Nhóm nghiên cứu trên đây chủ yếu đi sâu vào những mặt công tác cụ thể của xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp như đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn-bổ nhiệm; khái quát thực trạng và đề xuất giả
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN KHOA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TƯ PHÁP
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 22 03 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS ĐOÀN MINH HUẤN
2 PGS.TS TRẦN TRỌNG THƠ
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, chính xác, đảm bảo khách quan, khoa học, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Khoa
Trang 34.1 Nhận xét quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ hình thức tổ chức bộ máy nhà nước nào, dù theo chế độ phân quyền hay tập quyền, thì tư pháp vẫn được coi là một bộ phận cấu thành quyền lực công, thể hiện quyền uy của Nhà nước đối với xã hội cũng như năng lực bảo
vệ công lý V.I.Lênin đã từng khẳng định: Một nền tư pháp tồi, xã hội sẽ phải trả một giá đắt Luận điểm này cho thấy, công tác tư pháp luôn giữ vai trò quan trọng trong các phương diện hoạt động của Nhà nước Trong Thư gửi Hội nghị
Tư pháp toàn quốc lần thứ IV vào tháng 2 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền góp phần mình thực hiện chế độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta Đồng thời, ngăn ngừa, trừng trị những kẻ âm mưu,
phá hoại chế độ, phá hoại lợi ích của nhân dân” [8, tr.10] Công tác tư pháp trong
tiến trình cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, công tác tư pháp càng được coi trọng, nó phản ánh tính dân chủ và pháp quyền, là công cụ xây dựng một thể chế chính trị trong sạch, vững mạnh, dân chủ, bảo vệ công lý
và các quyền con người trong thế giới văn minh Tuy nhiên chất lượng công tác
tư pháp chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, còn án oan, án sai, vi phạm các quyền con người, quyền công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và nền pháp trị Những thành tựu cũng như những hạn chế trong lĩnh vực tư pháp đều
lên quan đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp của Đảng
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến công tác cán bộ, trong đó chú trọng đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh Đội ngũ cán bộ tư pháp đã có bước phát triển mới về chất lượng và số lượng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, song vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống xã hội Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
Trang 52
Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”, nhận định: “Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số
cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp” [50, tr.1] Bên
cạnh đó, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử của đội ngũ cán bộ tư pháp cũng còn hạn chế.Từ
đó dẫn tới tình trạng oan, sai trong điều tra, truy tố, xét xử, xâm phạm và làm
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhiều vấn đề liên quan đến xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài, sỡ hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia còn bất cập, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối với đội ngũ cán bộ tư pháp còn hạn chế Đó là chưa kể yêu cầu xây dựng đạo đức nghề nghiệp tư pháp cũng rất đặc thù, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, đạo đức của Đảng cầm quyền Thực tế cho thấy, nếu như tham nhũng trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp gây nhức nhối trong xã hội thì tham nhũng trong lĩnh vực tư pháp thường bị đánh giá thiếu đạo đức hơn nhiều lần, do nó làm thay đổi cán cân công lý, đụng chạm đến những quyền tư pháp của con người Nghiên cứu nội dung Đảng lãnh đạo công tác tư pháp, trong đó có lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp làm sâu sắc thêm vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với công cuộc đổi mới nói chung cũng như trong lĩnh vực tư pháp, trong xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp phục vụ công cuộc đổi mới
Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, việc xây dựng được một đội ngũ cán bộ tư pháp có trình độ, có năng lực toàn diện và phẩm chất tốt để giải quyết tốt những yêu cầu xét xử do công cuộc cải cách tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế là một yêu cầu bức thiết Đến nay, vẫn còn thiếu những nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho những giải pháp thực sự rõ ràng, đồng bộ, hiệu quả để thực hiện cải cách tư pháp Đặc biệt với cơ chế quản lý cán bộ theo các ngành hiện nay, bảo đảm đồng bộ hóa về chất lượng cán bộ tư pháp là điều rất khó thực hiện Trong khi đó, nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, trước hết và đột
Trang 63
phá phải bắt đầu từ nâng cao chất lượng cán bộ tư pháp Muốn thực hiện đạt kết quả tốt nhất, rất cần phải nghiên cứu có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp để có một cách nhìn toàn diện về thành công, hạn chế, đúc kết những kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn hiện nay
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
tư pháp có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Chính vì
vậy, tác giả chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến
sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Làm sáng rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ tư pháp, đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào xây dựng đội
ngũ cán bộ tư pháp trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Làm rõ yêu cầu khách quan và những yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011
- Phân tích, luận giải, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp qua hai giai đoạn: 2001-2005 và 2005- 2011
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân từ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp giai đoạn 2001-2011
- Đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu tiến trình, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến
năm 2011
Trang 74
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quan điểm, chủ trương và sự
chỉ đạo của Đảng về các mặt công tác đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm;
chính sách đối với cán bộ tư pháp; kết quả và tác động của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đối với nền tư pháp cũng như với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Nội hàm cán bộ tư pháp bao gồm nhiều đối tượng, luận án tiếp cận đối
tượng cán bộ tư pháp là thẩm phán trong cơ quan Toà án và kiểm sát viên trong
cơ quan Viện kiểm sát
- Về thời gian: Nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011 Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh sử dụng một số tư liệu liên quan trước năm 2001 và sau năm 2011
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi cả nước, song, tập trung khảo
sát một số cơ quan đơn vị liên quan trực tiếp đến công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ tư pháp ở Trung ương và một số địa phương
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về tư pháp gắn với xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, về cán bộ và công tác cán bộ
4.2 Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Luận án khai thác một số tác phẩm kinh điển của C.Mác và V.I Lênin; đặc biệt các tác phẩm của Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước về
tư pháp và cán bộ tư pháp
- Các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI của Đảng Cộng sản Việt Nam; các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương; các Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác tư pháp và cải cách tư pháp; một số bộ luật, luật, pháp lệnh, chỉ thị của Nhà nước và Chính phủ về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
Trang 85
- Các kế hoạch, chương trình hành động; các đề án cụ thể; báo cáo tổng kết của các cơ quan tư pháp như Toà án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và của Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, những
tổng kết của các cơ sở đào tạo cán bộ tư pháp
- Các sách tham khảo, chuyên khảo, luận án, luận văn, hội thảo, kỷ yếu, đề tài khoa học, các bài báo trên các tạp chí nghiên cứu đã công bố liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị giúp việc hoàn thành các nội dung nghiên cứu của luận án
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc và kết hợp chặt chẽ hai phương pháp đó Đồng thời còn sử dụng một số phương pháp phổ dụng khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh nhằm sáng tỏ những
vấn đề luận án đặt ra cần giải quyết
5 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hoá chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán
bộ tư pháp, qua đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Định dạng một số đặc trưng trong tiến trình lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng cán bộ tư pháp, một lĩnh vực phải giải quyết mâu thuẫn giữa bảo đảm tính lãnh đạo thống nhất của Đảng với tôn trọng nguyên tắc độc lập tương đối của lĩnh vực tư pháp
- Phân tích, đánh giá, rút ra được các nhận xét, kết luận về Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp; tổng kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa cho vận dụng vào giai đoạn mới
6 Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung của luận án gồm 4 chương 8 tiết
Trang 96
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Do vị trí, tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, giới khoa học trong nước và ngoài nước đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể
phân chia thành các nhóm sau
1.1.1 Nhóm nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
- Các nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp gắn với cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền
Cuốn “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu của nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” của Trần Đình Thắng [151] là công
trình nghiên cứu công phu, toàn diện dưới góc độ luật học về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Bắt đầu từ trình bày khái niệm, định dạng đặc điểm, phân loại, nhiệm vụ, quyền hạn, khái lược những vấn đề lịch sử, phân tích thực trạng, Công trình đã xác định những yêu cầu và
đề xuất giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong quá trình xây dựng
nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả Đào Trí Úc trong cuốn “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” [183] đã đề cập đến khái niệm tư pháp, nhiệm vụ, nguyên
tắc cải cách tư pháp; đổi mới chế độ thẩm phán và đội ngũ thẩm phán; thực
trạng đội ngũ thẩm phán toà án nhân dân địa phương Cuốn “Góp phần tìm
nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền” của Bùi Ngọc Sơn [121] trong
trình bày những vấn đề chung về Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền, đã dành một phần bài về toà án trong nhà nước pháp quyền với tính độc lập trong xét xử trong hoạt động; vai trò độc lập toà án trong việc bảo đảm thực hiện các yêu cầu nhà nước pháp quyền; yêu cầu tăng trách nhiệm và nâng cao chất lượng, quan tâm đúng mức đời sống vật chất cho các thẩm phán
Trang 107
Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí trong cuốn:“Cải cách tư pháp ở Việt
Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” [27] đã đề cập một số
khía cạnh đáng quan tâm Đây là công trình nghiên cứu về cải cách tư pháp từ sau khi có Nghị quyết 08 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp Công trình đã phân tích, khái quát một số vấn đề chung trong cải cách tư pháp như mục tiêu, đối tượng, phương hướng và các giải pháp
cơ bản thực hiện của cải cách tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền; đặc biệt đề cập đến lương tâm của người thẩm phán trong xét xử đảm bảo quyền con người trong cải cách tư pháp
Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong cuốn “Thể chế tư pháp trong nhà
nước pháp quyền” [30] đã đi sâu làm rõ vị trí, vai trò của thể chế tư pháp trong
Nhà nước pháp quyền; thể chế tư pháp ở một số quốc gia và đặc biệt làm rõ một
số vấn đề thể chế tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến các vấn đề như: quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Toà án ở Việt Nam gắn liền với hoạt động của đội ngũ thẩm phán, nghiên cứu nhiệm kỳ của thẩm phán, vấn đề thay thế chế định bầu cử thẩm phán bằng bổ nhiệm theo Hiến pháp 1992, vấn đề tuyển chọn thẩm phán, vấn đề trách nhiệm, nâng cao chất lượng, biện pháp ổn định công tác cho đội ngũ thẩm phán Tác giả Phạm Quý Tỵ với bài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà
án nhân dân” [147] đã khái quát mô hình toà án được tổ chức theo thẩm quyền
xét xử; đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử; phân định rõ ràng thẩm quyền quản
lý và thẩm quyền tố tụng trong các cơ quan toà án; đặc biệt đề cập đến đổi mới
trình tự thủ tục bổ nhiệm thẩm phán theo hướng thẩm phán được bổ nhiệm dài
hạn, không theo nhiệm kỳ; Nhà nước cần phải đảm bảo về cơ sở vật chất, điều
kiện làm việc, chế độ đãi ngộ cho thẩm phán, tạo điều kiện để thẩm phán độc lập khi xét xử
Tác giả Trương Hoà Bình với bài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của
tòa án nhân dân theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”
[6] đã khái quát thực trạng, những bất cập, hạn chế của đội ngũ cán bộ tư pháp
Trang 118
trong cơ quan Toà án nhân dân như số lượng, chất lượng, cơ cấu, biên chế Đặc biệt công trình đã đưa ra những định hướng lớn trong đổi mới hệ thống toà án theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc đơn vị hành chính; làm rõ nguyên tắc
tổ chức, hoạt động và biên chế đội ngũ cán bộ của toà án sơ thẩm khu vực, Toà
án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm, Toà án tối cao, qua đó cũng kiến nghị về xây dựng đội ngũ cán bộ cho phù hợp với từng loại toà án
Nhóm công trình tiếp cận từ góc độ chính trị học hoặc luật học, bàn sâu sắc các khía cạnh kỹ thuật tư pháp với những yêu cầu đặt ra cho đội ngũ cán bộ
tư pháp cả về phẩm chất và năng lực Xây dựng cán bộ tư pháp trong các nghiên cứu này gắn chặt với yêu cầu cải cách tư pháp theo đường lối, chủ trương của Đảng Tất nhiên, hạn chế của những nghiên cứu này là chưa cho thấy rõ tiến trình lịch sử, vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư pháp, cơ sở lý thuyết của các đề xuất này, thậm chí nhiều nghiên cứu chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi lý thuyết cấu trúc quyền lực tư pháp trong các mô hình dân chủ phương Tây Có nghiên cứu lại bị ảnh hưởng nhiều cách tiếp cận của các lý thuyết về nhà nước Xô-viết trước đây, sâu xa là nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, nên lĩnh vực
tư pháp nói chung và công chức tư pháp đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng một cách xơ cứng
- Các nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp
Tác giả Đào Xuân Tiến với bài viết “Đào tạo thẩm phán” [145] đã khái
quát năng lực, trình độ chuyên môn của các thẩm phán Tác giả nêu lên thực trạng công tác đào tạo thẩm phán trước năm 2002 còn chồng chéo, nhiều cơ sở đào tạo do nhiều cơ quan quản lý khác nhau; đưa ra hướng đổi mới như xây dựng chương trình, đào tạo lại đội ngũ thẩm phán về chuyên môn nghiệp vụ và
bổ sung những kiến thức ngoại ngữ, tin học; kiến thức về sở hữu trí tuệ; tập trung các cơ sở đào tạo thành một mối
Bài viết “Về vấn đề đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp ở
Việt Nam” của tác giả Phạm Mạnh Hùng [92] đã phân tích tính đặc thù của đào
Trang 129
tạo nguồn để bổ nhiệm đối với các chức danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên; có so sánh với công tác đào tạo của một số nước; đặt ra yêu cầu chuyên môn hoá của các ngành như đào tạo thẩm phán cần giao cho ngành toà án đảm nhiệm và kiểm sát viên do ngành kiểm sát thực hiện
Tác giả Nguyễn Hữu Hậu với bài viết “Một số suy nghĩ về định hướng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế” [75] đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện đào tạo bồi dưỡng
cán bộ kiểm sát viên như sự chồng chéo giữa Học viện tư pháp với Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (nay là Đại học Kiểm sát); tình hình nhận thức chưa đúng mức về công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát là “đào tạo nghề”-một loại hình đào tạo đặc thù ngành kiểm sát; chưa có Hội đồng thẩm định chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát chính thống theo chuẩn quốc gia Từ đó, tác giả đề xuất một số định hướng về công tác đào tạo, bồi dưỡng; về xây dựng chương trình, hoàn chỉnh giáo trình cho từng loại hình; về đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng; về củng cố phát triển đội ngũ giảng dạy; về cải tạo, nâng cấp cơ sở, vật chất phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của tác giả Phan Chí Hiếu “Cơ sở lý
luận và thực tiễn xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020” [17] đã nêu lên cơ sở lý luận xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi
dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020 Trên cơ sở đó, đề tài khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ có chức danh tư pháp, đặc biệt nhấn mạnh đến đội ngũ thẩm phán và kiểm sát
viên như đội ngũ thẩm phán còn thiếu về số lượng; cơ cấu đội ngũ thẩm phán
chưa đảm bảo; chất lượng đội ngũ thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, trình độ ngoại ngữ tin học; đạo đức thẩm phán Đề tài khái quát thực trạng chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp; công tác đào tạo kiểm sát viên cũng có những bất cập như thay đổi về tên gọi, chức năng nhiệm vụ của cơ sở đào tạo; còn chồng chéo trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng, trình
Trang 13như: “Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn thẩm
phán”[80]; “Xây dựng chương trình đào tạo kiểm sát viên-Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” [81]; “Đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ công cuộc cải cách
tư pháp” [83] Ngoài ra, ngành Toà án, Kiểm sát, trong phạm vi chức năng,
nhiệm vụ của ngành, cũng đã triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học về đội
ngũ cán bộ của ngành như: “Đào tạo thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao”
do Toà án nhân dân tối cao thực hiện [127] Nội dung của các đề tài này, dưới
nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau, trên mức độ ít nhiều có đề cập đến việc thực hiện chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của từng ngành và chủ yếu đi sâu khái quát thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ tư pháp nói chung và đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ chức danh tư pháp Song, do quy mô
và tính chất là đề tài cấp cơ sở, hoặc do phạm vi nghiên cứu riêng của từng ngành, nên các đề tài không thể triển khai một cách toàn diện và sâu sắc
- Các nghiên cứu về sử dụng, tuyển chọn-bổ nhiệm đội ngũ cán bộ tư pháp
Năm 2003, Trường Đại học Luật Hà Nội triển khai nghiên cứu đề tài khoa
học cấp bộ: “Điều tra cơ bản đánh giá thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ pháp
lý đối với sự phát triển của đất nước thế kỷ XX” [163] Đề tài tập trung điều tra
việc sử dụng cử nhân luật sau khi tốt nghiệp đại học, trong đó ngành luật là một lĩnh vực lớn Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá tình hình sử dụng cán bộ pháp lý sau khi tốt nghiệp đại học, không nghiên cứu chuyên sâu sự lãnh đạo của Đảng
về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Xây
dựng cơ chế thi tuyển tư pháp quốc gia đáp ứng yêu cầu cải cách Tư pháp” [18]
đã làm rõ cơ chế thi tuyển tư pháp quốc gia, lợi thế cũng như vai trò của thi
Trang 1411
tuyển tư pháp quốc gia trong mối quan hệ với các yêu cầu mà Đảng và Nhà nước
ta đặt ra trong bối cảnh cải cách tư pháp và đổi mới giáo dục đại học hiện nay; tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài về thi tuyển đào tạo các chức danh tư pháp, trên cơ sở tổng kết, đánh giá khả năng áp dụng vào mô hình tuyển sinh đào tạo cán bộ tư pháp ở Việt Nam; tổng kết một cách toàn diện về thực trạng công tác tuyển sinh để đào tạo các chức danh tư pháp tại Học viện Tư pháp từ trước đến nay Tác giả làm rõ cơ sở thực tiễn và sự cần thiết phải xây dựng kỳ thi tuyển
tư pháp quốc gia; xây dựng mô hình thi tuyển tư pháp quốc gia, trong đó xác định rõ đối tượng dự thi, nội dung thi tuyển, hình thức thi tuyển, Hội đồng thi tuyển tư pháp quốc gia; làm rõ các điều kiện đảm bảo cho việc thực thi mô hình thi tuyển này trên thực tế Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn như một công cụ nghiên cứu kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh kinh nghiệm
- Các nghiên cứu về giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán
bộ tư pháp
Tác giả Trương Thị Hoà với bài viết “Cải cách tư pháp và việc nâng cao
đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cho cán bộ cơ quan tư pháp” [78] đã
nêu lên thực trạng của hoạt động tư pháp như pháp luật không rõ ràng, minh bạch tạo điều kiện cho tham nhũng; thực tiễn xét xử qua quá nhiều cấp, chưa tuân thủ đúng nguyên tắc hai cấp xét xử Tác giả khẳng định: Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của cán bộ tư pháp là bộ phận quan trọng trong nội dung cải cách tư pháp Các biện pháp để nâng cao như cải tiến chương trình đào tạo gắn với giáo dục đạo đức nghề nghiệp; tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ tư pháp
Tác giả Hoàng Văn Linh với bài viết “Một số suy nghĩ về đạo đức nghề
nghiệp của thẩm phán trong cải cách tư pháp hiện nay”[96] đã đưa ra quan
niệm về đạo đức người thẩm phán và nhấn mạnh đến việc xây dựng những phẩm chất đạo đức người thẩm phán như: Luôn đề cao ý thức bảo vệ pháp chế xã hội
Trang 1512
chủ nghĩa, bảo vệ công lý và công bằng xã hội; tận tâm phục vụ nhân dân; phẩm chất về giao tiếp với công việc và đồng nghiệp; có lối sống lành mạnh, liêm chính, có ý thức tổ chức kỷ luật, thường xuyên bồi duỡng nhân cách Công trình
“Đạo đức Nghề luật”[87] là kết quả hợp tác giữa Học viện Tư pháp của Việt
Nam với Dự án phát triển tư pháp và sự tham gia từ cơ sở (JUDGE), tư vấn biên soạn bởi GS.TREVOR C.W.FARROW và tài trợ bởi CIDA, đã khái quát đặc điểm của nghề luật nói chung, đặc điểm nghề của các đội ngũ cán bộ tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên Các tác giả đã đưa ra kinh nghiệm của một số nước như Canađa, Trung Quốc, Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức, Hoa
Kỳ trong việc xây dựng quy tắc đạo đức và ứng xử trong thực tiễn truy tố, xét xử của đội ngũ cán bộ tư pháp
Nhóm nghiên cứu trên đây chủ yếu đi sâu vào những mặt công tác cụ thể của xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp như đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn-bổ nhiệm; khái quát thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; đưa ra các yêu cầu, tiêu chí cũng như giải pháp thực hiện để xây dựng và hình thành các phẩm chất quan trọng của người cán bộ tư pháp; kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng bộ quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp đối với đội ngũ cán bộ tư pháp Một số lý thuyết
nhân học xã hội, lý thuyết hành vi, lý thuyết lựa chọn công, lý thuyết đạo đức nhóm, được tác giả nhóm nghiên cứu này sử dụng trong nghiên cứu Hạn chế
của nhóm này là chưa dựa vào dữ liệu lịch sử để làm rõ các luận cứ, nhận xét; ít
đề cập đến mối quan hệ chính trị với tư pháp nói chung và mối quan hệ giữa đường lối chính trị, tác động chính trị đối với nhân viên tư pháp trên các khâu tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, đào tạo Nhóm nghiên cứu này có thể kế thừa một số nhận định, kết luận và rất có ý nghĩa khi xem xét thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trên các chiều cạnh khác nhau từ tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến sử dụng công chức tư pháp
Trang 16Cộng hòa, trong cuốn hồi ký “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh”[79] đã
trình bày suy nghĩ của ông đối về tư tưởng hiến chính và pháp quyền của Hồ Chí Minh Ông cho rằng, Hồ Chí Minh có một tư duy pháp lý nhạy bén tuyệt vời, gần như thiên bẩm, hiểu thấu và thi hành một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn chế độ Nhà nước-pháp quyền của thời đại và thế giới văn minh Tư tưởng của Người đã dẫn dắt Vũ Đình Hòe trên cương vị Bộ trưởng Tư pháp cũng như cải hóa một thế hệ “cán bộ pháp lý khả thủ, dần dần biết suy nghĩ và hành động đúng đắn”[81, tr.6], đặc biệt là tư tưởng về một nền pháp quyền nhân nghĩa, một nền tư pháp “phụng công thủ pháp”, “nhân ái, công bình, độ lượng có sức thuyết phục, cảm hóa cao”[81, tr.212]
Tác giả Bùi Ngọc Sơn với bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức toà
án và ý nghĩa hiện nay”[121] đã trình bày nguyên tắc, tiêu chuẩn, thẩm quyền bổ
nhiệm thẩm phán theo tư tưởng Hồ Chí Minh như thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm; thẩm phán phải có cử nhân luật, phải trải qua một kỳ thi để đảm bảo trình
độ nghiệp của thẩm phán và khi đã được bổ nhiệm phải tuyệt đối trung thành với
Tổ quốc, phụng công thủ pháp, chí công vô tư Ở đây đã kết hợp giữa nghiên cứu
tư tưởng với sự chuyển hóa của tư tưởng trong thực tế đời sống
Tác giả Phạm Quốc Anh trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng ta về hoạt động tư pháp”[1] đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng, kim chỉ nam cho hoạt động tư pháp và thực hiện cải cách tư pháp Tác giả nhấn mạnh Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm hoạt động khoa học và thái độ đúng đắn, khách quan, cầu thị đối với công việc đối với cán
Trang 1714
bộ các cơ quan tư pháp Ngoài ra tác giả khái quát đường lối, quan điểm của Đảng về công tác tư pháp
Bài viết “Nghiên cứu, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền tư
pháp cách mạng” của Khuất Văn Nga [107] đã nhấn mạnh cần quán triệt ba ý
tưởng lớn của Hồ Chí Minh là một nền tư pháp vì dân; một nền tư pháp “xử án cho giỏi thì tốt nhưng làm thế nào không có kiện xử thì tốt hơn”; một nền tư pháp đối với đội ngũ cán bộ: “Phụng công thủ pháp, chí công vô tư” Tác giả khẳng định ba ý tưởng trên của Hồ Chí Minh về tư pháp đang là trụ cột cho sự nghiệp cải cách tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng
Nhóm nghiên cứu này đã cho thấy vai trò thiết kế tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với nền tư pháp Việt Nam, một nền tư pháp độc lập, gần dân, hướng tới và bảo đảm quyền và lợi ích cho nhân dân và đề ra các yêu cầu, tiêu chí xây dựng đội ngũ cán bộ bộ tư pháp; các phẩm chất mà đội ngũ cán bộ tư pháp phải
có như “Phụng công thủ pháp, chí công vô tư” Chúng có ý nghĩa làm cơ sở phương pháp luận, định hướng cho nghiên cứu về Đảng lãnh đạo lĩnh vực tư pháp nói chung và đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng Tuy nhiên, điểm yếu của các nghiên cứu này là chưa chỉ ra được “độ vênh” giữa tư tưởng và đời sống hiện thức, độ gián đoạn trong thực tiễn xây dựng nền tư pháp Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh qua đời, đặc biệt là từ khi xây dựng Hiến pháp năm 1980, áp dụng mô hình tư pháp Xô-viết vào đất nước ta với nhiều thiết kế chính trị xa dần Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959-những bản hiến pháp mang đậm dấu
ấn tư tưởng Hồ Chí Minh
- Nhóm nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp
Tác giả Nguyễn Văn Thảo với cuốn “Xây dựng Nhà nước pháp quyền
dưới sự lãnh đạo của Đảng”[150] ngoài việc trình bày về xây dựng nhà nước
pháp quyền, đã nhấn mạnh cần phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Toà án theo hướng tạo điều kiện cho nền tư pháp hoạt động liên tục và xét
xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảm và thực hiện công bằng xã hội, thể hiện nền công lý xã hội chủ nghĩa và Đảng thông qua các cơ chế của Nhà nước
Trang 1815
để cử ra đội ngũ thẩm phán được đào tạo có hệ thống, thành thạo nghề nghiệp, làm việc liên tục và ổn định, đủ tầm vóc đại diện cho quyền lực nhà nước xét xử tội phạm và giải quyết các tranh chấp trong xã hội
Tác giả Trần Đại Hưng với bài viết “Hoàn thiện nội dung và phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp” [91] đã đưa ra những cơ sở
khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp; khái quát những thành tựu, hạn chế yếu kém, đề xuất một số vấn đề về hoàn thiện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nói chung và đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng
Tác giả Nguyễn Văn Quyền, trong bài viết “Đảng lãnh đạo các cơ quan
tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” [119] đã khái quát sự lãnh đạo của Đảng
đối với các cơ quan tư pháp thông qua lãnh đạo về chính trị- tư tưởng, định hướng công tác; nhấn mạnh đến lãnh đạo tổ chức cán bộ trong các cơ quan tư pháp; đúc kết một số bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng đối với các
cơ quan tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng
Cuốn “Thể chế Đảng cầm quyền một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Đặng Đình Tân [123] đã khái quát thể chế Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp từ năm 1986 đến nay Cụ thể là nêu lên các nguyên tắc thể chế Đảng lãnh đạo các
cơ quan tư pháp, trong đó nhấn mạnh đến các vấn đề: các cơ quan, tổ chức Đảng lãnh đạo cơ quan tư pháp; đường lối, chính sách hình sự về xét xử tội phạm, chính sách giải quyết tranh chấp trong nội bộ nhân dân về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, hành chính; bộ máy và phương thức hoạt động của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các tổ chức khác tham gia hoạt động xét xử Ngoài ra, công trình đề cập đến hiệu lực các thể chế Đảng lãnh đạo các cơ quan
tư pháp, trong đó nói rõ về cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan Toà án,Viện kiểm sát và đối với các loại vụ án
Cuốn “Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành Kiểm sát nhân dân”, (lưu
hành nội bộ) của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao [178] đã hệ thống hoá các quan
Trang 1916
điểm, chủ trương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 1960 đến nay thể hiện qua các đại hội toàn quốc của Đảng, hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương, nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, các thông báo, thông tri, chỉ thị của Ban Bí thư Công trình là sự tập hợp các văn kiện của Đảng, thuận lợi cho việc tra cứu, nghiên cứu và giảng dạy về sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát nhân dân
Nguyễn Văn Hiện với bài viết “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với công tác toà án hiện nay”[77] đã khái quát thực trạng và đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác toà án, nhất
là sự lãnh đạo của Đảng nhằm bảo đảm tính độc lập trong xét xử của toà án
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ-Hội đồng khoa học các Ban Đảng
của tác giả Trịnh Xuân Toản “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Bộ
Chính trị, Ban Bí thư đối với công tác tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”[126] đề cập nhiều vấn đề mối quan hệ giữa
lãnh đạo Đảng với đổi mới công tác tư pháp Trên cơ sở phân tích và hệ thống hoá những quan điểm về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và nội dung, phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với công tác tư pháp và cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện của Đảng; tổng hợp, đánh giá thực tiễn quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung và của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nói riêng đối với công tác
tư pháp và cải cách tư pháp, trọng tâm là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đến nay, đề tài xác định rõ: những thành tựu, những mặt hạn chế, vướng mắc và bài học kinh nghiệm; Phân tích những yêu cầu khách quan của việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nói riêng đối với công tác tư pháp và cải cách tư pháp Mục tiêu, quan điểm
và phương hướng, giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác tư pháp và cải cách tư pháp được đề xuất ở đây đã bám sát thực tế Ngoài ra, tác giả còn có kiến nghị cụ thể về việc hoàn thiện phương thức
Trang 2017
lãnh đạo và tăng cường sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với công tác tư pháp và cải cách tư pháp
Tác giả người Thái Lan (Quốc tịch Mỹ) Thaveeporn Vassavakul có công
trình “Sectoral Politics and Strategies for State and Party Building from the VII
to the VIII Congresses of the Vietnamese Communist Party (1991-1996), in “Doi Moi: Ten Years after the 1986 Party Congress” (“Lĩnh vực chính trị và chiến lược xây dựng đảng và Nhà nước từ Đại hội VII đến Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991-1996), trong: “Đổi mới: Mười năm sau Đại hội VI”)”[146] Công trình đã trình bày tiến trình đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi đầu từ Đại hội VI với những quyết định trọng đại bắt đầu từ đổi mới
tư duy, rồi kế đến đổi mới các lĩnh vực khác Các đợt tiến hành xây dựng, chỉnh đốn đảng đã đưa lại nhiều kết quả quan trọng để cấu trúc lại bộ máy lãnh đạo ở
cả cấp trung ương và địa phương, tăng quyền cho địa phương, mở rộng sự tham gia của cán bộ trẻ trong bộ máy lãnh đạo, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Tác giả cho rằng hiện tượng Đảng làm thay Nhà nước đã khắc phục được phần nào sau 10 năm tiến hành đổi mới (1986 -1996)
Ưu điểm nổi bật của nhóm nghiên cứu trên đây là trình bày được các quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ nguyên tắc, tiêu chí bổ nhiệm, đặc biệt các phẩm chất của cán bộ tư pháp như “Phụng công thủ pháp, chí công vô tư”-một phẩm chất quan trọng đối với đội ngũ cán bộ tư pháp hiện nay Ngoài ra, các công trình khái quát được cơ sở khách quan của việc Đảng lãnh đạo đối với lĩnh vực tư pháp; nội dung, phương thức và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực tư pháp về chính trị tư tưởng, tổ chức cán bộ, định hướng công tác, nhất là định hướng đường lối xét xử; mối quan hệ giữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo với tính độc lập của tư pháp; hệ thống các các văn kiện của Đảng về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp như Viện Kiểm sát Do vậy, những nghiên cứu này cung cấp một số cách tiếp cận,
Trang 21Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo Nghị quyết số 49 về Chiến lược
cải cách tư pháp Tác giả Phan Hữu Thư với bài viết: “Quan điểm của Đảng và
Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh và đổi mới công tác đào tạo”[160] đã khái quát quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ
cán bộ tư pháp thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII, Nghị quyết
08 của Bộ Chính trị, đặc biệt Nghị quyết 49 về Chiến lược cải cách tư pháp như quan điểm, chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp như đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo; đổi mới cơ chế tuyển dụng; đào tạo phục vụ hội nhập quốc tế; xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn về đào tạo cán bộ tư pháp
Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài “Nghiên cứu một số quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tuyển chọn cán bộ tư pháp” [89; 90] có nêu lên
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta như: việc tuyển chọn cán bộ tư pháp là nhiệm vụ gắn liền với yêu cầu kiện toàn và đối mới hệ thống các cơ quan tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đảm bảo về chất lượng đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp quốc gia và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Tuyển chọn cán bộ tư pháp phải dựa trên các tiêu chuẩn nghiệp vụ trong đó có các tiêu chí cơ bản: có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuyển chọn cán bộ tư pháp phải bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch khách quan, công bằng, đồng thời nghiên cứu từng bước mở rộng nguồn cán bộ tư pháp thực hiện luân chuyển,
Trang 2219
bố trí, sử dụng cán bộ tư pháp một cách hợp lý Tuyển chọn cán bộ tư pháp cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế và vận dụng phù hợp trong điều kiện cụ thể của nước ta
Tác giả người Úc Pip Nicholson trong bài “Vietnamese Jurisprudence:
Informing Court Reform” (Pháp luật Việt Nam: Tác động tới cải cách toà án)
[105] đưa ra một số nhận xét đáng lưu ý Tác giả đã khái quát hoá quá trình ra đời và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; những tác động của Nghị quyết 08-NQ/TW đến các cơ quan tư pháp của Việt Nam, nhấn mạnh đến tính độc lập của toà án và thẩm phán Nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là thẩm phán có trình độ, có năng lực, phẩm chất đáp ứng đòi hỏi của cải cách toà
án Việt Nam
- Nhóm nghiên cứu sự chỉ đạo của Đảng trong thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
Tác giả Trần Đức Lương trong bài“Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng
yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[97] đã nêu
lên nhiều quan điểm mang tính chỉ đạo của nguyên thủ quốc gia cải cách tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về một số nhiệm trọng tâm công
tác tư pháp năm 2002 Từ góc độ thiết chế Chủ tịch nước có vai trò điều phối,
phối hợp giữa lĩnh vực tư pháp với lập pháp và hành pháp, bài viết cũng đề ra
những bước đi và phương thức thực hiện cải cách tư pháp trong những năm tiếp theo; nhấn mạnh đến tăng cường công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, coi đó là khâu đột phá trong cải cách tư pháp
Tác giả Trần Huy Liệu với bài “Những quan điểm chỉ đạo cải cách tư
pháp ở Việt Nam”[95] đã nêu lên các quan điểm chỉ đạo của Đảng trong thực
hiện cải cách tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng như: phải dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 2320
của dân, do dân, vì dân; phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với quá trình đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới hoạt động lập pháp, hành pháp và phát huy sức mạnh của quyền lực nhà nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, các cơ quan tư pháp đặt dưới sự giám sát của
cơ quan dân cử và nhân dân; kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc những thành tựu đạt được, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với đất nước; tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với bước đi vững chắc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp
Công trình của Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Lịch sử Viện kiểm sát
nhân dân Việt Nam” (Sơ thảo)[177] đã nêu lên quá trình quán triệt, vận dụng,
thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ kiểm sát viên như công tác đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm; quản lý; chính sách Công trình khái quát những thành tựu và bài học kinh nghiệm trong quá trình ra đời, phát triển và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ cách mạng, trong đó nhấn mạnh đến các bài học như quán triệt và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tổ chức và hoạt động tập trung thống nhất gắn với nguyên tắc Đảng lãnh đạo; bài học về chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ cơ bản tạo nên sức mạnh của Viện kiểm sát nhân dân…
- Nhóm nghiên cứu về kết quả bước đầu thực hiện chủ trương của Đảng
trong xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
Tác giả Khuất Văn Nga với bài viết “Những chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới”[108] đã khái quát bước đầu việc tuyển chọn và bổ nhiệm
kiểm sát viên giai đoạn 1986-2005, theo tiêu chuẩn mới cao hơn và theo quy trình tuyển chọn mới có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức
Nguyễn Đình Lục với bài viết “Sau ba năm thực hiện chiến lược cải cách
tư pháp” [98] có nhiều nỗ lực phân tích, đánh giá tình hình bước đầu thực hiện
xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp sau ba năm kể từ khi có Nghị quyết 49 Với nhận định: Đội ngũ cán bộ tư pháp đã có sự trưởng thành nhanh chóng cả về số
Trang 2421
lượng và chất lượng và có cố gắng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quá trình cải cách tư pháp như đã đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ tư pháp về chuyên môn nghiệp vụ, cả về giáo dục bồi dưỡng phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp, bài
viết này nhìn vấn đề khá lạc quan, dù trên thực tế khó khăn, lực cản còn rất lớn
Tác giả Hoàng Thế Liên trong bài viết “Cải cách pháp luật và tư pháp vì
sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”[94] nhận định rằng, ngành tư pháp đã triển khai nhiều hoạt động phù hợp
với chức năng của mình để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp Đã cụ thể hoá các chủ trương của Đảng thông qua việc xây dựng các đề án triển khai thực hiện bằng nhiều giải pháp khác nhau để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực như Đề
án “Xây dựng Trường đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật”, Đề án “Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp”
Tác giả Hà Hùng Cường với bài viết “Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [29] nhìn nhận cán bộ tư
pháp trong tổng thể cải cách tư pháp, trong đó đánh giá cán bộ tư pháp đã có sự trưởng thành về số lượng và chất lượng, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp Công tác quy hoạch, rà soát, đánh giá, luân chuyển, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp được thực hiện đồng bộ, bài bản; kết hợp cải thiện từng bước chế
độ, chính sách đãi ngộ với việc xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với các sai phạm của cán bộ, công chức tư pháp Việc đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào quá trình chuẩn hóa từng bước đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên cả
về trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ
- Các nghiên cứu về kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp Đáng
chú ý là nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Hà “Một số kinh nghiệm trong công tác xây
dựng đội ngũ thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” [73] Ở đây, tác giả đã khát
quát thực trạng công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán Toà án nhân dân, chỉ ra
Trang 2522
nguyên nhân hạn chế và đưa ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong xây dựng đội
ngũ thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trên cả về mặt nhận thức và về mặt tổ
chức thực tiễn Tập trung là các kinh nghiệm như: Nhận thức đúng đắn tầm quan
trọng có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng đội ngũ thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khâu đột phá là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán; có lộ trình
và bước đi thích hợp trong xây dựng đội ngũ thẩm phán; đánh giá, sử dụng đúng đắn đội ngũ thẩm phán; quan tâm xây dựng, thực hiện tốt chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ thẩm phán
Công trình của tác giả Pip Nicholson (Quốc tịch Úc) “Borrowing court
systems: the experience of Socialist Vietnam” [106] đã khái quát lịch sử hệ thống
toà án Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống tòa án của Liên Xô và Việt Nam, nguyên nhân của sự tương đồng và sự khác biệt đó Từ đó Việt Nam đã áp dụng kinh nghiệm của Liên Xô trong xây dựng hệ thống toà án Tác giả cho rằng lịch sử của hệ thống tòa án Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005 ảnh hưởng rõ nét bởi mô hình của Liên Xô và mang một bản sắc riêng biệt Do vậy, đội ngũ cán bộ tư pháp cũng được xây dựng theo mô hình này
Nhóm nghiên cứu này bước đầu đã khái quát được những quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong quá trình cải cách tư pháp như về công tác đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn-bổ nhiệm; những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong thực hiện; những kết quả bước đầu khi thực hiện chủ trương của Đảng Tuy nhiên hạn chế của các công trình trong nhóm này là nghiên cứu một cách rời rạc, chưa có hệ thống các vấn đề về Đảng lãnh đạo xây dựng đội cán bộ tư pháp, chưa chỉ ra khoảng cách giữa nghị quyết và vận động của thực tiễn, đặc biệt là chưa làm rõ “đầu vào” của các chủ trương cải cách tư pháp, những nan giải của quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện Nhóm nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu một cách có hệ thống
và tính chính thể về Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp giai đoạn
2001-2011, cung cấp một số tư liệu và cách tiếp cận có giá trị
Trang 2623
1.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
1.2.1 Đánh giá kết quả các công trình đã được công bố
Cải cách tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng
là vấn đề lớn, mang tính thời sự trong giai đoạn hiện nay, vì thế luôn được các nhà chính trị và giới nghiên cứu quan tâm Tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đề đề tài cho thấy, các công trình dưới các góc độ khoa học và trên nhiều bình diện khác nhau đã đề cập đến cải cách tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng Các công trình nghiên cứu
đi sâu luận giải, làm rõ một số vấn đề sau:
- Làm rõ được sự cần thiết và vai trò của công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ tư pháp đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp
- Luận chứng được thực trạng và đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp như công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm, chính sách cán bộ
- Khái quát được sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp, đặc biệt
là nhận diện một số phương thức lãnh đạo đặc thù của Đảng đối với lĩnh vực tư pháp-một lĩnh vực đòi hỏi tôn trọng tính độc lập trong xét xử, công tố
- Hệ thống hóa được một số quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
- Làm rõ một số quan điểm chủ trương, quá trình thực hiện của Đảng, kết quả bước đầu về cải cách tư pháp và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
Kết quả của các công trình nêu trên rất có ý nghĩa cho triển khai nghiên cứu luận án này, đặc biệt là các kế thừa về cách tiếp cận, phương pháp và một số
tư liệu-tài liệu
Tuy nhiên, các công trình trên đều chưa đề cập có hệ thống và đầy đủ về các quan điểm, chủ trương, cũng như sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp (2001-2011) Tình trạng phổ biến là những công trình đề cập đến quan điểm, chủ trương thì chỉ nêu những luận điểm chính, chưa
Trang 2724
chỉ ra bối cảnh, điều kiện lịch sử, “đầu vào” cho hình thành các quan điểm, chủ trương đó, đặc biệt là những lực cản, khó khăn, thậm chí là cả cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng về tư tưởng để ban hành nghị quyết về cải cách tư pháp-một lĩnh vực đụng chạm đến rất nhiều vấn đề nhạy cảm như quyền con người, tính độc lập trong hoạt động… mà nếu thiếu đột phá về tư duy rất khó tiến hành cải cách Càng chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu cơ chế thảo luận, ban hành quyết định đối với các chủ trương, nghị quyết này Đối với những công trình đề cập đến tổ chức thực hiện thì chỉ phản ánh ở các số liệu, những đánh giá định tính một cách chung, mà chưa chỉ ra quá trình khó khăn, nan giải khi có được kết quả
ấy, đặc biệt là những xung đột, những mặt không thành công mang tính cục bộ, tạm thời Các công trình nghiên cứu còn thiếu hệ thống, chủ yếu mang tính đơn
lẻ, phương pháp nghiên cứu liên ngành ít được áp dụng, do chủ yếu là những bài viết nghiên cứu công bố trên tạp chí hoặc các chuyên khảo chuyên ngành Tư liệu thư tịch gốc ít được khai thác phục vụ cho nghiên cứu Những hạn chế trên đây đòi hỏi phải được khỏa lấp bằng các công trình nghiên cứu khác, trong đó có nhiều vấn đề đặt ra và giải quyết trong luận án này
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Từ tổng thuật, phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
đã được trình bày ở trên, câu hỏi nghiên cứu của luận án là:
- Bối cảnh, điều kiện lịch sử từ năm 2001 đến năm 2011 đặt ra yêu cầu, đòi hỏi gì cho cải cách tư pháp và tương thích với nó là xây dựng cán bộ, công chức
tư pháp? Tại sao chúng không thể tiến hành sớm hơn, đồng thời với cải cách lập pháp và cải cách hành chính?
- Lãnh đạo cải cách tư pháp nói chung và xây dựng cán bộ, công chức tư pháp nói riêng bao gồm những nội dung, phương thức gì? Quá trình lịch sử đó
đã giải quyết như thế nào mâu thuẫn giữa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong
mô hình nhà nước thống nhất quyền lực với tôn trọng tính độc lập của các cơ quan pháp?
Trang 2825
- Cải cách tư pháp nói chung và xây dựng cán bộ tư pháp nói riêng là lĩnh vực nhạy cảm, đụng chạm đến các vấn đề quyền con người, tôn trọng tính độc lập của cơ quan tư pháp, trong quá trình lãnh đạo Đảng đã xử lý như thế nào?
- Thực tiễn Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011 có đặc điểm gì và chúng để lại giá trị gì tham khảo trong thực tế?
Từ câu hỏi nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung vào những nội dung chủ
yếu sau:
- Làm rõ yêu cầu khách quan Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp; thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trước năm 2001; những thuận lợi và khó khăn trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
tư pháp
- Tái hiện, phân tích và luận giải làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp (2001-2011), tập trung vào đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, trên các lĩnh vực: đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm và chính sách đối với đội ngũ cán bộ tư pháp
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trên một số lĩnh vực chủ yếu từ năm 2001 đến năm 2011
- Tổng kết kinh nghiệm để vận dụng vào quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong giai đoạn tiếp theo
Trang 2926
Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TƯ PHÁP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
2.1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ TƯ PHÁP (2001-2005)
2.1.1 Khái niệm cán bộ tư pháp và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
tư pháp
2.1.1.1 Khái niệm cán bộ tư pháp
Thuật ngữ cán bộ tư pháp được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh công cuộc cải cách tư pháp đang diễn ra hiện nay Để
lý giải khái niệm này, trước hết phải làm rõ một số khái niệm liên quan sau đây
Theo Từ điển Tiếng việt “tư pháp là việc xét xử các hành vi phạm pháp
và các vụ kiện tụng trong nhân dân”[104, tr.1034] Trong Từ điển Bách khoa
Việt Nam, thuật ngữ tư pháp được giải thích ở nghĩa rất rộng Theo đó, “tư pháp” là khái niệm dùng để chỉ các cơ quan tòa án, việc xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng trong nhân dân, hoạt động của các cơ quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và thi hành án Khái niệm tư pháp như trên vừa chỉ chủ thể (các cơ quan tòa án), vừa chỉ hoạt động xét xử của cơ quan đó và hoạt động của các cơ quan khác như cơ quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và
thi hành án Hẹp hơn nhận thức trên, Từ điển Luật học định nghĩa tư pháp là
công việc tổ chức giữ gìn, bảo vệ pháp luật Theo Rouseau J.J: “Tư pháp là cơ quan thiêng liêng nhất và được coi trọng nhất vì nó bảo vệ pháp luật, mà luật
do cơ quan quyền lực tối cao ban hành và do chính phủ chấp hành”[120, tr.23] Theo nghĩa rộng nhất, tư pháp là sự công bằng, công lý và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm sự công bằng, bảo vệ nền công lý
Quyền tư pháp, theo Từ điển Luật học là “quyền xét xử các vụ án hình
sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, hành chính…”[165, tr.657] Hoặc “là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động
Trang 3027
phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật”[30; tr.11] Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, là thống nhất, không phân chia, do vậy, quyền tư pháp là một trong ba bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước Quyền tư pháp được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa hẹp là quyền xét xử của toà án; theo nghĩa rộng là bao gồm quyền xét xử của toà án cũng như hoạt động bảo vệ pháp luật của cơ quan điều tra, viện kiểm sát,
cơ quan thi hành án nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và duy trì nền công lý Để đảm bảo sự vận hành của nền tư pháp và giúp cho toà án đưa ra những phán quyết công minh, kịp thời đúng pháp luật cần có sự tham gia của luật sư, công chứng, giám định tư
pháp, những hoạt động này gọi là bổ trợ tư pháp Trong khuôn khổ phạm vi của
luận án, khái niệm quyền tư pháp được hiểu theo nghĩa rộng
Cơ quan tư pháp, căn cứ vào các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt
động bộ máy nhà nước cũng như các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá VII; Văn kiện Đại hội hội VIII; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá VIII; Văn kiện Đại hội IX; Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp; Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2013 Theo đó, quan niệm cơ quan tư pháp bao gồm toà án nhân dân; viện kiểm sát nhân dân; cơ quan điều tra; cơ quan thi hành án Những
cơ quan này thực hiện các hoạt động theo trình tự tố tụng Cơ quan Bộ Tư pháp không thực hiện quyền lực tư pháp mà là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực
tư pháp, thuộc lĩnh vực hành pháp
Hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện quyền tư pháp, bao gồm các hoạt điều tra; hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố;
Trang 3128
hoạt động xét xử; hoạt động thi hành án Trong đó, hoạt động xét xử của toà án
là trung tâm của quá trình hoạt động tư pháp
Cải cách tư pháp là việc tiến hành những cải cách trên lĩnh vực tư pháp
nhằm xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đối tượng của cải cách tư pháp theo nghĩa hẹp là toàn bộ hệ thống và hoạt động thực tiễn của đội ngũ toà án, đội ngũ thẩm phán và các quy định pháp luật có liên quan; theo nghĩa rộng, là toàn bộ hệ thống toà án, các cơ quan bảo vệ pháp luật như điều tra, truy tố, thi hành án, các cơ quan bổ trợ tư pháp cũng như các quy định của pháp luật có liên quan
Từ những phân tích lập luận trên, cán bộ tư pháp được quan niệm là
những công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm để giao giữ một nhiệm vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan tư pháp, có nhiệm vụ quyền hạn trong việc thực hiện quyền tư pháp và trực tiếp tham gia hoạt động khởi tố điều tra, điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án
Đối tượng cán bộ tư pháp được tập trung nghiên cứu trong luận án này
gồm: Thẩm phán là những người làm công việc xét xử chuyên nghiệp, được
tuyển chọn theo một quy trình chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan
toà án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh nhà nước Kiểm sát viên là người
đại diện cho Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tư pháp
2.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ tư pháp
Là người sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một sự quan tâm đặc biệt đối với ngành tư pháp và đội ngũ cán bộ tư pháp Người khẳng định: Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền và tư pháp có tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt người dân mới có được hệ thống pháp luật bảo vệ Biểu hiện tập trung nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ tư pháp, là những tư tưởng về phẩm chất đối với cán bộ tư pháp Đó là lòng trung thành vô hạn đối với dân tộc, đối với Đảng, với nhân dân, là ý thức
Trang 3229
phục vụ nhân dân vô điều kiện Đó là thực hiện “Công minh, chính trực, khiêm
tốn, thận trọng, khách quan” và “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” Đây là
các các yếu tố không thể thiếu đối với cán bộ tư pháp “Công minh” là sự công bằng, sáng suốt Trong quá trình thực hiện công vụ, cán bộ tư pháp phải đối
diện với những áp lực và cám dỗ từ những yếu tố tinh thần, tình cảm, vật chất, nếu không đủ bản lĩnh, mất đi sự sáng suốt có thể đưa ra những quyết định, kết luận thiếu chính xác dẫn đến việc không đảm bảo sự nghiêm minh và công
bằng của luật pháp, khiến cho công lý không được thực thi “Chính trực” là
bản tính ngay thẳng, cương trực, có ý chí, đã quyết nói và làm rồi không bao giờ hối tiếc; luôn đứng về lẽ phải, bênh vực và bảo vệ cái đúng; trung thành với
lý tưởng, có niềm tin vững chắc “Khiêm tốn” là luôn đánh giá đúng bản thân
mình, không tự mãn, tự kiêu, phấn đấu học hỏi để cầu tiến bộ không cho mình là hơn người, hơn đời, biết tôn trọng ý kiến người khác, lắng nghe ý kiến tập thể
“Thận trọng” là làm việc có đắn đo, suy tính cẩn thận trong hành động để tránh sai sót; thận trọng mà không chậm trễ, phải đáp ứng được yêu cầu công việc; suy nghĩ
kỹ để đảm bảo giữ vững đúng chủ trương, đường lối Người luôn nhắc nhở cán bộ: “Tự mình phải hay nghiên cứu, xem xét; vị công vong tư; không hiếu danh, nói thì phải làm” [88; tr.260] “Khách quan” là không phụ thuộc vào ý chí và nhận thức chủ quan của một cá nhân nào, mà phải biết chấp nhận, giải quyết vấn
đề nảy sinh trong hoàn cảnh cụ thể, phải lắng nghe các ý kiến; cần linh hoạt, nhạy bén, sẵn sàng đối phó với những bất ngờ xảy đến Người cũng nhấn mạnh làm việc phải xem xét hoàn cảnh kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm
Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc tháng 2/1948, Hồ Chí Minh viết: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật Lẽ tất nhiên các bạn
phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo”[88; tr.382] “Phụng công” nghĩa là tôn thờ lẽ công bằng, tôn thờ công
lý, không thiên lệch; là phải biết trách nhiệm của mình được Nhà nước và nhân dân giao cho quyền thực thi pháp luật, làm việc để phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân Tôn thờ công lý là yêu cầu của bất cứ người nào nắm quyền lực công,
Trang 33mà bẻ cong, làm trái pháp luật; cần phải thực thi pháp luật cho rõ ràng, minh
bạch, khách quan “Chí công, vô tư” theo đúng quy định của pháp luật; là hết
mực công tâm; là không vì lợi ích riêng tư nào Muốn “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” thì trước hết người cán bộ tư pháp phải có bản lĩnh, có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và cái tâm trong sáng Đó chính là nền tảng cho việc xây dựng một nền tư pháp thật sự độc lập sau này
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ tư pháp hết sức gần gũi và thiết thực đối với người làm công tác tư pháp Đó là lòng trung thành vô hạn đối với dân tộc, đối với Đảng, với nhân dân, là ý thức phục vụ nhân dân vô điều kiện Đó là tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa, tất cả vì con người, là lòng vị tha, cao thượng Trong đó, đặc biệt quan điểm về “Công minh, chính trực, khiêm tốn, thận trọng,
khách quan” và “phụng công thủ pháp, chí công vô tư” phản ánh tinh thần minh
triết về xây dựng một nền tư pháp nhân văn và hiện đại, vì con người Đây là
những phẩm chất quan trọng đối với người cán bộ tư pháp, là cơ sở lý luận định hướng trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp giai đoạn
là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới,
Trang 3431
nhất là đổi mới về kinh tế Các quan hệ kinh tế trong cơ chế thị trường luôn nảy sinh những tiêu cực, đòi hỏi Nhà nước phải giải quyết các tranh chấp kinh tế thông qua hệ thống tư pháp và pháp luật Một điều tất yếu là, khi nền kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện, tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau thì số lượng các quan hệ xã hội, giao lưu kinh tế diễn ra ngày càng phong phú và đa dạng hơn, trình độ dân trí, trình độ pháp luật của nhân dân ngày càng cao hơn; theo đó, tổ chức cá nhân biết sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền và lợi ích của mình ngày càng tăng Vì vậy, số lượng cũng như tính phức tạp của các
vụ án tranh chấp dân sự, hành chính, kinh tế, thương mại, hôn nhân gia đình cũng như yêu cầu dân sự mà các cơ quan tư pháp giải quyết ngày càng tăng đáng
kể Đồng thời, tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội, tranh chấp, vi phạm pháp luật tiếp tục diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch vẫn chống phá Đảng và Nhà nước ta quyết liệt Tệ nạn tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đối với
sự tồn vong của chế độ và gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Hoạt động tội phạm có tổ chức, với sự liên kết giữa các băng, nhóm tội phạm trong và ngoài nước xảy ra nhiều hơn Những tội phạm phi truyền thống như đầu cơ chứng khoán, rửa tiền, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên biên
giới… tạo ra cả mối đe dọa uy hiếp trực tiếp đến an ninh con người và an ninh
quốc gia Tình hình này đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi
hỏi công tác bảo vệ pháp luật phải có những chuyển biến mạnh mẽ và phấn đấu đạt được mục tiêu xây dựng nền tư pháp công bằng, dân chủ, nghiêm minh Điều
đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ tư pháp phải được bảo đảm về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và cấp bách nhất là nâng cao về chất lượng để đáp ứng được yêu cầu của xã hội Bên cạnh đó xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp góp phần tạo tính đồng bộ hóa với cải cách lập pháp, hành chính và tư pháp Giữa các lĩnh vực đó có mối quan hệ khăng khít với nhau, đòi hỏi phải được triển khai thực hiện cải cách nhịp nhàng, cái này làm tiền đề cho cái kia Có như vậy mới khắc phục được tình trạng cắt khúc, khép kín và rời rạc trong thực hiện các giải pháp cải cách nhà nước như hiện nay
Trang 35và hoạt động trên cở sở hiến pháp và pháp luật và bảo đảm cho hiến pháp và pháp luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm quyền con người và quyền công dân; theo thể chế do một Đảng lãnh đạo và có sự giám sát của nhân dân
Cải cách tư pháp giai đoạn 2001-2005 đã được Đảng ta đề ra trong Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” mà trọng tâm là nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp Viện kiểm sát các cấp phải thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Hoạt động công
tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư,người bào chữa và với những người tham gia tố tụng khác…Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình Toà án các cấp khi xét xử phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các
Trang 36Với những nội dung nêu trên đặt ra cơ hội và thách thức rất lớn cho đội ngũ cán bộ tư pháp Từ đó phải nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác cán bộ tư pháp, để có sự đổi mới mạnh mẽ hơn, có biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, để tạo sự chuyển biến hiệu quả hơn trong hoạt động tư pháp Việc đổi mới đội ngũ cán bộ tư pháp phải tiến hành từ công tác đào tạo, tuyển chọn, bố trí, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức Muốn làm tốt điều này cần
có sự đánh giá một cách thực chất hơn, cụ thể hơn đội ngũ cán bộ tư pháp và công tác quản lý tư pháp, nhất là trong điều kiện thực hiện cải cách tư pháp quốc gia; phải có chủ trương cán bộ phù hợp với tình hình mới, có những chính sách
cụ thể để phát huy những mặt tốt, những khả năng trong hệ thống tổ chức và trong mỗi cán bộ tư pháp Kịp thời phát hiện và ngăn chặn những bất cập, suy thoái trong cán bộ các cấp khi thực hiện cơ chế mới với nhiều thành phần kinh tế
và mở cửa hội nhập quốc tế
2.1.2.3 Yêu cầu về dân chủ hóa đời sống xã hội và hội nhập quốc tế
Xu thế dân chủ hoá trên thế giới là sự gia tăng số lượng các quốc gia tham gia vào quá trình dân chủ trên cơ sở tự do hoá nền kinh tế, thừa nhận các quyền
tự do, dân chủ của công dân, xây dựng và hoàn thiện các thể chế dân chủ Xu thế này bắt đầu từ việc nhận thức về vị trí và tầm quan trọng của dân chủ, các nội
Trang 3734
dung và hình thức thực hiện dân chủ; từ việc tuyên truyền, giáo dục về dân chủ
Xu thế dân chủ đòi hỏi phải giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá
xã hội như là những tiền đề vật chất và tinh thần cho dân chủ Quá trình dân chủ hoá nhằm các mục tiêu hiện thực hoá các quyền con người, quyền công dân và được thực hiện trên cơ sở xây dựng một nhà nước pháp quyền Xây dựng nhà nước pháp quyền chính là một xu hướng chung của việc đổi mới các nhà nước hiện nay và nhằm chống lại sự độc đoán chuyên quyền, sự tha hoá quyền lực, trả lại vị thế chủ thể của nhân dân trong quá trình phát triển xã hội Có thể nói, xu thế dân chủ, pháp quyền là một tất yếu, là mục tiêu thiên niên kỷ mà nhân loại hướng tới với những hy vọng lớn nhất Ở nước ta, từ khi đổi mới, Đảng ta xác định xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Dân chủ trở thành động lực và mục tiêu của sự nghiệp đổi mới Quá trình dân chủ hoá ở nước ta không thể không chịu sự tác động của các nước trên thế giới Một trong những kinh nghiệm của các nước là xây dựng hệ thống các thể chế dân chủ-cơ sở pháp lý để nhà nước hành động có hiệu quả đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và là cơ sở pháp lý để nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Do vậy, cải cách chính trị, trong đó có cải cách tư pháp gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp có trình độ, phẩm chất chính là nhằm đáp ứng xu thế này và chỉ khi nào người cán bộ tư pháp thật sự công tâm, khách quan mới đảm được dân chủ, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân thông qua hệ thống tư pháp Xu thế dân chủ, pháp quyền đang diễn ra trên thế giới đòi hỏi các quốc gia phải tự đổi mới, nhất là cải cách lĩnh vực tư pháp-một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến con người và thể hiện sự dân chủ trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của các nước Xu thế này ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của Đảng khi lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới, trong đó tư pháp là một lĩnh vực
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập diễn ra
Trang 3835
dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Hội nhập quốc tế đã là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển Đối với đổi mới ở nước ta, Đảng đã chủ trương mở cửa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, đặt đổi mới và phát triển nước ta trên con đường đồng thuận với các trào lưu cải cách, tiến bộ của thế giới Do vậy, trong giai đoạn này, Việt Nam đã hội nhập một cách sâu rộng bằng việc tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, đặc biệt là WTO Do vậy, các quan hệ về hợp đồng dân
sự, thương mại, lao động… ngày càng phát triển sôi động, phong phú và đa dạng Cùng với đó là sự gia tăng của các tranh chấp, nhất là các tranh chấp có yếu tố nước ngoài như thương mai, dân sự, sở hữu trí tuệ khi đất nước hội nhập, tội phạm hình sự xuất hiện các yếu tố quốc tế đòi hỏi rất cao về trình độ ngoại ngữ, tin học đối với đội ngũ cán bộ tư pháp Mặt khác, nền tư pháp còn chậm theo kịp sự đòi hỏi của quá trình dân chủ hoá xã hội, nhất là bảo vệ quyền con người trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi phải tiếp tục
có những đổi mới quan trọng Những thách thức đặt ra cho Việt Nam khi hội nhập là xuất phát điểm nước ta thấp; nhiều vấn đề xã hội phát sinh trong kinh tế thị trường chậm được phát hiện và giải quyết một cách hiệu quả; các thế lực nước ngoài không từ bỏ âm mưu diễn biến hoà bình chống phá cách mạng, thực hiện bạo loạn, lật đổ Để tiếp tục khai thác và tận dụng thời cơ và vượt qua các thách thức, nguy cơ trong phát triển, Việt Nam phải đẩy mạnh đổi mới, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, kết hợp được nội lực và ngoại lực, xây dựng và phát triển đi liền với củng cố và bảo vệ
từ kinh tế, chính trị, văn hoá đến an ninh quốc phòng Mấu chốt là vấn đề giữ vững địa vị lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản và phải xây dựng được một Nhà nước pháp quyền đủ mạnh, đủ sức để vượt qua quan liêu, tham nhũng, không gây phản ứng và bất bình trong nhân dân, dẫn tới những phản cảm xã hội làm suy giảm và triệt tiêu động lực phát triển Quá trình hội
Trang 3936
nhập cũng đặt ra những sức ép gay gắt đối với cải cách tư pháp nhằm thực hiện các cam kết tư pháp mà Việt Nam đã ký kết, gắn với nó là những sửa đổi thể chế, luật pháp, bộ máy và con người trong các cơ quan tư pháp Xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ tư pháp nói riêng vững mạnh chính là điều kiện
để đảm bảo thật sự quyền dân chủ, quyền con người, quyền công dân đáp ứng cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
2.1.2.4 Tình hình xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trước năm 2001
- Nhận thức và chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, các cơ quan tư pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được thành lập để thực hiện những nhiệm vụ trong mỗi thời kỳ của cách mạng Hoạt động của đội ngũ cán bộ tư pháp và mô hình tổ chức của cơ quan tư pháp trong kháng chiến chống thực dân Pháp và trong những năm đầu xây dựng miền Bắc sau hòa bình lập lại được xây dựng theo các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 Từ năm 1960 đến năm 2000, Đảng đã ban hành một số văn bản xác định chủ trương, quan điểm chỉ đạo đối với công tác tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng như Thông Tri số 13-TT/TW của Ban Bí thư ngày 12/12/1960 về “Tăng cường lãnh đạo công tác kiểm sát”[178, tr.34]; Nghị quyết số 68/NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01/02/1963 về “Công tác kiểm sát” [178, tr.38]; Thông báo số 07-
TB/TW, ngày 16/05/1978 ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư về “Công tác của viện
kiểm sát nhân dân và toà án nhân dân” [178, tr.71]; Chỉ thị số 57-CT/TW của
Ban Bí thư, ngày 30/01/1985 về “Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát, toà án, tư pháp” [178, tr.98] Đội ngũ cán bộ tư pháp thời kỳ trước đổi mới đã góp phần quan trọng trong công cuộc giải phóng dân tộc và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên do những điều kiện lịch sử nhất định mà đội ngũ cán bộ tư pháp vẫn chưa được chú trọng, quan tâm xây dựng đúng mức
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng khởi xướng công
cuộc đổi mới toàn diện Đảng đã chủ trương đổi mới công tác cán bộ nói chung gắn liền với quá trình cải cách và hoàn thiện bộ máy của Nhà nước Đại hội VI
Trang 4037
coi trọng việc cán bộ tư pháp khi xét xử phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
và các cấp ủy đảng, từ trên xuống dưới, phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp chế, tăng cường cán bộ có phẩm chất và năng lực cho lĩnh vực pháp chế, và kiểm tra chặt chẽ hoạt động của các cơ quan pháp chế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) chủ trương “Tăng cường
hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân Bảo đảm các điều kiện và
phương tiện cần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp luật làm tốt nhiệm vụ” [32, tr.92] Hội nghị Trung ương hai khoá VII (11/1991) lần đầu tiên chủ trương đổi mới chế độ bầu cử thẩm phán thành chế độ bổ nhiệm Quyết định số 47-QĐ/TW
của Bộ Chính trị ngày 14/11/1992 về “Thành lập Ban Cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao” [178, tr.132] Đảng đã ban hành nhiều văn bản thể hiện sự lãnh
đạo đối với công tác tư pháp như: Báo cáo số 17-BC/NCTW của Ban Nội chính
Trung ương ngày 24/09/1993 về “Kết quả kiểm tra việc chấp hành đường lối, quan điểm của Đảng trong hoạt động điều tra, bắt giam, giữ, truy tố, xét xử, thi hành án (Trình cuộc họp Ban Bí Thư ngày 24/09/1993)” (trích) [178, tr.135];
Chỉ thị số 29-CT/TW, ngày 8/11/1993 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật” [178, tr.162]; Chỉ thị số
34-CT/TW, ngày 18/3/1994 của Ban Bí thư về “Sự lãnh đạo của Đảng đối với việc
tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán tòa án nhân dân, thẩm phán tòa án quân sự các cấp”[126, tr.48] Chỉ thị khẳng định việc quy định thẩm phán tòa án các cấp do Chủ tịch nước bổ nhiệm thay cho chế độ bầu hoặc cử thẩm phán là sự đổi mới quan trọng nhằm thực hiện thống nhất tiêu chuẩn thẩm phán, nâng cao vị trí người thẩm phán trong hệ thống chính trị của Nhà nước Các cấp ủy và tổ chức đảng ở các cấp, các ngành có liên quan cần nghiên cứu nắm vững tiêu chuẩn
tuyển chọn thẩm phán Hội nghị Trung ương tám khoá VII (1/1995) chủ trương
đề cao trách nhiệm của người ra lệnh và thừa hành đối với việc bắt giữ, xét xử oan sai, đồng thời minh oan công khai, thoả đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử sai, bảo đảm quyền công dân đúng pháp luật