Tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại việt nam
Trang 1ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA SAU ĐẠI HỌC _ _
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thùy Vinh
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
OER : Tỷ giá bình quân liên Ngân hàng
VND : Việt Nam đồng
USD : Đô la Mỹ
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Hiệu ứng tuyến J trong phá giá tiền tệ 7 Hình 2.1: Diễn biến thay đổi tỷ giá bình quân liên Ngân hàng và tỷ giá Ngân hàng thương mại theo quý giai đoạn 2008-2011 12 Hình 2.2: Cán cân thương mại Việt Nam theo các quý giai đoạn từ 2008 đến 2011 13
Hình 2.3: Cán cân thương mại Việt Nam theo các quý giai đoạn từ 2012 đến 2015 15 Hình 2.4: Cơ cấu xuất khẩu theo nhóm hàng của Việt Nam 2012 và 2013 16
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Sự thay đổi trong cán cân thương mại do biến động của tỷ giá là một vấn đề quan trọng và cơ bản trong chính sách kinh tế vĩ mô Có hai lý do cho vấn đề này đó
là: (i) những nhà hoạch định chính sách thường quan tâm đến việc ở mức độ nào
thì cán cân thương mại là tối ưu cho một nước; (ii) sự biến động của cán cân thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập quốc dân trong ngắn hạn, vì vậy,
nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại giúp cho việc hoạch định mục tiêu của thu nhập quốc dân Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu và thảo luận về chính sách tỷ giá hối đoái trong thời gian qua là một vấn đề nhạy cảm, không những vì chính bản thân tầm quan trọng của nó mà còn vì ảnh hưởng lớn lao của nó đến nền kinh tế Trong những năm qua, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng khá ấn tượng, tuy vậy cán cân thương mại của Việt Nam vẫn còn tình trạng thâm hụt Với mục đích nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam trong thời gian qua; từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm khắc phục hạn chế của chính sách tỷ giá, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài “Tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại Việt Nam”.
Để hoàn thành tiểu luận này, bên cạnh các kiến thức học được trong chương trình đào tạo, nhóm chúng tôi đã tham khảo thêm một số giáo trình kinh tế vĩ mô, thanh toán quốc tế và chính sách thương mại quốc tế hiện đang được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam và trên thế giới; đồng thời kết hợp với phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu từ các nguồn tin cậy và chính thống
Nội dung của tiểu luận gồm ba phần:
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
Phần 2: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM
2008 ĐẾN NAY VÀ TÁC ĐỘNG TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
Phần 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ NHẰM
CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM
Kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tỷ giá hối đoái nói riêng là lĩnh vực khoa học phức tạp và còn nhiều mới mẻ, đặc biệt khi đặt trong bối cảnh nền kinh tế
Trang 5toàn cầu cởi mở và các ràng buộc chính trị ngặt nghèo Mặc dù nhóm tác giả đã hết sức nỗ lực và cẩn trọng trong quá trình hoàn thành tiểu luận, nhưng do thời gian có giới hạn nên không tránh khỏi sai sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để tiếp tục hoàn thiện đề tài Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn nhà trường và Tiến sỹ Nguyễn Thị Thùy Vinh đã hướng dẫn, trang bị cho chúng tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện để nhóm có cơ hội làm việc, nghiên cứu về đề tài này
Tập thể nhóm tác giả
Trang 6I Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 1.1 Tỷ giá và các công cụ của chính sách tỷ giá
1.1.1 Khái niệm
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá hối đoái nhưng có thể khái quát
nhất như sau “Tỷ giá hối đoái là giá của một loại tiền tính theo một loại tiền khác”
(Frederic S.Mishkin 2006) Loại tiền ở đây có thể là đơn vị tiền tệ của một quốc gia như USD, VND… hay cũng có thể là đơn vị tiền tệ của một khu vực như đồng tiền chung châu Âu và tỷ giá là giá trị quy đổi giữa hai loại tiền khác nhau
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái được phân loại theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, mục đích tiểu luận là nghiên cứu về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại Việt Nam nên dựa theo mức độ ảnh hưởng, tỷ giá hối đoái được chia làm hai loại
chính: tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế.
• Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: là tỷ lệ mà ở đó một đơn vị tiền tệ này được
thể hiện bằng một đơn vị tiền tệ nước kia Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được sử dụng
hàng ngày trong giao dịch ngoại hối (Hoàng Xuân Bình 2015)
Ví dụ: Tỷ giá hối đoái của VND so với USD là 22.260 VND/USD nghĩa là giá
1 USD là 22.260 VND
• Tỷ giá hối đoái thực tế: là tỷ lệ phản ánh khả năng trao đổi hàng hóa và
dịch vụ của nước này lấy hàng hóa, dịch vụ của nước khác (Hoàng Xuân Bình 2015)
Ví dụ: Giá gạo ở Việt Nam là 20.000 VND/kg, giá gạo ở Mỹ là 1,5 USD/kg Vậy tỷ giá hối đoái danh nghĩa là E=20.000 VND/USD Bằng việc tính toán giá gạo
Mỹ theo giá gạo Việt Nam ta có tỷ giá hối đoái thực tế là 1,5 hay giá một một đơn
vị hàng hóa nước ngoài bằng 1,5 lần giá một đơn vị hàng hóa trong nước
Như vậy, sự thay đổi của tỷ giá thực tế sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu hay cán cân thương mại vì nó biểu thị tương quan sức mua còn tỷ giá danh nghĩa là cơ sở để xác định tỷ giá thực thông qua một số phương pháp điều chỉnh Nói cách khác, tỷ giá hối đoái thực tế phản ánh khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa, dịch vụ một quốc gia so với hàng hóa ,dịch vụ được sản xuất ở nước ngoài
Trang 7Khi có sự giảm xuống trong tỷ giá thực tế, đồng nội tệ một quốc gia xuống giá, các mặt hàng quốc gia đó trở nên rẻ hơn tương đối so với hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài Kết quả là các quốc gia khác có xu hướng nhập khẩu hàng hóa của quốc gia đó nhiều hơn, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cho quốc gia ấy khiến cán cân thương mại quốc gia được cải thiện Ngược lại khi đồng nội tệ lên giá, hàng hóa, dịch vụ trong nước trở nên đắt hơn tương đối so với hàng hóa, dịch vụ các nước khác khiến cho người dân có xu hướng nhập khẩu hàng hóa nhiều hơn và làm cán cân thương mại quốc gia bị giảm sút.
1.1.3 Các chế độ của chính sách tỷ giá
Mỗi quốc gia đều có cách quản lý đồng tiền nội tệ trong mối quan hệ với các đồng tiền ngoại tệ và quản lý thị trường ngoại hối theo một cơ chế điều hành tỷ giá khác nhau Có ba chế độ điều chỉnh chính sách tỷ giá là: cơ chế tỷ giá cố định, cơ
chế tỷ giá thả nổi và cơ thế tỷ giá thả nổi có điều tiết của nhà nước (Hoàng Xuân
Bình 2015, tr.278)
• Cơ chế tỷ giá hối đoái cố định là chế độ trong đó tỷ giá hối đoái được can
thiệp để duy trì ở một mức ổn định Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định Để giữ tỷ giá cố định, ngân hàng trung ương cam kết sẵn sàng mua bán ngoại tệ tại một mức giá ấn định cho trước
Việc theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái cố định sẽ duy trì tính ổn định cao cho thị trường Thế nhưng sự cứng nhắc và chủ quan của cơ chế tỷ giá cố định khiến tỷ giá không có sự linh hoạt và không phản ánh được những thay đổi thực tế trên thị trường
• Cơ chế tỷ giá thả nổi là cơ chế tỷ giá hối đoái được tự do biến động theo
quan hệ cung cầu trên thị trường Dưới cơ chế này, rủi ro về tỷ giá hối đoái có thể được ngăn chặn bởi thị trường ngoại hối trong tương lai hoặc các công cụ khác, từ
đó nguy cơ khủng hoảng kinh tế có thể được hạn chế Ngoài ra, nếu thị trường ngoại hối có tác động tích cực cùng với tỷ giá thả nổi tự do sẽ ngăn ngừa được hoạt động đầu cơ tích trữ ngoại hối
Tuy nhiên, nếu áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi quá tự do thì các chính sách tiền
tệ sẽ bị lạm dụng, Chính phủ sẽ gặp khó ngăn trong việc ngăn cản sự mất giá của
Trang 8nội tệ Cơ chế tỷ giá thả nổi có tính biến động cao, khó dự đoán gâykhó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hoạch định và định giá; thậm chí điều này còn có ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại quốc tế và đầu tư.
• Cơ chế tỷ hối đoái giá thả nổi có điều tiết là một cơ chế tỷ giá hối đoái hỗn
hợp giữa thả nổi và cố định Trong đó, tỷ giá được điều tiết theo quan hệ cung cầu ngoại tệ Tuy nhiên, khi nền kinh tế có những biến động bất lợi, ngân hàng trung ương sẽ có can thiệp và tỷ giá hối đoái thông qua một số công cụ như sau: lãi suất chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, quỹ dự trữ bình ổn hối đoái và phá giá đồng nội tệ
Cơ chế tỷ giá hối đoái này khắc phục được những nhược điểm của tỷ giá cố định và thả nổi nên được Chính phủ các nước lựa chọn là công cụ điều tiết cho nền kinh tế Việt Nam cũng đang áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước
1.2 Tác động của chính sách tỷ giá tới cán cân thương mại và nền kinh tế
Khi cán cân thương mại có tín hiệu xấu đi, nhập khẩu tăng lên còn xuất khẩu giảm, Chính phủ cần có những biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái để cải thiện cán cân thương mại Một công cụ hay được sử dụng là phá giá tiền tệ Việc phá giá tiền
tệ trong công cụ chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết của nhà nước có tác động đến cán cân thương mại thông qua hiệu ứng đường cong J Phá giá tiền tệ được hiểu là việc gia tăng mạnh của tỷ giá ngoại tệ hay sự giảm xuống của tỷ giá nội tệ Chính sách này Chính phủ áp dụng với mong muốn cải thiện cán cân thương mại Sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng đến cán cân thương mại thông qua hiệu ứng
giá cả và hiệu ứng khối lượng (Hoàng Xuân Bình 2015, tr 278)
- Hiệu ứng giá cả cho thấy khi đồng nội tệ rẻ hơn, nếu cán cân thương mại
tính theo đồng nội tệ thì hiệu ứng giá cả sẽ làm kim ngạch nhập khẩu tăng Ngược lại khi cán cân thương mại tính theo đồng ngoại tệ thì hiệu ứng giá cả làm kim ngạch xuất khẩu giảm Như vậy có thể thấy trong cả hai trường hợp thì cán cân thương mại đều có ảnh hưởng xấu đi
- Hiệu ứng khối lượng xuất hiện sau hiệu ứng giá cả một thời gian Điều này
được lý giải do sau một khoảng thời gian đồng nội tệ giảm giá, người tiêu dùng trong nước sẽ điều chỉnh hành vi mua bán của mình khi họ cho rằng giá cả hàng hóa
Trang 9nhập khẩu trở nên đắt hơn Trong khi đó, người tiêu dùng quốc tế nhận thấy giá cả của hàng hóa sản xuất tại quốc gia có đồng nội tệ phá giá trở nên rẻ hơn so với thị trường Do vậy, hiệu ứng khối lượng xuất hiện phản ánh sản lượng xuất khẩu quốc gia tăng lên trong khi sản lượng nhập khẩu lại giảm đi, kết quả là cán cân thương mại được cải thiện dần dần.
Như vậy có thể thấy rằng trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội hơn so với hiệu ứng khối lượng, khiến cho cán cân thương mại trở nên xấu đi Tuy nhiên, trong dài hạn, hiệu ứng khối lượng lại có tính trội hơn hiệu ứng giá cả, giúp cải thiện cán cân thương mại Điều này được phản ánh rất rõ ở mô hình hiệu ứng đường cong J trong phá giá tiền tệ:
Nguồn: Hoàng Xuân Bình, 2015
Hình 1.1 Hiệu ứng tuyến J trong phá giá tiền tệ
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới mức độ và thời gian kéo dài thâm hụt cán cân thương mại khi phá giá tiền tệ Đối với những nước phát triển, những hàng hoá quốc gia đó sản xuất thường đủ tiêu chuẩn tham gia thương mại quốc tế (international tradeable goods - ITG), nên việc phá giá tiền tệ sẽ làm cho khối lượng hàng xuất khẩu tăng nhanh và khối lượng hàng nhập khẩu giảm nhanh trong ngắn hạn Vì vậy, hiệu ứng khối lượng có tác dụng tích cực ngay trong ngắn hạn, kết quả là cán cân thương mại tạm thời xấu đi trong ngắn hạn, và nhanh chóng được cải thiện rõ rệt trong dài hạn Ngược lại, những nước đang phát tiển thường chỉ sản xuất được những hàng hoá không đủ tiêu chuẩn tham gia thương mại quốc tế (international non-tradeable goods), nên khi tiền tệ bị phá giá thì khối lượng hàng xuất khẩu tăng chậm và khối
Trang 10lượng hàng nhập khẩu giảm chậm Do đó, hiệu ứng khối lượng có tác dụng mờ nhạt, kéo theo cán cân thương mại bị xấu đi rõ rệt trong ngắn hạn và chỉ được dần cải thiện trong dài hạn Như vậy, phá giá tiền tệ thực sự có hiệu quả hơn ở những quốc gia phát
triển so với những quốc gia đang phát triển (Nguyễn Văn Tiến 2010, tr.254-267)
Tuy nhiên, việc phá giá tiền tệ có thể đi cùng một số hậu quả không mong muốn Trước tiên, phá giá tiền tệ thường đi kèm lạm phát Mức giá chung tăng lên không chỉ làm cầu tăng mà còn làm nguyên liệu đầu vào nhập khẩu cũng tăng làm tăng chi phí sản xuất và tạo ra lạm phát theo chi phí đầy Ngoài ra, việc phá giá tiền tệ chưa chắc mang lại hiệu quả khả quan khi mà người tiêu dùng trong nước vẫn chuộng hàng ngoại do danh tiếng và thói quen hay người tiêu dùng nước ngoài chưa chắc mua thêm hàng nhập khẩu để thay đổi thị hiếu hiện có của mình Bên cạnh đó, khi một quốc gia thực hiện phá giá tiền tệ sẽ vấp phải phản ứng từ các quốc gia khác nhằm hạn chế tác dụng của việc phá giá đó
Tóm lại, nội dung lý thuyết về Hiệu ứng tuyến J giải thích khi phá giá tiền tệ sẽ làm cho khối lượng hàng xuất khẩu tăng và khối lượng hàng nhập khẩu giảm, nhưng không vì thế mà cán cân thương mại chắc chắn được cải thiện Chính vì vậy, đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, trước khi chọn giải pháp phá giá cần thiết phải tạo ra được các điều kiện tiền đề để có thể phản ứng tích cực với những lợi thế
mà phá giá đem lại Chỉ có như thế, cán cân thương mại mới có thể thực sự được cải thiện một cách chắc chắn trong dài hạn
II Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam từ năm 2008 đến nay và tác động tới cán cân thương mại
2.1 Cơ chế tỷ giá của Việt Nam từ 2008 đến nay
Ở Việt Nam, tỷ giá hối đoái trên thị trường tự do và tại các Ngân hàng thương mại (NHTM) được quy định dựa trên tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ Liên Ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố Thông qua việc điều chỉnh tỷ giá bình quân liên Ngân hàng (Offical Exchange Rate – OER), NHNN sẽ tác động tới cán cân thanh toán nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường ngoại hối và thúc đẩy cán cân thương mại
Chính sách tỷ giá hối đoái của NHNN Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn chính: từ năm 2008 đến 2011, từ 2012 đến 2015 và từ đầu năm 2016 đến nay
Trang 112.1.1 Từ năm 2008 - 2011: Cơ chế neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh (crawling bands)
- OER được điều chỉnh dần từ mức khoảng 16.100VND/USD vào đầu năm
2008 lên 16.500 VND/USD (06/08 đến 12/08), lên 17.000 VND/ USD (01/09 đến 11/09), lên 17.940 VND/USD (12/09 đến 01/10), lên 18.544 VND/USD (từ 02/10 đến 08/2010), lên 18.932 VND/USD (từ 08/10 đến 02/11), và sau đó lên 20.693 (từ 02/2011) và điều chỉnh tăng dần đến 20.828 vào cuối năm 2012
- Biên độ tỷ giá tại các NHTM được điều chỉnh nhiều lần lên mức +/-0,75% (từ 23/12/07 đến 09/03/08), +/-1% (10/03/08 đến 25/06/08), +/-2% (26/05/08 đến 05/11/08), +/-3% (06/11/08 đến 23/03/09), +/-5% (24/03/09 đến 25/11/09), và +/-3% (26/11/09 đến 11/02/2011), và sau đó được thu hẹp xuống +/-1% (từ 11/02/2011)
Trong bối cảnh năm 2008, nền kinh tế thế giới xảy ra nhiều diễn biến phức tạp Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng lan truyền của cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ Các nền kinh
tế phát triển đều rơi vào trạng thái suy thoái Những diễn biến phức tạp này của nền kinh tế thế giới khiến cho kinh tế Việt Nam gặp nhiều bị ảnh hưởng không nhỏ Lần đầu tiên, tình hình tỷ giá Việt Nam lại biến động với cường độ mạnh mẽ như trong năm 2008 Để đối phó với những diễn biến khó lường đó, NHNN đã điều hành tỷ giá theo cơ chế linh hoạt
Cụ thể, từ nửa cuối năm 2008 với sức ép từ lạm phát, nhập siêu gia tăng, chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế, yếu tố tâm lý lo ngại về khả năng phá giá đã khiến VND mất giá danh nghĩa, chênh lệch tỷ giá chính thức và tự
do tăng vọt, tỷ giá NHTM luôn cận trần biên độ cho phép trong năm 2009 NHNN
đã buộc phải mở rộng biên độ dao động của tỉ giá chính thức trong tháng 3 từ +/-3% lên +/-5% – biên độ lớn nhất trong vòng 10 năm qua
Diễn biến tỷ giá tiếp tục phức tạp trong năm 2010 bất chấp những lần tăng tỷ giá chính thức ở mức độ cao vào đầu năm và tháng 8, hàng loạt các biện pháp hành chính như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho vay ngoại tệ, chấm dứt việc giao dịch vàng trên các tài khoản ở nước ngoài của các NHTM và các tổ chức tín dụng, đóng cửa các sàn vàng và tăng lãi suất
Trang 12Trước những bất ổn kinh tế vĩ mô, tháng 2 năm 2011, Chính phủ ra Nghị quyết 11/NQ-CP với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, theo đó, NHNN đã điều chỉnh tiền VND ở mức cao nhất trong lịch sự (9,3%), đồng thời giảm biên độ xuống còn 1% Tỷ giá đã ổn định trở lại, trong khi chênh lệch tỷ giá trên thị trường tự do và thị trường chính thức đã giảm mạnh từ cuối tháng 4/2011, NHNN đã mua lại được lượng ngoại tệ lớn và gia tăng dự trữ ngoại hối (từ tháng 4 đến tháng 7/2011 đã mua vào được gần 7 tỷ USD).
2.1.2 Từ năm 2012 - 2015: Cơ chế tỷ giá neo cố định (conventional fixed peg arrangement)
Thứ nhất, trong hai năm 2012 và 2013 là NHNN đã chủ động hơn trong việc thông tin về định hướng điều hành tỷ giá, việc điều hành thanh khoản ngoại tệ cũng được lưu tâm hơn, thông qua các hoạt động của NHNN với vai trò là người mua/người bán cuối cùng trên thị trường và hạn chế trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng (theo Thông tư 07/2012/TT-NHNN ngày 20/3/2012) Cụ thể, OER giữ ở 20.828 VND/USD từ tháng 1/2012 đến 28/6/2013, tăng lên 21.036 VND/USD Biên độ giao dịch được giữ cố định +/-1% Tiếp nối diễn biến từ nửa cuối năm 2011, giai đoạn 2012-2013 chứng kiến sự ổn định của tỷ giá, cả trên thị trường chính thức và thị trường tự do Tỷ giá bình quân liên ngân hàng được giữ cố định ở mức 20.828 VND/USD trong suốt một thời gian dài (từ đầu năm 2012) trước khi được điều chỉnh nhẹ lên 21.036 VND/USD từ cuối tháng 6/2013, trong khi đó, biên độ giao dịch giữ nguyên ở mức 1% từ đầu tháng 2/2011
Thứ 2, từ đầu năm 2014, NHNN đã đặt định hướng năm 2014 sẽ điều hành tỷ giá linh hoạt nhưng vẫn phải ổn định, mức điều chỉnh không quá 2% Vì vậy, trong
6 tháng đầu năm 2014, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND với USD được giữ ổn định ở mức 20.036 VND/USD cho đến ngày 19/6/2014 được NHNN điều chỉnh tăng 1% lên 21.246 VND/USD, theo đó trần tỷ giá mới là 21.458 VND/USD
và sàn tỷ giá mới là 21.034 VND/USD Sự điều chỉnh này thể hiện áp lực tăng tỷ giá VND/USD, nhu cầu ngoại tệ tăng nhưng vẫn nằm trong khả năng đáp ứng của thị trường cũng như khả năng điều tiết của NHNN
Thứ 3, năm 2015 là một năm đầy biến động và nhiều thách thức trong công tác điều hành chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tỷ giá nói riêng, trong bối
Trang 13cảnh đồng đô la Mỹ liên tục lên giá do kỳ vọng Fed điều chỉnh tăng lãi suất và Trung Quốc bất ngờ điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ kéo theo làn sóng giảm giá mạnh của các đồng tiền của các đối tác thương mại chính của Việt Nam Ở trong nước, việc huy động trái phiếu Chính phủ với lượng lớn để bù đắp thâm hụt ngân sách không thành công đã đẩy lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng cao, tạo áp lực kép lên thị trường tiền tệ: Dư thừa thanh khoản trong ngắn hạn trong khi lãi suất tăng cao trong dài hạn, qua đó gián tiếp cản trở mục tiêu tiếp tục giảm lãi suất cho vay và ổn định tỷ giá
Trước tình hình đó, NHNN đã chủ động trong điều hành để đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình mới Ngay sau khi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc bất ngờ phá giá đồng Nhân dân tệ vào ngày 11/8/2015, ngày 12/8/2015, NHNN đã linh hoạt, kịp thời điều chỉnh biên độ tỷ giá giữa VND và USD tăng từ +/-1% lên +/-2% Tiếp đó, để tiếp tục chủ động dẫn dắt thị trường, xóa bỏ tâm lý kỳ vọng, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Fed tăng lãi suất và biến động của thị trường tài chính thế giới, ngày 19/8/2015, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD thêm 1% lên 21.890, đồng thời mở rộng biên độ tỷ giá từ +/-2% lên +/-3% Tính chung trong năm 2015, NHNN thực hiện điều chỉnh tăng tỷ giá 3% và nới biên độ thêm 2% từ mức +/-1% lên +/-3%
2.1.3 Từ 1/1/2016 - nay
Ngày 31/12/2015, NHNN đã ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN về việc công bố tỷ giá trung tâm của VND với USD, tỷ giá tính chéo của VND với một số ngoại tệ khác Theo cơ chế này, tỷ giá trung tâm của VND với USD do NHNN công
bố hàng ngày là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán của VND với
Đô la Mỹ Tỷ giá trung tâm được xác định trên cơ sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả
nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ Cũng theo đó tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam (VND) với USD được điều chỉnh hàng ngày, có lên và có xuống, còn tỷ giá thị trường sẽ dao động trong biên độ +/- 3%
2.2 Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại từ 2008 đến 2015