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp 16
3.2.1 Các giai đoạn hình thành 16
3.2.2 Các cấp độ biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp 17
II Tác động của văn hóa doanh nghiệp đến sự phát triển của doanh nghiệp 22
1 Tác động tích cực 22
2 Tác động tiêu cực 23
III Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa doanh nghiệp 24
1 Văn hóa dân tộc vùng miền 24
1.1 Tiêu chí mức độ khoảng cách quyền uy 24
1.2 Tiêu chí mức độ quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng 25
1.3 Tiêu chí mức độ nam quyền và nữ quyền 26
1.4 Tiêu chí mức độ xu hướng dài hạn và ngắn hạn 27
2 Nhà lãnh đạo – Người tạo ra nét đặc thù của văn hóa doanh nghiệp 28
3 Môi trường kinh doanh 29
4 Những giá trị học hỏi 30
IV Văn hóa doanh nghiệp ở một số công ty lớn trên thế giới - Những kinh nghiệm quý báu cho doanh nghiệp Việt Nam 31
1 Văn hóa doanh nghiệp tại Nhật Bản 31
2 Một số doanh nghiệp điển hình tại Nhật Bản 35
V Thực trạng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 37
Chương 2 Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Kỳ Duyên 39
I Giới thiệu chung về công ty TNHH Kỳ Duyên 39
Trang 61 Giới thiệu chung về công ty 39
2 Qúa trình phát triển 39
II Mô hình văn hóa doanh nghiệp công ty đang xây dựng 40
1 Hệ thống các giá trị cốt lõi 40
2 Hệ thống chuẩn mực trong các hoạt động của công ty 41
2 Hệ thống chuẩn mực trong giao tiếp và truyền đạt thông tin 44
4 Hệ thống giáo dục và đào tạo 45
III Đánh giá mô hình VHDN công ty đang xây dựng 47
1 Những thành công mà VHDN đã mang lại cho công ty 47
2 Các vấn đề còn tồn tại 47
Chương 3 Một số biện pháp để xây dựng và hoàn thiện VHDN tại công ty 48
I Một số biện pháp khắc phục khó khăn 48
II Hoàn thiện VHDN tại công ty TNHH Kỳ Duyên 49
1 Bản thân lãnh đạo cần là tấm gương về VHDN 49
2 Xây dựng một mô hình VHDN tích cực, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp 49
3 Nâng cao ý thức về VHDN cho thành viên doanh nghiệp 50
4 Tăng cường đầu tư vật chất cho xây dựng VHDN 54
KẾT LUẬN 55
Danh mục tài liệu tham khảo 56
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Văn hóa - như có học giả đã nói, đó là cái cân bằng khi xã hội có nhiều nguy cơ biến động Hoặc có thể hiểu nôm na rằng, mọi vật chất có thể mất đi, cái còn đọng lại chính là văn hóa Bất
kể quốc gia nào, tổ chức nào, giáo phái nào muốn trường tồn thì phải có văn hóa riêng, và doanh nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh trên một môi trường ngày càng phẳng, văn hóa doanh nghiệp càng trở nên quan trọng Vì vậy xây dựng văn hoá doanh nghiệp là cấp bách, cần thiết và là cái đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp cần lưu tâm tới Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị thuộc về doanh nghiệp đã được gìn giữ và bồi đắp trong suốt chiều dài lịch sử của doanh nghiệp Những giá trị đó đã được tập thể người lao động trong doanh nghiệp trân trọng, gìn giữ và bộc lộ trong những hành vi của mình tại bất cứ đâu Văn hóa doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi
là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp lấy việc phát triển toàn diện con người làm mục tiêu cuối cùng Cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp là tinh thần doanh nghiệp
và quan điểm giá trị của doanh nghiệp
Trong quá trình phát triển, mỗi doanh nghiệp đều nỗ lực xây dựng một hệ thống quan điểm giá trị để công nhân viên chức chấp nhận, tạo ra sự hài hòa trong nội bộ doanh nghiệp, một không khí văn hóa tích cực để phát huy thế mạnh văn hóa của tập thể, tăng cường nội lực và sức mạnh của doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là một giai đoạn phát triển của tư tưởng quản lý doanh nghiệp hiện đại, thể hiện sự chuyển dịch chiến lược phát triển kỹ thuật nhằm tạo nên những sản phẩm hàm chứa hàm lượng văn hóa cao Bởi thế, có thể coi văn hóa doanh nghiệp là yếu tố tối quan trọng của thực tiễn doanh nghiệp đương đại
Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm văn hóa doanh nghiệp còn khá mới mẻ đối với đại đa số doanh nghiệp Việt Nam Thực ra, các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp đang tồn tại và vận hành ở mọi doanh nghiệp nhưng để xây dựng nó thành những tiêu chí, chuẩn mực để vận dụng thì rất ít doanh nghiệp làm được, thậm chí chưa được coi trọng Xuất phát từ vấn đề trên, tôi quyết định lựa chọn văn hóa doanh nghiệp làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình Trong đó, doanh nghiệp tôi hướng đến là công ty TNHH Kỳ Duyên
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Đối với đề tài này, mục tiêu đầu tiên được đặt ra là mô tả tầm quan trọng của văn hóa doanh nghiệp đối với sự trường tồn của mỗi doanh nghiệp
Dựa trên những thông tin thu thập được, xác định những giá trị văn hóa doanh nghiệp mà công ty đã xây dựng được Từ đó rút ra những ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong văn hóa doanh nghiệp của công ty TNHH Kỳ Duyên
Đưa ra những giải pháp để hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Kỳ Duyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi công ty TNHH Kỳ Duyên
Đối tượng là những biểu hiện văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Kỳ Duyên
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong đề tài này là phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, quan sát, nhận định hiện tượng và khái quát hóa thành bản chất của vấn đề
Trang 85 Ý nghĩa của đề tài:
Nghiên cứu này sẽ gợi mở những giải pháp để hoàn thiện hơn văn hóa doanh nghiệp cho công
ty TNHH Kỳ Duyên
6 Kết cấu của đề tài:
- Chương I : Cơ sở lý luận về doanh nghiệp, văn hóa và văn hóa doanh nghiệp
- Chương II : Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Kỳ Duyên
- Chương III : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH
Kỳ Duyên
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP, VĂN HÓA VÀ VĂN
HÓA DOANH NGHIỆP
I Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp, văn hóa và văn hóa doanh nghiệp:
1 Khái niệm và các quan điểm doanh nghiệp:
1.1 Khái niệm doanh nghiệp:
Thế nào là một doanh nghiệp? Từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp “entreprendre” có nghĩa là
“đảm nhận” hay “hoạt động” Do đó một nhà doanh nghiệp thường được dùng để chỉ những người chấp nhận rủi ro để khởi đầu một công việc kinh doanh nhỏ
Tuy nhiên khi cân nhắc việc trước đây (khoảng vài thế kỉ trước), các doanh nghiệp tập thể bao giờ cũng có nhiều ảnh hưởng hơn bất kì một chính phủ quốc gia nào và được dễ dàng coi như
là “những nhà sáng tạo ra thế giới hiện đại” thì định nghĩa này vẫn chưa đầy đủ
Một trong những định nghĩa đầy đủ về nhà doanh nghiệp bao gồm các yếu tố sau :
• Phối hợp những lợi thế đang có theo một cách mới và hiệu quả hơn
• Tạo ra nhiều giá trị hơn từ những nguyên thiệu thô và nhân lực và trước đây bị coi là
vô ích
• Cải thiện những gì đã xuất hiện với việc sử dụng các kĩ thuật mới
• Di chuyển tài nguyên kinh tế ra khỏi khu vực năng xuất thấp tới khu vực sản xuất hiệu quả và lớn hơn
• Có phương pháp tìm kiếm và hưởng ứng lại những nhu cầu chưa được thỏa mãn và các đòi hỏi của khách hàng
Một khái niệm khác về doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng
Về góc độ pháp lý, theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm
2005 của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh
1.2 Các quan điểm văn hóa doanh nghiệp:
● Quan điểm văn hóa doanh nghiệp của Herb Kellyher:
Herb Kelleher - cựu Chủ tịch Tập đoàn Southwest Airlines với kinh nghiệm và thực tiễn quản
lý của mình, đã khái quát một hệ thống tri thức khá hoàn chỉnh về văn hóa doanh nghiệp, góp phần làm phong phú thêm tri thức về quản trị của nhân loại, làm cho những vấn đề lý luận về văn hóa quản lý trở nên thực tế, gần gũi và dễ dàng vận dụng hơn đối với những người đi sau Quan điểm của Herb Kelleher gồm ba quan điểm chính sau:
* Văn hóa là tài sản không thể thay thế:
Những thành công của doanh nghiệp có bền vững hay không là nhờ vào nền văn hóa doanh nghiệp rất đặc trưng của mình Bên cạnh vốn, chiến lược kinh doanh thì sức mạnh của văn hóa
Trang 10doanh nghiệp đã bám sâu vào trong từng nhân viên, làm nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh Sự khác biệt đó được thể hiện ra ở những tài sản vô hình như: sự trung thành của nhân viên, bầu không khí của doanh nghiệp như một gia đình nhỏ, tệ quan liêu bị đẩy lùi và không còn đất để tồn tại, xoá bỏ sự lề mề trong quá trình thảo luận và ra các quyết định quản lý,
sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định và chính sách của doanh nghiệp, tinh thần đồng đội trong mọi công việc của doanh nghiệp
Nền văn hóa doanh nghiệp đã mang lại lợi thế cạnh tranh vô cùng quan trọng Thiếu vốn doanh nghiệp có thể đi vay, thiếu nhân lực có thể bổ sung thông qua con đường tuyển dụng, thiếu thị trường có thể từng bước mở rộng thêm, các đối thủ cạnh tranh có thể bắt chước và đi mua tất
cả mọi thứ hiện hữu nhưng lại không thể bắt chước hay đi mua được sự cống hiến, lòng tận tụy
và trung thành của từng nhân viên trong doanh nghiệp Khi đó, văn hóa doanh nghiệp làm nên sự khác biệt và là một lợi thế cạnh tranh
Tuy nhiên, Herb Kelieher cũng nhấn mạnh rằng, chúng ta không chỉ xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp thuần tuý mà điều quan trọng là phải biến những giá trị văn hóa đó thành lợi nhuận, đưa vào trong nhận thức và như một phần giá trị của mỗi nhân viên và đội ngũ lãnh đạo
* Tuyển dụng nhân viên theo văn hóa doanh nghiệp:
Nhằm đảm bảo xây dựng và duy trì văn hóa của mình các doanh nghiệp chỉ nên tuyển chọn những người biết chia sẻ, có thái độ thân thiện, nhiệt thành, và quan trọng là phù hợp với văn hóa doanh nghiệp đã được xây dựng
Khi đã có được văn hóa doanh nghiệp thì sức ép về quản lý của ban lãnh đạo sẽ được giảm đi nhờ sự chia sẻ của cấp dưới Các nhân viên được quyền sẽ tự biết điều hành và cần phải làm gì trong những tình huống khó khăn Trong một môi trường tổ chức mà mọi người đều tham gia chia sẻ thực sự thì các giám đốc không cần quản lý nữa Đó chính là một phương diện quan trọng của quản lý theo văn hóa và quản lý bằng văn hóa
* Xây dựng một nền văn hóa dựa trên hiệu quả công việc:
Tạo dựng nền văn hóa doanh nghiệp dựa trên hiệu quả công việc là một khám phá của Herb Kelleher Theo ông, tại Southwest Airlines thì từng cá nhân đều được đối xử theo khía cạnh con người chứ không như những người làm thuê Những gì chúng tôi đang cố gắng truyền đạt là
“chúng tôi đánh giá anh cũng như những người khác, không phụ thuộc vào những việc anh đang làm tại đây”
● Quan điểm khác về văn hóa doanh nghiệp:
Một định nghĩa về “văn hóa doanh nghiệp” như sau :
“Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, những quan điểm, thái độ và hệ thống các giá trị có chung, tồn tại một cách phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”
Theo định nghĩa trên thì văn hóa doanh nghiệp có những đặc trưng sau:
* Văn hóa doanh nghiệp có thể học được:
Những niềm tin, những quan điểm, thái độ và hệ thống các giá trị của từng cá nhân có được
từ môi trường của họ Do đó, cả môi trường bên trong lẫn môi trường bên ngoài doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp
Môi trường bên trong doanh nghiệp bao gồm những hệ thống xã hội - kỹ thuật của doanh
nghiệp, do đó trong một chừng mực nhất định, văn hóa doanh nghiệp chính là các quy trình, lập
kế hoạch, kiểm tra, tính chất và trình độ kỹ thuật, các quy trình tuyển dụng, đào tạo, đề bạt của
Trang 11doanh nghiệp và phong cách hành xử của những thành viên khác trong doanh nghiệp - đặc biệt là phong cách hành xử của người phụ trách và của nhóm làm việc
Môi trường bên ngoài doanh nghiệp là những hệ thống xã hội, chính trị, pháp luật, kinh tế và
kỹ thuật Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau có những thị trường, những công nghệ, những ràng buộc pháp lý riêng Chúng cần những kỹ năng và những nguồn tài lực riêng Sự phong phú đa dạng này đặt ra những đòi hỏi riêng trong các doanh nghiệp và tạo thành những môi trường khác nhau để học hỏi
* Văn hóa doanh nghiệp vừa là nguyên nhân vừa là kết quả:
Văn hóa doanh nghiệp là kết quả của hành động trong hiện tại (“văn hóa là cách mà chúng ta hành động”) Đồng thời là một yếu tố qui định hành động trong tương lai (“văn hóa là cách mà
chúng ta nghĩ về sự việc xung quanh”) Những phương hướng kế hoạch, cơ cấu tổ chức, điều lệ, nội qui, qui chế … do Ban lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra và yêu cầu về phong cách làm việc tạo
ra môi trường làm việc cho những thành viên khác trong doanh nghiệp.Vì văn hóa doanh nghiệp vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có tính chuyên môn nghiệp vụ cao, những doanh nghiệp ít biến động lao động, qui trình tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo đã được tiêu chuẩn hóa và những doanh nghiệp hoạt động trong một thị trường tương đối ổn định
* Văn hóa doanh nghiệp có hai biểu hiện:
Một là các thành viên trong doanh nghiệp có thể xử lý một cách vô thức những thông tin theo
cách suy nghĩ thông thường của họ Hai là những niềm tin, quan điểm, thái độ, hệ thống các giá
trị làm cơ sở cho những hành động một cách có ý thức có thể đã thường xuyên dẫn đến thành
công đến độ chúng được coi là tất nhiên Con người xử lý thông tin theo các cấp độ khác nhau của ý thức và những thông tin được xử lý một cách vô thức có thể ảnh hưởng đến hành vi ứng xử
* Văn hóa doanh nghiệp có tính kế thừa:
Các doanh nghiệp phát triển từ những nhận định, chiến lược, cơ cấu tổ chức ban đầu do những người sáng lập đưa ra Những cơ cấu tổ chức, trình tự làm việc và những giả định có thể tồn tại sau nhiều thế hệ Văn hoá doanh nghiệp của các thế hệ trước ảnh hưởng đến những thế hệ tiếp theo vì những quyết định tác động đến tương lai doanh nghiệp được hình thành và chín muồi
từ nền văn hoá doanh nghiệp của các thế hệ trước
* Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, quan điểm, thái độ và hệ thống các giá trị chung tồn tại trong doanh nghiệp:
Trong văn hóa doanh nghiệp những niềm tin, quan điểm, thái độ và hệ thống những giá trị có chung chứ không phải là giống nhau trong doanh nghiệp Có thể nói hầu như trong mọi trường
hợp, tất cả các cá nhân trong cùng một doanh nghiệp không có khả năng đưa ra cách suy nghĩ và hành xử hoàn toàn giống nhau trong một tình huống nhất định Tuy nhiên, họ vẫn sẽ có xu hướng suy nghĩ và hành xử tương tự, sẽ có xu hướng chấp nhận những phong cách làm việc, kiểu giao
tiếp, những nghi thức, những mốt quần áo … tương tự Những suy nghĩ và phong cách hành xử chung này là kết quả của một truyền thống, một môi trường làm việc, học hỏi và kinh nghiệm chung
* Văn hóa doanh nghiệp có tính không đồng nhất:
Văn hóa doanh nghiệp hầu như không bao giờ đồng nhất hoàn toàn Phần lớn các doanh nghiệp bao gồm các bộ phận có những vai trò, nhiệm vụ, chức năng, tầng cấp khác nhau tạo nên những “văn hóa bộ phận” khác nhau Các “văn hóa bộ phận” có mức độ quan trọng khác nhau trong doanh nghiệp Chúng có ích khi làm cho ý thức của các thành viên trong “văn hóa bộ phận”
Trang 12về mục đích chung của doanh nghiệp được nâng cao, nhưng chúng cũng là một cản trở lớn nếu chúng hạn chế sự phối hợp hoặc gây nên những mâu thuẫn, xung đột trong doanh nghiệp Điều
này có nghĩa là: để có thể thực hiện được, nó phải được xây dựng, phát triển với một sự am hiểu tường tận các nhu cầu và đặc tính của những “văn hóa bộ phận” khác nhau trong toàn doanh nghiệp
2 Khái niệm và vai trò của văn hóa:
2.1 Khái niệm văn hóa:
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh đều cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi
tiếng thế giới Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học, và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa
về văn hóa cũng khác nhau Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều Một trong những cách đó phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây:
• Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa
gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động giành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần"
• Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao hàm, chẳng
hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa văn
hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội
• Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên
quan điểm về tính ổn định của văn hóa Một trong những định nghĩa đó là của Edward
Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống
• Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất
và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử,
• Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình
học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Một trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 - 1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học
Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi
Trang 13sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa
• Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa, ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa: a.Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; b Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành
và truyền lại nhờ kế thừa
• Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó, ví dụ định
nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc
Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau
• Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin
Tóm lại: văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan
hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người,
và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
2.2 Vai trò của văn hóa:
Với vai trò là một nhân tố của sự phát triển - văn hóa, trên thực tế, quan trọng hơn cách mà nhiều người vẫn hình dung
Vì văn hoá là sự biểu hiện của cách thức mà con người tồn tại, là tổng thể những giá trị mà con người đã, đang và sẽ tạo ra, cho nên, xét trên bình diện của sự phát triển thì văn hóa cũng chính là sự phát triển về mặt "phong cách" hay "dáng vẻ" của nó Văn hóa là kiểu của sự phát triển
Cần chú ý rằng quan hệ của văn hóa với phát triển không giống như mối quan hệ giữa hai sự vật riêng rẽ, cụ thể trong thế giới vật chất mặc dù văn hóa vẫn thường được coi là tồn tại một cách độc lập (tương đối) Văn hóa là một khía cạnh của đời sống xã hội, trong khi đó, phát triển lại là một trình độ của sự vận động của đời sống xã hội ấy Bởi vậy, trong hiện thực, nhân tố văn hóa không thoát ly hoặc nằm ngoài các nhân tố khác, mà ngược lại nó có mặt và thể hiện mình (thường là kín đáo) trong mọi nhân tố (có thể có) của sự phát triển xã hội
Văn hóa không chỉ chi phối, tác động mà còn có khả năng quy đinh sự phát triển của xã hội Trong sự tương tác với nền văn minh văn hóa có thể bị chèn ép, bị phủ định bởi những thành tựu mới của nền văn minh Tuy vậy, nếu những thành tựu mới của nền văn minh không đủ sức để kiến tạo những giá trị văn hóa mới, thì những giá trị văn hóa cũ sẽ không dễ bị thủ tiêu Ngay cả trong trường hợp bị thủ tiêu, các giá trị văn hóa cũ vẫn có khả năng được tái sinh với những bộ mặt mới, trong những điều kiện nào đó Khi bị chèn ép, ở văn hóa thường xuất hiện những phản ứng đối với nền văn minh Nó có khả năng kìm hãm, thậm chí làm đổ vỡ những bước đi nào đó của nền văn minh
Trang 14Với tư cách là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, trong đời sống xã hội, văn hoá luôn luôn can thiệp vào các quá trình xã hội thông qua sự đánh giá của tất cả các chủ thể xã hội, từ những cá nhân riêng lẻ đến toàn thể cộng đồng Khi dựa vào bằng giá trị xã hội, nhân tố văn hóa tác động đến quá trình phát triển thường trở nên tiềm ẩn hơn, tinh tế hơn và có sức sống bền vững hơn so với các nhân tố khác Vũ khí của nó không chỉ là những chuẩn mực xã hội có tính chất cưỡng bức như kinh tế, pháp quyền mà còn là những chuẩn mực khác có khả năng điều chỉnh hành vi không bằng con đường cưỡng bức, hoặc cưỡng bức thông qua tự nguyện, chẳng hạn đạo đức, tôn giáo, phong tục tập quán Bằng cách đó văn hoá có khả năng tác động đến mỗi thành viên xã hội, buộc mỗi thành viên xã hội phải tỏ thái độ của mình trước mỗi biến cố xã hội (Văn hóa của mỗi xã hội và của toàn nhân loại được duy trì, thực hiện và sáng tạo ở tất cả các thành viên của nó)
Bởi vậy, bất kể một chương trình xã hội nào, dù là chương trình thuần túy kinh tế hay thuần túy công nghệ, khi đã được hoạch đinh và triển khai thì kèm theo nó và ẩn giấu đằng sau nó bao giờ cũng là sự phản ứng hay bày tỏ thái độ xã hội về mặt văn hoá, là trách nhiệm xã hội tự nhiên của mọi thành viên xã hội, kể cả những người không tham dự vào những chương trình đó Trong lịch sử của sự tiến triển văn minh, như đã biết, đã có không ít những bài học đầy sức thuyết phục
về sự gánh chịu những hậu quả văn hóa nặng nề do những chương trình kinh tế và kỹ thuật gây
ra, khi nhân tố văn hóa (do vô tình hoặc hữu ý) không được xem xét như là những thành tố của sự phát triển Thực tiễn đã chứng tỏ rằng mọi sự vi phạm các nhân tố văn hóa, sớm hay muộn cũng đều phải trả giá, cho dù điều đó có mang lại một sự phát triển nhất thời nào đó cho xã hội Điều đáng chú ý là người phải chịu trả giá luôn luôn là tất cả mọi thành viên của xã hội, mặc dù vi phạm các nhân tố văn hóa có thể chỉ là một cá nhân nào đó
Kết luận: vai trò của văn hoá được khái quát bằng ba ý chính sau:
• Thứ nhất, tạo cho mỗi người một lối sống, một nhân cách riêng;
• Thứ hai, duy trì các hệ thống xã hội;
• Thứ ba, tạo nên những bản sắc khác nhau của các xã hội
3 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp:
3.1 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp:
Chúng ta thường quen sử dụng khái niệm “nhân cách” khi nói đến tư cách và đặc điểm tâm sinh lý xã hội của một con người Chúng ta cũng biết rằng “nhân cách” của một con người được xác định bởi một tập hợp những cách ứng xử tương đối ổn định và bền vững của con người Khi đưa ra nhận xét về một người là “nồng nhiệt”, “sáng tạo”, “thoải mái” hay “bảo thủ”, thực chất chúng ta đang cố mô tả khái quát hóa hành vi của người đó Tương tự vậy, một tổ chức cũng có những đặc trưng riêng trong cách thức hành động, ra quyết định và ứng xử trước những tác động bên ngoài, chúng cũng được coi là có “tính cách”, “bản sắc riêng” của một tổ chức hay còn được gọi là văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa tổ chức đặc trưng của doanh nghiệp, tổ chức
Trên thế giới có một số định nghĩa văn hoá doanh nghiệp như sau:
• Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực (Gold, K.A.)
• Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài (Kotter, J.P & Heskett, J.L.)
Trang 15• Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp (Williams, A., Dobson, P & Walters, M.)
Tóm lại: văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận
thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức được đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên Khi phải đối đầu với nhiều vấn đề nan giải về đạo đức, những hệ thống, giá trị, phương pháp tư duy này có tác dụng chỉ dẫn các thành viên của tổ chức cách thức ra quyết định phù hợp với phương châm của tổ chức
Văn hóa này bao gồm những quy định chính thức, được ghi thành văn bản của một công ty và
cả những quy định bất thành văn mà mỗi thành viên của tổ chức có thể học được bằng kinh nghiệm
Như đã được định nghĩa, văn hoá doanh nghiệp biểu thị sự thống nhất trong nhận thức của tất
cả các thành viên tổ chức về hệ thống những giá trị chung và có tác dụng giúp phân biệt giữa một
tổ chức này với các tổ chức khác Chúng được mọi thành viên trong tổ chức chấp thuận, có ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng và làm theo Chính vì vậy, chúng còn được gọi là bản sắc văn hoá của một tổ chức
Văn hoá doanh nghiệp tạo điều kiện cho các thành viên nhận ra được sắc thái riêng mà một tổ chức muốn vươn tới Nó cũng tạo ra sự cam kết tự nguyện đối với những gì vượt ra ngoài phạm
vi niềm tin và giá trị của mỗi cá nhân Chúng giúp các thành viên mới nhận thức được ý nghĩa của các sự kiện và hoạt động của tổ chức
Trong mỗi tổ chức, các khía cạnh về tính cách sẽ có những đặc trưng riêng, được thể hiện ở các mức độ khác nhau và tạo nên bản sắc riêng cho tổ chức Sự chú trọng đến một vài khía cạnh nào đó làm cho chúng nổi trội dẫn đến “tính trội” phong cách Khi đó các thành viên của tổ chức
bị chi phối mạnh hơn bởi những phong cách “trội” này Yếu tố văn hoá đặc trưng dần dần hình thành và làm cho văn hoá doanh nghiệp mạnh dần lên
Mỗi tổ chức đều có văn hoá đặc trưng, nhưng không phải các văn hoá doanh nghiệp đều có thể gây ảnh hưởng giống nhau đối với thành viên của tổ chức Văn hoá doanh nghiệp có thể khác nhau đáng kể về sức mạnh tương đối của chúng Văn hoá doanh nghiệp “mạnh” thường được đặc trưng bởi một phong cách riêng với những yếu tố rất khác biệt với các tổ chức khác, tuy vô hình nhưng rất dễ nhận ra như bầu không khí bên trong tổ chức, sự nhiệt tình trong lao động và sự tinh
tế mối quan hệ con người Trong những tổ chức như vậy, các giá trị chủ đạo được mọi thành viên trong tổ chức cùng chia xẻ và kiên quyết duy trì Văn hoá doanh nghiệp “mạnh” có ảnh hưởng lớn hơn đối với các thành viên so với các văn hoá doanh nghiệp “yếu”, do mức độ chấp nhận các giá trị chủ đạo và quyết tâm thực hiện của thành viên tổ chức cao hơn, họ cam kết và gắn bó chặt chẽ hơn đối với các giá trị này
Ở những doanh nghiệp có đặc trưng văn hoá mạnh, luôn có sự thống nhất về những gì được coi là quan trọng, về thế nào là hành vi “đúng đắn”… ở những tổ chức như vậy, nhân viên tỏ ra gắn bó và trung thành với tổ chức hơn, kết quả hoạt động và hiệu lực tổ chức cũng cao hơn so với những nơi có văn hoá doanh nghiệp yếu
Ở những tổ chức không có sự phân biệt rõ ràng điều gì là quan trọng, điều gì là không thì văn hoá doanh nghiệp được coi là yếu Người quản lý ở những tổ chức như vậy ít chịu ảnh hưởng bởi các giá trị chủ đạo Việc ra quyết định thiếu nhất quán và chịu sự chi phối của những nguyên tắc không nhất quán Sự mơ hồ làm giảm sự quyết tâm và nhiệt tình của nhân viên, mâu thuẫn làm cho mối quan hệ tổ chức trở nên phức tạp, hỗn độn, mất phương hướng
Trang 16Mức độ mạnh, yếu của văn hoá doanh nghiệp được quyết định bởi nhiều nhân tố, trong đó có quy mô tổ chức, tuổi đời tổ chức, số lượng các thế hệ thành viên chủ chốt, cường độ các hoạt động mang tính chất văn hóa của tổ chức
Sức mạnh văn hoá của doanh nghiệp có thể được nhận biết thông qua kết quả lao động cao,
xu thế ổn định của các đặc trưng văn hoá điển hình trước những tác động của thời gian và những
áp lực từ bên trong và bên ngoài trong khi vẫn duy trì được kết quả hoạt động cao
3.2 Các giai đoạn hình thành và các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp:
3.2.1 Các giai đoạn hình thành:
• Giai đoạn non trẻ:
Nền tảng hình thành văn hóa doanh nghiệp phụ thuộc vào nhà sáng lập và những quan niệm chung của họ Nếu như doanh nghiệp thành công, nền tảng này sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, trở thành một lợi thế, thành nét nổi bật, riêng biệt của doanh nghiệp và là cơ sở để gắn kết các thành viên vào một thể thống nhất
Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp phải tập trung tạo ra những giá trị văn hóa khác biệt so với các đối thủ, củng cố nhữung giá trị đó và truyền đạt cho những người mới (hoặc lựa chọn nhân lực phù hợp với những giá trị này)
Nền văn hóa trong những doanh nghiệp trẻ thành đạt thường được kế thừa mau chóng do:
• Giai đoạn giữa:
Khi người sáng lập không còn giữ vai trò thống trị hoặc đã chuyển giao quyền lực cho ít nhất
2 thế hệ Doanh nghiệp có nhiều biến đổi và có thể xuất hiện những xung đột giữa phe bảo thủ và phe đổi mới (những người muốn thay đổi văn hóa doanh nghiệp để củng cố uy tín và quyền lực của bản thân)
Điều nguy hiểm khi thay đổi văn hóa doanh nghiệp trong giai đoạn này là những “đặc điểm” của người sáng lập qua thời gian đã in dấu trong nền văn hóa, nỗ lực thay thế những đặc điểm này sẽ đặt doanh nghiệp vào thử thách: nếu những thành viên quên đi rằng những nền văn hóa của họ được hình thành từ hàng loạt bài học đúc kết từ thực tiễn và kinh nghiệm thành công trong quá khứ, họ có thể sẽ cố thay đổi những giá trị mà họ thật sự chưa cần đến
Sự thay đổi chỉ thực sự cần thiết khi những yếu tố từng giúp doanh nghiệp thành công trở nên lỗi thời do thay đổi của môi trường bên ngoài và quan trọng hơn là môi trường bên trong
Trang 17• Giai đoạn chín mùi và nguy cơ suy thoái:
Trong giai đoạn này doanh nghiệp không tiếp tục tăng trưởng nữa do thị trường đã bão hòa hoặc sản phẩm trở nên lỗi thời Sự chín mùi không hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ lâu đời, quy
mô hay số thế hệ lãnh đạo của doanh nghiệp mà cốt lỗi là phản ảnh mối quan hệ qua lại giữa sản phẩm của doanh nghiệp và những cơ hội và hạn chế của thị trường hoạt động
Tuy nhiên, mức độ lâu đời cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi văn hóa doang nghiệp Nếu trong quá khứ doanh nghiệp có một thời gian dài phát triển thành công và hình thành được những giá trị văn hóa, đặc biệt là quan niệm chung của riêng mình, thì sẽ khó thay đổi vì những giá trị này phản ảnh niềm tự hào và lòng tự tôn của tập thể
3.2.2 Các cấp độ biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp:
Những tính chất của văn hóa doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường hướng tới việc hình thành một tập hợp các khuôn mẫu hành vi được áp dụng trong các mối quan hệ xã hội trong tổ chức Những khuôn mẫu hành vi này có thể được sử dụng để phản ánh bản sắc văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp tồn tại ở hai cấp độ Ở bề nổi là những biểu trưng trực quan, những gì mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy Ví
dụ như: phong cách, màu sắc, kiểu dáng kiến trúc, thiết kế, hành vi, trang phục, biểu tượng, lễ nghi, ngôn ngữ… những biểu trưng trực quan này thể hiện những giá trị thầm kín hơn nằm sâu bên trong hệ thống tổ chức mà mỗi thành viên và những người hữu quan có thể cảm nhận đựơc Các biểu trưng phi trực quan bao gồm lý tưởng, niềm tin, bản chất mối quan hệ con người, thái
độ và phương pháp tư duy, ảnh hưởng của truyền thống và lịch sử phát triển của tổ chức đối với các thành viên
• Các biểu trưng trực quan:
Văn hóa doanh nghiệp của một tổ chức được thể hiện bằng những biểu trưng trực quan điển hình là đặc điểm kiến trúc, nghi lễ, giai thoại, biểu tượng, ngôn ngữ, ấn phẩm điển hình
¾ Kiến trúc đặc trưng:
Những kiến trúc đặc trưng của một tổ chức gồm kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất công
sở
Phần lớn những công ty thành đạt hoặc đang phát triển muốn gây ấn tượng đối với mọi người
về sự khác biệt, thành công và sức mạnh của họ bằng những công trình kiến trúc đặc biệt và đồ
sộ Những công trình kiến trúc này được sử dụng như biểu tượng và hình ảnh của tổ chức Có thể thấy trong thực tế, những ví dụ minh họa ở các công trình kiến trúc lớn của các nhà thờ, trường đại học… ở Mỹ và Châu Âu Các công trình này rất được các tổ chức, công ty chú trọng như một phương tiện thể hiện tính cách đặc trưng của tổ chức
Những thiết kế nội thất cũng rất được các công ty, tổ chức quan tâm Từ những vấn đề rất lớn như tiêu chuẩn hóa về màu sắc, kiểu dáng của bao bì đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục… đến những chi tiết nhỏ nhặt như đồ ăn, vị trí công tắc điện, thiết bị và vị trí của chúng trong phòng vệ sinh… Tất cả đều được
sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí và được quan tâm
Thiết kế kiến trúc được các tổ chức rất quan tâm là vì những lý do sau:
Kiến trúc ngoại thất có thể có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc Ví dụ như kiến trúc nhà thờ tạo ấn tượng quyền lực, thâm nghiêm; chùa chiền tạo ấn tượng thanh bạch, thoát tục; thư viện gây ấn tượng thông thái, tập trung cao độ
Trang 18 Công trình kiến trúc có thể coi là một “linh vật” biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một tổ chức, xã hội Ví dụ: tháp Eiffel của Pháp, Tháp Đôi của Mỹ hay của Malaysia, tháp truyền hình của một số nước, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, Văn Miếu, Chùa Một Cột… đã trở thành hình ảnh, biểu tượng về một giá trị tinh thần quốc gia, địa phương
Kiểu dáng kết cấu có thể được coi là biểu tượng cho phương châm chiến lược của tổ chức
Công trình kiến trúc trở thành một bộ phận hữu cơ trong các sản phẩm của công ty
Trong mỗi công trình kiến trúc đều chứa đựng những giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời và trưởng thành của tổ chức, các thế hệ nhân viên
¾ Nghi lễ:
Một trong số những biểu trưng của văn hóa doanh nghiệp là nghi lễ Đó là những hoạt động
đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hóa –
xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm được thực hiện định kỳ hay bất thường của những người tham dự Những người quản lý có thể sử dụng lễ nghi như một cơ hội quan trọng để giới thiệu về công ty Đây cũng là dịp đặc biệt để nhấn mạnh những giá trị riêng của tổ chức, được tổ chức coi trọng, tạo cơ hội cho mọi thành viên cùng chia sẻ cách nhận thức về những sự kiện trọng đại, để nêu gương và khen tặng những tấm gương điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần tôn trọng của tổ chức
Có 4 loại nghi lễ cơ bản: chuyển giao, củng cố , nhắc nhở và liên kết
¾ Giai thoại:
Giai thoại thường được thêu dệt từ những sự kiện có thực được mọi thành viên trong tổ chức cùng chia sẻ và nhắc lại với những thành viên mới Nhiều mẩu chuyện kể về những nhân vật anh hùng của doanh nghiệp như những mẫu hình lý tưởng về những chuẩn mực và giá trị văn hóa doanh nghiệp Một số mẩu chuyện trở thành những giai thoại do những sự kiện đã mang tính lịch
sử và có thể được thêu dệt thêm Một số khác có thể biến thành huyền thoại chứa đựng những giá trị và niềm tin trong tổ chức và không được chứng minh bằng các bằng chứng thực tế Các mẩu chuyện có tác dụng duy trì sức sống cho các giá trị ban đầu của tổ chức và giúp thống nhất về nhận thức của tất cả mọi thành viên
Một biểu tượng khác là logo hay một tác phẩm sáng tạo được thiết kế để thể hiện hình tượng
về một tổ chức, một doanh nghiệp bằng ngôn ngữ nghệ thuật phổ thông Các biểu tượng vật chất này thường có sức mạnh rất lớn vì chúng hướng sự chú ý của người thấy nó vào một (vài) chi tiết hay điểm nhấn cụ thể có thể diễn đạt được giá trị chủ đạo mà tổ chức, doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng, lưu lại hay truyền đạt cho người thấy nó Logo là loại biểu trưng đơn giản nhưng lại có ý nghĩa rất lớn nên được các tổ chức, doanh nghiệp rất chú trọng
Trang 19¾ Ngôn ngữ khẩu hiệu:
Một dạng biểu trưng quan trọng khác thường được sử dụng để gây ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp là ngôn ngữ Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã sử dụng những câu chữ đặc biệt, khẩu hiệu, ví von, ẩn dụ hay một sắc thái ngôn từ để truyền tải một ý nghĩa cụ thể đến nhân viên của mình và những người hữu quan
Khẩu hiệu là hình thức dễ nhập tâm và được không chỉ nhân viên mà cả khách hàng và nhiều người khác luôn nhắc đến Khẩu hiệu thường rất ngắn gọn, hay sử dụng các ngôn từ đơn giản, dễ nhớ; do đó đôi khi có vẻ “sáo rỗng” về hình thức Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất của triết lý hoạt động, kinh doanh của một tổ chức, một công ty Vì vậy, chúng cần được liên hệ với bản tuyên bố sứ mệnh của tổ chức, công ty để hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của chúng
¾ Ấn phẩm điển hình:
Những ấn phẩm điển hình là những tư liệu chính thức có thể giúp những người hữu quan có thể nhận thấy rõ hơn về cấu trúc văn hóa của một tổ chức Chúng có thể là bản tuyên bố sứ mệnh, báo cáo thường niên, tài liệu giới thiệu về tổ chức, công ty, sổ vàng truyền thống, ấn phẩm định
kỳ hay đặc biệt, tài liệu quảng cáo giới thiệu sản phẩm và công ty, các tài liệu, hồ sơ hướng dẫn
sử dụng, bảo hành…
Những tài liệu này có thể giúp làm rõ mục tiêu của tổ chức, phương châm hành động, niềm tin và giá trị chủ đạo, triết lý quản lý, thái độ đối với người lao động, công ty, người tiêu dùng, xã hội Chúng cũng giúp những người nghiên cứu so sánh, đối chiếu sự đồng nhất giữa những biện pháp được áp dụng với những triết lý được tổ chức tôn trọng Đối với những đối tượng hữu quan bên ngoài đây chính là những căn cứ để xác định tính khả thi và hiệu lực của văn hóa doanh nghiệp; đối với những người hữu quan bên trong đây là những căn cứ để nhận biết và thực thi văn hóa doanh nghiệp
Các biểu trưng trực quan luôn chứa đựng những giá trị tiềm ẩn mà tổ chức, doanh nghiệp muốn truyền đạt cho những người hữu quan bên trong và bên ngoài Những biểu trưng bên ngoài này cố làm nôỉ bật những giá trị tiềm ẩn về văn hóa Chính vì vậy, những người quản lý thường
sử dụng những biểu trưng này để thể hiện những giá trị tiềm ẩn trong việc phục vụ khách hàng và
sự quan tâm dành cho nhân viên
Tóm lại:
Sức mạnh của văn hóa doanh nghiệp được đặc trưng bởi sự thống nhất giữa các thành viên
trong tổ chức về tầm quan trọng của các giá trị cụ thể Nếu có sự đồng thuận, văn hóa doanh nghiệp làm cho các thành viên trở nên gắn kết với nhau và tạo ra một sức mạnh tổng hợp Khi đó
tổ chức có một nền văn hóa mạnh Một nền văn hóa mạnh được biểu hiện qua việc sử dụng thường xuyên và có kết quả các biểu trưng Những yếu tố này làm tăng thêm sự quyết tâm của các thành viên phấn đấu vì các giá trị và chiến lược chung của doanh nghiệp Văn hóa doanh
nghiệp thể hiện những giá trị mà mỗi thành viên cần cân nhắc khi quyết định hành động
Người quản lý có thể có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển và duy trì một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh Sử dụng các biểu trưng trực quan một cách hữu hiệu là rất quan trọng Tuyển chọn thành viên mới có năng lực, nhiệt huyết, ý thức, gắn bó với công việc và giúp
họ nhanh chóng hòa nhập với văn hóa doanh nghiệp là một yêu cầu đối với người quản lý để xây dựng một môi trường văn hóa tích cực
• Các biểu trưng phi trực quan:
Những biểu trưng phi trực quan của văn hóa doanh nghiệp về cơ bản có thể phân thành ba nhóm: lý tưởng; niềm tin, giá trị chủ đạo và thái độ; lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa
Trang 20¾ Lý tưởng:
Một quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu lý thuyết và thực hành chấp nhận là có thể định nghĩa văn hóa doanh nghiệp như một lý tưởng với ý nghĩa là sự vận dụng lý thuyết vào thực tiễn [Schein 1981; Argyris, 1976] Cách định nghĩa này muốn nhấn mạnh những động lực, ý nghĩa, giá trị cao cả, căn bản, sâu sắc giúp con người cảm thông, chia sẽ, và dẫn dắt con người trong nhận thức, cảm nhận và xúc động trước sự vật, hiện tượng
Lý tưởng khác với niềm tin thông thường trên ba phương diện sau:
Niềm tin được hình thành một cách có ý thức và có thể xác minh tương đối dễ dàng, trong khi lý tưởng hình thành một cách tự nhiên và khó giải thích được một cách rõ ràng
Niềm tin có thể được đưa ra diễn giải, tranh luận, đối chứng, trong khi không thể làm như vậy đối với lý tưởng, vì vậy, niềm tin có thể thay đổi dễ dàng hơn so với lý tưởng
Niềm tin chỉ là trình độ nhận thức ở mức độ đơn giản trong khi lý tưởng được hình thành không chỉ từ niềm tin hay đức tin mà còn gồm cả những giá trị và cảm xúc của con người Như vậy, lý tưởng gồm cả những giá trị và cảm xúc của con người Như vậy, lý tưởng đã nảy mầm trong tư duy, tình cảm của con người trước khi người đó ý thức được điều đó, vì vậy, chúng là trạng thái tình cảm rất phức tạp và không thể mang ra để đối chứng với nhau
Xét từ góc độ nào đó, có thể nhận thấy sự tương đồng giữa lý tưởng với động cơ và giữa niềm tin và mục đích
Lý tưởng có thể được phản ánh qua nhận thức của con người hay tổ chức trên 5 phương diện sau [Schien, 1985]:
Mối quan hệ mang tính nhân văn đối với môi trường Con người và tổ chức có nhận thức rất khác nhau về khả năng làm chủ vận mệnh của mình Một số cho rằng họ có thể chi phối được những gì xung quanh họ; số khác cho rằng cần phải hòa nhập vào môi trường hay tìm cách “luồn lách” vào những khoảng trống an toàn Những cá nhân, tổ chức cực đoan cho rằng họ hoàn toàn bị môi trường chi phối và phải chấp nhận những gì số phận ban cho họ
Bản chất của sự thực và lẽ phải Có vô số cách hình thành quan niệm về lẽ phải và đi đến quyết định trong tổ chức Ở một số tổ chức, lẽ phải được xác định bởi niềm tin truyền thống hay sự tin tưởng tuyệt đối với những người lãnh đạo Trong một số tổ chức khác, lẽ phải được coi là kết quả của những quá trình phân tích có tình có lý với những quy định thủ tục phức tạp Một số tổ chức lại cho rằng lẽ phải là những gì có thể đứng vững được sau những xung đột cọ xát, tranh biện Cũng có những tổ chức đặt ra nguyên tắc rất thực dụng rằng “những gì tồn tại, đều là đúng đắn (lẽ phải)”
Bản chất của con người Liên quan đến bản chất của con người, đã có nhiều tác giả nghiên cứu, một trong những lý thuyết điển hình về bản chất con người là thuyết X, thuyết Y của McGregor Trong thực tế, có nhiều công ty cho rằng có thể tạo động lực cho con người bằng các lợi ích vật chất hay tiền lương; trong khi đó nhiều người lao động ở nhiều ngành nghề lại rất coi trọng sự công nhận và tôn vinh của đồng nghiệp, tổ chức hay xã hội về những đóng góp hay năng lực, nhân cách của họ
Bản chất hành vi con người Về hành vi, con người được đánh giá rất khác nhau giữa các nước phương Tây và phương Đông Văn hóa phương Tây coi trọng sự chuyên cần, nỗ lực hết mình, năng lực hoàn thành nhiệm vụ và lối sống “định hướng hành động” (doing - orientation) hay “cố chứng tỏ cái gì đó” Trong khi đó, ở nhiều nền văn hóa khác, lối sống
Trang 21“định hướng vị thế” (being - orientation) hay “cố chứng tỏ mình là ai đó” là chủ đạo Một lối sống nữa cũng thấy xuất hiện ở nhiều nền văn hóa là lối sống “định hướng địa vị xã hội” (being – in – becoming orientation) hay “cố để trở thành ai đó”
Bản chất về mối quan hệ con người Các tổ chức cũng có thể phân biệt với nhau về những
gì họ muốn thấy trong mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức Có những tổ chức coi trọng thành tích và sự nỗ lực cá nhân; trong khi những tổ chức khác lại coi trọng tính tập thể và tinh thần hợp tác Triết lý quản lý của nhiều tổ chức có thể rất coi trọng tính tự lập, tự chủ (tự quyết và tự hành động); nhưng cũng có thể nhấn mạnh vai trò tiên phong, gương mẫu của một số nhân cách điển hình, hoặc ngược lại, tôn trọng cơ chế dân chủ Bằng cách nghiên cứu về vai trò của các cá nhân trong mối quan hệ với đồng nghiệp có thể dễ dàng xác minh triết lý và tư tưởng chủ đạo trong mối quan hệ con người
¾ Giá trị, niềm tin và thái độ:
Về bản chất, giá trị là khái niệm liên quan đến chuẩn mực đạo đức và cho biết con người cho rằng họ phải làm gì Những cá nhân và tổ chức đánh gía cao tính trung thực, nhất quán và sự cởi
mở cho rằng họ cần hành động một cách thật thà, kiên định và thẳng thắn Niềm tin là khái niệm
đề cập đến việc mọi người cho rằng thế nào là đúng, thế nào là sai Ví dụ, một công ty tin vào việc tăng chi phí cho quảng cáo sẽ dẫn đến tăng doanh số, hay việc trả lương theo sản phẩm sẽ kích thích được người lao động tăng năng suất
Trong thực tế, khó tách rời được hai khái niệm này bởi trong niềm tin luôn chứa đựng những giá trị Ví dụ những người coi trọng tính trung thực, nhất quán và cởi mở luôn tin tưởng rằng chỉ
có thể hành động một cách thật thà, kiên định và thẳng thắn mới có thể hành động một cách thật thà, kiên định và thẳng thắn mới có thể làm cho tổ chức hoạt động một cách có hiệu quả Giá trị còn được coi là những niềm tin vững chắc về một cách thức hành động hay trạng thái nhất định Niềm tin của những người lãnh đạo dần dần được chuyển hóa thành niềm tin của tập thể thông qua những giá trị Tuy nhiên, có thể sẽ xuất hiện những khó khăn do những trở ngại về thông tin Khi phải đương đầu với một vấn đề (ví dụ lợi nhuận bị giảm sút), người lãnh đạo sẽ đưa ra một đề nghị giải quyết vấn đề, ví dụ như “cần phải tăng năng suất” vì tin rằng “tăng năng suất chính là cách để nâng cao lợi nhuận” Những thành viên khác của tổ chức lại có thể nhìn nhận niềm tin này của người lãnh đạo như những giá trị cần tôn trọng, tức là họ phải tìm cách tăng năng suất khi thấy có một vấn đề xuất hiện Nếu giải pháp đó may mắn được chứng tỏ là đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề (nâng cao lợi nhuận), mọi người sẽ dần dần chấp nhận giá trị này như một quy tắc về sự vận động cuả thế giới Một khi hành động này trở thành thói quen
và tỏ ra hữu hiệu, chúng sẽ chuyển hóa dần thành niềm tin không phải bàn cãi; dần dần chúng có thể trở thành một phần lý tưởng của những người trong tổ chức này
Thái độ là chất gắn kết niềm tin với giá trị thông qua tình cảm Thái độ được định nghĩa là một thói quen tư duy theo kinh nghiệm để phản ứng theo một cách thức nhất quán mong muốn hoặc không mong muốn đối với sự vật, hiện tượng Như vậy thái độ luôn luôn cần đến những phán xét dựa trên cảm giác, tình cảm Thái độ được định hình theo thời gian từ những phán xét và những khuôn mẫu điển hình, thay vì từ những sự kiện cụ thể; thái độ của con người là tương đối
ổn định và có những ảnh hưởng lâu dài đến động cơ của người lao động
¾ Lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa:
Khó có thể coi lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa là một nhân tố cấu thành của văn hóa doanh nghiệp, bởi lẽ chúng có trước và tồn tại bất chấp mong muốn và quan điểm thiết kế của người quản lý hiện nay Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò quan trọng và ảnh hưởng của chúng đến việc xây dựng, điều chỉnh và phát triển những đặc trưng văn hóa doanh nghiệp mới
Trang 22của một tổ chức Vai trò lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa đối với việc xây dựng các đặc trưng văn hóa mới cho tổ chức thể hiện ở việc cho chúng ta hiểu đựơc đầy đủ quá trình vận động
và thay đổi của các đặc trưng văn hóa, những nguyên nhân và ảnh hưởng của chúng đến quá trình vận động và thay đổi về văn hóa tổ chức
Thực tế cho thấy, những tổ chức có lịch sử phát triển lâu đời và bề dày truyền thống thường khó thay đổi về tổ chức hơn những tổ chức mới, non trẻ, chưa định hình rõ phong cách hay đặc trưng văn hóa Những truyền thống, tập quán, nhân tố văn hóa đã định hình và xuất hiện trong lịch sử vừa là chỗ dựa, nhưng cũng có thể trở thành những “rào cản tâm lý” không dễ vượt qua trong việc xây dựng và phát triển những đặc trưng văn hóa mới
II Tác động của văn hóa doanh nghiệp đến sự phát triển của doanh nghiệp:
1 Tác động tích cực:
Dưới một góc độ nào đó, văn hóa doanh nghiệp là yếu tố cấu thành và là công cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp Thông qua xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ định hướng và điều chỉnh tư duy, suy nghĩ và hành động của các thành viên trong doanh nghiệp, cũng như định hướng suy nghĩ và hành động của các đối tác của doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp càng gia tăng, vai trò của văn hóa doanh nghiệp càng trở lên quan trọng Khi quy mô kinh doanh gia tăng, doanh nghiệp cần triển khai phân cấp, phân quyền Văn hóa doanh nghiệp trở thành chất kết dính của toàn bộ hệ thống
• Văn hóa doanh nghiệp tạo cho mỗi thành viên hiểu được giá trị của bản thân họ đối với công ty:
Một tổ chức chỉ có thể phát triển khi tất cả mọi thành viên đều hiểu được họ đang đi đâu? Họ đang làm gì? Và vai trò của họ đến đâu? Với những mục tiêu rất cụ thể, họ được sống trong một môi trường tự do cống hiến, chia sẻ ý tưởng, được ghi nhận khi thành công… tất cả đều được hiểu rằng, họ là thành phần không thể thiếu của công ty Họ như một mắt xích trong một chuỗi dây truyền đang hoạt động Và nếu mắt xích đó ngừng hoạt động, toàn bộ hệ thống cũng phải ngừng theo
Một người được mệnh danh là Socrates của Hoa Kỳ, Tiến sỹ Stenphen R Convey, tác giả của cuốn sách rất nổi tiếng “Bảy thói quen của những người hiệu quả” đã khẳng định “Không tham gia, thì sẽ không bao giờ có thi hành” Hay nói một cách khác rằng, họ đang thi hành công việc của tổ chức, vì họ đã được ghi nhận tham gia Họ có cảm giác như đang được làm cho chính bản thân họ Một dẫn chứng hùng hồn cho nhận định này là môi trường làm việc tại hãng hàng không Southwest Airlines Hãng hàng không này, là hãng hàng không đầu tiên trên thế giới thực hiện bán cổ phần cho nhân viên Ngoài một văn hoá cởi mở, nhân viên ở đây đã làm việc một cách hăng say, vì họ đang làm việc cho chính bản thân họ
• Văn hóa doanh nghiệp tạo cho tất cả mọi người trong công ty cùng chung thân làm việc, vượt qua những giai đoạn thử thách, những tình thế khó khăn của công ty và
họ có thể làm việc quên thời gian:
Một sự đoàn kết, một khí thế làm việc của công ty cần thiết nhất khi công ty ấy đang ở trong thời kỳ khó khăn, thử thách, đặc biệt là những công ty đang trên bờ vực của sự phá sản Tất cả mọi thành viên của công ty cần tinh thần đoàn kết và hy sinh Công ty có cấp độ càng cao, có ảnh hưởng lớn thì các thành viên càng cần phải hy sinh nhiều hơn Để vượt qua những tình thế khó khăn, công ty cần một sức mạnh tổng lực để chống đỡ và sức mạnh ấy chỉ đạt được khi doanh nghiệp có một văn hóa doanh nghiệp – văn hóa của sự hy sinh, văn hoá của sự đoàn kết
Trang 23Một dẫn chứng tiêu biểu cho văn hoá này là Lee Iacocca và nhân viên công ty Chrysler của ông Năm 1978, khi ông vừa bước chân tới, công ty đang rơi vào tình cảnh phá sản, với 130.000 cán bộ công nhân viên có nguy cơ thất nghiệp Ông và các cộng sự của ông đã đưa cào một văn hoá của sự hy sinh quên mình Ai ai cũng cố gắng làm việc Tất cả vì sự sống còn của công ty Vì
sự bình an của mọi người Tuy nhiên, một điều hiển nhiên rằng, trong tình cảch khó khăn, sự hy sinh của một người sẽ không bao giờ mang lại thành công, nhưng phải cần một tập thể hy sinh
• Văn hóa doanh nghiệp tạo được sự khích lệ, động lực cho mọi người và trên hết tạo nên khí thế của một tập thể chiến thắng:
Trong một thế giới, khi những chuẩn mực của xã hội về sự thành công không còn được đo bằng sự thành công của một cá nhân nữa, mà nó được đẩy lên tầm tập thể Và cho dù trên góc độ
cá nhân, thì cá nhân đó sẽ không bao giờ được coi là thành công, nếu tập thể của anh ta không thành công Một quan niệm mới cho lãnh đạo hôm nay là, “team work is dream work,” tức là chỉ
có làm việc tập thể thì giấc mơ thành công của ta mới thành hiện thực Hay nói một cách khác, khả năng lãnh đạo được đo bằng khả năng lãnh đạo một tập thể Một tập thể càng lớn thì khả năng lãnh đạo càng cao, và một công việc càng có nhiều người cùng tham gia thì công việc đó càng sớm được hoàn thành
Thử tưởng tượng, nếu tất cả mọi người đều trong khí thế của những người chiến thắng, khí thế của những người đang trên con đường tiến tới vinh quang? Với họ không bao giờ có con đường thứ hai ngoài chiến thắng Điều này vô cùng cần thiết, vì tất cả mọi người đều tập trung vào một mục tiêu Khi họ đã đặt vào một mục tiêu cho một tập thể chiến thắng thì tất cả họ đều muốn đồng lòng, cùng chung sức để thực hiện Tinh thần tập thể đều phấn chấn Đó là chìa khoá cho sự thành công và cũng là chìa khoá cho sự đoàn kết Và để có được một tập thể chiến thắng
ấy chỉ khi có một văn hóa doanh nghiệp
Các công ty lâu đời đã có nhiều năm hoạt động kinh nghiệm và cách thức hoạt động của nó
đã ăn sâu cố rễ đến mức nó cản trở sự thích ứng với những thay đổi và sự cạnh tranh trên thị trường của chính công ty ấy Điều này sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp
Khi một công ty chuyển sang hoạt động ở một ngành nghề hay một lĩnh vực hoàn toàn mới khác thì phương thức hoạt động cũ lúc này lại đe dọa sự sống còn của công ty đó
Hoặc doanh nghiệp có một đội ngũ nhân viên đã quá quen với việc làm việc trong những điều kiện thuận lợi của thời kì kinh tế phát triển nhưng lại không thể thích ứng được với những khó khăn thách thức do suy giảm kinh tế gây ra thì doanh nghiệp sẽ khó vượt qua được những thời kỳ khủng hoảng của nền kinh tế thế giới
Các công ty nên sớm tiến hành đánh giá về sự cần thiết phải thay đổi văn hóa công ty bởi sẽ mất nhiều thời gian để quá trình thay đổi này tỏ rõ tính hiệu quả của nó Nếu một công ty càng chần chờ bao nhiêu thì khi thực hiện sẽ càng trở nên khó khăn bấy nhiêu Chắc chắn hậu quả của việc trì hoãn này sẽ là rất lớn
Trang 24Trong số những hậu quả xấu do việc chậm trễ thay đổi văn hóa công ty gây ra là nhân viên có tinh thần làm việc thấp, tỉ lệ thay việc nhân viên cao, phàn nàn của khách hàng ngày càng nhiều, nhiều cơ hội và công việc kinh doanh bị bỏ lỡ, năng suất làm việc thấp, chậm thích ứng với những thay đổi mới, hiệu quả làm việc bị ảnh hưởng xấu, văn hóa ứng xử tại nơi làm việc thiếu lành mạnh
Vấn đề then chốt ở đây là các công ty cần phải thay đổi văn hóa công ty của mình trước khi những tình trạng không mong muốn như trên trở nên không thể kiểm soát được Đương nhiên là mỗi công ty trong những hoàn cảnh đó không phải thực hiện quá nhanh quá trình thay đổi văn hóa công ty hoặc thay đổi quá khiêm tốn bởi làm như vậy sẽ đe dọa sự tồn tại của chính công ty
ấy trên con đường tiến tới việc thay đổi văn hóa công ty
Văn hóa công ty là cách mà mà người ta giải quyết mọi việc trong một công ty Đó là một loạt những tiêu chuẩn bao gồm niềm tin, cách nhìn nhận sự việc, các giá trị cốt yếu và lối ứng xử giữa mọi người trong công ty đó.Chính những yếu tố rất quan trọng này đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và quyết định tương lai của một công ty
III Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành VHDN :
Văn hóa là câu trả lời của con người trước các thách đố của tự nhiên, của xã hội Văn hóa cũng là thế ứng xử, là kinh nghiệm sống của một cộng đồng được tích lũy và trao truyền qua các thế hệ Nói tới văn hóa cũng là nói tới một dân tộc, một quốc gia Văn hóa dân tộc cũng in đậm dấu ấn của nó trong cách thức cai trị, quản lý đất nước, quản lý doanh nghiệp của mỗi quốc gia, mỗi vùng, miền
Tìm hiểu thực trạng văn hóa doanh nghiệp của một công ty không thể không xem xét các nguồn đầu vào của văn hóa doanh nghiệp, trong đó phải kể đến nguồn từ văn hóa dân tộc, văn hóa vùng
và văn hóa cá nhân - đặc biệt là văn hóa của người đứng đầu tổ chức Văn hóa doanh nghiệp trước hết ảnh hưởng rất sâu đậm bởi văn hóa dân tộc
1 Văn hóa dân tộc, vùng , miền:
Xem xét ảnh hưởng của văn hóa dân tộc người ta thường dựa vào một số tiêu chí để phân biệt mức độ ảnh hưởng của văn hóa dân tộc này với dân tộc khác Đó là một số tiêu chí như:
• Tiêu chí về mức độ khoảng cách quyền uy
• Tiêu chí về mức độ quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng
• Tiêu chí về mức độ bình đẳng nam- nữ
• Tiêu chí về mức độ lâu dài của sự định hướng
1.1 Tiêu chí mức độ khoảng cách quyền uy:
Nếu mức độ khoảng cách quyền uy càng ít thì càng thuận tiện cho sự trao đổi giữa cấp trên và cấp dưới, thông tin "lên - xuống" sẽ tốt Hơn nữa nhà quản lý khi ra quyết định sẽ chú ý tham khảo ý kiến cấp dưới vì vậy thời gian ra quyết định chậm nhưng thi hành lại thuận lợi Ngược lại khoảng cách quyền uy lớn thì cấp dưới thường thụ động
Việt Nam được đánh giá là nước có khoảng cách quyền uy khá lớn với số liệu định lượng là
70 và về định tính có thể thấy do Việt Nam mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến mới trên nửa thế kỷ, tàn dư của nó vẫn còn trong thói quen, nếp nghĩ Ngày nay vẫn còn nhiều người ôm mộng làm quan Ông quan vẫn được xem là con người danh giá, quyền uy nhất trong xã hội Quan ở những nước mới công nghiệp hóa thường có nhiều quyền và có xu hướng tập trung tập
Trang 25trung quyền lực Đặc điểm này có thể sẽ là trở ngại khi muốn xây dựng văn hóa doanh nghiệp theo hướng huy động sự tham gia của mọi thành viên
PDI: Chỉ số đánh giá khoảng cách quyền uy của các nước được lựa chọn nghiên cứu
Nguồn: ITIM- Culture and Management consultants.
1.2 Tiêu chí mức độ quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng:
IDV: Chỉ số đánh giá xu hướng cá nhân của các nước được lựa chọn nghiên cứu
Nguồn: ITIM- Culture and Management consultants.
Mức độ đề cao vai trò cá nhân hay vai trò cộng đồng trong văn hóa các dân tộc rất khác nhau Nước Mỹ đứng đầu trong nhóm các nước đề cao giá trị cá nhân Việt Nam thuộc nhóm nước đề cao giá trị cộng đồng Đặc biệt trong chiến tranh, trong chống lũ lụt… sự cố kết cộng đồng được xem là một giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam Trong nền văn hóa này mỗi con người
Trang 26đều thuộc về một cộng đồng (gia đình, dòng họ, làng xã, cơ quan…) Chẳng hạn, người con trai lấy vợ trước hết là lấy theo tiêu chuẩn của gia đình, của dòng họ
Đặc điểm đề cao giá trị cộng đồng sẽ có ảnh hưởng sâu sắc mô hình văn hóa doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp sẽ thường được hiểu là quản lý một nhóm người Quan hệ trong ngoài của doanh nghiệp thường chịu ảnh hưởng của thân tộc, dòng họ, trên dưới Ngay cách sử dụng ngôn
từ để xưng hô trong giao tiếp người ta thường xưng chú, bác, anh, em, con cháu mà ít sử dụng cách xưng hô tôn trọng cái cá nhân của mỗi người như: anh - tôi, ông - tôi
Môi trường văn hóa đề cao cái cộng đồng sẽ khiến các thành viên trong doanh nghiệp trước khi nói gì, làm gì thường phải trông trước trông sau để cái điều mình nói, cái việc mình làm không khác với mọi người Do đó, những người có cá tính, thích tìm tòi thường phải tự dũa gọt mình cho vừa với khuôn khổ của cộng đồng mà họ là thành viên trong đó Trong khi nhóm nước
có xu hướng đề cao vai trò cá nhân thì giá trị xã hội dựa trên cơ sở tính cá nhân rất cao; thường coi quản lý doanh nghiệp là quản lý cá nhân, tôn trọng cá tính - đặc điểm riêng của cá nhân Môi trường văn hóa đề cao cộng đồng có ưu điểm là yên ổn nhưng lại ít thuận tiện cho sự nảy
nở cái mới, nhất là khi cần tiến hành cải cách Song trong một môi trường thiên về khoảng cách quyền uy, thiên về cộng đồng, nếu cái mới được người đứng đầu doanh nghiệp đề xướng, rồi bằng sức ép của cộng đồng thành viên, của vận động phong trào, lại có “giá đỡ” của những quy định sẽ tạo ra những thay đổi có tính bền vững trong doanh nghiệp
1.3 Tiêu chí mức độ “nam quyền và nữ quyền”:
Chỉ số này phản ánh tính mạnh mẽ (được ví với đặc tính của nam) của một doanh nghiệp, thể hiện qua việc coi trọng cấp bậc, uy tín cá nhân, khuynh hướng cạnh tranh và khả năng đối mặt, giải pháp cho những khó khăn, bất đồng trong doanh nghiệp
MAS: Chỉ số đánh giá xu hướng nam quyền của các nước được lựa chọn để nghiên cứu
Nguồn: ITIM- Culture and Management consultants.
Chỉ số này của Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình thấp, có nghĩa, dường như mang yếu tố của “nữ quyền” hơn của “nam quyền” Truyền thống của văn hóa Việt Nam theo xu hướng khiêm tốn và nhường nhịn Các tổ chức của Việt Nam coi trọng tính ổn định, tránh xung đột trong quan hệ Xuất phát từ nhận thức “giữ thể diện” nên cách thể hiện của cá nhân và tổ chức Việt Nam nói chung muốn tránh sự từ chối và sự chỉ trích mạnh mẽ một cách trực diện một công
Trang 27việc hay một hành động nào đó Họ cho rằng nói “không” một cách thẳng thắn sẽ làm tổn thương đến đối tác và ảnh hưởng đến mối quan hệ lâu dài
Các tổ chức lấy tiêu chí đoàn kết, thống nhất hơn là nhấn mạnh vào sự ganh đua mạnh mẽ để tạo ra hiệu quả cao Việc lựa chọn các giải pháp để giải quyết các bất hòa thường hướng theo lối thỏa hiệp, thương lượng để đi đến sự đồng thuận, tránh những giải pháp mạnh, quyết liệt Các mâu thuẫn trong tổ chức được giải quyết thiên về “dĩ hòa vi quý”, không triệt để, nhiều khi theo lối “hòa cả làng”, đúng sai không rõ ràng Đặc điểm này khiến văn hóa trong các tổ chức Việt Nam nói chung, doanh nghiệp nói riêng mang nữ tính nhiều hơn, không “nam tính, mạnh mẽ” như chú trọng nhiều vào cạnh tranh và hiệu quả như Nhật, Anh, Mỹ hay thậm chí Trung Quốc,
Ấn Độ
Bên cạnh đó, việc coi trọng cấp bậc giữa lãnh đạo và nhân viên, giữa người nhiều tuổi có kinh nghiệm và người trẻ tuổi có thời gian công tác ít hơn, địa vị xã hội, và uy tín cá nhân của lãnh đạo dường như bao trùm mọi mặt cũng là xu hướng của văn hóa Việt Nam
1.4 Tiêu chí mức độ xu hướng dài hạn và ngắn hạn:
Nguồn: ITIM- Culture and Management consultants
Cũng như một số nước Hồng Kông, Nhật Bản và vài nước châu Á khác chịu ảnh hưởng triết
lý Khổng tử của Trung Quốc cho rằng: sự ổn định là dựa trên sự tôn trọng tôn ti trật tự của xã hội
và gia đình được coi là khuôn mẫu cho tổ chức xã hội Điều này chi phối cách xây dựng chiến lược của các tổ chức thường theo xu hướng lâu dài: nhấn mạnh đến truyền thống và đạo đức xã hội, khác với nhóm nước có xu hướng ngắn hạn thể hiện trong tầm nhìn: chú trọng đến tiêu dùng
và hiệu quả Mức độ chịu ảnh hưởng này của Việt Nam ở mức trên trung bình trong các nước được nghiên cứu
Tuy nhiên đặc điểm này hiện cũng đang bị thử thách do Việt Nam hiện chịu tác động mạnh của văn hóa tiêu dùng từ bên ngoài xâm nhập thông qua vệ tinh viễn thông, buôn bán quốc tế
và sự yếu kém của năng lực thể Hiện tượng chụp giật, thiếu ổn định, ít quan tâm đến đạo đức…đang là “vấn đề" trong nhiều hoạt động của Việt Nam
Do kinh doanh, sản xuất là hoạt động nhạy bén năng động nhất của đời sống xã hội Đồng thời hoạt động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn gắn với một tổ chức nhất định Vì vậy,
Trang 28văn hóa của doanh nghiệp sẽ là văn hóa của loại tổ chức đi đầu trong việc phát triển văn hóa dân tộc để thích ứng với những thay đổi từ môi trường bên ngoài Vì vậy, đầu tư cho việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp là công việc không chỉ của riêng doanh nghiệp còn là trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức xã hội Trong đó có yêu cầu phải đánh giá lại văn hóa truyền thống của Việt Nam xem mạnh yếu ở chỗ nào trước yêu cầu phát triển, mở cửa giao lưu mạnh mẽ với bên ngoài Việc đánh giá này phải được lãnh đạo và quản lý, phải trở thành phong trào thu hút sự quan tâm của xã hội đặc biệt là tầng lớp trí thức Bởi văn hóa dân tộc
là nguồn đầu vào quan trọng nhất của văn hóa doanh nghiệp
2 Nhà lãnh đạo – Người tạo ra nét đặt thù của VHDN:
¾ Nhà lãnh đạo:
Định hình và phát triển những chuẩn mực cho một doanh nghiệp, trách nhiệm trước hết thuộc
về người lãnh đạo doanh nghiệp Nhà lãnh đạo doanh nghiệp là vị nhạc trưởng in đậm dấu ấn cá nhân và dấu ấn tập thể lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp lên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Người lãnh đạo doanh nghiệp phải xác định rõ chiến lược hoạt động của doanh nghiệp trên thương trường, xác lập quy tắc ứng xử trong đối nội và đối ngoại Về đối nội, người lãnh đạo phải tập trung xây dựng được kế hoạch chiến lược, tuyển chọn nhân viên và sử dụng nhân viên hợp lý; xây dựng được quy trình hoạt động và tổ chức điều hành, tổ chức kiểm tra các hoạt động của doanh nghiệp Trong đối ngoại, người lãnh đạo phải tạo dựng được uy tín, thương hiệu cho doanh nghiệp
Rõ ràng sự tài ba của vị nhạc trưởng - nhà lãnh đạo - là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của một doanh nghiệp Vì vậy văn hoá doanh nghiệp trước hết là dấu ấn cá nhân của nhà lãnh đạo
Nhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp,
mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ niềm tin nghi lễ và huyền thoại của doanh nghiệp Qua quá trình xây dựng và quản lý doanh nghiệp, hệ tư tưởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽ được phản chiếu lên văn hoá doanh nghiệp
Những nhà lãnh đạo xuất sắc thường xây dựng tầm nhìn cho doanh nghiệp rất rõ khi mới bắt đầu thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình phát triển doanh nghiệp Họ xác định cụ thể những giá trị, mục đích cũng như những mục tiêu lớn lao mà họ mong muốn hướng tới Và họ tìm mọi cách đạt được Họ truyền bá, lôi cuốn mọi người để thực hiện công việc hướng tới giá trị, mục đích đó Những tham vọng, mong muốn, niềm tin của họ dần dần trở thành những giá trị chung của doanh nghiệp Đó chính là nền tảng để doanh nghiệp phát triển
Trong thời kỳ đầu thành lập doanh nghiệp, nhà lãnh đạo có nhiệm vụ lựa chọn đường lối hoạt động, phát triển, các nguyên tắc, quy định cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Sự lựa chọn ấy được mọi thành viên trong doanh nghiệp chấp nhận và trở thành chuẩn mực đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp sau này Các yếu tố này gắn kết mọi thành viên trong doanh nghiệp với nhau và tạo nên tinh thần tập thể vững mạnh trong doanh nghiệp
Tóm lại: Lãnh đạo là người đóng vai trò quan trọng đầu tiên trong quá trình xây dựng và phát
triển văn hóa doanh nghiệp, cho dù văn hóa doanh nghiệp là sản phẩm chung của mọi thành viên trong doanh nghiệp Nhà lãnh đạo luôn có xu hướng tuyển chọn những người có quan điểm chung với mình, và luôn luôn truyền bá, tạo động lực để các thành viên thực hiện theo những giá
trị mà họ đã lựa chọn Các nhà lãnh đạo cũng luôn luôn cố gắng là hình mẫu để mọi người trong
doanh nghiệp noi theo