1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

85 927 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 811,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người chuyên chở hàng hóa, theo yêu cầu của người gửi hàng, phải cấp cho người gửi hàng một vận đơn gồm những yếu tố sau: • Những mã ký hiệu chính cần thiết để nhận biết hàng hoá giống n

Trang 1

Tầng 9, Tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam

Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138

Email: mutrap@mutrap.org.vn ; Website: www.mutrap.org.vn

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

“ĐÁNH GIÁ VIỆC VIỆT NAM THAM GIA VÀO CÁC HIỆP ƯỚC KINH TẾ QUỐC

Tr ịnh Thị Thu Hương

Báo cáo này được xây dựng với sự hỗ trợ của Liên minh châu Âu Quan điểm trong báo cáo là của các tác giả, không phải là ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay của Bộ Công Thương

Trang 2

M ỤC L ỤC

I Giới thiệu 4

II Từ ngữ sử dụng trong báo cáo 6

III Các Công ước liên quan 7

1 Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc pháp luật liên quan đến vận đơn đường biển năm 1924 và các nghị định thư bổ sung năm 1968 và 1979 (Quy tắc Hague-Visby) 7

a) Phạm vi áp dụng chung của Công ước 7

b) Nghĩa vụ của người chuyên chở 7

c) Trách nhiệm của người chuyên chở 8

d) Vận đơn 9

e) Giao hàng và thời hạn liên quan 10

f) Nghĩa vụ chung của người gửi hàng 10

g) Trách nhiệm của người gửi hàng 10

h) Giải quyết tranh chấp 11

2 Công ước Liên hợp quốc về Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển năm 1978 (Quy tắc Hamburg) 11

a) Phạm vi chung của Công ước 11

b) Nghĩa vụ của người chuyên chở 11

c) Trách nhiệm của người chuyên chở 12

d) Vận đơn 13

e) Nghĩa vụ chung của người gửi hàng 14

f) Trách nhiệm của người gửi hàng 14

g) Giao hàng và thời hạn đối với các hành động 15

h) Giải quyết tranh chấp 15

3 Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng Vận chuyển hàng hóa quốc tế một phần hoặc toàn bộ bằng đường biển năm 2009 (Quy tắc Rotterdam) 15

a) Phạm vi chung của Công ước 15

b) Nghĩa vụ của người chuyên chở 17

c) Trách nhiệm của người chuyên chở 17

d) Chứng từ vận tải và lưu giữ thông tin điện tử về vận tải 19

e) Nghĩa vụ chung của người gửi hàng 20

f) Trách nhiệm của người gửi hàng 21

g) Giao hàng và thời hạn đối với các hành động 21

h) Giải quyết tranh chấp 22

4 Bảng so sánh tóm tắt 23

IV Luật Việt Nam về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển 24

1 Bộ luật Hàng hải 2005 24

2 So sánh Luật Hàng hải Việt Nam với Quy tắc Hague-Visby, Hamburg và Rotterdam 44 V Các hoạt động kinh tế kinh doanh ở Việt Nam chịu tác động bởi các Công ước quốc tế 59

1 Các hoạt động kinh tế kinh doanh liên quan đến vận dụng Công ước Hague và Hamburg ……….59

2 Các Công ước quốc tế liên quan mà Việt Nam tham gia và tác động của việc phê chuẩn Công ước 66

VI Tác động của các Công ước đối với môi trường pháp lý và kinh doanh của các nước khác 70

1 Việc tham gia của các nước khác vào Công ước 70

a) Công ước Rotterdam 70

b) Công ước Hamburg 70

c) Quy tắc Hague-Visby 70

Trang 3

d) Thực tiễn áp dụng ở các nước là đối tác thương mại của Việt Nam liên quan đến các

Công ước này 71

e) Một số bình luận 72

2 Bảo lưu của các nước khác 72

a) Công ước Rotterdam 72

b) Công ước Hamburg 72

c) Quy tắc Hague-Visby 72

d) Nhận xét chung 74

3 Tóm tắt lập trường của các bên liên quan ở các nước khác về các Công ước này 74

a) Những chỉ trích chính đối với Quy tắc Hague-Visby 74

b) Thiếu sự thành công của Quy tắc Hamburg 75

c) Quan điểm hỗn hợp về Quy tắc Rotterdam 75

d) Ý kiến kết luận 79

VII Khuyến nghị 81

1 Liệu Việt Nam có nên tham gia vào một trong những Công ước này? Các chỉ số liên quan……… 81

2 Tác động tới kinh tế Việt Nam 81

a) Tác động tới các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam 81

b) Tác động với các hãng chuyên chở Việt Nam 82

c) Tác động tới công ty bảo hiểm Việt Nam 82

d) Kết luận 82

3 Những ưu tiên chính được các bên liên quan chính của Việt Nam bày tỏ 82

4 Tính linh hoạt của các Công ước 83

5 Liệu có cần phải tham gia một Công ước quốc tế điều về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển không? 83

6 Kết luận: không có sự cấp bách phải đưa ra quyết định 84

Trang 4

I Gi ới thiệu

Bộ Công Thương Việt Nam (MOIT) đang đánh giá cơ hội Việt Nam tham gia vào các Công ước quốc tế về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Báo cáo này nhằm hỗ trợ MOIT thực

hiện việc này

Các Công ước liên quan lần lượt là:

1 Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc pháp luật liên quan đến vận đơn đường biển được ký tại Brussels ngày 25/4/1924 và các nghị định thư bổ sung được ký ngày 23/2/1968 và 21/12/1979 Công ước này còn gọi là “Quy tắc Hague” còn các Nghị định thư gọi là “Quy tắc Visby”

2 Công ước Liên hợp quốc về Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được ký tại Hamburg ngày 31/3/1978, được biết tới với tên gọi “Quy tắc Hamburg”

3 Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng Vận chuyển hàng hóa quốc tế một phần hoặc toàn bộ

bằng đường biển được Đại hội đồng thông qua ngày 11/12/2008 và được ký tại Rotterdam ngày 23/12/2009, còn gọi là “Quy tắc Rotterdam”

Ba nhóm quy tắc, Hague-Visby, Hamburg và Rotterdam, về nguyên tắc mang tính loại tr ừ lẫn nhau Các quốc gia chỉ được chọn áp dụng một trong ba Công ước này Khi là thành viên Công ước Hague-Visby thì các quốc gia vẫn có thể đề nghị bảo lưu và duy trì một bộ quy tắc hỗn

hợp, trong khi đó các Công ước Hamburg và Rotterdam không cho phép được bảo lưu

Hiện nay, chỉ có Quy tắc Hague-Visby và Hamburg là mang tính ràng buộc đối với các nước tham gia Công ước Rotterdam hiện chưa có hiệu lực, vì Công ước này chưa đạt được số lượng

tối thiểu là 20 nước phê chuẩn theo như quy định Chỉ có Tây Ban Nha thông qua Công ước này vào ngày 19/1/2011 Tuy nhiên, Quy tắc Rotterdam cũng mất gần 7 năm đàm phán, dưới khung khổ của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL), và các

cuộc đàm phán có tính tới mọi khía cạnh phức tạp của vận tải hiện đại Một số quốc gia và bên tham gia thương mại quan trọng ủng hộ Quy tắc mới này Tuy nhiên, các nước khác còn quan

ngại về tính phức tạp của Quy tắc này Quy tắc Rotterdam cũng đề cập tới – và đây là một điểm mới – vận tải đa phương thức, nghĩa là giao nhận từ tận nơi liên quan tới cả vận tải đường

bộ và đường biển Quy tắc Rotterdam dường như phù hợp nhất với các hợp đồng vận tải hiện đại và thông lệ hiện hành của thương mại quốc tế được công-ten-nơ hóa và vi tính hóa

Việt Nam, với tư cách là một quốc gia, chưa phải là thành viên của bất kỳ công nước nào nêu trên Luật trong nước liên quan tới lĩnh vực này của Việt Nam là Bộ luật Hàng hải 2005, có nội dung dựa trên cả Quy tắc Hague-Visby và Quy tắc Hamburg Việt Nam đã ký tham gia vào

Hiệp định khung ASEAN về Vận tải đa phương thức ký tại Viên-chăn, Lào ngày 17/11/2005, nhưng chưa phê chuẩn hiệp định này Việc thông qua một trong những Công ước quốc tế nêu trên sẽ dẫn tới thay đổi quy định trong nước của Việt Nam về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Mặc dù điều này có thể tạo thuận lợi cho sự phát triển ngành vận tải của Việt Nam, việc lựa chọn Công ước cũng có thể tác động tới việc kinh doanh của người gửi hàng, người chuyên chở và bên bảo hiểm Vì thế, cần làm rõ tác động này, nếu có, và tầm quan trọng

của tác động, theo đó tư vấn cho Bộ Công Thương Mục tiêu là nhằm mang tới cho các chủ thể

hoạt động kinh tế Việt Nam liên quan một quy định tối ưu, nói một cách khác, xác định rõ rủi

ro về trách nhiệm và đảm bảo dịch vụ chất lượng cũng như chi phí bảo hiệm thấp hơn

Báo cáo chia làm 6 phần:

1 Để thuận tiện, phần đầu mô tả từ ngữ mà các Công ước sử dụng để phân biệt các chủ thể tham gia vào vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Trang 5

2 Phần hai mô tả tóm tắt từng Công ước liên quan và có một bảng so sánh nhữ ng khác biệt chính của mỗi bộ quy tắc Phần này giải thích quá trình các Công ước ra đời sau lần lượt sửa đổi, điều chỉnh quy định ngoại lệ có lợi cho người chuyên chở đường biển theo quy định trong Quy tắc Hague và tăng cường quy chế trách nhiệm với đối tượng này Phần này cũng trình bày tóm tắt quy chế giải quyết tranh chấp quy định trong các Công ước này

3 Phần thứ ba mô tả luật và quy định trong nước của Việt Nam về vận chuyển hàng hóa quốc

tế bằng đường biển Phần này cũng gồm một bảng so sánh quy định của Việt Nam với Quy tắc Hague-Visby và Quy tắc Hamburg Ngoài ra, phần này cũng so sanh quy định trong nước của

Việt Nam với Quy tắc Rotterdam và làm rõ những thay đổi pháp luật trong nước kéo theo khi tham gia các quy tắc này

4 Phần bốn đề cập tới tác động tới doanh nghiệp Việt Nam của các Công ước này Phần này

mô tả tóm tắt tình hình của các bên liên quan là người gửi hàng, người chuyên chở và bên bảo

hiểm

5 Phần năm mô tả sự tham gia của các nước khác vào những Công ước này và tóm tắt những

bảo lưu của các nước Phần này cũng nêu kết luận về tính phổ cập của các Công ước Nó cũng tóm tắt quan điểm của các bên liên quan và thực thi tại các nước khác về những Công ước này,

nhất là liên quan tới việc thông qua Quy tắc Rotterdam, và giải thích lý do của những chỉ trích

cũng như ủng hộ đối với Quy tắc này

6 Phần sau của báo cáo gồm khuyến nghị của nhóm chuyên gia liên quan tới việc Việt Nam tham gia vào một trong những Công ước này

Báo cáo này được soạn thảo đồng thời với thời điểm Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khởi xướng một nghiên cứu về chủ đề tương tự Hai nhóm chuyên gia đã làm

việc và quyết định rằng mặc dù báo cáo này phân tích sâu tác động pháp lý của việc Việt Nam tham gia một trong các Công ước liên quan, VCCI vẫn tiến hành khảo sát thực tiễn về nhận

thức và lợi ích của các bên liên quan tại Việt Nam liên quan tới nội dung của các Công ước

này

Cuối cùng, cần lưu ý rằng báo cáo này mở rộng hơn so với điều khoản giao việc ban đầu của

hoạt động Trên thực tế, điều khoản giao việc lúc đầu không bao gồm việc nghiên cứu Quy tắc Rotterdam Tuy nhiên, đây là những yếu tố then chốt để hình thành vận tải hàng hải quốc tế trong tương lai, nên không thể bỏ qua

Trang 6

II T ừ ngữ sử dụng trong báo cáo

• Người chuyên chở: là chủ tàu hoặc người chuyên chở theo hợp đồng là một bên tham gia hợp đồng vận tải với người gửi hàng Người thực sự chuyên chở hàng hóa được gọi với thuật ngữ là

“người chuyên chở thực tế” hay “bên thực hiện”

• Người chuyên chở theo hợp đồng: là công ty thuê tàu từ ch ủ tàu để thực hiện việc chuyên

chở hàng hóa

Người gửi hàng: là công ty tổ chức vận tải hàng hóa quốc tế Người gửi hàng trên chứng từ,

như nêu trong Quy tắc Rotterdam, là người , không phải là người gửi hàng thực tế, chấp nhận được gọi là “người gửi hàng” trong chứng từ vận tải thông thường hoặc chứng từ vận tải điện

tử

• Người nhận hàng: là người có quyền nhận hàng từ người chuyên chở theo hợp đồng chuyên

chở

• Vận đơn: đây là một chứng từ vận chuyển làm bằng chứng cho một hợp đồng vận chuyển

bằng đường biển cũng như số lượng và giá trị (tương ứng) và tình trạng hàng hóa được vận chuyển Văn bản này do người chuyên chở thực hiện khi người chuyên chở tiếp nhận hàng hóa

Trang 7

III Các Công ước liên quan1

1 Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc pháp luật liên quan đến

v ận đơn đường biển năm 1924 và các nghị định thư bổ sung năm 1968

và 1979 (Quy tắc Hague-Visby)

a) Ph ạm vi áp dụng chung của Công ước

Quy tắc Hague-Visby đề cập tới vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển Quy tắc quy

định trách nhiệm của người chuyên chở liên quan đến việc “ bốc xếp, lưu kho, sắp xếp, vận

chuyển, coi giữ, bảo quản và dỡ” hàng hóa chuyên chở Quy tắc một hệ thống trách nhiệm

mềm, có lợi cho người chuyên chở Điều này là do thực tế Vào năm 1924, vận tải hàng hải

quốc tế rất nguy hiểm, vì vậy nếu quy mọi trách nhiệm về vận tải cho người chuyên chở sẽ không công bằng Do đó, các nhà đàm phán tại Hague cho rằng người gửi hàng cũng phải chia

xẻ một số rủi ro về vận tải

Quy tắc Hague-Visby áp dụng đối với các vận đơn đường biển được phát hành tại bất kỳ nước thành viên nào Quy tắc cũng được áp dụng khi việc vận chuyển được thực hiện từ một cảng

của nước thành viên hoặc khi hợp đồng vận chuyển quy định khả năng áp dụng Công ước hoặc

khả năng áp dụng luật có quy định dựa trên Công ước

Quy tắc Hague-Visby không áp dụng với trách nhiệm đối với các thiệt hại hạt nhân

Quy tắc Hague-Visby áp dụng với hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có phát hành vận đơn

Quy tắc Hague-Visby không áp dụng với các hợp đồng thuê tàu trừ khi các vận đơn được phát hành trong trường hợp một tàu chở hàng theo một hợp đồng thuê tàu thì phải tuân thủ các điều khoản của Qui tắc này

Quy tắc Hague-Visby không tạo ảnh hưởng tác động qua lại với bất kỳ Công ước nào giữa các bên tham gia về việc trông giữ và chuyển dịch hàng hoá trước khi xếp xuống tàu hoặc sau khi

dỡ hàng hoá khỏi tàu Ngoài ra, khi hàng hóa vận chuyển không phải là hàng thương mại thông thường được thực hiện theo trình tự thương mại thông thường, người gửi hàng và người chuyên chở có thể không theo Quy tắc Hague-Visby Tuy nhiên, họ không thể phát hành một

vận đơn thỏa thuận được Quy định đặc biệt này áp dụng đối với những chuyến hàng đòi hỏi

phải có một thỏa thuận đặc biệt do đặc tính hoặc tình trạng của tài sản được vận chuyển hoặc hoàn cảnh cụ thể, điều khoản hoặc điều kiện trong đó việc vận chuyển được thực hiện

b) Ngh ĩa vụ của người chuyên chở

Theo Điều 3 Hiệp ước Hague năm 1924, người chuyên chở hàng hóa phải:

• Đảm bảo tàu có đủ khả năng đi biển

• Biên chế thuyền viên, trang bị và đồ dùng khác cho tàu

• Đảm bảo các hầm chứa, các phòng lạnh và làm mát, và tất cả các phần khác của con tàu được

sử dụng để chuyên chở hàng hoá phải phù hợp và an toàn cho việc tiếp nhận, chuyên chở và bảo quản hàng hoá

• Tiến hành một cách hợp lý và cẩn thận việc bốc xếp, san cào, chuyển dịch, sắp xếp, lưu giữ, bảo quản và dỡ hàng

1 Bản tóm tắt các hiệp ước quy định dưới đây đề cập bản chất của các hiệp ước chứ không phải chi tiết của hiệp ước Chỉ có văn bản hiệp ước mới có thể nêu chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng vận chuyển hàng hóa

Trang 8

• Theo yêu cầu của người gửi hàng, cấp cho người gửi hàng một vận đơn đường biển tuân thủ

mọi yêu cầu chi tiết (xem phần dưới)

Không có quy định về nghĩa vụ phải giao hàng kịp thời

c) Trách nhi ệm của người chuyên chở

i) Nguyên t ắc chung

Người chuyên chở và tàu phải chịu trách nhiệm về bất kỳ mất mát hoặc thiệt hại về hàng hóa

do thất lạc hàng hóa Một hợp đồng chuyên chở không thể miễn trách nhiệm cho người chuyên

chở bằng tàu biển Tuy nhiên, nó có thể quy định bảo hiểm có lợi cho người chuyên chở Trong trường hợp đó, người chuyên chở có thể được giảm nhẹ trách nhiệm

Bên cạnh đó, Quy tắc Hague-Visby miễn trách nhiệm cho người chuyên chở lẫn tàu đều không

phải chịu trách nhiệm đối với những mất mát hoặc thiệt hại phát sinh hoặc là hệ quả của việc tàu không có đủ khả năng đi biển Không được phép miễn trừ trách nhiệm nếu tình trạng tàu

không đủ khả năng đi biển là do người chuyên chở thiếu sự cần mẫn thích đáng trong tuân thủ

những nghĩa vụ mô tả trong điểm b) ở trên Người chuyên chở hoặc tàu muốn được miễn trách

phải chứng minh rằng mình đã thực hiện sự cần mẫn thích đáng

ii) Mi ễn trừ trách nhiệm

Tuy nhiên, quy định nghĩa vụ nghiêm ngặt và rõ ràng đối với người chuyên chở và tàu này lại

bị kiềm chế bởi những miễn trừ trách nhiệm sau:

• Hành vi, sự sơ suất, hay khuyết điểm của thuyền trưởng, thủy thủ, hoa tiêu hay người làm

công trên tàu trong việc điều khiển và quản lý con tàu

Miễn trừ này là đáng kể và được áp dụng trong quá trình vận chuyển Vào năm 1924, miễn trừ này được giải thích bằng thực tế là người chuyên chở và chủ tàu không thể kiểm soát nhân viên trên tàu trong suốt hành trình Vì thế, họ không nhận rủi ro chịu trách nhiệm về những hành vi

và sơ suất xảy ra ngoài tầm kiểm soát của họ

Quy tắc Hague-Visby vì thế đặt toàn bộ gánh nặng rủi ro lên người gửi hàng Tuy nhiên, người

gửi hàng có thể có hành động chống lại người làm công hay đại lý của người chuyên chở Trong trường hợp đó sẽ áp dụng miễn trừ trách nhiệm tương tự nêu trong Quy tắc

Những nguyên nhân miễn giảm trách nhiệm khác:

• Cháy, trừ khi do lỗi thực tế của người chuyên chở hay do hành động cố ý của người chuyên

Trang 9

• Cứu hoặc cố gắng cứu tính mạng hoặc tài sản trên biển

Về khía cạnh cụ thể này, người chuyên chở được miễn trừ trong bất cứ trường hợp không thực

hiện nghĩa vụ nào do cứu hoặc cố gắng cứu tính mạng hoặc tài sản trên biển Vì thế, người chuyên chở cũng không phải chịu trách nhiệm với mọi mất mát hoặc thiệt hại do việc không

thực hiện nghĩa vụ liên quan gây ra

• Hao hụt thể tích hay trọng lượng hoặc bất kỳ mất mát hay hư hỏng nào khác xảy ra do nội tỳ,

phẩm chất hay khuyết tật vốn có của hàng hoá

• Bao bì không đầy đủ

• Mã ký hiệu không đầy đủ hoặc không chính xác

• Những ẩn tỳ không thể phát hiện được dù đã có sự cần mẫn thích đáng

Bất kỳ nguyên nhân nào khác phát sinh không do lỗi thực tế hay hành vi cố ý của người chuyên chở, cũng không do lỗi hoặc sự sơ suất của các đại lý hoặc người làm công của người chuyên chở

Trong trường hợp này, người chuyên chở để được hưởng miễn trừ có nghĩa vụ chứng minh

rằng mất mát hay hư hỏng đó không phải lỗi thực tế hay hành vi cố ý của người chuyên chở

cũng như lỗi hoặc sơ suất của các đại lý hoặc người làm công của người chuyên chở

Ngoài ra, Quy tắc Hague-Visby quy định một giới hạn bồi thường tài chính trong trách nhiệm

của người chuyên chở: giới hạn này là 666,67 đơn vị tiền tệ kế toán trên một kiện hoặc đơn vị,

hoặc 2 đơn vị tiền tệ kế toán trên một kilo tổng trọng lượng hàng hóa bị mất hoặc thiệt hại, tùy theo cách tính nào cao hơn2

d) Vận đơn

Đơn vị tiền tệ kế toán ở đây là Quyền rút vốn đặc biệt theo quy định của Quỹ Tiền tệ quốc tế Các bên có thể thống nhất áp dụng một số tiền lớn hơn nếu tính

chất và giá trị hàng hóa đã được người gửi hàng công bố trước khi chuyển hàng và ghi trong

vận đơn Các bên không được phép thống nhất áp dụng một số tiền thấp hơn Tùy theo giới hạn trên, mức bồi thường được tính theo giá trị sản phẩm tại địa điểm và thời điểm dỡ hàng khỏi tàu theo quy định của hợp đồng Các chi tiết tính toán thêm ở đây được quy định trong Quy tắc Visby 1968 và 1978 Giới hạn trách nhiệm này không áp dụng nếu người chuyên chở của tàu hành vi, hành động hoặc kh ông hành động của người chuyên chở được thực hiện với ý định gây ra thiệt hại, hoặc được thực hiện một cách liều lĩnh và ý thức được rằng thiệt hại như vậy

có thể xảy ra

Người chuyên chở hàng hóa, theo yêu cầu của người gửi hàng, phải cấp cho người gửi hàng

một vận đơn gồm những yếu tố sau:

• Những mã ký hiệu chính cần thiết để nhận biết hàng hoá giống như tài liệu bằng văn bản do người gửi hàng cung cấp trước lúc bắt đầu xếp hàng, với điều kiện là các mã ký hiệu đó phải được in hoặc được thể hiện rõ ràng bằng một cách thức khác lên trên hàng hoá nếu hàng hoá không được đóng bao bì, hoặc lên trên những hòm kiện chứa hàng hoá đó theo một cách thức

mà những mã ký hiệu đó trong điều kiện bình thường vẫn đọc được cho đến khi kết thúc hành trình

• Số kiện, số chiếc hoặc số lượng hoặc trọng lượng tuỳ từng trường hợp như người gửi hàng đã cung cấp bằng văn bản Tuy nhiên, người chuyên chở có thể không chấp nhận những con số do người gửi hàng cung cấp nếu có lý do để tin rằng những con số đó không đúng với thực tế Trong trường hợp đó, cả hai bên cần thẩm tra lại các con số

• Trật tự và tình trạng bên ngoài của hàng hoá

2 Trong trường hợp vận tải bằng công-ten-nơ, Quy tắc Visby năm 1968 quy định số kiện hoặc đơn vị kê trong vận đơn được đóng vào một công-ten-nơ sẽ là số kiện hoặc đơn vi để tính giới hạn trách nhiệm

Trang 10

• Người chuyên chở có thể ghi trong vận đơn tên tàu chở hàng và ngày gửi hàng Nếu vận đơn

có nêu những thông tin này, ngoài những thông tin đã nêu ở trên, nó được gọi là vận đơn đã

Bên cạnh đó, mặc dù người chuyên chở có thể chấp nhận tăng nghĩa vụ của mình hoặc tăng trách nhiệm, người này có thể loại bỏ một số miễn trừ trách nhiệm vốn phải nêu trong vận đơn

Một vận đơn có thể được chuyển cho bên thứ ba Trong trường hợp đó, mọi nội dung của vận đơn phải truyền hoàn toàn chính xác cho bên này Vận đơn về nguyên tắc sẽ chỉ định người

nhận hàng, người phải cầm vận đơn để giao nhận hàng hóa

e) Giao hàng và thời hạn liên quan

Khi việc chuyên chở hoàn thành và bên nhận hàng đã nhận được hàng, thì coi như về việc hàng hóa được giao theo đúng quy định của vận đơn Mọi khiếu nại trái với giả định này phải được nêu trước khi giao hàng hoặc tại thời điểm dỡ hàng, trừ khi việc mất mát hoặc thiệt hại không rõ ràng tại thời điểm đó Trong trường hợp đó, quy định gia hạn thêm 3 ngày kể từ ngày giao hàng

Ngoài ra, Công ước còn quy định thời hạn một năm kể từ ngày giao hàng (hoặc ngày đáng lẽ

phải thực hiện giao hàng) để đưa khởi kiện người chuyên chở về mọi mất mát hoặc thiệt hại phát sinh trong quá trình chuyên chở Các bên có thể thống nhất áp dụng một thời hạn dài hơn

Một hành vi thế quyền chống lại bên thứ ba cũng có thể thực hiện sau khoảng thời gian một năm nếu pháp luật của tòa tiếp nhận vụ việc cho phép

f) Ngh ĩa vụ chung của người gửi hàng

• Cung cấp cho người chuyên chở hàng hóa có những ký hiệu được in, đóng dấu hoặc thể hiện

rõ ràng Nếu hàng hóa được bọc, ký hiệu phải được đóng trên các thùng hàng hoặc bao bì chứa hàng hóa

• Cung cấp các con số, mô tả và giá trị chính xác hàng hóa (nếu các bên thống nhất về một giá

trị đặc biệt) như nêu trong vận đơn

• Cung cấp cho người chuyên chở hàng hóa đã được đóng gói kỹ và không có tính chất nguy

hiểm Bản thân hàng hóa và cách đóng gói hàng hóa không được gây nguy hiểm cho sự an toàn

của tàu và thủy thủ

• Người gửi hàng không được đưa lên tàu hàng hóa dễ cháy, nổ hoặc có tính chất nguy hiểm

mà không được sự đồng ý của người chuyên chở Nếu hàng hóa này được xếp xuống tàu có sự đồng ý của người chuyên chở, người chuyên chở có thể dỡ hàng khỏi tàu tại bất cứ thời điểm nào mà chi phí do người gửi hàng chịu

g) Trách nhiệm của người gửi hàng

Người gửi hàng chịu trách nhiệm về mọi mất mát hoặc thiệt hại đối với hàng hóa của người này, người chuyên chở hoặc tàu thuyền do lỗi hoặc bất cẩn của mình Điều này cũng áp dụng

với các đại lý hoặc người giúp việc của người gửi hàng

Ngoài ra, người gửi hàng chịu trách nhiệm về sự không chính xác trong vận đơn, nhất là nếu người này cố ý khai sai tính chất hoặc giá trị của hàng hóa trong vận đơn

Trang 11

h) Gi ải quyết tranh chấp

Tranh chấp không được giải quyết một cách hòa bình phải được nộp lên trọng tài Nếu trọng tài không thể tổ chức phân xử trong vòng sáu tháng kể từ ngày yêu cầu giải quyết bằng trọng tài, các bên thống nhất theo phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế, trừ khi các bên bảo lưu về

việc này

2 Công ước Liên hợp quốc về Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển năm 1978 (Quy tắc Hamburg)

a) Ph ạm vi chung của Công ước

Quy tắc Hamburg, như Quy tắc Hague-Visby, đề cập tới vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển Quy tắc quy định trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa được ủy thác “ở cảng xếp hàng, trong quá trình vận chuyển và ở cảng dỡ hàng” Điều này phần nào mở

rộng thời hạn trách nhiệm so với Quy tắc Hague-Visby vốn chỉ giới hạn trách nhiệm trong khoảng thời gian từ thời điểm bốc hàng tới thời điểm dỡ hàng Hàng hóa liên quan còn bao

gồm cả súc vật sống Quy tắc cũng quy định việc đóng gói và công cụ vận chuyển (như ten-nơ, pa-lét ) Quy tắc cũng quy định một hệ thống trách nhiệm chặt chẽ hơn của người chuyên chở so với Quy tắc Hague-Visby, bao gồm cả trách nhiệm đối với việc giao hàng chậm Công ước này được các nước đang phát triển yêu cầu và nhìn chung được xem là ưu ái hơn với khách hàng sử dụng dịch vụ vận tải

Giống Quy tắc Hague-Visby, Quy tắc Hamburg áp dụng khi vận đơn được phát hành tại bất kỳ nước nào tham gia Công ước, hoặc khi việc chuyên chở được thực hiện từ cảng của một nước tham gia Công ước hoặc khi hợp đồng chuyên chở quy định khả năng áp dụng Công ước hoặc

khả năng áp dụng luật đã hội nhập vào Công ước Ngoài ra, như Quy tắc Hague-Visby, Quy tắc Hamburg được áp dụng khi cảng bốc hoặc dỡ hàng thuộc một nước thành viên Công ước và Công ước cũng được áp dụng không phụ thuộc vào quốc tịch của tàu, của người chuyên chở, người chuyên chở thực tế, người gửi hàng, người nhận hàng hoặc bất kỳ người nào khác có liên quan

Không như Quy tắc Hague-Visby, Quy tắc Hamburg áp dụng với các hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển cả khi không cấp vận đơn

Giống như Quy tắc Hague-Visby, Quy tắc Hamburg không áp dụng đối với các bên thuê, trừ khi vận đơn được cấp trong trường hợp tàu thuộc một bên thuê quy định tuân thủ các điều khoản nêu trong Công ước Hamburg Bên cạnh đó, Quy tắc Hamburg không áp dụng với trách nhiệm đối với các thiệt hại hạt nhân hoặc hành lý thất lạc

Quy tắc Hamburg quy định cụ thể rằng Công ước này có tính áp dụng bắt buộc Một hợp đồng

vận chuyển hàng hóa bằng được biển không được giảm bớt tính áp dụng các quy định của Công ước, trừ khi hợp đồng đó quy định nghĩa vụ và trách nhiệm cao hơn với người chuyên

chở

b) Ngh ĩa vụ của người chuyên chở

Trái với Công ước Hague, Quy tắc Hamburg không liệt kê các nghĩa vụ Tuy nhiên, các nguyên tắc về trách nhiệm trong Công ước Hamburg quy định người chuyên chở hàng hóa phải

vận chuyển hàng hóa với tất cả sự cần mẫn cần thiết Một nghĩa vụ bổ sung so với Quy tắc Hague-Visby là người chuyên chở phải giao hàng đúng hẹn, tức là theo đúng thời hạn ghi trong

hợp đồng

Quy tắc Hamburg có những quy định đặc biệt về chở hàng trên boong, vốn nguy hiểm cho hàng hóa do thời tiết hoặc bất kỳ nguyên nhân bên ngoài khác Người chuyên chở có thể chở hàng trên boong chỉ khi được người gửi hàng cho phép, hoặc đây là tập q uán chuyên chở mặt hàng đó hoặc theo quy định của pháp luật Nếu người chuyên chở và người gửi hàng đã thỏa

Trang 12

thuận rằng hàng sẽ hoặc có thể chở trên boong, thì người chuyên chở phải ghi điều này vào vận đơn, nếu không người chuyên chở không có quyền viện dẫn thỏa thuận đó đối với bên thứ ba

có được vận đơn một cách thiện ý

Quy tắc Hamburg cũng có quy định đặc biệt về ký hợp đồng phụ Quy tắc mở rộng nghĩa vụ

của người chuyên chở sang bên ký hợp đồng phụ, vốn là bên vận chuyển hàng hóa thực sự (người chuyên chở thực tế)

c) Trách nhi ệm của người chuyên chở

i) Nguyên tắc chung

Người chuyên chở chịu trách nhiệm về mất mát hoặc hư hỏng về hàng hóa xảy ra trong khi hàng hóa đang thuộc trách nhiệm của người chuyên chở, trừ khi người chuyên chở chứng minh

được rằng “bản thân mình, những người làm công hoặc người đại lý của mình đã áp dụng mọi

bi ện pháp hợp lý, cần thiết để tránh sự cố và hậu quả của nó”

Người chuyên chở chịu trách nhiệm vệ mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng do hoả hoạn gây ra Tuy nhiên, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người khiếu nại phải chứng minh được đây là

do lỗi hoặc sơ suất của người chuyên chở

Khi hàng hóa là súc vật sống, người chuyên chở không chịu trách nhiệm về mất m át, hư hỏng,

nếu người chuyên chở chứng minh được rằng mình đã làm đúng mọi chỉ dẫn đặc biệt của người gửi hàng liên quan đến súc vật Để quy kết trách nhiệm trong trường hợp này, người khiếu nại phải chứng minh được đây là do lỗi hoặc sơ suất của người chuyên chở, người làm công hoặc đại lý người chuyên chở

Trường hợp hàng hóa được chở trên boong không được phép của người gửi hàng hoặc người chuyên chở không thể viện dẫn tới sự cho phép này tới một bên thứ ba, người chuyên chở chịu trách nhiệm về mọi mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng do việc chở hàng trên boong gây

ra

Người chở hàng và người chở hàng thực tế, trong trường hợp ký hợp đồng phụ, cùng chịu trách nhiệm liên đới và riêng biệt với mọi mất mát, hư hỏng về hàng hóa theo cách thức tương tự như đã quy định trong Công ước Tuy nhiên, nếu người chuyên chở thống nhất từ bỏ một số

biện hộ sẵn có trong Công ước, việc từ bỏ này không áp dụng đối với người chuyên chở thực

tế, tất nhiên trừ khi người này nhất trí từ bỏ bằng văn bản Công ước không ảnh hưởng những

viện dẫn có thể có giữa người chuyên chở và người chuyên chở thực tế

Nếu hợp đồng vận tải quy định hai người chuyên chở khác nhau cho phần hành trình, người chuyên chở thực tế chỉ chịu trách nhiệm về hư hỏng hoặc mất mát xảy ra trong thời gian hàng hóa thuộc trách nhiệm của người này

Những miễn trừ còn lại là các biện pháp đảm bảo an toàn tính mạng hoặc biện pháp “hợp lý”

để cứu tài sản trên biển

Phần còn lại, Quy tắc Hamburg quy định trách nhiệm chỉ giới hạn ở mức độ mất mát hoặc hư

hỏng do lỗi hay sơ suất của người chuyên chở Người chuyên chở vì thế có thể cố gắng chứng minh rằng những mất mát hoặc hư hỏng này là do nguyên nhân khác

Như Quy tắc Hague-Visby, Quy tắc Hamburg quy định một giới hạn bồi thường tài chính đối

với trách nhiệm của người chuyên chở, nhưng tăng giới hạn này lên 25%

Trang 13

Trong trường hợp hư hỏng hoặc mất mát, giới hạn bằng số tiền tương đương 835 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc đơn vị vận chuyển khác, hoặc tương đương 2,5 đơn v ị tính toán cho

mỗi kilôgram trọng lượng cả bì của hàng hóa bị mất mát hoặc bị hư hỏng, tuỳ theo cách tính nào cao hơn

Trong trường hợp chậm giao hàng, giới hạn bằng số tiền tương đương 2,5 lần tiền cước phải

trả cho số hàng giao chậm nhưng không vượt quá tổng số tiền cước phải trả

Các bên có thể thỏa thuận một giới hạn trách nhiệm cao hơn Đơn vị tiền tệ kế toán ở đây là Quyền rút vốn đặc biệt theo quy định của Quỹ Tiền tệ quốc tế Giới hạn trách nhiệm này không

áp dụng nêu người chuyên chở hoặc đại lý và người làm công của người này gây hư hỏng do

thực hiện một cách có ý thức hoặc thiếu thận trọng trong khi biết rằng hư hỏng đó có thể xảy

ra

Mặc dù, trái với Quy tắc Hague-Visby, người chuyên chở chịu trách nhiệm đối với những hành

vi của đại lý và người làm công của mình, các hành động trực tiếp cũng có thể tránh được trách nhiệm này Trong trường hợp đó, nếu người làm công và đại lý của người chuyên chở có thể

chứng minh rằng họ hành động trong phạm vi công việc được giao, họ có thể sử dụng những

biện hộ và giới hạn trách nhiệm tương tự như người chuyên chở

d) V ận đơn

Như Quy tắc Hague-Visby, theo Quy tắc Hamburg, người chuyên chở hàng hóa, theo yêu cầu

của người gửi hàng, phải xuất vận đơn cho người gửi hàng Vận đơn có thể do chủ tàu chở hàng ký và chữ ký này có thể là chữ ký điện tử Có một số khác biệt so với Quy tắc Hague-Visby liên quan đến nội dung vận đơn Vận đơn phải bao gồm những chi tiết sau đây:

• Tính chất chung của hàng hóa, những ký hiệu chủ yếu cần thiết cho việc nhận biết hàng hóa;

• Một ghi chú rõ ràng về tính chất nguy hiểm của hàng hóa;

• Số kiện hay số chiếc và trọng lượng hàng hoặc số lượng hàng được thể hiện bằng cách khác,

tất cả các chi tiết đó theo thông tin do người gửi hàng cung cấp;

• Tình trạng bên ngoài của hàng hóa;

• Tên và địa điểm kinh doanh chính của người chuyên chở;

• Tên người gửi hàng;

• Tên người nhận hàng nếu được người gửi hàng chỉ định;

• Cảng xếp hàng theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển và ngày hàng được giao cho người chuyên chở tại cảng xếp hàng;

• Cảng dỡ hàng theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển;

• Số bản gốc của vận đơn, nếu có hơn một bản;

• Nơi cấp phát vận đơn;

• Chữ ký của người chuyên chở hoặc của người thay mặt người chuyên chở;

• Tiền cước trong phạm vi mà người nhận hàng phải trả hoặc chỉ dẫn khác thể hiện việc tiền cước do người nhận trả;

• Ðiều ghi chú là việc vận chuyển tuân thủ các quy định của Công ước này, và điều đó sẽ làm

vô hiệu mọi quy định trái với Công ước và gây thiệt hại cho người gửi hàng hoặc người

nhận hàng;

• Ðiều ghi chú là hàng hóa sẽ hoặc có thể được chở trên boong, nếu có;

Trang 14

• Ngày hoặc thời hạn giao hàng tại cảng dỡ hàng nếu điều này được các bên thỏa thuận rõ ràng; và

• Các giới hạn trách nhiệm tăng thêm mà người gửi hàn và người chuyên chở đã thỏa thuận Trong khi Quy tắc Hague-Visby cho phép lựa chọn xuất vận đơn, thì Quy tắc Hamburg yêu

cầu người chuyên chở phải xuất một vận đơn “đã bốc hàng” Nếu người chuyên chở đã xuất

một vận đơn khác cho người gửi hàng, người gửi hàng phải đổi vận đơn này lấy vận đơn đã

ngờ hoặc việc thiếu phương tiện hợp lý để kiểm tra nói trên Nếu không ghi chú vào vận đơn tình trạng bên ngoài của hàng hóa thì coi như người đó đã ghi vào vận đơn rằng hàng hóa có tình trạng bên ngoài tốt

Trách nhiệm của người chuyên chở chỉ giới hạn trong phạm vi nội dung của vận đơn, trong khi người gửi hàng chịu trách nhiệm về mọi mất mát hoặc chi phí nếu có sự không chính xác gian

dối trong vận đơn về tính chất chung, những ký hiệu chủ yếu, số kiện hoặc số chiếc, trọng lượng hoặc số lượng hàng hóa Khi vận đơn được chuyển nhượng cho một bên thứ ba, mọi nội dung của vận đơn được coi là hoàn toàn chính xác với bên đó Người chuyên chở vì thế phải giao hàng theo quy định ghi trong vận đơn, trừ khi có bảo lưu như nêu ở trên Người chuyên

chở sẽ phải tiếp cận với người gửi hàng nếu người chuyên chở bỏ đề xuất giới hạn trách nhiệm trong vận đơn nhằm tước đoạt tài sản của bên thứ ba, như người nhận hàng

e) Ngh ĩa vụ chung của người gửi hàng

Quy tắc Hamburg không liệt kê các nghĩa vụ của người gửi hàng Tuy nhiên, người gửi hàng

phải tuân thủ Quy tắc chung về sự cẩn thận và cần mẫn

Quy tắc Hamburg có những quy định đặc biệt về hàng hóa nguy hiểm Quy tắc yêu cầu người

gửi hàng phải ghi ký hiệu hoặc dán nhãn hiệu để làm rõ hàng hóa đó là hàng nguy hiểm Ngoài

ra, người gửi hàng phải thông báo cho người chuyên chở và người chuyên chở thực tế tính chất nguy hiểm của hàng hóa và về những biện pháp phòng ngừa phải thi hành nếu cần

f) Trách nhiệm của người gửi hàng

Người gửi hàng có trách nhiệm về mọi thiệt hại hoặc mất mát xảy ra với hàng hóa của mình,

với người chuyên chở hoặc tàu bè do lỗi hoặc do sơ suất của họ gây ra Điều này cũng áp dụng đối với đại lý và người làm công của người gửi hàng

Nếu người gửi hàng không thông báo cho người chuyên chở và người chuyên chở thực tế về tính chất nguy hiểm của hàng hóa, người này sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại hoặc

mất mát do việc chuyên chở hàng hóa này gây ra Ngoài ra, trong trường hợp này, người chuyên chở có thể dỡ hàng tại bất kỳ lúc nào mà không phải trả tiền bồi thường Trên thực tế, người chuyên chở có thể làm như vậy cho dù đã được thông báo về tính chất nguy hiểm của hàng hóa và chấp nhận điều này, nếu hàng hóa thực sự trở thành mối nguy hiếm cho tính mạng

hoặc tài sản Tuy nhiên, người chuyên chở có thể phải chịu trách nhiệm về lỗi hoặc sơ suất của mình

Bên cạnh đó, người gửi hàng chịu trách nhiệm về sự không chính xác trong vận đơn, nhất là

nếu người này cố ý khai sai tính chất hoặc giá trị của hàng hóa trong vận đơn

Trang 15

g) Giao hàng và th ời hạn đối với các hành động

Quy tắc Hamburg có nội dung tương tự Quy tắc Hague-Visby, nhưng quy định thời hạn d ài hơn để có hành động trước những thiếu sót hoặc chậm giao hàng

Khi việc chuyên chở hoàn thành và bên nhận hàng đã nhận được hàng, coi như việc hàng hóa được giao theo đúng quy định của vận đơn Mọi khiếu nại rằng điều này không đúng phải được nêu chậm nhất một ngày sau khi giao hàng, trừ khi việc mất mát hoặc thiệt hại không rõ ràng

tại thời điểm đó Trong trường hợp đó, quy định gia hạn thêm 15 ngày kể từ ngày giao hàng Ngoài ra, việc khiếu nại về chậm giao hàng phải được thực hiện trong vòng 60 ngày kể từ ngày giao hàng cho bên nhận hàng

Khi người chuyên chở xác định thiệt hại là do lỗi hoặc sơ suất của người gửi hàng, người làm công hoặc đại lý của người này, người chuyên chở phải nêu khiếu nại trong vòng 90 ngày liên

tục tính từ ngày xảy ra mất mát, hư hỏng hoặc ngày giao hàng, tuỳ theo ngày nào xảy ra sau

Nếu không theo thời hạn này, thì đó bằng chứng hiển nhiên về việc người chuyên chở không xác định mất mát hoặc hư hỏng nào do lỗi hoặc sơ suất của người gửi, nhân viên hoặc đại lý

của người này gây ra

Cuối cùng, Công ước Hamburg quy định thời hạn 2 năm kể từ ngày giao hàng (hoặc ngày đáng

lẽ phải giao hàng) để khởi kiện người chuyên chở về mọi mất mát hoặc thiệt hại phát sinh trong quá trình chuyên chở hàng hóa Hành động tương tự chống lại bên thứ ba cũng có thể thực hiện sau khoảng thời gian 2 năm nếu pháp luật của tòa tiếp nhận vụ việc cho phép

h) Gi ải quyết tranh chấp

Công ước Hamburg gồm các quy định về thẩm quyền xét xử của tòa quốc gia trong tranh chấp

về hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển Thẩm quyền xét xử được trao cho các tòa

án ở:

a Nơi kinh doanh chính của bên bị hoặc nơi cư trú thường xuyên của bên bị, nếu bên bị không

có trụ sở kinh doanh chính, hoặc

b Nơi ký kết hợp đồng, với điều kiện là tại đó bên bị có trụ sở kinh doanh, chi nhánh hoặc đại

lý qua đó hợp đồng được ký kết, hoặc

c Cảng xếp hàng hoặc cảng dỡ hàng, hoặc

d Bất kỳ một địa điểm bổ sung nào được hợp đồng vận chuyển bằng đường biển quy định cho

mục đích trên

Công ước nghiêm cấm việc đưa cùng một vụ việc ra các tòa khác nhau để xét xử

Liên quan đến tranh chấp quốc tế, Quy tắc Hamburg không quy định quyền xét xử của Tòa án Công lý quốc tế Quy tắc cho phép đưa ra trọng tài xét xử Tuy nhiên, trong trường hợp có hợp đồng thuê tàu, việc xét xử bằng trọng tài không thể áp dụng với bên thứ ba nếu không có điều khoản trọng tài trong vận đơn Khi trọng tài được chỉ định, họ phải tuân thủ các quy định của

Hiệp ước

3 Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng Vận chuyển hàng hóa quốc tế

m ột phần hoặc toàn bộ bằng đường biển năm 2009 (Quy tắc

Rotterdam)

a) Ph ạm vi chung của Công ước

Trang 16

Quy tắc Rotterdam về mở rộng đáng kể phạm vi hài hòa hóa vận tải đa phương thức, như vận chuyển hàng hóa quốc tế, giao nhận hàng tận nhà, gồm cả vận tải đường biển kết hợp đường

bộ Quy tắc quy định trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa khi hàng hóa đang thuộc trách nhiệm của người chuyên chở từ nơi nhận hàng tới nơi giao hàng Phạm vi rộng hơn này sẽ phản ánh sát hơn thực tế của các hợp động vận tải trong thương mại quốc tế hiện đại Công ước Rotterdam áp dụng một quy chế trách nhiệm tương tự với quy định trong trong Quy

tắc Hamburg, nhưng Công ước nhắc lại một số quy định của Quy tắc Hague-Visby, nhất là đề

ra các nghĩa vụ rõ ràng của người chuyên chở và những miễn trừ trách nhiệm mà người chuyên

chở có thể áp dụng Các quy định trong Công ước Rotterdam hoàn chỉnh và chi tiết hơn nhiều

so với quy định trong Quy tắc Hague-Visby và Hamburg, và nhằm điều tiết tốt hơn việc kinh doanh vận tải quốc tế hiện nay Ví dụ, ngoài vận tải đa phương thức như nêu ở trên, Công ước Rotterdam còn xem xét thực tế là sở hữu hàng hóa có thể thay đổi trong thời gian chuyên chở

Vì thế, Công ước có quy định chi tiết về trường hợp này cũng như quy định cụ thể về chỉ dẫn đối với người chuyên chở nhằm thay đổi đích đến hay người nhận hàng Bên cạnh đó, Công ước Rotterdam còn quy định việc phát hành một bộ chứng từ vận tải ngoài vận đơn và cho phép sử dụng chữ ký điện tử và chuyển giao giấy tờ

Công ước Rotterdam áp dụng khi một trong số những địa điểm dưới đây thuộc lãnh thổ của

Công ước vẫn áp dụng không phụ thuộc vào quốc tịch của tàu, bên tham gia hợp đồng hoặc bất

kỳ người nào khác có liên quan Ngược lại với các quy định trước đây, Công ước Rotterdam không quy định tới nơi phát hành vận đơn Thậm chí Công ước còn có thể áp dụng mà không

cần xét tới việc vận đơn đã được phát hành hay chưa

Công ước không áp dụng với các bên thuê tàu hoặc các hợp đồng khác quy định việc sử dụng tàu thuyền hay bất kỳ khoảng không gian nào trên tàu Tuy nhiên, có thể áp dụng Công ước trong những trường hợp đó nếu có phát hành một chứng từ vận tải hoặc một lưu giữ thông tin điện tử về vận tải

Giống Công ước Hamburg, Công ước Rotterdam cũng bao gồm cả súc vật sống, việc đóng gói

và công cụ vận chuyển (như công-ten-nơ, pa-lét ) Tương tự, Công ước Rotterdam không áp

dụng với trách nhiệm đối với các thiệt hại hạt nhân hay hành lý thất lạc

Quy tắc Hamburg quy định cụ thể rằng Công ước này có tính áp dụng bắt buộc Không hợp đồng nào được phép giảm bớt các quy định về trách nhiệm, trừ khi liên quan đến các hợp đồng

khối lượng đáp ứng những điều kiện nhất định Điều này có thể được bãi bỏ đối với vận tải công-ten-nơ Ngoài ra, có thể chấp nhận một số miễn trừ trách nhiệm nếu hàng hóa là súc vật

sống

Công ước áp dụng mà không gây ảnh hưởng tới bất kỳ công ước nào khác hiện có áp dụng đối

với các tình huống xảy ra trong phần chuyên chở phi hàng hảng Đối với công ước tương tự

công ước áp dụng mà không gây ảnh hưởng tới bất kỳ công ước nào khác hiện có áp dụng xử

lý các tình huống xảy ra trong phần vận chuyển không bằng đường biển Công ước tương tự khác có liên quan chỉ áp dụng với mọi hoặc bất kỳ hoạt động của người chuyên chở một khi người gửi hàng có hợp đồng riêng và trực tiếp với người chuyên chở cho phần vận tải đó Một điều kiện nữa là Công ước khác có thể áp dụng phải quy định cụ thể quy chế trách nhiệm của người chuyên chở và tính bắt buộc ở đây Tuy nhiên, nếu không rõ thời điểm mất mát hoặc thiệt hại về hàng hóa, hay phương thức vận tải, thì sẽ áp dụng Quy tắc Rotterdam

Trang 17

b) Ngh ĩa vụ của người chuyên chở

Quy tắc Rotterdam quy định rõ: người chuyên chở hàng hóa phải bốc xếp, lưu kho, sắp xếp, vận chuyển, coi giữ, bảo quản, dỡ và giao hàng cho bên nhận hàng (hoặc bên có thẩm quyền

nhận hàng được chỉ định theo quy định) một cách hợp lý và cẩn thận

Ngoài ra, Quy t ắc Rotterdam nhắc lại một danh mục nghĩa vụ đầy đủ, rõ ràng như Quy tắc Visby: người chuyên chở phải có sự cần mẫn thích đáng “trước, tại thời điểm bắt đầu và trong

Hague-hành trình b ằng đường biển để:

a) Làm và gi ữ cho tàu đủ khả năng đi biển

b) Biên ch ế, trang bị, cung cấp cho tàu và giữ cho tàu có đầy đủ biên chế, trang bị và cung ứng

su ốt chuyến đi

c) Làm và gi ữ các hầm và các bộ phận khác của con tàu nơi hàng hóa được chuyên chở và

nh ững container do người chuyên chở cung cấp hay trong đó có hàng hóa chuyên chở, được

an toàn v ững chắc đảm bảo cho việc tiếp nhận, chuyên chở và bảo quản.”

Người chuyên chở cũng phải giao hàng đúng hạn, tức là theo thời hạn ghi trong hợp đồng Như các hiệp ước trước, người chuyên chở có thể từ chối nhận hoặc xếp hàng hóa mà trong khoảng thời gian thuộc trách nhiệm của người chuyên chở, là hoặc có khả năng là mối nguy

hiểm thực sự với người, tài sản hoặc môi trường Người chuyên chở cũng có thể dỡ hàng nếu sau đó người này mới phát hiện ra tính nguy hiểm của hàng hóa

Công ước Rotterdam cũng quy định việc chở hàng trên boong chỉ được phép nếu

• Người gửi hàng cho phép, hoặc

• Chở hàng theo quy định của pháp luật, hoặc

• Hàng hóa được chở trong các công-ten-nơ hoặc phương tiện vận tải phù hợp với việc vận chuyển trên boong, và boong tàu đặc biệt phù hợp để chở các công-ten-nơ hay phương tiện vận

tải này, hoặc

• Nếu đây là cách sử dụng đối với loại hàng hóa này hoặc theo quy định pháp luật

Vì thế Công ước Rotterdam nới lỏng quy định đối với việc chở hàng trên boong hơn so với Công ước Hamburg Điều này phù hợp với sự phát triển của vận tải hàng hải và tăng việc sử

dụng công-ten-nơ

Quy tắc Hamburg cũng gồm những quy định đặc biệt về ký hợp đồng phụ Quy tắc mở rộng nghĩa vụ của người chuyên chở sang cho bên ký hợp đồng phụ chịu trách nhiệm bốc xếp, xử lý

hoặc vận chuyển hàng hóa (bên thực hiện)

c) Trách nhi ệm của người chuyên chở

i) Nguyên t ắc chung

Người chuyên chở có trách nhiệm về mọi mất mát hoặc thiệt hại về hàng hóa khi hàng hóa thuộc trách nhiệm của người chuyên chở cũng như khi giao hàng chậm Công ước Rotterdam xác định thời hạn trách nhiệm áp dụng kể từ khi người chuyên chở nhận hàng tới khi người này giao hàng

Khi xảy ra sự cố, sẽ có đủ thời gian để người khiếu nại xác định mất mát, thiệt hại hoặc chậm

trễ, hay vụ việc hoặc trường hợp gây ra hay góp phần gây ra sự cố này trong thời gian thuộc trách nhiệm của người chuyên chở Như Quy tắc Hamburg, Công ước Rotterdam cho phép người chuyên chở miễn trừ trách nhiệm này nếu người đó chứng minh rằng mất mát, thiệt hại hay chậm trễ không phải do lỗi của mình hay lỗi của bên ký hợp đồng phụ, nhân viên của họ hay thuyền trường hoặc thủy thủ tàu

Trang 18

Trong trường hợp ký hợp đồng phụ với “bên thực hiện hàng hải ”, nghĩa là công ty thực hiện

việc chuyên chở bằng đường biển trên thực tế, quy định về trách nhiệm tương tự sẽ áp dụng cho bên ký hợp đồng phụ này, với điều kiện phần hành trình trên biển phải bắt đầu hoặc kết thúc tại một nước thành viên của Công ước Nếu người chuyên chở thống nhất từ bỏ một số

miễn trừ trách nhiệm quy định trong Công ước, việc từ bỏ này không áp dụng với bên thực

hiện hàng hải, trừ khi bên đó cũng thống nhất từ bỏ bằng văn bản Người chuyên chở và “bên

thực hiện hàng hải” cùng chịu trách nhiệm liên đới và riêng biệt với mọi mất mát, hư hỏng về hàng hóa theo cách thức tương tự như đã quy định trong Công ước

Công ước loại trừ bất kỳ trách nhiệm trực tiếp của thuyền trưởng hoặc thủy thủ tàu hay nhân viên của người chuyên chở hoặc bên thực hiện hàng hải

Khi hàng hóa được vận chuyển trên boong tàu, người chuyên chở chịu trách nhiệm về mọi mất mát hoặc thiệt hại mà không được phép viện dẫn bất kỳ miễn trừ nào quy định trong Công ước

nếu người này không tuân thủ các điều kiện nêu trên và thiệt hại hay mất mát là do những rủi

ro vốn có của việc vận chuyển hàng trên boong Khi người gửi hàng và người chuyên chở

thống nhất vận chuyển hàng dưới boong tàu, người chuyên chở hoàn toàn chịu trách nhiệm trong trường hợp mất mất hay thiệt hại mà không được phép viện dẫn mọi giới hạn trách nhiệm quy định trong Công ước Cuối cùng, khi một bên thứ ba có được chứng từ vận tải hay một lưu

giữ thông tin điện tử về vận tải có thể chuyển nhượng, người chuyên chở không được tự miễn trách nhiệm của mình bằng cách cho rằng việc chuyên chở hàng trên boong được thực hiện theo cách sử dụng

Khi hàng hóa là súc vật sống, người chuyên chở có thể thỏa thuận với người gửi hàng về một quy chế trách nhiệm lỏng lẻo hơn, nhưng người này không bao giờ có thể miễn trừ trách nhiệm

của bản thân khi bất cẩn nghiêm trọng hay cố tình gây mất mát hoặc thiệt hại

ii) Mi ễn trừ trách nhiệm

Công ước Rotterdam nhắc lại liệt kê các miễn trừ trách nhiệm như trong Quy tắc Hague-Visby, như sau:

• Thiên tai;

• Tai họa, nguy hiểm hay tai nạn trên biển hay các vùng nước hàng hải khác;

• Chiến tranh, hành động thù địch, xung đột vũ trang, cướp biển, khủng bố, bạo động và rối

loạn dân sự;

• Những hạn chế do kiểm dịch; can thiệp hay cản trở của chính quyền, nhà chức trách, vua chúa hay nhân dân bao gồm cả việc bắt giữ hoặc thu giữ không do lỗi của người chuyên chở hay bất cứ người nào nêu trong điều 18;

• Đình công, bế xưởng, ngừng hoặc hạn chế của lao động;

• Hỏa hoạn trên tàu;

• Những khuyết tật ẩn tỳ không thể phát hiện được dù đã kiểm tra kỹ lưỡng một cách hợp lý;

• Hành vi hay sơ suất của người gửi hàng, bên đứng tên người gửi hàng trong hợp đồng, bên

kiểm soát hoặc bất cứ người nào khác thuộc diện chịu trách nhiệm bởi người gửi hàng hoặc bên đứng tên người gửi hàng trong hợp đồng;

• Bốc, xếp, xử lý, hoặc dỡ hàng thuộc trách nhiệm của người gửi hàng theo một hợp đồng với người chuyên chở, trừ khi người chuyên chở hoặc bên thực hiện hoạt động này thay mặt cho người gửi hàng, người đứng tên người gửi hàng trong hợp đồng hoặc người nhận hàng;

• Hao hụt về thể tích, trọng lượng hoặc bất kỳ mất mát, hư hỏng nào khác xuát phát từ nội tỳ, bản chất, tính chất tự nhiên hoặc khuyết tật của hàng hóa;

Trang 19

• Việc đóng gói hoặc ghi ký hiệu không đầy đủ hoặc sai sót không phải do người chuyên chở hay đại diện người chuyên chở thực hiện;

• Cứu sinh hoặc nỗ lực nhằm cứu sinh mạng trên biển;

• Có các biện pháp hợp lý để cứu hoặc nỗ lực nhằm cứu tài sản trên biển;

• Có các biện pháp hợp lý nhằm tránh hoặc nỗ lực tránh gây tổn hại tới môi trường; hoặc

• Các hành vi của người chuyên chở nhằm hủy hàng hóa nguy hiểm

Tuy nhiên, người chuyên chở không thể viện dẫn những miễn trừ trách nhiệm này nếu:

• Người này không tuân thủ các nghĩa vụ cụ thể của người chuyên chở liệt kê trong Công ước Rotterdam, hoặc

• Sự việc hay tình huống xảy ra là do lỗi của người chuyên chở hay lỗi của người ký hợp đồng

phụ, hoặc của nhân viên hay của thuyền trưởng hoặc thủy thủ tàu

Trách nhiệm chứng minh ở đây thuộc về người khiếu nại

Liên quan đến việc bồi thường, Công ước Rotterdam quy định rằng việc bồi thưởng phải được

thực hiện theo giá trị hàng hóa, được xác định theo giá trao đổi hàng hoặc giá thị trường của hàng hóa Tuy nhiên, tương tự như Quy tắc Hague-Visby và Hamburg, Công ước Rotterdam quy định một giới hạn tài chính:

• Trong trường hợp thiệt hại hay mất mát, giới hạn là 875 đơn vị tiền tệ kế toán trên một kiện

hoặc đơn vị, hoặc 3 đơn vị tiền tệ kế toán trên một kilo tổng trọng lượng hàng hóa bị mất hoặc thiệt hại, hoặc bất kỳ khoản tiền nào cao hơn

• Trường hợp giao hàng chậm, giới hạn được quy định là 2,5 lần giá cước trả cho hàng hóa, nhưng không được quá tổng giá cước phải trả

Đơn vị tiền tệ kế toán ở đây là Quyền rút vốn đặc biệt theo quy định của Quỹ Tiền tệ quốc tế

Giới hạn trách nhiệm này không áp dụng nếu người chuyên chở, đại lý hay người làm công của người chuyên chở gây thiệt hại một cách cố ý hoặc liều lĩnh dù ý thức rằng thiệt hại như vậy có

thể xảy ra

d) Ch ứng từ vận tải và lưu giữ thông tin điện tử về vận tải

Công ước Rotterdam không còn chú trọng vào khái niệm “vận đơn”, mà quan tâm rộng hơn tới

“chứng từ vận tải” và “lưu giữ thông tin điện tử về vận tải”, vì thế bao gồm cả vận đơn đường

biển và lệnh giao hàng của tàu

Theo Công ước Rotterdam, người chuyên chở hàng hóa, theo yêu cầu của người gửi hàng, phải phát hành cho người gửi hảng (hoặc người đứng tên người gửi hàng trong hợp đồng), tùy theo

lựa chọn của người gửi hàng, một chứng từ vận tải có thể chuyển nhượng hoặc không được chuyển nhượng Người chuyên chở có thể được miễn nghĩa v ụ này nếu người chuyên chở

thống nhất không sử dụng chứng từ này hoặc nếu thông lệ thương mại liên quan không sử dụng

chứng từ này

Người chuyên chở có thể phát hành một lưu giữ thông tin điện tử về vận tải, với sự đồng ý của người gửi hàng, thay thế chứng từ vận tải Điều này nhằm tạo thuận lợi cho thương mại điện tử

và tránh sự chậm trễ do bưu điện

Chứng từ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải phải có các chỉ dẫn và thông tin của

hợp đồng do người gửi hàng cung cấp:

• Mô tả hàng hóa phù hợp với việc vận tải;

• Ký hiệu chủ yếu để nhận biết hàng hóa;

• Số kiện hay số chiếc hoặc số lượng hàng; và

Trang 20

• Trọng lượng hàng, theo thông tin do người gửi hàng cung cấp;

• Thông báo về trật tự và tình trạng bên ngoài của hàng hóa tại thời điểm người chuyên chở

hoặc bên thực hiện nhận hàng để chuyên chở;

• Tên và địa điểm kinh doanh chính của người chuyên chở Ở đây, tên phải giống tên ghi trong

hợp đồng gốc Nếu không, chứng từ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử không có hiệu lực pháp lý Nếu hợp đồng gốc không c ó tên người chuyên chở, nhưng chỉ định tàu và chủ tàu được coi là người chuyên chở;

• Ngày người chuyên chở hoặc bên thực hiện nhận hàng, hay ngày xếp hàng hóa xuống tàu,

hoặc ngày cấp chứng từ vận tải hay lưu giữ thông tin điện tự về vận tải;

• Nếu chứng từ vận tải có thể chuyển nhượng, số lượng bản gốc chứng từ vận tải có thể chuyển nhượng, nếu có hơn một bản gốc;

• Tên và địa chỉ người nhận hàng theo chỉ định của người gửi hàng;

• Tên con tàu, nếu có ghi trong hợp đồng chuyên chở;

• Nơi nhận hàng và, nếu người chuyên chở biết, nơi giao hàng; và

• Cảng xếp và dỡ hàng, nếu có ghi trong hợp đồng chuyên chở

Chứng từ vận tải phải do người chuyên chở hoặc người đại diện cho người chuyên chở ký Để phù hợp với thực tế hiện đại, Công ước Rotterdam cũng chấp nhận chữ ký điện tử theo phạm vi người gửi hàng đồng ý và sự đồng ý này phải được nêu rõ trong chứng từ

Thông tin nêu trong chứng từ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải được coi là chính xác trừ khi người chuyên chở ghi chú những bảo lưu ý kiến Người chuyên chở có thể làm vậy khi người này có kiến thức và cơ sở hợp lý để tin rằng thông tin nêu trong chứng từ vận tải

hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải là sai hoặc nhầm lẫn, hay trong trường hợp hàng hóa được xếp vào công-ten-nơ hoặc xe chuyên chở, và người này không có phương tiện hợp lý về thương mại và vận hành thực tế để kiểm tra thông tin do người gửi hàng cung cấp Trong trường hợp đó, người chuyên chở phải chỉ rõ thông tin nào người này không thể kiểm tra được

Hiệu lực pháp lý của chứng từ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải cũng tương tự như hiệu lực của vận đơn quy định trong Quy tắc Hague-Visby và Hamburg Chứng từ vận tải

hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải cung cấp bằng chứng (hoặc giả thiết) hiển nhiên là người chuyên chở đã nhận hàng theo mô tả trong chứng từ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện

tử về vận tải Người chuyên chở không thể tìm cách bác chứng cứ hiển nhiên khi một chứng từ

vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải có thể chuyển nhượng khi chứng từ hoặc lưu

giữ thông tin điện tử về vận tải có thể chuyển nhượng được chuyển nhượng cho bên thứ ba

thực hiện hoặc khi chứng từ vận tải không được chuyển nhượng được chuyển nhượng cho bên

nhận hàng Vì thế người chuyên chở phải giao hàng như quy định trong chứng từ hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải, trừ khi người này có bảo lưu ý kiến như nêu ở trên

Người nắm giữ chứng từ hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải có thể chuyển nhượng có thể chuyển nhượng chứng từ cũng với các quyền lợi gắn liền với nó, cho người khác Điều này có

thể được thực hiện bằng cách chuyển nhượng chứng từ sang cho một người cụ thể khác hoặc chuyển nhượng bỏ trống tên Khi người nắm chứng từ hay lưu giữ thông tin điện tử về vận tải

có thể chuyển nhượng, không phải là ngườ i gửi hàng, hoặc không vận dụng các quyền theo

hợp đồng vận chuyển, người này không chịu bất kỳ trách nhiệm gì của người gửi hàng theo

hợp đồng đó Người này chỉ có trách nhiệm chừng nào người này được áp dụng các quyền theo

hợp động vận chuyển

e) Ngh ĩa vụ chung của người gửi hàng

Trang 21

Công ước Rotterdam quy định rằng người gửi hàng phải giao hàng “sẵn sàng để vận chuyển”

và “trong điều kiện hàng có thể chịu được việc vận chuyển sắp tới, bao gồm cả việc bốc xếp, lưu kho, sắp xếp, vận chuyển, chằng buộc, coi giữ, bảo quản và dỡ mà không gây nguy hiểm cho người hay tài sản” Khi người gửi hàng đóng hàng vào công -ten-nơ hoặc xếp lên xe

chuyên chở, người này phải “xếp, chằng buộc và bảo quản” nội dung bên trong hàng hóa “theo

cách th ức không gây hại cho người hay tài sản” Một hợp đồng giữa các bên có thể quy định

khác

Người gửi hàng và người chuyên chở phải hợp tác để thực hiện vận chuyển hàng hóa Cụ thể, người gửi hàng phải cung cấp mọi thông tin và chỉ dẫn cần thiết để xử lý và vận chuyển hàng hóa một cách phù hợp, tuân thủ quy định và pháp luật

Tương tự Quy tắc Hamburg, Công ước Rotterdam quy định đặc biệt đối với hàng nguy hiểm Công ước yêu cầu người gửi hàng phải ghi ký hiệu hoặc dán nhãn hiệu để chỉ rõ hàng nguy

hiểm Ngoài ra, người gửi hàng phải thông báo cho người chuyên chở và các bên thực hiện về tính chất nguy hiểm của hàng hóa và các biện pháp phòng ngừa cần áp dụng

Cuối cùng, Công ước Rotterdam yêu cầu rõ ràng người gửi hàng phải cung cấp thông tin chính xác khi soạn thảo hợp đồng và phát hành chứng từ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận

tải

f) Trách nhiệm của người gửi hàng

Người gửi hàng chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại hay mất mát đối với hàng hóa, người chuyên

chở hoặc tàu thuyền do vi phạm những nghĩa vụ quy định trong Công ước Người gửi hàng có

thể tự miễn trừ trách nhiệm bằng cách chứng minh rằng nguyên nhân gây thiệt hại hoặc mất mát không phải do sơ suất của người gửi hàng hay hay do lỗi của nhân viên, đại lý hay bên ký

hợp đồng phụ của người này

Giống Quy tắc Hamburg, nếu người gửi hàng không thông báo cho người chuyên chở và người chuyên chở thực tế về tính chất nguy hiểm của hàng hóa, người gửi hàng sẽ phải chịu trách nhiệm với người chuyên chở và người chuyên chở thực tế về mọi tổn thất hoặc mất mát do việc chuyên chở hàng hóa này gây ra

Bên cạnh đó, người gửi hàng chịu trách nhiệm về thông tin không chính xác cung cấp khi soạn

thảo các chứng từ hợp đồng, chứng tứ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử về vận tải

Quy định về trách nhiệm của người gửi hàng cũng áp dụng với nhân viên, đại lý hoặc bên ký

hợp đồng phụ của người này và bất cứ người nào công nhận được gọi là “người gửi hàng” trong chứng từ vận tải hoặc lưu giữ thông tin điện tử (còn gọi là “bên đứng tên người gửi hàng trong hợp đồng”) Trách nhiệm này không mở rộng ra đại lý, nhân viên hay bên ký hợp đồng

phụ của người chuyên chở nếu người gửi hàng yêu cầu những người này thực hiện các công

việc thường do người gửi hàng đảm nhiệm Người gửi hàng và bên đứng tên người gửi hàng trong hợp đồng cùng chịu trách nhiệm liên đới và riêng biệt Các nhà xuất khẩu FOB, vì thế,

phải cẩn thận không nên nêu tên là người gửi hàng trong các chứng từ vận tải liên quan

g) Giao hàng và thời hạn đối với các hành động

Công ước Rotterdam có các quy định khá chi tiết về điều kiện giao hàng theo loại chứng từ vận

tải được cấp Khi cấp một công cụ có thể chuyển nhượng, người chuyên chở giao hàng cho người nắm công cụ này Khi công cụ đó không được chuyển nhượng, người chuyển chở chỉ có

thể giao hàng cho bên nhận hàng được được chỉ định chính thức Bên nhận hàng phải nhận hàng được giao và xác nhận việc giao hàng này Ngoài ra, Công ước Rotterdam còn tạo ra vai trò của “bên kiểm soát” – là người có thể cung cấp cho người chuyên chở mọi thông tin hướng

dẫn về giao hàng, thay đổi đích đến hay người nhận Bên kiểm soát về nguyên tắc là người gửi hàng hoặc bên đứng tên người gửi hàng trong hợp đồng Tuy nhiên, bên kiểm soát cũng có thể

là người nhận hàng hoặc người nắm chứng từ vận tải có thể chuyển nhượng Bên kiểm soát có

thể chuyển nhượng quyền kiểm soát của mình cho người khác Trong trường hợp công cụ

Trang 22

không được chuyển nhượng, việc chuyển nhượng giữa người gửi hàng và người nhận hàng không cần có sự xác nhận Trong trường hợp cấp một chứng từ vận tải có thể chuyển nhượng,

việc chuyển nhượng giữa người nắm chứng từ với một người thứ ba được xác nhận theo thủ

tục quy định trong Công ước (việc xác nhận không bắt buộc trong trường hợp xác nhận trống)

Về nguyên tắc, người chuyên chở phải tuân theo các chỉ dẫn của bên kiểm soát, nhưng bên

kiểm soát phải bồi thường cho người chuyên chở về mọi chi phí, tổn thất hay thiệt hại mà bên này gây ra Ở đây, người chuyên chở cũng có thể yêu cầu bảo hiểm Hàng được giao theo chỉ

dẫn được coi là giao đúng tại điểm đến Nếu người chuyên chở không tuân theo chỉ dẫn của bên kiểm soát, người này có thể phải chịu thêm trách nhiệm

Ngoài ra, Công ước Rotterdam quy định các tình huống trong đó không thể giao hàng được Tình huống này xảy ra khi người nhận hàng không chấp nhận giao hàng tại thời gian và địa điểm nêu trong hợp đồng vận chuyển; hoặc không tìm ra người gửi hàng hay bên kiểm soát;

hoặc người chuyên chở có quyền hoặc được yêu cầu phải từ chối giao hàng theo quy định của Công ước hoặc luật hay quy định tại địa điểm yêu cầu giao hàng; hoặc nếu không thì hàng không được giao bởi người chuyên chở Trong trường hợp đó, người chuyên chở được phép

dỡ, lưu kho hoặc bán hàng và người này không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất hay thiệt hại về hàng hóa xảy ra trong thời gian hàng chưa được giao

Giao hàng giúp người chuyên chở cởi bỏ trách nhiệm của mình, bên nhận hàng đã nhận được hàng, có một giả thiết về việc hàng hóa được giao theo đúng quy định của vận đơn Mọi khiếu

nại là không đúng như vậy phải được nêu trước hoặc tại thời điểm giao hàng, trừ khi việc mất mát hoặc thiệt hại không rõ ràng tại thời điểm đó Trong trường hợp đó, quy định gia hạn thêm

7 ngày kể từ ngày giao hàng Công ước Rotterdam vì thế quy định một thời hạn ở khoảng giữa Quy tắc Hague-Visby và Quy tắc Hamburg Tuy nhiên, Quy tắc Rotterdam quy định cụ thể là

việc không thể đưa ra thông báo ngay không ảnh hưởng tới quyền đòi bồi thường về tổn thất

hoặc thiệt hại theo quy định của Công ước Vì thế, điều này chỉ dẫn tới việc đảo ngược nghĩa

vụ chứng minh mà thôi

Đối với khiếu nại về giao hàng chậm, việc thông báo phải được thực hiện trong vòng 21 ngày liên tục sau ngày giao hàng cho bên nhận hàng

Khi người chuyên chở quy thiệt hại là lỗi hoặc sơ suất của người gửi hàng, người làm công

hoặc đại lý của người này, người chuyên chở phải nêu khiếu nại trong vòng 90 ngày kể từ ngày

xảy ra thiệt hại hoặc ngày giao hàng, tuỳ theo ngày nào xảy ra sau Việc không tuân theo thời

hạn này là bằng chứng hiển nhiên là người chuyên chở không quy tổn thất hay thiệt hại là do người gửi hàng, người làm công hay đại lý của người gửi hàng

Sau cùng, Công ước Hamburg quy định thời hạn 2 năm kể từ ngày giao hàng (hoặc ngày đáng

lẽ phải thực hiện giao hàng) để khởi kiện người chuyên chở về mọi mất mát hoặc thiệt hại phát sinh trong quá trình chuyên chở Các bên có thể thống nhất áp dụng một thời hạn dài hơn Một hành vi thay thế chống lại bên thứ ba cũng có thể thực hiện sau khoảng thời gian 2 năm nếu pháp luật của tòa tiếp nhận vụ việc cho phép

h) Gi ải quyết tranh chấp

Giống Công ước Hamburg, Công ước Rotterdam gồm các quy định về quyền phán quyết của tòa quốc gia trong tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quy định trong Công ước Quyền phán quyết được trao cho các tòa án tại:

a Nơi kinh doanh chính hoặc nơi cư trú thường xuyên của người chuyên chở, hoặc

b Nơi nhận hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng vận chuyển, hoặc

c Nơi giao hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng vận chuyển, hoặc

d Cảng xếp hàng đầu tiên xuống tàu, hoặc

e Cảng dỡ hàng cuối cùng khỏi tàu

Trang 23

f Bất kỳ một địa điểm được chỉ định trong hợp đồng, theo những điều kiện mà Công ước quy định

Công ước quy định cũng có thể kiện ra tòa bên thực hiện hàng hải tại địa điểm kinh doanh chính hoặc nơi cư trú thường xuyên của bên này hoặc tại nơi bên này nhận hoặc giao hàng mà không trái với quy định của Công ước

Công ước nghiêm cấm người chuyên chở và bên thực hiện hàng hải đưa cùng một vụ việc ra các tòa khác nhau để xét xử Công ước cũng quy định việc công nhận lẫn nhau và cùng thực

hiện của các bên tham gia hợp đồng đối với phán quyết của tòa Tuy nhiên, các bên tham gia

hợp đồng phải tuyên bố rõ việc tuân thủ theo nguyên tắc này

Như Quy tắc Hamburg, Công ước Rotterdam không quy định về quyền phán quyết của Tòa Công lý quốc tế Tuy nhiên, Công ước có quy định về xét xử trọng tài và gồm các quy định khá chi tiết về nơi xét xử trọng tài Khi xét xử trọng tài diễn ra liên quan tới các hợp đồng thuộc

phạm vi điều chỉnh của công nước, trọng tài phải áp dụng quy định của Công ước, trừ khi bên thuê hoặc hợp đồng khác có những thỏa thuận về việc xét xử trọng tài khác Trong trường hợp

đó, những hợp đồng này phải được nêu trong chứng từ vận tải hoặc một lưu giữ thông tin điện

tử về vận tải

4 B ảng so sánh tóm tắt

Một bảng so sánh tóm tắt các Quy tắc Hague-Visby, Hamburg và Rotterdam có trong Phụ lục I

của báo cáo này Bảng này cho thấy tính đa dạng về nhiều tình huống và tính phức tạp của các quy tắc nêu trong Công ước Rotterdam

Trang 24

IV Lu ật Việt Nam về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

1 B ộ luật Hàng hải 2005

Ph ạm vi áp dụng

Bộ luật hàng hải trước có hiệu lực từ năm 1990 khi Việt Nam chưa phê chuẩn bất kỳ Công ước

quốc tế và khu vực quan trọng nào về thương mại bao gồm cả dịch vụ

Bộ luật Hàng hải 2005 được coi là một Bộ luật hiện đại vì được soạn thảo có tham khảo, thậm chí đưa vào đó các quy định của Công ước quốc tế cũng như luật pháp trong nước

Bộ luật gồm 260 điều chia làm 18 chương quy định đối với các hoạt động vận tải bằng đường

biển, bao gồm tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phò ng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử

dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học Tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, thủy phi cơ, cảng quân sự, cảng cá

và cảng, bến thủy nội địa chỉ áp dụng trong trường hợp có quy định cụ thể của Bộ luật này

Vì thế, Bộ luật này có phạm vi bao trùm hầu hết mọi hoạt động liên quan đến hàng hải, bao

gồm cả vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Được coi là luật quy định đối với lĩnh vực cụ thể, trường hợp có sự khác nhau giữa quy định

của Bộ luật hàng hải Việt Nam với quy định của luật khác về cùng một nội dung liên quan đến

hoạt động hàng hải thì áp dụng quy định của Bộ luật này

Chương I – NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Trong Chương I, Bộ luật mở đầu với những quy định chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng

áp dụng, nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật Chương này cũng quy định

về quyền thỏa thuận trong hợp đồng, nguyên tắc hoạt động hàng hải, chính sách phát triển hàng

hải, trách nhiệm quản lý nhà nước về hàng hải, thanh tra hàng hải…

Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hàng hải; Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hàng hải Bộ, cơ quan ngang bộ trong

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giao thông vận tải

thực hiện quản lý nhà nước về hàng hải Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hàng hải tại địa phương

Chương II - TÀU BIỂN

Tàu biển là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng hoạt động trên biển Tàu biển quy định trong Bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ và tàu cá

Đăng ký tàu biển

Theo điều 15 của Bộ luật, các loại tàu biển sau đây phải đăng ký vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam:

a) Tàu biển có động cơ với công suất máy chính từ 75 KW trở lên;

b) Tàu biển không có động cơ, nhưng có tổng dung tích từ 50 GT trở lên hoặc có trọng tải từ

100 tấn trở lên hoặc có chiều dài đường nước thiết kế từ 20 mét trở lên;

c) Tàu biển nhỏ hơn các loại tàu biển quy định tại điểm a và điểm b khoản này, nhưng hoạt động tuyến nước ngoài

Gi ấy chứng nhận và tài liệu của tàu biển

Trang 25

Tàu biển phải có giấy chứng nhận đăng ký tàu biển, các giấy chứng nhận về an toàn hàng hải,

an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Ngoài việc đăng ký, chương này cũng quy định về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng

ngừa ô nhiễm môi trường; chuyển quyền sở hữu và thế chấp tàu biển; đăng ký thế chấp tàu

biển

C hương III – THUYỀN BỘ

Chương này quy định địa vị pháp lý của thuyền trưởng; nghĩa vụ của thuyền trưởng; hợp đồng thuê thuyền viên

Theo đó, trách nhiệm của chủ tàu đối với thuyền bộ gồm:

- Bố trí đủ thuyền viên theo định biên của tàu biển và bảo đảm thuyền viên phải có đủ điều

kiện làm việc trên tàu biển theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật này

- Quy định chức danh, trách nhiệm theo chức danh của thuyền viên, trừ các chức danh do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định

- Bảo đảm điều kiện làm việc, sinh hoạt của thuyền viên trên tàu biển theo quy định của pháp

luật

- Mua bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm bắt buộc khác cho thuyền viên làm việc trên tàu biển theo quy định của pháp luật

Chương IV – CẢNG BIỂN

Chương này quy định phân loại cảng biển, chức năng của cảng biển, công bố đóng, mở cảng

biển và vùng nước cảng biển, quy hoạch phát triển cảng biển, và các vấn đề liên quan đến đầu

tư xây dựng, quản lý, khai thác cảng biển…

Theo đó, cảng biển được phân thành các loại sau đây:

- Cảng biển loại I là cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng;

- Cảng biển loại II là cảng biển quan trọng, có quy mô vừa phục vụ cho việc phát triển kinh tế -

xã hội của vùng, địa phương;

- Cảng biển loại III là cảng biển có quy mô nhỏ phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp

Chương V – HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

Xét trên quan điểm kinh doanh vận tải đường biển, đây có thể xem là chương chính của Bộ

luật, gồm bốn mục

M ục 1 – Các quy định chung

Định nghĩa hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến

cảng trả hàng

Hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng và các động sản khác, kể cả súc vật sống, công-ten-nơ hoặc công cụ tương tự do người gửi hàng cung cấp để đóng hàng được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Các loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển bao gồm:

Trang 26

i) Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hóa để vận chuyển

Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển được giao kết theo hình thức do các bên thỏa thuận

ii) Hợp đồng vận chuyển theo chuyến là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một

phần tàu cụ thể để vận chuyển hàng hóa theo chuyến

Hợp đồng vận chuyển theo chuyến phải được giao kết bằng văn bản

Chứng từ vận chuyển

Chứng từ vận chuyển bao gồm vận đơn, vận đơn suốt đường biển, giấy gửi hàng đường biển và

chứng từ vận chuyển khác

Bộ luật cũng nêu định nghĩa về vận đơn Theo đó, vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng

chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng

để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường

biển

Trong đó, vận đơn suốt đường biển là vận đơn ghi rõ việc vận chuyển hàng hóa được ít nhất hai người vận chuyển bằng đường biển thực hiện

Giấy gửi hàng đường biển là bằng chứng về việc hàng hóa được nhận như được ghi trong giấy

gửi hàng đường biển; là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Giấy gửi hàng đường biển không được chuyển nhượng

Chứng từ vận chuyển có thể bao gồm các chứng từ khác do người vận chuyển và người thuê

vận chuyển thỏa thuận về nội dung, giá trị hiệu lực

Mục 2 – Hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chứng từ vận chuyển

Th ời điểm phát sinh và chấm dứt trách nhiệm của người vận chuyển

Trách nhiệm của người vận chuyển phát sinh từ khi người vận chuyển nhận hàng tại cảng nhận hàng, được duy trì trong suốt quá trình vận chuyển và chấm dứt khi kết thúc việc trả hàng tại

cảng trả hàng

Việc nhận hàng được tính từ thời điểm người vận chuyển đã nhận hàng hóa từ người giao hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bên thứ ba theo quy định của pháp luật hoặc theo quy định tại cảng nhận hàng

Việc trả hàng kết thúc trong các trường hợp sau đây:

a) Người vận chuyển hoàn thành việc trả hàng cho người nhận hàng; trong trường hợp người

nhận hàng không trực tiếp nhận hàng từ người vận chuyển thì bằng cách trả hàng theo yêu cầu

của người nhận hàng phù hợp với hợp đồng, pháp luật hoặc tập quán thương mại áp dụng tại

a) Khoảng thời gian từ khi nhận hàng đến trước khi bốc hàng lên tàu biển và khoảng thời gian

từ khi kết thúc dỡ hàng đến khi trả xong hàng;

Trang 27

b) Vận chuyển súc vật sống;

c) Vận chuyển hàng hóa trên boong

Ngh ĩa vụ của người vận chuyển

Người vận chuyển có các nghĩa vụ sau:

i) Người vận chuyển phải mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàu biển có đủ khả năng

đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung ứng đầy đủ trang thiết bị và vật phẩm dự trữ; các

hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hóa có đủ các điều kiện nhận,

vận chuyển và bảo quản hàng hóa phù hợp với tính chất của hàng hóa

ii) Người vận chuyển chịu trách nhiệm về việc bốc hàng, dỡ hàng cẩn thận và thích hợp, chăm sóc chu đáo hàng hóa trong quá trình vận chuyển

iii) Người vận chuyển phải thông báo trong thời gian hợp lý cho người giao hàng biết trước về nơi bốc hàng lên tàu biển, thời điểm mà tàu sẵn sàng nhận hàng và thời hạn tập kết hàng hóa

Việc thông báo này không áp dụng đối với tàu chuyên tuyến, trừ trường hợp lịch tàu có sự thay đổi

Hàng hóa chở trên boong

Hàng hóa chỉ được chở trên boong nếu có thỏa thuận giữa người vận chuyển với người giao hàng hoặc theo tập quán thương mại và phải được ghi rõ trong chứng từ vận chuyển

Trách nhiệm của người vận chuyển, người vận chuyển thực tế và người làm công, đại lý

Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình vận chuyển theo quy định

của mục này mặc dù toàn bộ hoặc một phần của việc vận chuyển được giao cho người vận chuyển thực tế thực hiện Đối với phần vận chuyển do người vận chuyển thực tế thực hiện, người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về các hành vi của người vận chuyển thực tế và của người làm công, đại lý của người vận chuyển thực tế đảm nhiệm trong phạm vi công việc được giao

Người vận chuyển thực tế, người làm công hoặc đại lý của người vận chuyển thực tế có quyền hưởng các quyền liên quan đến trách nhiệm của người vận chuyển quy định tại Chương này trong thời gian hàng hóa thuộc sự kiểm soát của họ và trong thời gian những người này tham gia thực hiện bất kỳ hoạt động nào được quy định tại hợp đồng vận chuyển hàng hóa

Các thỏa thuận đặc biệt mà theo đó người vận chuyển đảm nhận những nghĩa vụ không được quy định tại Chương này hoặc từ bỏ những quyền được hưởng do Bộ luật này quy định chỉ có

hiệu lực đối với người vận chuyển thực tế nếu được người vận chuyển thực tế đồng ý bằng văn

bản Dù người vận chuyển thực tế đồng ý hoặc không đồng ý thì người vận chuyển vẫn bị ràng

buộc bởi nghĩa vụ phát sinh từ các thỏa thuận đặc biệt đó

Trong trường hợp cả người vận chuyển và người vận chuyển thực tế cùng liên đới chịu trách nhiệm thì được xác định theo mức độ trách nhiệm của mỗi bên

Tổng số tiền bồi thường của người vận chuyển, người vận chuyển thực tế và người làm công, đại lý của họ phải trả không vượt quá toàn bộ giới hạn trách nhiệm quy định tại mục này

Miễn trách nhiệm của người vận chuyển

Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với mất mát, hư hỏng hàng hóa

do việc tàu biển không đủ khả năng đi biển, nếu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này Trong trường hợp này, người vận chuyển có nghĩa vụ chứng minh đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẫn cán

Bộ luật quy định các trường hợp người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm, nếu tổn

thất hàng hóa như: Lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công

của người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tàu; Hỏa hoạn không do người vận

Trang 28

chuyển gây ra; Thảm họa hoặc tai nạn hàng hải trên biển, vùng nước cảng biển mà tàu biển được phép hoạt động; Thiên tai; Chiến tranh; Hành động xâm phạm trật tự và an toàn công

cộng mà bản thân người vận chuyển không gây ra; Hành động bắt giữ của người dân hoặc cưỡng chế của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; Hạn chế về phòng dịch; Hành động hoặc sự sơ suất của người giao hàng, chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ; Đình công hoặc các hành động tương tự khác của người lao động do bất kỳ nguyên nhân nào làm đình trệ hoàn toàn hoặc một phần công việc; Bạo động hoặc gây rối…

Theo Bộ luật, trong trường hợp có người được hưởng quyền miễn hoàn toàn trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận ghi trong hợp đồng thì người đó phải chứng minh rằng người vận chuyển đã không có lỗi, không cố ý hoặc những người làm công, đại lý của người vận chuyển cũng không có lỗi hoặc không cố ý gây ra sự mất mát, hư hỏng của hàng hóa

Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm đối với việc chậm trả hàng trong các trường

hợp sau đây: Đi chệch tuyến đường khi đã có sự chấp thuận của người gửi hàng; Nguyên nhân

bất khả kháng; Phải cứu người hoặc trợ giúp tàu khác đang gặp nguy hiểm khi tính mạng con người trên tàu có thể bị đe dọa; Cần thời gian để cấp cứu cho thuyền viên hoặc người trên tàu

Gi ới hạn trách nhiệm của người vận chuyển

Trong trường hợp chủng loại, giá trị của hàng hóa không được người gửi hàng, người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường

biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát,

hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương

với 666,67 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị chuyên chở hoặc 2 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị hàng hóa

Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường

Khi công-ten-nơ hoặc công cụ tương tự được dùng để đóng hàng hóa thì mỗi kiện hoặc đơn vị chuyên chở đã ghi trong chứng từ vận chuyển, đã đóng vào công cụ được coi là một kiện hoặc

một đơn vị chuyên chở quy định tại khoản 1 Điều này Trường hợp chứng từ vận chuyển không ghi rõ số kiện hoặc đơn vị chuyên chở thì công-ten-nơ hoặc công cụ đó chỉ được xem là một

kiện hoặc một đơn vị chuyên chở

Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hóa được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển

chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây: Đối với hàng hóa bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo; b) Đối với hàng hóa bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa

Giá trị còn lại của hàng hóa được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm và địa điểm

dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được thì căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng trả hàng

Trách nhiệm của người vận chuyển đối với việc chậm trả hàng được giới hạn số tiền bằng 2,5

lần tiền cước của số hàng trả chậm, nhưng không vượt quá tổng số cước phải trả theo hợp đồng

vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Mất quyền giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển

Người vận chuyển mất quyền giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển quy định tại Điều 79

của Bộ luật này nếu người khiếu nại chứng minh được mất mát, hư hỏng hàng hóa là hậu quả

Trang 29

do người vận chuyển đã có hành vi cố ý gây mất mát, hư hỏng, chậm trả hàng hoặc cẩu thả và

biết rằng việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm trả hàng đó có thể xảy ra

Người làm công, đại lý của người vận chuyển thực hiện với chủ định gây ra mất mát, hư hỏng hàng hóa, chậm trả hàng hoặc cẩu thả và biết rằng việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm trả hàng

đó có thể xảy ra cũng không được giới hạn trách nhiệm quy định tại mục này

Ngh ĩa vụ của người gửi hàng và người giao hàng

Người gửi hàng phải bảo đảm hàng hóa được đóng gói và đánh dấu ký, mã hiệu theo quy định Người vận chuyển có quyền từ chối bốc lên tàu biển những hàng hóa không bảo đảm các tiêu chuẩn đóng gói cần thiết

Người gửi hàng phải cung cấp trong một thời gian thích hợp cho người vận chuyển các tài liệu

và chỉ dẫn cần thiết đối với hàng hóa dễ nổ, dễ cháy và các loại hàng hóa nguy hiểm khác hoặc

loại hàng hóa cần phải có biện pháp đặc biệt khi bốc hàng, vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng Người gửi hàng phải bồi thường các tổn thất phát sinh do việc cung cấp chậm trễ, thiếu chính xác hoặc không hợp lệ các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết

Người gửi hàng hoặc người giao hàng dù cố ý hoặc vô ý đều phải chịu trách nhiệm đối với người vận chuyển, hành khách, thuyền viên và các chủ hàng khác về những tổn thất phát sinh

do khai báo hàng hóa không chính xác hoặc không đúng sự thật, nếu người vận chuyển chứng minh được là người gửi hàng hoặc người giao hàng có lỗi gây ra tổn thất đó

V ận chuyển hàng hóa nguy hiểm

Người vận chuyển có quyền dỡ hàng hóa khỏi tàu biển, hủy bỏ hoặc làm mất khả năng gây hại

của hàng hóa dễ nổ, dễ cháy hoặc hàng hóa nguy hiểm khác mà không phải bồi thường và vẫn được thu đủ cước, nếu số hàng hóa đó đã được khai báo sai hoặc do người vận chuyển không được thông báo trước và cũng không thể nhận biết về những đặc tính nguy hiểm của hàng hóa khi bốc hàng theo sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường Người gửi hàng phải chịu trách nhiệm

về các tổn thất phát sinh

Trong trường hợp người vận chuyển đã nhận bốc lên tàu biển những hàng hóa nguy hiểm, mặc

dù đã được thông báo trước hoặc đã nhận biết tính chất nguy hiểm của hàng hóa đó theo sự

hiểu biết nghiệp vụ thông thường và đã thực hiện các biện pháp bảo quản theo đúng quy định, nhưng khi hàng hóa đó đe dọa sự an toàn của tàu, người và hàng hóa trên tàu thì người vận chuyển có quyền xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này Trong trường hợp này, người vận chuyển chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh theo các nguyên tắc về tổn thất chung và chỉ được thu cước cự ly

Cước cự ly là cước vận chuyển được tính trên cơ sở tỷ lệ giữa quãng đường mà hàng hóa được

vận chuyển trong thực tế so với toàn bộ quãng đường vận chuyển đã thỏa thuận trong hợp đồng, cũng như trên cơ sở tỷ lệ giữa sự đầu tư chi phí, thời gian, sự rủi ro hoặc khó khăn thông thường liên quan đến quãng đường vận chuyển đã thực hiện so với quãng đường vận chuyển còn lại

Miễn trách nhiệm của người gửi hàng

Người gửi hàng được miễn trách nhiệm bồi thường về các mất mát, hư hỏng xảy ra đối với người vận chuyển hoặc tàu biển, nếu chứng minh được rằng mình hoặc người làm công, đại lý

của mình không có lỗi gây ra tổn thất đó

Cước vận chuyển trong trường hợp hàng hóa bị thiệt hại

Trong trường hợp hàng hóa bị thiệt hại do có tai nạn trong khi tàu biển đang hành trình thì dù

với bất cứ nguyên nhân nào cũng được miễn cước vận chuyển; nếu đã thu thì được hoàn trả lại Trong trường hợp hàng hóa được cứu hoặc được hoàn trả lại thì người vận chuyển chỉ được thu

Trang 30

cước cự ly, nếu người có quyền lợi liên quan đến hàng hóa đó không thu được lợi ích từ quãng đường mà hàng hóa đó đã được tàu biển vận chuyển

Trường hợp hàng hóa hư hỏng hoặc hao hụt do đặc tính riêng hoặc hàng hóa là súc vật sống mà

bị chết trong khi vận chuyển thì người vận chuyển vẫn có quyền thu đủ cước vận chuyển

Chuyển nhượng vận đơn

Vận đơn theo lệnh được chuyển nhượng bằng cách ký hậu vận đơn Người ký hậu cuối cùng có quyền phát lệnh trả hàng trong vận đơn theo lệnh là người nhận hàng hợp pháp

Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bằng cách người vận chuyển trao vận đơn vô danh đó cho người được chuyển nhượng Người xuất trình vận đơn vô danh là người nhận hàng hợp pháp

Vận đơn đích danh không được chuyển nhượng Người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp

Thay v ận đơn bằng chứng từ vận chuyển khác

Người giao hàng có thể thỏa thuận với người vận chuyển việc thay vận đơn bằng giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác và thỏa thuận về nội dung, giá trị của các chứng từ này theo tập quán hàng hải quốc tế

Áp d ụng đối với vận đơn suốt đường biển

Các quy định của Bộ luật này về vận đơn được áp dụng đối với vận đơn suốt đường biển do người vận chuyển ký phát, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Quy ền định đoạt hàng hóa của người gửi hàng

Người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hóa cho đến khi hàng được trả cho người nhận hàng

hợp pháp, nếu chưa giao quyền này cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tàu

biển bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hoặc cảng trả hàng sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên quan Người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu của người gửi hàng sau khi đã thu lại toàn bộ số vận đơn gốc đã

ký phát

Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này không được áp dụng, nếu việc thực hiện gây ra sự

chậm trễ đáng kể cho việc bắt đầu chuyến đi, trừ trường hợp người vận chuyển đồng ý

Ngh ĩa vụ trả hàng

Khi tàu biển đến cảng trả hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ trả hàng cho người nhận hàng

hợp pháp nếu có vận đơn gốc, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác có giá

trị để nhận hàng quy định tại Điều 89 của Bộ luật này

Sau khi hàng hóa đã được trả, các chứng từ vận chuyển còn lại không còn giá trị để nhận hàng

X ử lý hàng hóa bị lưu giữ

Người nhận hàng không đến nhận, từ chối nhận hàng hoặc trì hoãn việc nhận hàng thì người

vận chuyển có quyền dỡ hàng và gửi vào một nơi an toàn, thích hợp và thông báo cho người

gửi hàng biết Mọi chi phí và tổn thất phát sinh do người nhận hàng chịu trách nhiệm chi trả Người vận chuyển có quyền thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhiều người cùng xuất trình vận đơn, vận đơn suốt đường biển, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ

vận chuyển khác có giá trị để nhận hàng

Việc bồi thường tổn thất do lưu tàu để dỡ hàng và gửi hàng quy định tại khoản 1 Điều này được giải quyết tương tự trường hợp lưu tàu để bốc hàng

Trang 31

Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày tàu biển đến cảng trả hàng, nếu không có người

nhận số hàng gửi hoặc người nhận hàng không thanh toán hết các khoản nợ hoặc không đưa ra

bảo đảm cần thiết thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá số hàng đó để trừ nợ; nếu là hàng hóa mau hỏng hoặc việc gửi là quá tốn kém so với giá trị thực tế của hàng hóa thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá trước thời hạn đó

Ti ền bán đấu giá hàng hóa

Sau khi khấu trừ các khoản nợ của người nhận hàng, các chi phí liên quan đến việc gửi và bán đấu giá hàng hóa, số tiền còn thừa phải được gửi vào ngân hàng để trả lại cho người có quyền

nhận số tiền đó

Trường hợp tiền bán hàng không đủ để thanh toán các khoản tiền quy định tại khoản 1 Điều này thì người vận chuyển có quyền tiếp tục yêu cầu những người có liên quan phải trả đủ Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày bán đấu giá hàng hóa mà không có người yêu cầu nhận lại số tiền còn thừa thì số tiền này được sung công quỹ nhà nước

Giám định và thông báo về mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc chậm trả hàng

Người nhận hàng trước khi nhận hàng tại cảng trả hàng hoặc người vận chuyển trước khi giao hàng tại cảng trả hàng có thể yêu cầu cơ quan giám định tiến hành giám định hàng hóa Bên yêu cầu giám định có nghĩa vụ thanh toán chi phí giám định nhưng có quyền truy đòi chi phí

đó từ bên gây ra thiệt hại

Hàng hóa được coi là đã trả đủ và đúng như ghi trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc

chứng từ vận chuyển khác, nếu người nhận hàng không thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển về mất mát, hư hỏng hàng hóa chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày nhận hàng, nếu không

thể phát hiện thiệt hại từ bên ngoài; đối với hàng hóa đã giám định quy định tại khoản 1 Điều này thì không cần thông báo bằng văn bản

Người nhận hàng có quyền thông báo mất hàng, nếu không nhận được hàng trong vòng sáu mươi ngày, kể từ ngày hàng hóa lẽ ra phải được giao theo thỏa thuận trong hợp đồng

Người vận chuyển không phải bồi thường đối với tổn thất phát sinh do việc chậm trả hàng, trừ trường hợp thông báo về việc chậm trả hàng bằng văn bản được gửi tới người vận chuyển trong vòng sáu mươi ngày, kể từ ngày hàng hóa lẽ ra được giao theo thỏa thuận trong hợp đồng

Th ời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát hàng hóa

Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát hàng hóa vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là

một năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng

M ục 3 – Hợp đồng vận chuyển theo chuyến

S ử dụng tàu biển trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến

Người vận chuyển có nghĩa vụ dùng tàu biển đã được chỉ định trong hợp đồng để vận chuyển hàng hóa, trừ trường hợp người th uê vận chuyển đồng ý cho người vận chuyển thay thế tàu

biển đã được chỉ định bằng tàu khác

Chuy ển giao quyền trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến

Người thuê vận chuyển có thể chuyển giao quyền theo hợp đồng cho người thứ ba mà không

cần người vận chuyển đồng ý, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng đã giao kết

Ký phát vận đơn trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến

Trường hợp vận đơn được ký phát theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến và người giữ vận đơn không phải là người thuê vận chuyển thì các quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển và người giữ vận đơn sẽ được điều chỉnh bằng các điều khoản của vận đơn; nếu các điều khoản

Trang 32

của hợp đồng vận chuyển theo chuyến đã được đưa vào vận đơn thì các điều khoản này được

áp dụng

Th ời hạn bốc hàng

Thời hạn bốc hàng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nếu không có thỏa thuận thì áp dụng

tập quán địa phương

Thời gian gián đoạn do người thuê vận chuyển gây ra, thời gian thay đổi nơi bốc hàng theo yêu

cầu của người thuê vận chuyển được tính vào thời hạn bốc hàng

Thời gian gián đoạn do người vận chuyển gây ra, do các nguyên nhân bất khả kháng, điều kiện

thời tiết làm ảnh hưởng đến việc bốc hàng đúng kỹ thuật hoặc có thể gây nguy hiểm cho việc

bốc hàng không được tính vào thời hạn bốc hàng

Người thuê vận chuyển có thể thỏa thuận với người vận chuyển về chế độ thưởng cho việc bốc hàng xong trước thời hạn hoặc phạt đối với việc bốc hàng quá thời hạn bốc hàng đã thỏa thuận

Tiền thanh toán về thời hạn dôi nhật do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; trường hợp không

có thỏa thuận thì xác định theo tập quán địa phương Trường hợp tập quán địa phương không

có thì khoản tiền này được xác định trên cơ sở tổng chi phí thực tế để duy trì tàu biển và thuyền

bộ trong thời hạn dôi nhật

Thời gian tàu biển phải lưu lại cảng nhận hàng sau thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật do người thuê vận chuyển gây ra gọi là thời gian lưu tàu Người vận chuyển có quyền đòi bồi thường các thiệt hại phát sinh do lưu tàu

Thông báo sẵn sàng

Người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người thuê vận chuyển về việc tàu

biển đã đến cảng nhận hàng và sẵn sàng để nhận hàng (sau đây gọi là Thông báo sẵn sàng) Ngày, giờ có hiệu lực của Thông báo sẵn sàng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, trường

hợp không có thỏa thuận thì được xác định theo tập quán địa phương

Người vận chuyển phải bồi thường thiệt hại phát sinh do nội dung của Thông báo sẵn sàng không đúng với sự thật ở thời điểm người thuê vận chuyển nhận được văn bản này

Thay th ế hàng hóa

Người thuê vận chuyển có quyền thay thế hàng hóa đã được ghi trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng loại hàng hóa khác có tính chất tương đương, nhưng không được làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người vận chuyển và những người thuê vận chuyển khác

Giá cước vận chuyển đối với loại hàng hóa thay thế không được thấp hơn giá cước đã thỏa thuận đối với loại hàng hóa bị thay thế

Bốc hàng và xếp hàng trên tàu biển

- Hàng hóa phải được sắp xếp trên tàu biển theo Sơ đồ hàng hóa do thuyền trưởng quyết định

Việc xếp hàng hóa trên boong phải được người thuê vận chuyển đồng ý bằng văn bản

- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo việc bốc hàng, sắp xếp, chằng buộc và ngăn cách hàng hóa ở trên tàu biển Các chi phí liên quan do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng

Tàu r ời cảng nhận hàng

Trang 33

Người vận chuyển có quyền cho tàu biển rời cảng nhận hàng sau khi thời hạn bốc hàng và thời

hạn dôi nhật trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến đã kết thúc, mặc dù toàn bộ hàng hóa

hoặc một phần hàng hóa được thuê vận chuyển chưa được bốc lên tàu biển do những nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển Trong trường hợp này, người vận chuyển vẫn được thu

đủ tiền cước vận chuyển, kể cả tiền cước của số hàng hóa chưa được bốc lên tàu biển; cước thu đối với số hàng hóa đó gọi là cước khống

Trường hợp cho thuê nguyên tàu biển, người vận chuyển có quyền thu đủ tiền cước, nhưng

phải thực hiện các yêu cầu sau đây của người thuê vận chuyển:

- Cho tàu biển khởi hành trước thời hạn;

- Bốc lên tàu biển số hàng hóa đã tập kết ở nơi bốc hàng, mặc dù thời hạn dôi nhật đã kết thúc,

nếu việc bốc số hàng hóa đó chỉ làm lưu tàu trong thời hạn không quá mười bốn ngày và vẫn được hưởng quyền lợi quy định tại khoản 3 Điều 103 của Bộ luật này

Trong trường hợp cho thuê một phần tàu biển, người vận chuyển có quyền thu đủ cước và từ

chối bốc lên tàu số hàng hóa được đưa đến sau thời hạn bốc hàng hoặc sau thời hạn dôi nhật đã

thỏa thuận do nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển

Tuy ến đường và thời gian vận chuyển

Người vận chuyển phải thực hiện việc vận chuyển hàng hóa trong thời gian hợp lý, theo đúng tuyến đường quy định trong hợp đồng hoặc theo tuyến đường thường lệ, nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận khác

Người vận chuyển không bị coi là vi phạm hợp đồng, nếu tàu biển phải đi chệch tuyến đường

để cứu người gặp nạn trên biển hoặc vì lý do chính đáng khác

Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất hàng hóa phát sinh do tàu biển phải đi chệch tuyến đường trong các trường hợp này

C ảng thay thế

Khi tàu biển không vào được cảng trả hàng do những nguyên nhân không thể vượt qua được và không có khả năng chờ đợi để vào cảng trả hàng sau một thời gian hợp lý thì người vận chuyển được phép đưa tàu biển vào một cảng thay thế an toàn gần nhất và phải thông báo cho người thuê vận chuyển biết để xin chỉ thị

Trường hợp cho thuê nguyên tàu biển thì tùy theo điều kiện cụ thể, thuyền trưởng phải xin chỉ

thị về cảng thay thế và hành động theo chỉ thị của người thuê vận chuyển; nếu không có khả năng thực hiện chỉ thị của người thuê vận chuyển hoặc sau một thời gian chờ đợi hợp lý mà

vẫn không nhận được chỉ thị của người thuê vận chuyển thì thuyền trưởng có thể dỡ hàng khỏi tàu biển hoặc vận chuyển hàng quay lại cảng nhận hàng, tùy theo sự suy xét của mình, sao cho quyền lợi của người thuê vận chuyển được bảo vệ chính đáng Người thuê vận chuyển phải trả cho người vận chuyển cước cự ly và chi phí liên quan

D ỡ hàng và trả hàng

Việc dỡ hàng do thuyền trưởng quyết định Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo

việc dỡ hàng

Người thuê vận chuyển có quyền định đoạt hàng hóa cho đến khi hàng được trả cho người

nhận hàng hợp pháp, nếu chưa giao quyền này cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tàu biển bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hoặc cảng trả hàng sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên quan Các quyền quy định tại khoản 2 Điều này không được áp dụng, nếu việc thực hiện gây ra sự chậm

trễ đáng kể cho việc bắt đầu chuyến đi, trừ trường hợp người vận chuyển đồng ý

Cước vận chuyển

Trang 34

Trường hợp hàng hóa được bốc lên tàu biển vượt quá khối lượng đã thỏa thuận trong hợp đồng thì người vận chuyển chỉ có quyền thu tiền cước vận chuyển theo giá cước đã thỏa thuận đối

với số hàng hóa đó

Trường hợp hàng hóa được bốc lậu lên tàu biển thì người vận chuyển có quyền thu gấp đôi tiền cước vận chuyển từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng và được bồi thường các tổn thất phát sinh do việc xếp số hàng hóa bốc lậu đó trên tàu Người vận chuyển có quyền dỡ số hàng hóa

bốc lậu đó tại bất cứ cảng nào, nếu xét thấy cần thiết

Khi nhận hàng, người nhận hàng phải thanh toán cho người vận chuyển tiền cước vận chuyển,

tiền bồi thường do lưu tàu hoặc các chi phí khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa, nếu các khoản tiền đó chưa được thanh toán trước

Quyền chấm dứt hợp đồng của người thuê vận chuyển

Theo Bộ luật, người thuê vận chuyển có quyền chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau đây:

- Người vận chuyển không đưa tàu biển đến nơi bốc hàng đúng thời điểm thỏa thuận, chậm trễ trong việc bốc hàng hoặc bắt đầu chuyến đi; trong trường hợp này, người thuê vận chuyển có quyền yêu cầu bồi thường các tổn thất phát sinh;

- Khi hàng đã xếp xong mà vẫn chưa bắt đầu chuyến đi hoặc khi tàu biển đang thực hiện chuyến đi, người thuê vận chuyển có quyền yêu cầu dỡ hàng và phải trả đủ tiền cước vận chuyển, chi phí liên quan cho người vận chuyển

Người vận chuyển có quyền từ chối, không thực hiện yêu cầu dỡ hàng của người thuê vận chuyển quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, nếu xét thấy việc đó làm chậm trễ chuyến đi

hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên quan do phải thay đổi lịch trình đã định Trường hợp thuê nguyên tàu biển, người thuê vận chuyển có quyền chấm dứt hợp đồng trước khi tàu biển bắt đầu chuyến đi, nhưng phải bồi thường các chi phí liên quan, tùy theo thời điểm

chấm dứt hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền cước theo các nguyên tắc sau đây:

- Trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng trước khi tính thời hạn bốc hàng;

- Trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng sau khi tính thời hạn bốc hàng hoặc

chấm dứt hợp đồng sau khi tính thời hạn dôi nhật, nếu hợp đồng chỉ giao kết cho một chuyến;

- Trả đủ tiền cước vận chuyển của cả chuyến đi mà người thuê vận chuyển chấm dứt hợp đồng trước khi bắt đầu chuyến đi cộng thêm một nửa tiền cước vận chuyển của tất cả các chuyến đi

tiếp theo, nếu hợp đồng được giao kết cho nhiều chuyến

Trường hợp người thuê vận chuyển chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 3 Điều này thì người vận chuyển có nghĩa vụ lưu tàu tại nơi bốc hàng cho đến khi hàng hóa được dỡ xong,

mặc dù việc đó vượt quá thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật

Trường hợp thuê một phần tàu biển thì người thuê vận chuyển có quyền chấm dứt hợp đồng và

phải bồi thường các chi phí liên quan, tùy theo thời điểm chấm dứt hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền cước vận chuyển theo các nguyên tắc sau đây:

- Trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng sau thời hạn tập kết hàng hóa đã

thỏa thuận;

- Trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu chấm dứt hợp đồng trong khi tàu biển đang thực hiện chuyến đi

Quy ền chấm dứt hợp đồng của người vận chuyển

Người vận chuyển có quyền chấm dứt hợp đồng trước khi bắt đầu chuyến đi, nếu số hàng hóa

đã bốc lên tàu biển chưa đủ theo hợp đồng và tổng giá trị của số hàng hóa đó không đủ để bảo đảm cho tiền cước vận chuyển và các chi phí liên quan mà người vận chuyển phải chi cho hàng

Trang 35

hóa, trừ trường hợp người thuê vận chuyển đã trả đủ tiền cước vận chuyển hoặc có sự bảo đảm

cần thiết Người thuê vận chuyển phải trả các chi phí liên quan đến việc dỡ hàng và một nửa

tiền cước vận chuyển đã thỏa thuận

Ch ấm dứt hợp đồng không phải bồi thường

Các bên tham gia hợp đồng có quyền chấm dứt hợp đồng mà không phải bồi thường, nếu trước khi tàu biển bắt đầu rời khỏi nơi bốc hàng đã xảy ra các sự kiện sau đây:

- Chiến tranh đe dọa sự an toàn của tàu biển hoặc hàng hóa; cảng nhận hàng hoặc cảng trả hàng được công bố bị phong tỏa;

- Tàu biển bị bắt giữ hoặc tạm giữ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không do lỗi của các bên tham gia hợp đồng;

- Tàu biển bị Nhà nước trưng dụng;

- Có lệnh cấm vận chuyển hàng hóa ra khỏi cảng nhận hàng hoặc vào cảng trả hàng

Bên chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải chịu chi phí

- Tàu biển được chỉ định trong hợp đồng bị chìm đắm, mất tích, bị cưỡng đoạt;

- Hàng hóa ghi trong hợp đồng bị mất;

- Tàu biển được chỉ định trong hợp đồng được coi là hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc

việc sửa chữa là không kinh tế

Trong trường hợp tàu biển đang hành trình mà xảy ra các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì người vận chuyển chỉ có quyền thu cước cự ly; nếu chỉ có tàu biển bị tổn thất mà hàng hóa được cứu thoát hoặc được hoàn trả thì người vận chuyển có quyền thu cước cự ly đối

với số hàng hóa đó

Th ời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển theo chuyến

Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển theo chuyến là hai năm, kể từ ngày người khiếu nại biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm

M ục 4 – Hợp đồng vận tải đa phương thức

Ngoài ra, điều này cũng quy định vận đơn vận tải đa phương thức là bằng chứng của hợp đồng

vận tải đa phương thức, xác nhận việc người kinh doanh vận tải đa phương thức nhận hàng để

vận chuyển và cam kết trả hàng theo đúng thỏa thuận của hợp đồng

Trách nhi ệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức

Trang 36

Người kinh doanh vận tải đa phương thức phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa theo hợp đồng vận tải đa phương thức từ thời điểm nhận hàng cho đến khi trả hàng

Người kinh doanh vận tải đa phương thức có thể ký các hợp đồng riêng với những người vận chuyển của từng phương thức vận tải, trong đó xác định trách nhiệm của từng bên tham gia đối

với mỗi phương thức vận tải Các hợp đồng riêng này không ảnh hưởng đến trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức đối với toàn bộ quá trình vận chuyển

Gi ới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức

Trường hợp hàng hóa bị mất mát, hư hỏng xảy ra ở một phương thức vận tải nhất định của quá trình vận chuyển, các quy định của pháp luật tương ứng điều chỉnh phương thức vận tải đó của

vận tải đa phương thức được áp dụng đối với trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức

Trường hợp không thể xác định được hàng hóa bị mất mát, hư hỏng xảy ra ở phương thức vận

tải nào thì người kinh doanh vận tải đa phương thức phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của Bộ luật này

Bộ luật cũng quy định trong các chương VI đến 14 về những vấn đề khác như hợp đồng vận chuyển hàng khách và hàng lý bằng đường biển, đại lý tàu biển và môi giới hàng hải, hoa tiêu hàng hải, lai dắt tàu biển, cứu hộ hàng hải, trục vớt tài sản chìm đắm…

Các mục dưới đây đề cập tới giới hạn trách nhiệm và hợp đồng bảo hiểm hàng hải

Chương XV – GI ỚI HẠN TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI CÁC KHIẾU NẠI HÀNG HẢI

Người được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự

Chủ tàu được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng hải

Quyền được giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu cũng áp dụng theo nguyên tắc tương tự đối với người cứu hộ, người khai thác tàu, người thuê tàu và người quản lý tàu mà chủ tàu hoặc

những người đó phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất hoặc sai lầm của mình

Trong trường hợp người được bảo hiểm có quyền giới hạn trách nhiệm của mình đối với các khiếu nại hàng hải thì người bảo hiểm chịu trách nhiệm đối với các khiếu nại hàng hải đó cũng

có quyền được giới hạn trách nhiệm của mình tương tự như người được bảo hiểm

Việc sử dụng quyền giới hạn trách nhiệm không có nghĩa là người được quyền giới hạn trách nhiệm đã thừa nhận mọi trách nhiệm về mình

Người được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự theo quy định của Chương này mất quyền giới

hạn trách nhiệm dân sự của mình, nếu tổn thất được chứng minh là hậu quả của việc người đó

đã có lỗi trong việc gây ra tổn thất đó

Các khi ếu nại hàng hải áp dụng giới hạn trách nhiệm dân sự

Khiếu nại về chết, bị thương hoặc các tổn hại khác về sức khỏe con người; mất mát, hư hỏng đối với tài sản, kể cả hư hỏng công trình cảng, vùng neo đậu, luồng hàng hải, hệ thống trợ giúp hàng hải, đã xảy ra trên tàu biển hoặc có liên quan trực tiếp đến hoạt động của tàu biển hoặc

hoạt động cứu hộ và những tổn thất là hậu quả phát sinh từ các hoạt động đó

Khiếu nại về tổn thất là hậu quả từ việc chậm trễ trong quá trình vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý bằng đường biển

Khiếu nại về những tổn thất khác là hậu quả từ vi phạm quyền lợi ngoài hợp đồng đã xảy ra có liên quan trực tiếp đến hoạt động của tàu biển hoặc hoạt động cứu hộ

Khiếu nại về việc trục vớt, di chuyển, phá bỏ hoặc làm vô hại tàu biển bị chìm đắm, phá hủy

hoặc bị bỏ lại, kể cả các tài sản hiện còn hoặc đã từng ở trên tàu

Khiếu nại về việc di chuyển, tiêu hủy hoặc làm cho vô hại hàng hóa vận chuyển trên tàu biển

Trang 37

Khiếu nại của người không phải là người chịu trách nhiệm dân sự về những biện pháp mà người này đã thực hiện để ngăn ngừa hoặc hạn chế các tổn thất mà người chịu trách nhiệm dân

sự có quyền giới hạn trách nhiệm của mình và những tổn thất phát sinh thêm từ việc thực hiện các biện pháp đó

Các khiếu nại hàng hải không áp dụng giới hạn trách nhiệm dân sự

Các khiếu nại hàng hải không áp dụng giới hạn trách nhiệm dân sự gồm:

i) Khiếu nại về tiền công cứu hộ hoặc chi phí đóng góp tổn thất chung

ii) Khiếu nại về thiệt hại do ô nhiễm dầu

iii) Khiếu nại về thiệt hại do ô nhiễm phóng xạ hạt nhân

iv) Khiếu nại của những người làm công cho chủ tàu, cho người cứu hộ mà nhiệm vụ của họ

có liên quan đến hoạt động của tàu biển hoặc đến hoạt động cứ u hộ; khiếu nại của những người thừa kế của họ, những người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc của người khác được quyền khiếu nại tương tự, nếu theo luật điều chỉnh hợp đồng lao động giữa chủ tàu

hoặc người cứu hộ với những người này, chủ tàu hoặc người cứu hộ không được phép giới

hạn trách nhiệm dân sự đối với những khiếu nại đó

M ức giới hạn trách nhiệm dân sự

Bộ luật cũng quy định mức giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng hải trong trường hợp chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khỏe xảy ra cho hành khách và mất mát,

hư hỏng hành lý được vận chuyển bằng đường biển áp dụng theo quy định tại Điều 132 của Bộ

luật này

Quỹ bảo đảm bồi thường

Bộ luật cũng quy định về Quỹ bảo đảm bồi thường Theo đó, người được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này có thể lập Quỹ bảo đảm bồi thường để giải quyết các khiếu nại hàng hải mà mình được quyền giới hạn trách nhiệm Quỹ bảo đảm bồi thường được lập với giá trị bằng tổng các khoản quy định tại Điều 222 của Bộ luật này cộng với lãi

suất kể từ ngày xảy ra vụ việc dẫn đến khiếu nại hàng hải cho tới ngày lập Quỹ bảo đảm bồi thường

Quỹ bảo đảm bồi thường chỉ để giải quyết cho những người khiếu nại hàng hải theo tỷ lệ tương ứng giữa các khiếu nại hàng hải đã xác lập so với tổng giá trị Quỹ bảo đảm bồi thường

Quỹ bảo đảm bồi thường được lập bằng cách chủ tàu ký quỹ hoặc bằng hình thức bảo đảm tài chính khác được Tòa án đã thụ lý vụ việc chấp thuận

Sau khi Quỹ bảo đảm bồi thường được lập, không ai có quyền xâm phạm quyền lợi hoặc tài

sản của người có trách nhiệm bồi thường Tòa án có quyền ra lệnh giải phóng tài sản đã bị giữ

của người có trách nhiệm bồi thường hoặc chấm dứt các bảo đảm tương tự mà người có trách nhiệm bồi thường đã cung cấp

Trường hợp trước khi Quỹ bảo đảm bồi thường được phân bổ và người có trách nhiệm bồi thường hoặc những người khác được quyền giới hạn trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ

luật này đã thực hiện giải quyết khiếu nại hàng hải thuộc phạm vi Quỹ bảo đảm bồi thường

phải chi trả thì những người này được hưởng mọi quyền lợi từ Quỹ bảo đảm bồi thường đối với khiếu nại hàng hải đã giải quyết, trong phạm vi tổng số tiền đã trả theo nguyên tắc thế quyền

Việc lập Quỹ bảo đảm bồi thường không có nghĩa là chủ tàu đã thừa nhận mọi trách nhiệm về mình

Chương XVI – H ỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

H ợp đồng bảo hiểm hàng hải

Trang 38

Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro hàng hải, theo đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải thuộc trách nhiệm bảo

hiểm theo cách thức và điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng

Rủi ro hàng hải là những rủi ro xảy ra liên quan đến hành trình đường biển, bao gồm các rủi ro

của biển, cháy, nổ, chiến tranh, cướp biển, trộm cắp, kê biên, quản thúc, giam giữ, ném hàng

xuống biển, trưng thu, trưng dụng, trưng mua, hành vi bất hợp pháp và các rủi ro tương tự hoặc

những rủi ro khác được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể mở rộng theo những điều kiện cụ thể hoặc theo tập quán thương mại để bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm đối với những tổn thất xảy ra trên đường thủy nội địa, đường bộ hoặc đường sắt thuộc cùng một hành trình đường biển

Hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải được giao kết bằng văn bản

Đối tượng bảo hiểm hàng hải

Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm tàu biển, tàu biển đang đóng, hàng hóa, tiền cước

vận chuyển hàng hóa, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tàu, tiền thuê mua tàu, tiền

lãi ước tính của hàng hóa, các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khoản tiền được bảo đảm bằng tàu, hàng hóa hoặc tiền cước vận chuyển

Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm

Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có quyền lợi đối với đối tượng bảo hiểm trong một hành trình đường biển

Người có quyền lợi trong một hành trình đường biển khi có bằng chứng chứng minh là có liên quan đến hành trình này hoặc bất kỳ đối tượng có thể bảo hiểm nào gặp rủi ro trong hành trình

mà hậu quả là người đó thu được lợi nhuận khi đối tượng bảo hiểm đến cảng an toàn hoặc không thu được lợi nhuận khi đối tượng bảo hiểm bị tổn thất, hư hỏng, bị lưu giữ hoặc phát sinh trách nhiệm

Người được bảo hiểm phải có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất

và có thể không có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm tham gia bảo hiểm Khi đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm theo điều kiện có tổn thất hoặc không có tổn thất thì người được bảo hiểm vẫn có thể được bồi thường mặc dù sau khi tổn thất xảy ra mới có quyền lợi bảo

hiểm, trừ trường hợp người được bảo hiểm biết tổn thất đã xảy ra, còn người bảo hiểm không

biết việc đó

Trường hợp người được bảo hiểm không có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm

xảy ra tổn thất thì không thể có được quyền đó bằng bất kỳ hành động hay sự lựa chọn nào sau khi người được bảo hiểm biết tổn thất đã xảy ra

Trường hợp người mua hàng đã mua bảo hiểm cho hàng hóa thì có quyền lợi bảo hiểm mặc dù

có thể đã từ chối nhận hàng hoặc đã xử lý hàng hóa đó như đối với hàng hóa thuộc rủi ro của người bán hàng do giao hàng chậm hoặc vì những lý do khác

Tái bảo hiểm

Người bảo hiểm có thể tái bảo hiểm đối tượng bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm cho người khác

Hợp đồng tái bảo hiểm độc lập với hợp đồng bảo hiểm gốc, người bảo hiểm gốc vẫn phải chịu trách nhiệm đối với người được bảo hiểm

Giá tr ị bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối tượng bảo hiểm và được xác định như sau:

Trang 39

- Giá trị bảo hiểm của tàu biển là tổng giá trị của tàu biển vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm Giá

trị này còn bao gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng dự trữ của tàu cộng với toàn

bộ phí bảo hiểm Giá trị của tàu biển còn có thể bao gồm cả tiền lương ứng trước cho thuyền

bộ và chi phí chuẩn bị chuyến đi được thỏa thuận trong hợp đồng;

- Giá trị bảo hiểm của hàng hóa là giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá thị trường ở nơi và thời điểm bốc hàng cộng với phí bảo hiểm, tiền cước vận chuyển và có thể cả

tiền lãi ước tính;

- Giá trị bảo hiểm tiền cước vận chuyển là tổng số tiền cước vận chuyển cộng với phí bảo

hiểm Trường hợp người thuê vận chuyển mua bảo hiểm cho tiền cước vận chuyển thì tiền cước này được tính gộp vào giá trị bảo hiểm của hàng hóa;

- Giá trị bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm khác, trừ trách nhiệm dân sự, là giá trị của đối tượng

bảo hiểm ở nơi và thời điểm bắt đầu bảo hiểm cộng với phí bảo hiểm

S ố tiền bảo hiểm

Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm phải kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm (sau đây gọi là số tiền bảo hiểm)

Trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm thì người

bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo

hiểm, kể cả các chi phí khác thuộc phạm vi bảo hiểm

Trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần

tiền vượt quá giá trị bảo hiểm không được thừa nhận

Trong trường hợp bảo hiểm trùng quy định tại khoản 1 Điều này thì tất cả những người bảo

hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường trong phạm vi giá trị bảo hiểm và mỗi người chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với số tiền bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm

M ục 3 – Chuyển nhượng quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải

Chuy ển nhượng đơn bảo hiểm hàng hải

Đơn bảo hiểm hàng hải có thể được chuyển nhượng, trừ trường hợp trong đơn bảo hiểm có

thỏa thuận về cấm chuyển nhượng Đơn bảo hiểm có thể chuyển nhượng trước hoặc sau khi tổn

thất xảy ra với đối tượng bảo hiểm

Người không có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm thì không được chuyển nhượng đơn bảo

hiểm

Cách th ức chuyển nhượng đơn bảo hiểm hàng hải

Đơn bảo hiểm hàng hải có thể chuyển nhượng bằng cách người được bảo hiểm ký bổ sung trên đơn hoặc theo tập quán thương mại

M ục 4 – Bảo hiểm bao

Định nghĩa

Bảo hiểm bao là loại bảo hiểm trọn gói, được áp dụng đối với đối tượng bảo hiểm là một loại hàng hóa hoặc một số hàng hóa mà người được bảo hiểm gửi đi hoặc nhận được trong một thời

hạn nhất định

Trang 40

Người bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao có nghĩa vụ cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng

nhận bảo hiểm cho mỗi chuyến hàng hoặc cho từng đơn vị chuyên chở theo yêu cầu của người được bảo hiểm

Th ực hiện hợp đồng bảo hiểm bao

Người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao có nghĩa vụ thông báo ngay cho người bảo

hiểm biết sau khi nhận được các thông tin liên quan đến việc gửi hàng hoặc nhận hàng và mỗi

lần đều phải thông báo tên tàu biển, tuyến hành trình, hàng hóa và số tiền bảo hiểm, kể cả trường hợp người bảo hiểm nhận được thông báo thì có thể hàng đã được gửi hoặc đã đến cảng

trả hàng

Trường hợp người được bảo hiểm cố ý hoặc do cẩu thả mà không thực hiện nghĩa vụ quy định

tại khoản 1 Điều này thì người bảo hiểm có quyền chấm dứt hợp đồng bảo hiểm bao và vẫn được hưởng phí bảo hiểm tương tự như trong trường hợp hợp đồng được thực hiện

Ch ấm dứt hợp đồng bảo hiểm bao

Các bên có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm bao với điều kiện phải thông báo cho nhau biết trước chín mươi ngày

M ục 5 – Thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hải

N ộp phí bảo hiểm

Người được bảo hiểm có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm cho người bảo hiểm ngay sau khi ký kết

hợp đồng hoặc ngay sau khi được cấp đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, trừ trường

hợp các bên có thỏa thuận khác

Thông báo rủi ro gia tăng

Sau khi hợp đồng bảo hiểm được giao kết mà có bất kỳ thay đổi nào về rủi ro được bảo hiểm làm tăng mức độ rủi ro thì người được bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho người bảo hiểm

về sự thay đổi đó ngay khi họ biết

Trường hợp người được bảo hiểm vi phạm các quy định tại khoản 1 Điều này, người bảo hiểm

có quyền từ chối bồi thường một phần hoặc toàn bộ số tiền bảo hiểm

Ngh ĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất

Trường hợp xảy ra tổn thất liên quan đến rủi ro hàng hải đã được bảo hiểm, người được bảo

hiểm có nghĩa vụ tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất và bảo đảm cho việc thực hiện quyền khiếu nại của người bảo hiểm với người có lỗi gây ra tổn thất Khi

thực hiện nghĩa vụ này, người được bảo hiểm phải thực hiện theo chỉ dẫn hợp lý của người bảo

hiểm

Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với tổn thất xảy ra do người được bảo hiểm quá

cẩu thả hoặc cố ý không thực hiện nghĩa vụ nêu trên

Trách nhiệm bồi hoàn của người bảo hiểm

Người bảo hiểm có trách nhiệm bồi hoàn cho người được bảo hiểm mọi chi phí hợp lý và cần thiết do người được bảo hiểm sử dụng để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất thuộc trách nhiệm bảo

hiểm; những chi phí để thực hiện các chỉ dẫn của người bảo hiểm theo quy định hoặc chi phí xác định nguyên nhân, mức độ tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm và chi phí đóng góp vào tổn thất chung Các chi phí này phải được bồi hoàn theo tỷ lệ giữa số tiền bảo

hiểm và giá trị bảo hiểm

Trách nhi ệm bồi thường tổn thất của người bảo hiểm

Ngày đăng: 26/03/2017, 05:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Toàn cảnh hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
Bảng 1 Toàn cảnh hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam (Trang 59)
Bảng 2: Thị trường nước ngoài chính đối với thương mại hàng hóa quốc tế - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
Bảng 2 Thị trường nước ngoài chính đối với thương mại hàng hóa quốc tế (Trang 60)
Đồ thị 1: Tổng năng lực của ngành Hàng hải Việt Nam giai đoạn 1999-2008 - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
th ị 1: Tổng năng lực của ngành Hàng hải Việt Nam giai đoạn 1999-2008 (Trang 61)
Đồ thị  2:  Năng lực xử lý của cảng chính ở Việt Nam so với các đối tác lớn trong ASEAN - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
th ị 2: Năng lực xử lý của cảng chính ở Việt Nam so với các đối tác lớn trong ASEAN (Trang 63)
Đồ thị 3: Thống kế bảo hiểm đối với vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
th ị 3: Thống kế bảo hiểm đối với vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w