1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lởi Nghiên cứu điển hình các công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.PDF

119 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích đưa ra được cái nhìn bao quát về các hoạt động cũng như tình hình thực tế của ngành BĐS tại Việt Nam hiện nay mà cụ thể là các vấn đề xung quanh khả năng thanh toán và khả n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN THỊ THANH VÂN

MÃ SINH VIÊN : A18915 CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

Giáo viên hướng dẫn : Th.s Chu Thị Thu Thủy Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thanh Vân

Mã sinh viên : A18915 Chuyên ngành : Tài chính

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được

sự giúp đỡ cũng như động viên từ nhiều phía Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giáo viên hướng dẫn của em – ThS Chu Thị Thu Thủy Cô chính là người đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận này Ngoài ra, em cũng mong muốn thông qua khóa luận này, gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo đang giảng dạy tại trường Đại học Thăng Long, những người đã truyền đạt cho em các kiến thức về kinh tế từ những môn học cơ bản nhất, giúp em có được nền tảng về chuyên ngành học như hiện tại để có thể hoàn thành

đề tài nghiên cứu này Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình và những người bạn của em

đã luôn bên cạnh, giúp đỡ và ủng hộ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên Trần Thị Thanh Vân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của ngươi khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Trần Thị Thanh Vân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI KHẢ NĂNG SINH LỜI 6

2.1 Tổng quan chung về khả năng thanh toán 6

2.1.1 Khái niệm về khả năng thanh toán 6

2.1.2 Chỉ tiêu đo lường KNTT của doanh nghiệp 9

2.1.2.1 Khả năng thanh toán trong ngắn hạn 9

2.1.2.1 Khả năng thanh toán trong dài hạn 14

2.2 Tổng quan chung về khả năng sinh lợi 17

2.2.1 Khái niệm khả năng sinh lợi 17

2.2.2 Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp 18

2.3 Mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp 21

2.3.1 Lý thuyết đánh đổi (trade -off theory) 21

2.3.2 Giả thuyết củaHirigoyen (Hirigoyen hypothesis) 25

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Quy trình nghiên cứu 27

3.2 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu 29

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 29

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 29

3.3 Các biến nghiên cứu và đo lường các biến nghiên cứu 31

3.3.1 Biến đại diện cho KNSL 31

Trang 6

3.3.2 Biến đại diện cho KNTT 32

3.3.3 Mô hình nghiên cứu 32

3.3.4 Các giả thuyết nghiên cứu 33

3.4 Mô tả mẫu nghiên cứu 35

3.4.1 Đặc trưng của ngành bất động sản 35

3.4.2 Thiết kế mẫu 36

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 37

4.1 Thực trạng khả năng thanh toán 37

4.1.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn 37

4.1.1.1 Khả năng thanh toán hiện hành 37

4.1.1.2 Khả năng thanh toán nhanh 39

4.1.1.3 Khả năng thanh toán bằng tiền 41

4.1.1.4 Thời gian quay vòng của tiền 43

4.1.2 Khả năng thanh toán dài hạn 45

4.1.2.1 Tỷ số nợ trên Tổng tài sản 45

4.1.2.2 Tỷ số tài sản dài hạn trên nợ dài hạn 47

4.2. Thực trạng khả năng sinh lợi 48

4.2.1 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) 48

4.2.2 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) 50

4.2.3 Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI) 51

CHƯƠNG 5: NỘI DUNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54

5.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 54

5.2 Kết quả kiểm tra dữ liệu 57

5.2.1 Kiểm định đa cộng tuyến 57

5.2.2 Kiểm định tự tương quan 58

5.3 Phân tích hệ số tương quan Pearson (r) 59

5.4 Phân tích hồi quy tuyến tính 62

Trang 7

5.4.1 Đánh giá tác động của KNTT đến KNSL 62

5.4.1.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình (R 2 ) 62

5.4.1.2 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 62

5.4.1.3 Kiểm định các nhân tố tác động 64

5.4.2 Đánh giá tác động của KNSL đến KNTT 69

5.4.2.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình (R 2 ) 69

5.4.2.2 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 70

5.4.2.3 Kiểm định các nhân tố tác động 71

5.4.3 Kết quả của mô hình 76

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 78

6.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 78

6.2 Một số hạn chế của đề tài nghiên cứu 79

6.3 Một số kiến nghị 79

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt Tên đầy đủ

ACP Thời gian thu tiền trung bình ACIDR Khả năng thanh toán bằng tiền APP Thời gian trả nợ trung bình

CCC Thời gian quay vòng tiền

CR Khả năng thanh toán hiện hành

HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội HOSE Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ICP Thời gian lưu kho trung bình

KNTT Khả năng thanh toán

LDR Tỷ số nợ dài hạn trên tài sản dài hạn

LR Tỷ số tài sản dài hạn trên nợ dài hạn ROA Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROE Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROI Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư ban đầu TTCK Thị trường Chứng khoán

GDP Tổng thu nhập quốc nội

QR Khả năng thanh toán nhanh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC

Bảng 4 1 Thống kê tỷ số KNTT hiện hành giai đoạn 2011-2013 37

Bảng 4 2 Thống kê KNTT hiện hành giai đoạn 2011-2013 39

Bảng 4 3 Thống kê KNTT bằng tiền giai đoạn 2011 - 2013 42

Bảng 4 4 Thống kê thời gian quay vòng tiền giai đoạn 2011-2013 43

Bảng 4 5 Thống kê thời gian thu tiền, thời gian lưu kho, thời gian trả tiền trung bình giai đoạn 2011-2013 43

Bảng 4 6 Thống kê tỷ số nợ trên tổng tài sản giai đoạn 2011-2013 45

Bảng 4 7 Thống kê tỷ số tài sản dài hạn trên nợ dài hạn giai đoạn 2011-2013 47

Bảng 4 8 Thống kê ROA giai đoạn 2011-2013 48

Bảng 4 9 Thống kê ROE giai đoạn 2011-2013 50

Bảng 4 10 Thống kê ROI giai đoạn 2011-2013 51

Bảng 5 1 Kết quả thống kê mô tả 54

Bảng 5 2 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho các biến độc lập 57

Bảng 5 3 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho các biến độc lập 57

Bảng 5 4 Kết quả kiểm định tự tương quan của 3 mô hình 58

Bảng 5 5 Kết quả kiểm định tự tương quan của 3 mô hình 58

Bảng 5 6 Ma trận hệ số tương quan Pearson (r) 59

Bảng 5 7 Kết quả đánh giá độ phù hợp (R2) của 3 mô hình 62

Bảng 5 8 Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình (Sig.) của 3 mô hình 63

Bảng 5 9 Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình với biến phụ thuộc ROA 64

Bảng 5 10 Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình với biến phụ thuộc ROE 65

Bảng 5 11 Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình với biến phụ thuộc ROI 66

Bảng 5 12 Tổng kết kết quả phân tích ảnh hưởng của KNTT lên KNSL của doanh nghiệp dựa trên số liệu thực tế của các công ty cổ phần ngành BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam (2009 – 2013) 69

Bảng 5 13 Kết quả đánh giá độ phù hợp (R2) của 4 mô hình 70

Bảng 5 14 Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình (Sig.) của 4 mô hình 70

Bảng 5 15 Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình với biến phụ thuộc QR 71

Bảng 5 16 Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình với biến phụ thuộc ACIDR 72

Bảng 5 17 Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình với biến phụ thuộc CCC 73

Bảng 5 18 Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình với biến phụ thuộc LDR 74

Trang 10

Hình 2 1 Thời gian quay vòng của tiền 13

Hình 4 1 Doanh nghiệp có hàng tồn kho lớn nhất trên sàn chứng khoán 41 Phụ lục 0 1 Danh sách mã chứng khoán các Công ty Cổ phần ngành BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam 83Phụ lục 0 2 Thống kê KNTT hiện hành và KNTT nhanh của các doanh nghiệp ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (2009-2013) 85Phụ lục 0 3 Thống kê thời gian quay vòng tiền của các doanh nghiệp ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (2009-2013) 89Phụ lục 0 4 Thống kê KNTT bằng tiền của các doanh nghiệp ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (2009-2013) 92Phụ lục 0 5 Thống kê tỷ số nợ dài hạn trên TSDH và tỷ số TSDH trên nợ dài hạn của các doanh nghiệp ngành BDDS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (2009-2013) 95Phụ lục 0 6 Tỷ lệ sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ sinh lợi trên vốn CSH (ROE) của các doanh nghiệp ngành BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam 99Phụ lục 0 7 Tỷ lệ sinh lợi trên vốn đầu tư ban đầu (ROI) của các doanh nghiệp ngành BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam 103

Sơ đồ 3 1 Quy trình nghiên cứu 27

Sơ đồ 3 2 Mô hình nghiên mối quan hệ giữa KNTT và KNSL của các công ty cổ phần ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 32

Trang 11

Trong hoàn cảnh nền kinh tế toàn cầu nói chung và của Việt Nam nói riêng còn phải đối mặt với nhiều khó khăn như hiện nay, ngành bất động sản- một trong những ngành chủ chốt thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng rất lớn Nhìn lại ngành BĐS Việt Nam giai đoạn 2008-2014, có thể thấy có rất nhiều biến

Trang 12

động Năm 2008, đứng trước thực trạng bong bóng thị trường BĐS ngày càng lớn với

tỷ lệ lạm hát tăng cao, Chính phủ đã phải tiến hành điều tiết thị trường cùng với việc kiểm soát tín dụng chặt chẽ Tuy nhiên ngay sau đó thị trường BĐS miền Nam bị ảnh hưởng và suy giảm cả về số lượng giao dịch lẫn và giá trị, thị trường BĐS ở miền Bắc

bị ảnh hưởng không đáng kể do có đủ vốn Giao dịch chững lại nhưng giá cả chỉ sụt giảm 10% Sang năm 2009, Nghị định 71 và 69 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có sửa đổi và việc thu thuế sử dụng đất càng làm cho thị trường ảm đạm hơn Năm 2011, tăng trưởng tín dụng bị giới hạn ở mức 20%, dư nợ tín dụng cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất bị giới hạn ở mức 16% Các chính sách của chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô càng làm cho thị trường BĐS ngày một đình trệ Năm

2012, các doanh nghiệp BĐS cạnh tranh rất khốc liệt Hàng loạt công ty dịch vụ môi giới BĐS đóng cửa trong khi các nhà đầu tư tuyên bố phá sản hoặc phải rao bán dự án Năm 2013, ngành BĐS tiếp tục gặp khó khăn trong bối cảnh giao dịch ảm đạm, hàng tồn kho cao và nợ xấu chưa được giải quyết.trong tình hình này, chính phủ ban hành một loạt các biện pháp để thúc đẩy thị trường Đến cuối năm 2013, những tồn đọng thị trường đã bước đầu được giải quyết và một số điểm sáng đã được hé lộ Những tháng đầu năm 2014, ngành BĐS có nhiều biến chuyển rất tích cực.Tuy nhiên sau đó có sự kiện hạ đặt giàn khoan cùng một số nguyên nhân nội tại khiến thị trường BĐS lại rơi vào khó khăn

Với mục đích đưa ra được cái nhìn bao quát về các hoạt động cũng như tình hình thực tế của ngành BĐS tại Việt Nam hiện nay mà cụ thể là các vấn đề xung quanh khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp, tác giả đã lựa chọn thực

hiện đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp của mình là “Mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi: Nghiên cứu điển hình các công ty cổ phần ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

Nội dung Khóa luận được chia thành sáu chương như sau:

Chương 1: Mở đầu Chương 2: Tổng quan lý thuyết về KNTT trong mối quan hệ với KNSL Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Thực trạng khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi trong các doanh nghiệp BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 5: Nội dung kết quả nghiên cứu Chương 6: Kết luận và một số kiến nghị

Trang 13

1

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn khủng hoảng, các ngành công nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc suy thoái này, trong đó có ngành bất động sản Nhận định bất động sản là một ngành xương sống của nền kinh tế Việt Nam là hoàn toàn chuẩn xác Trong mấy thập niên vừa qua,thực tế trên thế giới và ở nước ta cho thấy, bất động sản phát triển lành mạnh, ổn định sẽ kéo theo sự thịnh vượng của nền kinh tế Ngược lại, thị trường bất động sản bị khủng hoảng cũng kéo theo sự khủng hoảng của nền kinh tế Tỷ trọng BĐS trong tổng số của cải của xã hội ở các nước tuy khác nhau nhưng đều chiếm trên dưới 40% lượng của cải vật chất của mỗi nước Các hoạt động liên quan đến BĐS chiếm tới 30% tổng hoạt động của nền kinh tế Có thể thể nói ngành BĐS có tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu nền kinh tế của nước ta và đang có xu hướng ngày càng tăng cao Những năm vừa qua, mặc dù kinh tế còn gặp nhiều khó khăn song ngành BĐS đã có dấu hiệu phục hồi trở lại, cho thấy tiềm năng phát triển của ngành Tính đến 14/03/2014, vốn hóa thị trường của các công ty đạt 125 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,6 % tổng vốn hóa thị trường, chỉ số ngành BĐS đã có đợt tăng giá cao hơn thị trường với mức tăng trung bình là 30,8% so với đầu năm, trong khi VN-Index

và HNX-Index tăng lần lượt là 18,3% và 24,5 % Tất cả các chỉ số kinh tế và chỉ số luồng tiền trước 01/05/2014 đều thịnh vượng Điển hình là chỉ số chứng khoán đã vượt qua 600 điểm; nguồn tiền ngân hàng vào thị trường BĐS đã tăng hơn 30% từ 200 lên

268 ngàn tỷ đồng; tiền từ kiều hối đã vượt qua mức 10 tỷ USD, nguồn tiền trong dân

đã quay lại thị trường; hiện tượng chênh lệch giá mua đã xuất hiện và các dự án đã bán được sản phẩm (kể cả dự án trầm lắng rất lâu) Những con số đó đã phần nào cho thấy tiềm năng đáng kể của ngành sau những ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh

tế toàn cầu năm 2008

Trong nền kinh tế thị trường, cùng với những thành công đã đạt được vẫn tồn tại những khó khăn mà rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực BĐS đang gặp phải trong quá trình hoạt động, làm kìm hãm sự tăng trưởng như sự thiếu hụt vốn để thực hiện dự án, việc mất cân bằng cung cầu, mức giá cả không hợp lý, những chính sách không phù hợp với tình hình thực tế, sự suy giảm niềm tin vào thị trường, các rủi

ro tài chính như không trả được nợ hay không đảm bảo được KNTT và KNSL…Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có thể là do sự thiếu hiểu biết, không nắm vững kiến thức xung quanh vấn đề quản lý vốn lưu động cũng như các yếu tố tác động lên KNTT và KNSL của doanh nghiệp Do đó đặt ra yêu cầu phải tìm hiểu mối quan hệ giữa KNTT và KNSL nhằm giúp doanh nghiệp có thể đảm bảo được khả năng

Trang 14

thanh khoản cũng như tối đa hóa lợi nhuận Hiểu được mối quan hệ giữa KNTT và KNSL cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ có thể thực hiện tốt chức năng tài chính Chức năng tài chính là đảm nhận việc giao dịch và ghi nhận các hoạt động tài chính, đặc biệt là trong quản lý ngân quỹ (chức năng vận hành) Bên cạnh đó, chức năng tài chính còn song song đảm nhận việc hỗ trợ ban quản trị phản ứng và điều chỉnh các nguồn tài chính tuỳ theo nhu cầu, tuân thủ các đòi hỏi tài chính và cân đối mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp với mục tiêu của các cổ đông (chức năng hỗ trợ) Hai đòi hỏi tài chính cơ bản đó là khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi

KNTT và KNSL đóng một vai trò rất quan trọng trong tình hình tài chính của một doanh nghiệp Mục đích chính của các công ty là tạo ra lợi nhuận, có lợi nhuận thì công ty mới có thể tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy cải thiện và nâng cao KNSL luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu đối vối các nhà quản lý Bên cạnh việc nâng cao lợi nhuận, doanh nghiệp cũng phải đảm bảo được KNTT để có thể đáp ứng được các nghĩa vụ nợ khi đến hạn Ngoài ra, các cổ đôngcũng quan tâm đến KNTT của công ty Các nhà cung cấp hàng hóa sẽ kiểm tra tính thanh khoản của công

ty trước khi tiến hành bán hàng Các nhân viên cũng cần quan tâm về khả năng thanh khoản của công ty để biết liệu các công ty có thể đáp ứng được nhân viên những nhu cầu liên quan đến nghĩa vụ trả lương Do đó, công ty cần duy trì KNTT đồng thời gia tăng được lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh Để làm được điều này trước hết cần hiểu rõ về mối quan hệ giữa KNTT và KNSL nhằm đưa ra được nhữngchính sách,những quyết định tài chính đúng đắn phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, xu hướng phát triển chung của ngành; kích thích sự tăng trưởng cho ngành BĐS nói riêng

và toàn bộ nền kinh tế nói chung

Đã có nhiều nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa KNTT và KNSL của công ty Cụ thể:

Nghiên cứu của Dong (2010) trong nghiên cứu về quản trị vốn lưu động các công

ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006-2008 đã chỉ

ra rằng KNTT có tác động đáng kể đến KNSL Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa KNTT và KNSL: Khi thời gian luân chuyển vốn bằng tiền tăng (chu kì chuyển đổi tiền mặt) thì KNSL có xu hướng giảm

Nghiên cứu của Saswata Chatterjee (2010) với mẫu nghiên cứu gồm 30 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán London giai đoạn 2006-2008 đã chỉ ra tầm quan trọng của vốn lưu động trong các hoạt động của tất cả các tổ chức.Vốn lưu động có tác động trực tiếp đến KNTT và KNSL Tác giả đã chỉ ra rằng tỷ suất sinh lời tăng khi công ty giảm quy mô vốn lưu động Tuy nhiên, nếu các công ty muốn tăng hoặc cải thiện tính thanh khoản, đánh đổi lại công ty phải tăng vốn lưu động

Trang 15

3

Nghiên cứu của Mahmood và Qayyum (2010) thì chỉ ra mối quan hệ giữa KNSL

và việc duy trì KNTT trong quản lý vốn lưu động KNSL có liên quan đến mục tiêu tối

đa hóa lợi nhuận của các cổ đông và đầu tư vào tài sản ngắn hạn chỉ được thực hiện nếu lợi nhuận đạt được ở mức chấp nhận được Trong khi tính thanh khoản là cần thiết cho một công ty để tiếp tục hoạt động kinh doanh, một công ty có thể chọn nắm giữ tiền mặt hơn cần thiết cho nhu cầu hoạt động hoặc giao dịch vì lý do phòng ngừa hoặc đầu cơ

Lazaridis và Tryfonidis (2006) nghiên cứu mối quan hệ của KNSL doanh nghiệp

và quản lý vốn lưu động với mẫu nghiên cứu là các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Athens Nghiên cứu đã chỉ ra rằng KNTT có tác động đáng kể đến tỷ suất sinh lời trên doanh thu (hiệu quả sản xuất kinh doanh) Hơn nữa, người quản lý có thể tăng khả năng sinh lời bằng cách sử dụng tối ưu các thành phần của vốn lưu động Ngoài ra, còn rất nhiều nghiên cứu khác đã được thực hiện để tìm hiểu mối quan hệ giữa KNTT và KNSL

Tóm lại, có thể nói việc tìm hiểu mối liên quan giữa KNTT và KNSL là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tế thúc đẩy sự phát triển của mỗi doanh nghiệp.Với kiến thức lý luận cơ bản tiếp thu được ở nhà trường và quá trình tìm hiểu

ngành bất động sản ở Việt Nam, tác giả mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Mối quan

hệ giữa KNTT và KNSL: Nghiên cứu điển hình tại các công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.

1.2 Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu

 Câu hỏi nghiên cứu: Nghiên cứu trả lời cho câu hỏi:

Các chỉ tiêu dùng để đo lường KNTT và KNSL là gì?

Liệu có tồn tại mối quan hệ giữa KNTT và KNSL hay không?

Mối quan hệ giữa KNTT và KNSL là như thế nào?

KNTT tác động qua lại như thế nào với KNSL trên khía cạnh tài chính doanh nghiệp?

 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề có tính lý luận về KNTT và KNSL

Phân tíchthực trạng KNTT và KNSL tại các công ty cổ phần ngành bất động sản Việt Nam

Để đo lường mức độ liên quan giữa KNSL và KNTT

Để tìm hiểu những tác động của KNTT lên KNSL và ngược lại

Trang 16

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: KNTT và KNSL của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa KNTT và KNSL

 Phạm vi nghiên cứu:Các công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 đến 2013

1.4 Phương pháp nghiên cứu

dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Thống

kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo Cùng với việc phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiện tượng xảy ra và đưa ra kết luận đúng đắn, cần phải biết được các phương pháp cơ bản của mô tả dữ liệu như thống kê

dữ liệu bằng các đồ thị, biểu diễn dữ liệu thành bảng tóm tắt số liệu,…

 Phương pháp phân tích hồi quy Đây là một phương pháp thống kê mà giá trị kì vọng của một hay nhiều biến ngẫu nhiên được dự đoán dựa vào điều kiện của các biến ngẫu nhiên (đã tính toán) khác

Bước đầu tiên trong phương pháp này là lựa chọn nhóm đối tượng nghiên cứu Sau khi thu thập các dữ liệu liên quan, đưa ra giả thiết nghiên cứu, sẽ xác định các biến độc lập và các biến phụ thuộc, thiết lập mô hình hồi quy, tiến hành quá trình thực nghiệm, quan sát các kết quả thu được, đưa ra nhận xét và giải thích cho các kết quả này và cuối cùng là kết luận Giả thiết đưa ra ban đầu có thể được chấp nhận hoặc bị bác bỏ dựa vào các kết quả thống kê được

Phần mềm thống kê được sử dụng là SPSS Nghiên cứu sẽ sử dụng báo cáo tài chính (2009-2013) đã được kiểm toán của 58 công ty ngành bất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam

Trang 17

5

1.5 Kết cấu của đề tài

Bài nghiên cứu gồm có 6 chương

Chương 1 Mở đầu giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về bài nghiên cứu: giải

thích lí do tiến hành nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên

cứu, phương pháp nghiên cứu

Chương 2 Tổng quan lý thuyết về KNTT trong mối quan hệ với KNSL trình

bày một cách tổng quan lý thuyết về KNTT trong mối quan hệ với KNSL bao gồm các

khái niệm, các chỉ tiêu đo lường, các nhân tố ảnh hưởng đến KNTT và KNSL, mối

quan hệ giữa KNTT và KNSL trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày cụ thể về phương pháp nghiên

cứu của tác giả gồm có quy trình nghiên cứu, các phương pháp thu thập và xử lý số

liệu, các biến nghiên cứu và đo lường các biến nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu

Chương 4 Thực trạng khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp ngành BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam mang đến những đánh giá

và nhận xét cụ thể về tình hình khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của các doanh

nghiệp được sử dụng làm mẫu nghiên cứu

Chương 5 Nội dung kết quả nghiên cứu đưa ra kết quả nghiên cứu: thống kê

mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan R và phân tích hồi quy tuyến tính Từ đó

đưa ra kết quả và giải thích mô hình

Chương 6 Kết luận và một số kiến nghị đưa ra kết luận và một số kiến nghị về

việc nghiên cứu mối quan hệ giữa KNTT và KNSL từ những kết quả thu được

Trang 18

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN

TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI KHẢ NĂNG SINH LỜI 2.1 Tổng quan chung về khả năng thanh toán

2.1.1 Khái niệm về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán là khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế (capital) và nguồn lực sẵn có (resource) Investopedia định nghĩa khả năng thanh toán “là khả năng đáp ứng các chi tiêu cố định trong dài hạn và

có đủ lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển” Với mỗi đối tượng cụ thể, nó lại có một cách định nghĩa khác nhau:

Đối với doanh nghiệp: KNTT là khả năng doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn

Trong kinh tế thị trường: KNTT chỉ khả năng của những người tiêu thụ có đủ sức mua bằng tiền để mua hàng hóa trên thị trường

Duy trì KNTT là rất quan trọng đối với mọi tổ chức, nghĩa là nghĩa vụ trả các khoản nợ hiện hành trong kinh doanh, nghĩa vụ thanh toán bao gồm chi phí hoạt động

và chi phí tài chính, là nợ ngắn hạn nhưng trở thành dài hạn Chỉ số KNTT được sử dụng để quản lý KNTT trong mọi tổ chức theo hình thức chỉ số KNTT hiện hành, chỉ

số KNTT nhanh và chỉ số KNTT bằng tiền Vì vậy, doanh nghiệp xem xét có đủ tài sản có tính thanh khoản (tiền mặt, tiền gửi Ngân hàng) để đáp ứng tiến độ thanh toán bằng cách so sánh tiền mặt và các khoản tương đương tiền với nghĩa vụ thanh toán Chỉ số KNTT làm việc với tiền mặt và tài sản có thể chuyển đổi thành tiền (cùng được gọi là tài sản "ngắn hạn") của một doanh nghiệp ở một bên và các nghĩa vụ thanh toán ngay lập tức (nợ ngắn hạn) ở phía bên kia Tài sản có thể chuyển đổi thành tiền chủ yếu bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, hàng tồn kho của thành phẩm và nguyên liệu thô Nghĩa vụ thanh toán bao gồm phí cho nhà cung cấp, chi phí vận hành

và chi phí tài chính phải được thanh toán ngay và trở thành trả nhiều lần dưới hình thức nợ dài hạn

Chỉ số KNTT đo lường khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một doanh nghiệp bằng cách so sánh tiền mặt và các khoản tương đương tiền với nghĩa vụ thanh toán Nếu tiền mặt và các khoản tương đương tiền ko đủ đảm bảo nghĩa vụ thanh toán, nó chỉ ra rằng các doanh nghiệp có thể phải đối mặt với khó khăn trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của họ Điều này có thể, lần lượt, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của công ty

Trang 19

7

Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS, 2006) chỉ ra thực tế là KNTT đề cập đến tiền mặt có sẵn trong tương lai gần, sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính tương ứng với khoảng thời gian đó Rủi ro thanh khoản bao gồm xác suất mà tổ chức không thể thực hiện thanh toán các khoản nợ của mình cho các chủ nợ, như một kết quả của những thay đổi trong tỷ lệ các khoản tín dụng dài hạn và tín dụng ngắn hạn và sự không tương quan với cơ cấu nợ của tổ chức (Stoica, 2000 )

Morris và Shin (2010) định nghĩa khái niệm KNTT như "tiền mặt có thể thực hiện trên bảng cân đối để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn”

Theo Shim và Siegel (2000, trang 46-47) thanh khoản kế toán là khả năng công

ty hoàn trả nợ ngắn hạn khi đáo hạn (trong vòng một năm) Duy trì tốt KNTT là mục tiêu chủ yếu của công ty, đó là một điều kiện mà nếu không có nó không thể được đạt tính liên tục của một doanh nghiệp

Khả năng thanh toán và thanh khoản là hai khái niệm có liên quan chặt chẽ và phản ánh trên hành động của chính sách vốn lưu động của công ty Một mức độ thanh khoản thấp có thể dẫn đến tăng chi phí tài chính và kết quả là mất khả năng thanh toán với nghĩa vụ của mình (Maness &Zietlow, năm 2005, trang 25)

Theo nhiều nhà nghiên cứu ở trường đại học, khả năng thanh toán với mỗi doanh nghiệp dựa trên tình hình bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đó Để đánh giá trạng thái thanh khoản, điều đặc biệt quan trọng là tổ chức bằng cách phân loại tài sản có và

nợ phải trả (Basno & Dardac, 2004) Thông thường các công ty mong muốn giữ cho KNTT cao hơn 1.00 Điều đó sẽ chứng minh khả năng các công ty để trả các khoản nợ ngắn hạn đã cam kết, với việc thanh lý tài sản ngắn hạn Bất kỳ tỷ lệ dưới 1.0 có thể có nghĩa rằng các doanh nghiệpkhông thể được tạo ra tiền mặt đủ để đáp ứng các nghĩa

vụ ngắn hạn (Morrel, 2007, trang 62) Tuy nhiên như Matarazzo (2003, trang 54) đã nhấn mạnh, "nếu một nhà phân tích quan sát bảng cân đối của công ty và đối mặt với một tỷ lệ thanh khoản thấp hơn 1.00 thì ông không, về nguyên tắc, coi nó là không trả được nợ đúng hạn” Tỷ lệ thanh khoản sẽ, theo tác giả, thích hợp nhất được hiểu là một chỉ số về mức độ độc lập của công ty đối với các chủ nợ và khả năng phải đối mặt với khủng hoảng và khó khăn đột xuất

Theo Matarazzo (2003, trang 55), KNTT cao không phải là luôn luôn là một dấu hiệu của sự quản lý yếu kém về tài chính Nếu tỷ số KNTT hiện thời cao trong khi nợ phải trả ngắn hạn thấp, nó có thể là một dấu hiệu của một chính sách khôn ngoan, tránh chi phí tài chính của khoản vay ngân hàng, hoặc thậm chí là một chiến lược để

có chiết khấu tốt với các nhà cung cấp cho các khoản phải trả Nó cũng có thể là trường hợp hàng tồn kho cao là một phần của đặc điểm hoạt động của công ty Ví dụ, các công ty cần phải duy trì một mức giá trị cổ phiếu đáng kể, đáp ứng yêu cầu của

Trang 20

khách hàng một cách nhanh chóng, như trường hợp của các công ty thương mại Một

ví dụ khác là các công ty mà cổ phiếu có giá trị cao, như các đại lý điện tử, xe,…(Pimentel và cộng sự , 2005, trang 87)

Sự quan tâm của các chủ doanh nghiệp và nhà quản lý trên toàn thế giới là để đưa ra một chiến lược quản lý để hoạt động hàng ngày của họ đáp ứng các nghĩa vụ theo đúng thời hạn và tăng lợi nhuận và sự giàu có của cổ đông Quản lý KNTT, trong nhiều trường hợp, được xem xét là từ quan điểm của quản lý vốn lưu động vì hầu hết các chỉ số được sử dụng để đo lường KNTT của công ty là một chức năng của các thành phần vốn lưu động

Quản lý KNTT rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty trong kinh doanh nên không thể không quan tâm Một phần quan trọng trong việc quản lý vốn lưu động là yêu cầu trong việc duy trì KNTT trong hoạt động hằng ngày để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục Một công ty phải đảm bảo rằng KNTT đủ để có thể đáp ứng nghĩa vụ ngắn hạn (không quá dư thừa hoặc thiếu hụt) Nghiên cứu về KNTT có tầm quan trọng lớn và phải thực hiện phân tích cả các yếu tố bên trong và bên ngoài do mối quan hệ chặt chẽ của KNTT với hoạt động hàng ngày của một doanh nghiệp Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, yêu cầu thanh khoản của một công ty phụ thuộc vào tính chất đặc thù của công ty và không có quy định cụ thể về việc xác định mức tối ưu của thanh khoản mà một công ty có thể duy trì

để đảm bảo tác động tích cực đến lợi nhuận của nó

Thanh khoản và quản lý thanh khoản ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và lợi nhuận của một công ty Điều này là do việc dư thừa hoặc thiếu hụt lượng tài sản có tính thanh khoản cao để đáp ứng khả năng thanh toán có thể gây gián đoạn các hoạt động hàng ngày của tổ chức Mối quan hệ giữa KNTT và KNSL đã thu hút rất nhiều

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Kỹ thuật WCM (quản lý vốn lưu động) xuất hiện với triết lý của việc sử dụng nguồn vốn dài hạn nên đầu tư toàn bộ vào các tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn chỉ được sử dụng cho các tình huống khẩn cấp Tính năng riêng biệt của WCM thận trọng là tăng KNTT và ít rủi ro hơn nhưng quan tâm nhiều hơn tới việc phải đảm bảo được nguồn vốn cho các tài sản ngắn hạn thời vụ (không thường xuyên) Công ty lớn hơn thường tập trung vào doanh thu nhiều hơn trên cơ sở lượng tiền mặt ít hơn dẫn đến có nhiều vấn đề về dòng tiền hơn và tính thời vụ trong khi các công ty nhỏ hơn tập trung chủ yếu là quản lý hàng tồn kho và các chính sách quản lý tín dụng với lợi nhuận thấp

Như vậy, tóm lại khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính

mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ đối với doanh nghiệp vay hoặc nợ Khả năng thanh toán là

Trang 21

9

một trong những công cụ mạnh được sử dụng nhằm đánh giá các khả năng của doanh nghiệp để đáp ứng được những nhiệm vụ tài chính dài hạn hay ngắn hạn của doanh nghiệp Về cơ bản, quá trình này gọi là xác định tổng thu nhập được tạo ra bởi doanh nghiệp, miễn các loại thuế nợ và bất kỳ loại chi phí khấu hao mà không dùng tiền mặt Con số này được so sánh với tổng số nhiệm vụ dài hạn mà doanh nghiệp hiện tại đang nắm giữ Các nhà đầu tư và người cho vay thường quan tâm và để ý đặc biệt đến các tỷ

lệ khả năng thanh toán như một phương tiện đánh giá xếp hạng tín dụng và đánh giá mức độ rủi ro hiện tại của một doanh nghiệp

2.1.2 Chỉ tiêu đo lường KNTT của doanh nghiệp

Phân tích chỉ số là một trong những cách thông thường trong đó sử dụng báo cáo tài chính để đánh giá các công ty và tạo ra các tiêu chuẩn mà ý nghĩa về mặt tài chính

đã được giải thích đơn giản (George H.Pink, G.Mark Holmes, 2005) Sau đây là các phương pháp để tính chỉ số KNTT trong tổ chức kinh doanh Chúng ta có thể xác định chỉ số KNTT công ty bằng cách sử dụng phương pháp phân tích tỷ lệ

2.1.2.1 Khả năng thanh toán trong ngắn hạn

Vốn lưu động ròng

Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn (TSLĐ) – Nợ ngắn hạn

Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn, các nhà phân tích quan tâm đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản lưu động được tài trợ từ nguồn vốn cơ bản, lâu dài mà không phải chi trả trong thời gian ngắn, vốn lưu động ròng càng lớn phản ánh khả năng chi trả đối với các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả càng cao Đây cũng là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho việc đánh giá cân bằng tài chính của doanh nghiệp Vốn lưu động ròng được xác định

là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động và tổng nợ ngắn hạn, hoặc phần chênh lệch giữa vốn thường xuyên ổn định với TSCĐ ròng Tài sản lưu động nên có các thuộc tính sau: đa dạng, thời gian đáo hạn còn lại thích hợp cho nhu cầu lưu chuyển tiền tệ của mỗi tổ chức; dễ dàng bán ra thị trường hoặc chuyển đổi thành tiền mặt và rủi ro tín dụng tối thiểu (2005 Ngân hàng Jamaica Xuất bản: Tháng Hai 1996) Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và khả năng nắm bắt thời cơ lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động ròng

Hệ số KNTT hiện hành

Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động (TSNH)

Nợ ngắn hạn

Trang 22

TSLĐ thông thường bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng (tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác…Tài sản lưu động

và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới 1 năm Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo KNTT ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó Nó thể hiện mức

độ đảm bảo của tài sản lưu động đối với nợ ngắn hạn mà không cần tới một khoản vay mượn thêm

Để đánh giá tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp sau khi tính toán, ta

so sánh với tỷ số thanh toán bình quân ngành, tỷ số thanh toán năm trước và 1

 KNTT hiện hành > 1: giá trị tài sản ngắn hạn của công ty lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, hay nói cách khác là tài sản lưu động của doanh nghiệp đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Điều này cho thấy, tình hìnhkhả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt Và ngược lại, nếu KNTT ngắn hạn < 1 thì doanh nghiệp không

đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên, nếu con số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào TSNH so với nhu cầu Thường thì phần vượt quá sẽ không tính thêm lợi nhuận, nên việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả Do đó, doanh nghiệp cần phải phân bổ vốn hợp lý

 Nếu KNTTHH năm nay < KNTTHH năm trước: điều này cho chúng ta thấy rằng khả năng TTNH năm nay giảm đi so với năm trước Do đó, để hiểu rõ thêm về điều này ta cần so sánh với tỷ số thanh toán bình quân ngành

 Tỷ số KNTT hiện hành so với tỷ số thanh toán bình quân ngành không quá chênh lệch là tốt

Trang 23

11

thuộc vào việc bán TS dự trữ (Kho) chia cho nợ ngắn hạn hay nói cách khác hệ số KNTT nhanh cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền hoặc các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay cho một đồng nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền

Khả năng thanh toán bằng tiền = Tiền và các khoản tương đương tiền

Nợ ngắn hạn

Ngoài hệ số KNTT hiện hành và KNTT nhanh, để đánh giá KNTT một cách khắt khe hơn nữa, ta sử dụng hệ số KNTT bằng tiền Hệ số này cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để sẵn sàng thanh toán cho một đồng nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay

Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận thuần hoạt động kinh doanh

Lãi vay

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay phản ánh được những khả năng trang trảicác khoản vay của doanh nghiệp từ lợi nhuận thu được thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh Xuất phát từ ý nghĩa đó, qua việc đánh giá hệ số khả năng thanh toán lãi vay thì

ta thấy được mức độ hiệu quả của việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp

Hệ số khả năng thanh toán lãi cao hay thấp nói chung phụ thuộc vào khả năng sinh lợi

và mức độ sử dụng nợ Nếu khả năng sinh lợi của doanh nghiệp chỉ có giới hạn trong khi công ty sử dụng quá nhiều nợ thì hệ số khả năng thanh toán lãi vay sẽ giảm

Ta có thể thấy, rõ ràng khi khả năng thanh toán lãi vay càng cao thì khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn Khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp thấp thể hiện khả năng sinh lợi của tài sản thấp Khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế

có thể làm giảm lãi trước thuế và lãi vay xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả,

do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ Tuy nhiên rủi ro này được hạn chế bởi thực tế Lãi trước thuế và lãi vay không phải là nguồn duy nhất để thanh toán lãi Các doanh nghiệp cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi Những gì mà một doanh nghiệp cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình

 Nói chung hệ số này phải lớn hơn 1 thì doanh nghiệp mới có khả năng sử dụng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trang trải lãi vay

 Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có hai khả năng:

Trang 24

Doanh nghiệp vay nợ quá nhiều và sử dụng nợ vay kém hiệu quả khiến cho lợi nhuận làm ra không đủ trả lãi vay

Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp quá thấp khiến cho lợi nhuận làm ra quá thấp không đủ trả lãi vay

Một số tài liệu xếp hệ số khả năng thanh toán lãi vay vào chỉ tiêu khả năng thanh toán trong dài hạn Tuy nhiên, vì lãi vay của doanh nghiệp thường được trả theo tháng, theo quý hoặc vào cuối mỗi một năm kinh doanh nên tác giả xếp chỉ số này vàomục khả năng thanh toán trong ngắn hạn

Nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước

Tỷ lệ thanh toán với ngân sách nhà nước = Số tiền đã nộp trong kỳ

Tổng số tiền phải nộp trong kỳ

Hàng năm doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Ngân sách Nhà nước về các khoản nộp như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản thuế phải nộp khác,…Việc phân tích tình hình thanh toán với Ngân sách Nhà nước sẽ giúp ta đánh giá được tình hình thực hiện nghĩa vụ của công ty đối với Nhà nước

Chỉ số lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh thể hiện số tiền sẽ được tạo

ra từ hoạt động kinh doanh (nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì tốt) vì vậy sẽ giúp nhà phân tích đánh giá khả năng hoàn trả nợ vay đến hạn từ bản thân hoạt động kinh doanh mà không cần có thêm các nguồn tài trợ khác của doanh nghiệp

Hệ số dòng tiền trên nợ vay đến hạn trả âm chứng tỏ công ty không tạo ra tiền để trả nợ vay đến hạn trả, điều này cho thấy doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn, không có khả năng chủ động tự trả nợ vay đến hạn bằng tiền do công ty tạo ra

Thời gian quay vòng của tiền

Trang 25

13

Kì trả tiền bình quân

bình quân

Thời gian quay vòng của tiền

Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn còn được thể hiện ở độ dài chu kì vận động của vốn Thời gian quay vòng của tiền tính từ lúc doanh nghiệp bắt đầu bỏ tiền vào hoạt động kinh doanh tới lúc thu tiền về

Thời gian quay

vòng của tiền =

Thời gian lưu kho hàng bình quân +

Kì thu tiền bình quân -

Kì trả tiền bình quân

Chỉ tiêu thời gian quay vòng của tiền cho ta thấy nếu thời gian quay vòng nhanh, hay thời gian quay vòng tiền ngắn sẽ làm giảm nhu cầu vốn lưu động và tăng cường khả năng thanh toán cho doanh nghiệp Muốn rút ngắn thời gian quay vòng của tiền thì kéo dài kì trả tiền bình quân và cần rút ngắn thời gian lưu kho hàng hóa, rút ngắn kì thu tiền bình quân

Hình 2 1 Thời gian quay vòng của tiền

Thời gian lưu kho hàng bình quân (vòng quay hàng tồn kho) hay còn gọi là số

ngày một vòng quay hàng tồn kho

Thời gian lưu kho hàng bình

hàng

Trang 26

nghiệp vẫn thường dự trữ một lượng hàng tồn kho nhất định nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Kì thu tiền bình quân hay còn gọi là số ngày của một vòng quay nợ phải thu

khách hàng được xác định theo công thức:

nợ nhiều trong thời gian dài sẽ chiếm dụng nhiều vốn của doanh nghiệp, vì vậy sẽ ảnh hưởng không tốt tới dòng tiền và suy giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tức

là hệ số kì thu tiền bình quan cao Ngược lại, nếu hệ số này thấp chứng tỏ rằng doanh nghiệp đang ít bán chịu hàng hóa hoặc thời hạn bán chịu tương đối ngắn, dưới 30 ngày

Kì trả tiền bình quân hay còn gọi là chỉ số vòng quay các khoản phải trả

2.1.2.1 Khả năng thanh toán trong dài hạn

Hệ số nợ trên tổng tài sản, thường gọi là hệ số nợ (D/A) (thường tính bằng %),

đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản

Hệ số nợ trên tài sản = Tổng nợ

Tổng tài sản x 100%

Hệ số nợ trên tổng tài sản phản ánh mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp Nó cho biết mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, nợ chiếm bao

Trang 27

15

nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp (do tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn)

Hệ số nợ trên tổng tài sản nói chung thường nằm trong khoảng 50% đến 70% Hệ

số này thấp có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính và khả năng vay của doanh nghiệp cao, tức là ít sử dụng nợ để đầu tư cho tài sản, tuy nhiên, mặt trái của nó

là doanh nghiệp chưa tận dụng được hết lợi thế của đòn bẩy tài chính và tự mình đánh mất đi cơ hội tiết kiệm thuế từ việc sử dụng nợ

Ngược lại, nếu hệ số nợ trên tài sản lại quá cao có nghĩa là doanh nghiệp đang quá phụ thuộc vào nợ vay và khả năng tự chủ tài chính cũng như khả năng vay thêm

để đầu tư thấp, tức là sử dụng quá nhiều nợ để đầu tư cho tài sản

Thông thường, các nhà cổ đông thích công ty có hệ số nợ trên tổng tài sản cao để

sử dụng được hết khả năng đòn bẩy tài chính nói chung làm gia tăng khả năng sinh lời cho cổ đông Ngược lại, các nhà đầu tư lại muốn công ty có hệ số nợ trên tổng tài sản thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn

Chỉ tiêu này là cơ sở để đánh giá khả năng đảm bảo của doanh nghiệp đối với nợ vay dài hạn Nó cho biết khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp và mức độan toàn

có thể đối với người cấp tín dụng

Trang 28

Khi tỷ số nợ trên vốn CSH càng cao thì khả năng chủ động trong thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp càng thấp, do đó doanh nghiệp cần xem xét các rủi ro thanh toán như các trường hợp không thanh toán được nợ, thanh toán quá hạn dẫn tới chi phí lãi vay tăng cao… có thể gặp phải khi vay nợ quá nhiều để có thể đưa ra được các chính sáchđiều hành hợp lý

Khả năng thanh toán nợ dài hạn đến hạn phải trả

Khả năng thanh toán nợ dài hạn đến hạn phải trả: là chỉ tiêu cho biết khả năng thanh toán nợ dài hạn đến hạn phải trả của doanh nghiệp trong năm tới bằng nguồn vốn khấu hao thu hồi dự kiến và lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản tiền gốc vay dài hạn đến hạn phải trả và ngược lại

Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn phải trả =

Lợi nhuận sau thuế + Vốn khấu hao thu hồi

Nợ dài hạn đến hạn phải trả

(Nguồn: Sách Báo cáo tài chính – TS.Phạm Thị Thủy)

Chỉ tiêu này được sử dụng dựa trên quan điểm là:

 Các khoản tiền vay dài hạn của doanh nghiệp dùng để đầu tư tài sản dài hạn

 Gốc tiền vay dài hạn được thanh toán cho các tổ chức tín dụng theo từng năm

đã quy định trong hợp đồng vay

 Doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao bình quân với tài sản cố định để thu hồi vốn đầu tư

 Hệ số nợ trên tài sản đảm bảo

Hệ số nợ trên tài sản đảm bảo thể hiện sát thực và độ thận trọng hơn khả năng bảo vệ cho các chủ nợ trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Hệ số nợ trên tài sản đảm bảo =

Nợ phải trả Tổng tài sản – TS Vô hình + Quyền sử dụng đất

(Nguồn: Sách Báo cáo tài chính – TS.Phạm Thị Thủy)

Trong thực tế, không phải tất cả các tài sản của doanh nghiệp đều có thể được sử dụng để thanh toán nợ khi doanh nghiệp phá sản Khi hoạt động các tài sản vô hình rất

có giá trị đối với doanh nghiệp, nhưng khi phá sản hầu hết các tài sản vô hình đều trở nên vô nghĩa, như thương hiệu, các phần mềm kế toán, lợi thế thương mại,… ngoại trừ quyền sử dụng đất Do vậy, khi doanh nghiệp phá sản tất cả các tài sản sẽ được sử dụng để trả nợ là các tài sản hữu hình (tiền, hàng tồn kho, phải thu khách hàng, tài sản

Trang 29

17

cố định hữu hình,…) và quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, các loại tài sản này được gọi là tài sản đảm bảo của doanh nghiệp

Hệ số nợ trên tài sản đảm bảo thấp thì khả năng bảo vệ cho các chủ đầu tư, chủ

nợ khi doanh nghiệp phá sản càng cao và ngược lại

2.2 Tổng quan chung về khả năng sinh lợi

2.2.1 Khái niệm khả năng sinh lợi

KNSL của doanh nghiệp có thể hiểu là phần lợi nhuận thu được khi đầu tư của doanh nghiệp Có thể đo lường KNSL của doanh nghiệp dựa trên các số liệu kế toán thể hiện qua các năm trong quá khứ tới hiện tại Các nhà đầu tư và người cấp tín dụng đều có mối quan tâm lớn đối với việc đánh giá KNSL của doanh nghiệp vì nó gắn liền với lợi ích của họ trong hiện tại và cả tương lai

KNSL là một loại chỉ số tài chính được sử dụng để đánh giá khả năng của một doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập trong một thời gian nhất định trên cơ sở chi phí bỏ ra Đối với hầu hết các chỉ số này, nếu có một giá trị tương đối cao hơn tỷ lệ của đối thủ cạnh tranh hoặc tỷ lệ tương tự từ một khoảng thời gian trước đó có nghĩa là công ty đang kinh doanh hiệu quả (www.investopedia.com, 2010)

KNSL có thể được định nghĩa như là thước đo cuối cùng của thành công của một công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh Sự thành công này được xác định bởi tầm quan trọng của lợi nhuận thuần kế toán (Pimentel và cộng sự, 2005 trang 86) KNSL tạo ra sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư khi đầu tư vào doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp, KNSL là kết quả của việc sử dụng tài sản và nguồn vốn một cách hiệu quả Nhìn chung, KNSL cần đáp ứng được việc đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh và đóng góp vào việc tăng vốn đầu tư đồng thời trả được lãi vay và đảm bảo hoàn trả các khoản vay Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong năm có thể được trích cho các cổ đông hoặc duy trì dưới dạng vốn dự trữ Nếu khả năng sinh lời không đủ lớn, doanh nghiệp

sẽ không đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu cho các hoạt động kinh doanh khác nhau của công ty Thặng dư khi đó không đủ cho duy trì cân bằng tài chính

Mọi doanh nghiệp đều quan tâm nhất đến KNSL vì KNSL là khả năng tạo ra lợi nhuận từ tất cả các hoạt động kinh doanh của một tổ chức, công ty, hoặc một doanh nghiệp Nó cho thấy tính hiệu quả của việc quản lý có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách

sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có trên thị trường Một trong những công cụ thường được sử dụng trong phân tích tỷ lệ tài chính là tỷ lệ KNSL, được sử dụng để xác định điểm mấu chốt của công ty Tỷ lệ KNSL cho thấy hiệu quả và hiệu suất tổng thể của công ty KNSL và hiệu quả quản lý thường được có liên quan tích cực: KNSL thấp có

Trang 30

thể đe dọa hiệu quả quản lý và ngược lại; hiệu quả quản lý kém có thể đe dọa KNSL KNSL có liên quan đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các cổ đông và đầu tư vào tài sản ngắn hạn chỉ được thực hiện nếu đạt được một khoản lợi nhuận chấp nhận được Trong khi tính thanh khoản là cần thiết cho một công ty để tiếp tục kinh doanh, một công ty có thể chọn để nắm giữ tiền mặt nhiều hơn nhu cầu cần thiết cho hoạt động hoặc giao dịch vì lý do phòng ngừa hoặc đầu cơ Nó cũng có thể được gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư Nếu có sẽ trở nên vô lý hơn đầu tư vào tài sản ngắn hạn, điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (Vishnani & Shah, 2007) Mục đích cơ bản của việc quản lý vốn lưu động là việc kiểm soát nguồn lực tài chính ngắn hạn của một công ty bằng cách tạo ra một sự cân bằng được giữaKNSL của các công

ty và rủi ro liên quan với KNSL đó (Ricci & Vito, 2000) KNSL được sử dụng phổ biến như thước đo hiệu quả tài chính của một công ty Khái niệm về KNSL có thể được sử dụng trong hai ý nghĩa: thương mại/ lợi nhuận tư nhân và lợi nhuận công Mặc

dù việc sử dụng lợi nhuận công dựa trên khái niệm về chi phí và lợi ích của kinh tế học, ví dụ, chi phí cơ hội thực sự và những lợi ích cho xã hội như một tổng thể, dường như là một thước đo thích hợp hơn trong đánh giá hiệu suất của các doanh nghiệp công, thước đo lợi nhuận thương mại đã được sử dụng trong ở các doanh nghiệp Bangladesh Điều này là do thực tế lợi nhuận thương mại được sử dụng rộng rãi để đo hiệu suất của các doanh nghiệp công ở Bangladesh và thậm chí cả ở các quốc gia khác trên thế giới như Ấn Độ, Anh, Pháp ,… Và cũng do sự thống nhất chung và dễ hiểu của đơn vị đo lường này Hai loại chính của KNSL được tính: (i) lợi nhuận liên quan đến bán hàng và (ii) lợi nhuận liên quan đến đầu tư: Hệ số biên lợi nhuận gộp (GPM),hệ số biên lợi nhuận ròng (nom), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỉ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) là những thước đo chính của KNSL Do đó, lợi nhuận là một thước đo tuyệt đối và KNSL là thước đo tương đối hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp

2.2.2 Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Một công ty cần tạo ra lợi nhuận để tồn tại và phát triển trong một thời gian dài Lợi nhuận là rất cần thiết, nhưng tất cả các quyết định quản lý không nên lấy lợi nhuận làm trung tâm mà còn phải chú ý tới các chi phí đối với khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp hoặc trách nhiệm đối với xã hội Lợi nhuận là chênh lệch giữa thu và chi trong một khoảng thời gian (thường là một năm) Lợi nhuận là "đầu ra" cuối cùng của một công ty, và nó sẽ không có tương lai nếu không tạo ra đủ lợi nhuận Tỷ lệ KNSL được tính toán để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty Một số tỷ lệ được sử dụng

để đo lường KNSL:

Trang 31

19

Tỉ lệ hoàn vốn đầu tƣ (ROI)

Tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư có thể dựa vào tổng tài sản hoặc tài sản thuần.Các quỹ được sử dụng trong tài sản ròng được gọi là vốn sử dụng Tài sản thuần bằng tài sản cố định ròng cộng với tài sản lưu động ròng trừ đi nợ ngắn hạn không bao gồm khoản vay ngân hàng Phương pháp tiếp cận thông thường tính toán tỷ lệ hoàn vốn là để phân chia lợi nhuận sau thuế (EAT) của đầu tư Vốn đầu tư đề cập đến sự góp vốn vào quỹ được cung cấp bởi các cổ đông và người cho vay, trong khi lợi nhuận sau thuế đại diện cho phần thu nhập còn lại của các cổ đông

Tỷ lệ này là chỉ tiêu, thước đo đánh giá tốt nhất thành quả hoạt động của công ty Thước đo này cho phép so sánh thành quả và rủi ro giữa các công ty trong ngành, cho phép xác định khả năng thành công của công ty, thu hút tài trợ, tái chi trả chủ nợ và mang lại lợi nhuận cho các chủ sở hữu Nó cũng cho phép so sánh thu nhập đạt được với quy mô hoạt động và quan trọng là dùng để phân tích tác động tài trợ như nợ, đòn bẩy tai chính Bên cạnh đó, tỷ lệ này dùng để đo lường tính hiệu quả của công tác quản trị ở các khía cạnh kỹ năng, sự khéo léo và động cơ thúc đẩy của ban quản trị trong việc hoạch định chiến lược, lựa chọn hành động, đưa ra quyết định tài trợ, đầu tư, kinh doanh trong một giai đoạn Đây là thước đo mức độ KNSL cũng như sức mạnh tài chính của doanh nghiệp Tỷ số này còn giúp nhận diện các dự báo lạc quan và bi quan thái quá liên quan đến tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư của đối thủ cạnh tranh và đánh giá việc quản trị các nguồn tài trợ khi giá trị dự báo khác so với kì vọng Ngoài việc dự báo thu nhập thì tỷ số này còn dùng để đánh giá tính hợp lý của dự báo từ các nguồn khác Tỷ số sinh lợi trên vốn đầu tư đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình lập

kế hoạch, hoạch định ngân sách, định giá và kiểm soát các hoạt động kinh doanh

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Vốn chủ sở hữu (Giá trị tài sản ròng)

Đây là chỉ số được các nhà đầu tư, cổ đông của doanh nghiệp quan tâm nhất vì

nó phản ánh những gì mà họ sẽ được hưởng Cổ đông thường thông thường được hưởng lợi nhuận còn lại Tỷ lệ cổ tức là không cố định; các khoản thu nhập có thể được phân phối cho cổ đông hoặc giữ lại trong kinh doanh Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế đại diện cho lợi nhuận của họ Lợi nhuận trên vốn cổ phần của các cổ đông được tính toán để cho thấy KNSL trong đầu tư của họ Vốn cổ phần của các cổ đông hoặc

Trang 32

giá trị tài sản ròng sẽ bao gồm vốn góp cổphần, thặng dư vốn, các quỹ và thặng dư lỗ lũy kế Giá trị tài sản ròng cũng có thể được tính toán bằng cách lấytổng tài sản trừ đi tổng nợ phải trả ROI là lợi nhuận ròng sau thuế chia ra từ vốn cổ phần của các cổ đônghay được đem lại từ giá trị tài sản ròng

Tỷ số này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng cao Ta thường dùng chi phí cơ hội của việc cho vay trên thị trường tiền tệ (trái phiếu kho bạc, tiền gửi tiết kiệm,…) làm mốc so sánh với chỉ số trên để xác định hiệu quả vốn đầu tư tự có Một doanh nghiệp phải có tỷ số cao hơn lãi suất tiết kiệm thì mới được coi là đạt hiệu quả

Việc xem xét chỉ tiêu này có một ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu kinh doanh của ban lãnh đạo doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa quy mô Nếu doanh nghiệp có tỷ số này ngày càng cao, lợi nhuận để lại càng lớn thì quy mô vốn tự có sẽ ngày càng tăng kết hợp với hoạt động đầu tư thận trọng thì tỷ lệ vốn CSH/ tổng nguồn vốn sẽ tăng dần, mức độ rủi ro cho vay của doanh nghiệp giảm Ngược lại, nếu doanh nghiệp có tỷ số này thấp, khả năng tích lũy hạn chế, trong khi đó quy mô đầu tư thì mở rộng dẫn đến doanh nghiệp sẽ sử dụng nguồn vốn bên ngoài nhiều hơn làm cho tỷ trọng vốn CSH/ tổng nguồn vốn giảm, kinh doanh không bền vững làm tăng rủi ro khi cho vay Tuy nhiên, tỷ số này sẽ không phản ánh đúng thực chất nếu doanh nghiệp hoạt động bằng vốn vay là chủ yếu, vốn CSH quá thấp

Lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

ROS = Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu

Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ

Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với

tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia Mặt khác, tỷ số này và

số vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau Do đó, khi đánh giá tỷ số này, người phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản

Lợi nhuận trên tài sản (ROA)

ROA = Lợi nhuận sau thuế + Chi phí lãi vay

Tổng tài sản

Trang 33

21

Lợi nhuận ròng trên tài sản thể hiện thu nhập ròng thu được của một công ty trên tổng tài sản được sử dụng cho công ty đó ROA cho thấy rằng các công ty với số tài sản lớn hơn sẽ có thể kiếm được mức thu nhập cao hơn ROA đo lường khả năng quản

lý tạo ra lợi nhuận trên nguồn lực công ty (tài sản) Số thu nhập được sử dụng trong tính toán này là thu nhập trước khi khấu trừ chi phí lãi vay, vì tiền lãi là lợi nhuận cho các chủ nợ - người cung cấp các nguồn lực cho công ty Kết quả điều chỉnh số thu nhập liên quan tới thu nhập trước khi phân phối cho những người cung cấp kinh phí cho công ty ROA được tính bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cộng với chi phí lãi vay của công ty cho tổng tài sản đầu tư trung bình trong năm

Khi xem xét chỉ tiêu này cần chú ý rằng đối với doanh nghiệp có quy mô tài sản lưu động quá lớn hoặc tỷ trọng vốn vay cao thì tỷ số này thường rất thấp do chi phí lãi vay cao làm lợi nhuận giảm Tỷ lệ này tăng là tốt nếu công ty tăng vốn chủ sở hữu, giảm nợ vay làm giảm chi phí lãi vay thì lợi nhuận đạt được cao hơn Tỷ lệ này tăng là dấu hiệu công ty làm ăn không hiệu quả nếu công ty giảm nợ vay do hoạt động kinh doanh bị thu hẹp, doanh thu lợi nhuận giảm nhưng giảm thấp hơn tốc độ giảm tổng tài sản Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản giảm không phải là dấu hiệu tồi nếu việc giảm là

do công ty tăng vốn CSH nên tổng nguồn vốn tăng tương ứng tổng tài sản tăng, nhưng lợi nhuận tăng với mức độ chậm hơn tăng tổng tài sản Tỷ lệ này giảm là dấu hiệu tồi nếu công ty tăng nợ vay, vốn CSH giảm do kinh doanh thua lỗ hoặc hoạt động kinh doanh mở rộng đầu tư vào những lĩnh vực không hiệu quả nên lợi nhuận không tăng thậm chí còn giảm so với trước

Tóm lại, có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá về KNTT cũng như KNSL của một doanh nghiệp Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, để tìm hiểu về mối quan hệ giữa KNTT và KNSL trong ngành bất động sản ở Việt Nam, tác giả sẽ chỉ lấy chỉ số KNTT hiện hành, KNTT nhanh, KNTT bằng tiền và thời gian quay vòng tiền để đại diện cho KNTT trong ngắn hạn, tỷ số KNTT nợ dài hạn (TSDH/ Nợ dài hạn và nợ dài hạn/TSDH) để đại diện cho KNTT dài hạn; chỉ số ROA, ROE, ROI đại diện cho KNSL để tiến hành thực nghiệm tìm hiểu mối tương quan giữa KNTT và KNSL

2.3 Mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Có nhiều nghiên cứuvà đánh giá khác nhau về mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi Tuy nhiên có thể chia thành hai trường phái chính như sau:

2.3.1 Lý thuyết đánh đổi (trade -off theory)

Theo lý thuyết đánh đổi (TOT) công ty nên giữ tỷ lệ nợ đúng mức và luôn tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Một lý do lớn khiến các

Trang 34

doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích “lá chắn thuế” từ chi phí lãi vay, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ và chi phí đại diện giữa CSH với chủ nợ Đó là một tỷ lệ đòn bẩy tối ưu cân bằng giữa chi phí và lợi ích của nợ, đảm bảo hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro kinh doanh mà vẫn giúp doanh nghiệp tận dụng được hiệu quả nguồn vốn nợ

Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình Theo Castanias (1983) thì điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại

đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì giá trị lợi ích biên từ tấm chắn thuế sẽ cân bằng với chi phí biên của kiệt quệ tài chính

Trong lý thuyết này có hai trường phái là thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh và thuyết đánh đổi cấu trúc vốn động Theo thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh của Jensen

và Meckling (1976), Jensen (1986) thì doanh nghiệp có thể dễ dàng, nhanh chóng đạt tới tỷ lệ nợ tối ưu để tối đa hóa giá trị và trong suốt quá trình tồn tại, doanh nghiệp chỉ

có một cấu trúc vốn tối ưu duy nhất Còn theo quan điểm còn lại là thuyết đánh đổi cấu trúc vốn động (Stiglitz – 1973, Kane – 1984, Brennan và Schwart – 1984, Goldstein –

2001, Strebulaey – 2007) thì cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp sẽ biến động và thay đổi theo từng thời kỳ do tác động của sự kỳ vọng (về lãi suất, lạm phát tương lai) hay các chi phí điều chỉnh (thuế, nhu cầu vốn…) dẫn tới doanh nghiệp cần quá trình điều chỉnh lâu hơn để đạt được cấu trúc vốn tối ưu Do đó, trong ngắn hạn, cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ dao động quanh mức tối ưu và có xu hướng đạt mức tối ưu trong dài hạn

Theo lý thuyết đánh đổi thì mỗi công ty khác nhau sẽ có tỷ lệ nợ khác nhau, cụ thể như việc giải thích thành công nhiều sự khác biệt trong cấu trúc vốn của các lĩnh vực công nghiệp Ví dụ: những công ty có lợi nhuận cao, với đa số tài sản hữu hình như công ty thuộc về hàng không, có mức độ an toàn cao hơn sẽ có tỷ lệ nợ nhiều hơn Trong khi đó, những công ty ít lợi nhuận, có nhiều tài sản vô hình, nhiều rủi ro lại huy động nguồn tài chính chủ yếu từ vốn CSH Cũng theo thuyết này thì những công ty không vay nợ sẽ phát hành cổ phiếu, giữ lại cổ tức không chia, bán tài sản để nâng nguồn tiền mặt tái cân bằng cấu trúc vốn

Trang 35

23

Như vậy, theo lý thuyết đánh đổi thì khi doanh nghiệp duy trì khả năng thanh toán cao thì đánh đổi lại lợi nhuận đạt được sẽ thấp nguyên nhân là do khi doanh nghiệp duy trì tài sản ngắn hạn cao thì khả năng sinh lời thấp do chi phí hoạt động cao, hơn nữa với việc duy trì nợ thấp cũng khiến doanh nghiệp chịu chi phí tài chính cao hơn, mặt khác lại không sử dụng được đòn bẩy tài chính cũng như khoản tiết kiệm chi phí từ lãi vay Ngược lại, khi doanh nghiệp duy trì khả năng thanh toán ngắn hạn thấp thì đánh đổi với rủi ro tài chính cao thì khả năng sinh lời cũng cao Điều này đã được minh chứng qua rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm, cụ thể:

Một nghiên cứu được thực hiện tại các công ty dầu khí ở Pakistan cho thấy KNTT chỉ ảnh hưởng đáng kể đến ROA trong khi không ảnh hưởng đến ROE và ROI; Kết quả chính của nghiên cứu cũng cho thấy rằng mỗi tỷ lệ KNTT (thay đổi) có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp với mức độ khác nhau ở nơi đầu tiên Họ cũng chỉ ra nguyên tắc đối lập giữa KNTT và KNSL: Có một sự đánh đổi giữa KNTT và KNSL của doanh nghiệp, cái này tăng thì cái kia sẽ giảm hay để đạt được nhiều hơn cái này sẽ phải từ bỏ một số cái khác

Eljelly (2004) trong nghiên cứu về các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoánẢ Rập Xê-út đã chỉ ra mối quan hệ giữa khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng sinh lời thông qua phân tích hồi quy tương quan Trong nghiên cứu này, tác giả

sử dụng thời gian quay vòng của tiền là thước đo cho khả năng thanh toán ngắn hạn Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những công ty có thời gian quay vòng tiền ngắn thì có khả năng sinh lời cao hơn Kết luận tương tự cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của García-Teruel và Solano (2007) trên mẫu nghiên cứu 8872 doanh nghiệp

Nghiên cứu của Raheman và Nasr (2007) cũng chỉ ra rằng khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng sinh lời của 94 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Paskistan có mối quan hệ ngược chiều nghĩa là khi khả năng thanh toán tăng thì khả năng sinh lời giảm xuống và ngược lại

Shin Soenen (1998) đã phân tích một mẫu của các công ty Mỹ cũng báo cáo kết quả tương tự nhưng đã sử dụng chu kỳ kinh doanh thuần (NTC) là thước đo toàn diện

về quản lý vốn lưu động Trong nghiên cứu này, tác giảđã chỉ ra mối quan hệ ngượcchiều giữa NTC và KNSL Tuy nhiên khi xem xét riêng từng ngành thì NTC không có tác động đáng kể đến KNSL

Deloof (2003) đã phân tích một mẫu của các công ty Bỉ, Wang (2002) đã phân tích một mẫu của các công ty Nhật Bản và Đài Loan, nhấn mạnh rằng cách quản lý vốn lưu động có tác động đáng kể đến KNSL của các doanh nghiệp và tăng KNSL bằng cách giảm các khoản phải thu và giảm hàng tồn kho Chu kỳ chuyển đổi tiền

Trang 36

ngắn hơn và chu kỳ thương mại thuần liên quan đến hiệu quả hoạt động tốt hơn của các công ty Hơn nữa, quản lý vốn lưu động hiệu quả là rất quan trọng để tạo ra giá trị cho các cổ đông

Afza và Nazir (2007) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động cấp tiến và thận trọng cho một mẫu lớn gồm 205 công ty trong 17 ngành niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi trong 1998-2005 Trong nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa KNSL và mức độ đầu tư vào vốn lưu động cũng như chính sách quản lý vốn lưu động của công ty

Ganesan (2007) đã lựa chọn ngành công nghiệp thiết bị viễn thông để nghiên cứu hiệu quả quản lý vốn lưu động Mẫu cho bài nghiên cứu của ông bao gồm báo cáo tài chính của 443 báo cáo tài chính hàng năm của 349 công ty thiết bị viễn thông cho giai đoạn 2001-2007 Các kiểm định thống kê sử dụng bao gồm tương quan, phân tích hồi quy và phân tích phương sai (ANOVA) Kết quả cho thấy số ngày của vốn lưu động ảnh hưởng tiêu cực đến KNSL của các doanh nghiệp nhưng trong thực tế nó không ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển của các công ty trong ngành công nghiệp thiết bị viễn thông

Mohammadi (2009) trong nghiên cứu của họ đã nghiên cứu tác động của quản lý vốn lưu động trên KNSL của công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Tehran giữa những năm 1996-2005 lấy 92 công ty làm mẫu Kết quả nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ nghịch đảo giữa KNSL của các công ty và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của nó (thời gian quay vòng hàng tồn kho, thời gian thu nợ và thời gian trả nợ) Nó cũng nói lên rằng các công ty có KNSL thấp, có thời gian trả nợ ngắn Izadinia và Taki (2010) đã nghiên cứu tác động của quản lý vốn lưu động trên các KNSL tiềm năng ở các công ty được liệt kê ở thị trường chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2001-2008 Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc ROA được coi là một tiêu chuẩn đo lường tiềm năng KNSL Kết quả cho thấy có một mối quan hệ ngược chiều giữa các chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với ROA Ngoài ra, họ cho rằng đầu tư cao vào hàng tồn kho và các khoản phải thu sẽ dẫn đến KNSL thấp hơn ở các công ty

Raheman (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của các biến khác nhau của quản lý vốn lưu động bao gồm thời gian thu nợ trung bình, thời gian quay vòng hàng tồn kho, thời gian trả nợ trung bình, chu kỳ chuyển đổi tiền và KNTT hiện hành trên lợi nhuận thuần

từ hoạt động của các doanh nghiệp Pakistan Bằng cách sử dụng phân tích tương quan

và hồi quy của Pearson, tác giả phát hiện ra rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa các biến trong quản lý vốn lưu động và KNSL Tácgiả cũng nhận thấy rằng khi chu kỳ chuyển đổi tiền mặt tăng lên, nó dẫn đến giảm KNSL của các công ty và các nhà quản

Trang 37

2.3.2 Giả thuyết củaHirigoyen (Hirigoyen hypothesis)

Theo Hirigoyen thì sẽ có mối quan hệ tác động hai chiều giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, một doanh nghiệp có khả năng thanh toán thấp sẽ có thể có lợi nhuận cao và một doanh nghiệp có lợi nhuận thấp khó có thể đạt được mức khả năng thanh toán cao

Một doanh nghiệp có KNTT thấp và KNSL cao khi tăng nợ vay sẽ làm gia tăng chi phí áp lực tài chính Điều này sẽ làm tăng chi phí tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu, vì vậy họ không còn được hưởng lợi thế nguồn vốn có chi phí rẻ nữa Hơn thế nữa, khi các doanh nghiệp này gia tăng nợ vay thì rủi ro tài chính tăng, điều này dẫn đến chi phí lãi vay gánh chịu cao hơn Chính vì vậy, những doanh nghiệp này buộc phải gia tăng nguồn vốn tín dụng thương mại, với việc sử dụng nhiều nguồn vốn tín dụng thương mại giá cả đầu vào sẽ đắt đỏ hơn và kéo theo việc gia tăng chi phí hoạt động của công ty Như vậy, có thể thấy rằng khi duy trì KNTT thấp có thể dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp ngày càng trở nên tồi tệ và rủi ro phá sản ở mức cao Mặt khác, một doanh nghiệp có KNTT thấp kết hợp với KNSL cao có thể không tạo ra đủ tiền để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động, đầu tư tài sản cố định mới hay thanh toán các khoản nợ đến hạn, do đó dẫn đến mất khả năng thanh toán Chính

vì vậy Hirigoyen cho rằng KNTT và KNSL là hai điều kiện cần và đủ hỗ trợ cho nhau đểđảm bảo sự tồn tại, phát triển của một doanh nghiệp trong dài hạn cụ thể:

(1) KNSL đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp tuy nhiên KNSL phải đảm bảo duy trì được KNTT của doanh nghiệp

(2) KNTT cao sẽ giảm tổng rủi ro của doanh nghiệp nghĩa là vốn lưu động ròng tăng giúp giảm nguy cơ phá sản, tuy nhiên KNTT càng cao, mức độ an toàn lớn sẽ hạn chế KNSL của doanh nghiệp

(3) KNTT và KNSL là hai điều kiện cần cân nhắc của bất kỳ một doanh nghiệp nào khi xây dựng chiến lược phát triển Một doanh nghiệp đang trong thời kỳ phát

Trang 38

triển sẽ có sự cải tiến trong chiến lược tài chính, tác động đến chu kỳ kinh doanh từ đó tác động đến KNTT

Từ nghiên cứu của mình, Hirigoyen kết luận rằng KNSL và KNTT là hai điều kiện cần vàđủ cho sự tồn tại của doanh nghiệp.Vì vậy việc thống nhất hai yếu tố này là mục tiêu cơ bản của bất kỳ doanh nghiệp nào

Từ nghiên cứu của Hirigoyen, Pimentel và các cộng sự (2005) đã sử dụng mẫu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Brazin giai đoạn 2000 đến 2003 để kiểm tra giả thuyết trên Nghiên cứu nàyđã chỉ ra rằng khi các công ty duy trì khả năng thanh toán ngắn hạn cao thì dẫn đến khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp, nghĩa

là KNTT có tác động ngược chiều đến KNSL Kết quả này đã giải thích cho mối quan

hệ giữa KNTT và KNSL trong ngắn hạn Tuy nhiên khi kiểm tra giả thuyết của Hirigoyen trong trung và dài hạn, các tác giả đã bác bỏ giả thuyết của Hirigoyen là các công ty có KNTT thấp và KNSL cao sẽ gây ra tác động làm giảm KNSL hay các công

ty có KNTT cao và KNSL thấp sẽ giảm KNTT với 72% mẫu không chấp thuận giả thuyết này

Như vậy, có thể thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau từ những nhà nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa KNTT và KNSL Một số cho rằng KNTT và KNSL có mối quan hệ ngược chiều, một số khác thì cho rằng KNTT và KNSL có mối quan hệ thuận chiều và có người thì cho rằng KNTT và KNSL có quan hệ cùng chiều trong ngắn hạn và ngược chiều trong trung và dài hạn Bài nghiên cứu này sẽ xác minh mối liên hệ giữa KNTT và KNSL hay chính là để trả lời cho câu hỏi: KNTT tác động như thế nào đến KNSL trong các công ty cổ phần ngành BĐS được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

Trang 39

27

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu

Sơ đồ 3 1 Quy trình nghiên cứu

Từ sơ đồ trên, ta thấy để tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa KNTT và KNSL trong doanh nghiệp cần tiến hành các bước sau:

Bước 1:Xác định các chỉ tiêu đại diện cho KNTT và KNSL của các Công ty Cổ

phần ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Dựa vào những nền tảng lý thuyết, cơ sở lý luận về KNTT và KNSL và các chỉ tiêu dùng để đo lường KNTT và KNSL trong doanh nghiệp đã được nêu ở trên, đề tài nghiên cứu sẽ sử dụng các chỉ tiêu là: tỷ số KNTT hiện hành (CR), tỷ số KNTT nhanh (QR), tỷ số KNTT bằng tiền (ACIDR), tỷ số nợ dài hạntrênTSDH (LDR) đại diện cho KNTT; và sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản(ROA), lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), lợi nhuận trên vốn CSH (ROE) đại diện cho KNSL của các Công ty Cổ phần ngành BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Việc xác định rõ các chỉ tiêu cần phân tích như trên sẽ giúp cho việc thu thập số liệu được tiến hành nhanh chóng, đầy đủ và chính xác hơn

Bước 2: Thu thập dữ liệu và xử lý số liệu

Dựa trên các chỉ tiêu phân tích, các chỉ tiêu đo lường đã được xác định ở bước 1,

ta sẽ tiến hành thu thập các số liệu liên quan của các Công ty cổ phần ngành BĐS niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong thời gian 5 năm từ 2009 đến 2013 thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán đầy đủ Đối với các chỉ tiêu không có sẵn số liệu cụ thể, ta sẽ tiến hành tính toán thông qua qua các công thức đã được nêu trong phần phân tích các chỉ tiêu đo lường KNTT và KNSL của doanh nghiệp ở chương trước Các số liệu thu thập được sẽ được sắp xếp một cách khoa học và hợp lý để thuận tiện cho việc chạy phần mềm

Bước 3: Phân tích thống kê mô tả

Sau khi thu thập được đầy đủ các số liệu cần thiết, ta tiến hành phân tích thống kê

mô tả, tức là đưa ra những đặc tính cơ bản nhất của các nhân tố được cho là đại diện

Xác định các

chỉ tiêu

cần phân

tích

Thu thập và

xử lý số liệu

Phân tích thống

kê mô

tả

Kiểm tra dữ liệu

Phân tích hệ

số tương quan Pearson

Kiểm định sự phù hợp

và đưa

ra kết quả nghiên cứu

Trang 40

cho KNTT và KNSL của doanh nghiệp như giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình… Qua đó cũng thấy được khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần ngành BĐS trong 5 năm từ 2009 đến 2013

Bước 4: Kiểm tra dữ liệu trước khi phân tích hồi quy tuyến tính

Đây được coi là một bước có vai trò vô cùng quan trọng trước khi tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính, xây dựng mô hình hồi quy Trong bước này, ta sẽ kiểm tra tính chuẩn mực của dữ liệu thu thập được để giúp cho các kết quả hồi quy sau này có độ chính xác cao hơn

Kiểm định đa cộng tuyến

Hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra khi tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập trong mô hình, khiến cho các ước lượng hồi quy kém chính xác, khoảng tin cậy cho các hệ số hồi quy cũng rộng hơn, làm giảm ý nghĩa và tính hiệu quả của mô hình Do đó cần phải tiến hành kiểm định đa cộng tuyến để có các biện pháp khắc phục hợp lý để tăng mức độ hiệu quả cho mô hình Ta sẽ tiến hành kiểm định thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor) và giá trị độ chấp nhận của biến Tolerance

Kiểm định tự tương quan

Hiện tượng tự tương quan xảy ra khi có sự tương quan giữa các sai số trong giả thiết của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển Việc vi phạm giả thiết này sẽ khiến cho các ước lượng về phương sai, kiểm định t và kiểm định F không còn đáng tin cậy nữa Trong nghiên cứu này, ta sẽ tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan thông qua phương pháp Durbin-Watson

Bước 5: Phân tích hệ số tương quan Pearson (r)

Tiến hành xác định mối tương quan giữa các biến thông qua hệ số tương quan r (Pearson Correlation Coefficient) là một bước khá quan trọng nhằm xác định mức độ tương quan giữa các biến để có thể lựa chọn ra các biến độc lập có quan hệ tuyến tính với các biến phụ thuộc Qua đó thấy được chiều tương quan và mức độ tương quan mạnh hay yếu giữa các biến phụ thuộc với các biến độc lập

Bước 6: Kiểm định sự phù hợp của mô hình được xây dựng và đưa ra kết quả

Ngày đăng: 25/03/2017, 21:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Phân tích báo cáo tài chính” – PGS. TS Nguyễn Năng Phúc – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích báo cáo tài chính
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2011)
2. “Phân tích kinh doanh” – PGS. TS Nguyễn Văn Công – NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh doanh
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2012)
3. “Quản trị tài chính” – TS.Nguyễn Thanh Liêm – NXB Thống kê (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
Nhà XB: NXB Thống kê (2009)
4. “Quản trị tài chính” – Eugene F.Brigham, Joel F.Houston, Đại học Florida – ĐH Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
Tác giả: Eugene F. Brigham, Joel F. Houston
Nhà XB: Đại học Florida
5. “Quản trị tài chính doanh nghiệp” – Nguyễn Hải Sản – NXB Tài chính (2005) 6. “Tài chính doanh nghiệp” – TS.Nguyễn Minh Kiều – NXB Thống kê (2009) Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Sản
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
1. Moyer, R. C. (1977) – “Forecasting Financial Failure: A Re-Examination”, Financial Management Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forecasting Financial Failure: A Re-Examination
2. Manzler, D. (2004) – “Liquidity, liquidity risk and the closed-end fund discount”, Working paper, University of Cincinnati Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liquidity, liquidity risk and the closed-end fund discount
3. Pimentel, R. C., Braga, R., &amp; Casa Nova, S. P. C. (2005) – “Interaỗóo entre rentabilidade e liquidez: um estudo exploratório”, Revista de Contabilidade do Mestrado em Ciências Contábeis da UERJ, Rio de Janeiro Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interaỗóo entre rentabilidade e liquidez: um estudo exploratório
Tác giả: Pimentel, R. C., Braga, R., Casa Nova, S. P. C
Nhà XB: Revista de Contabilidade do Mestrado em Ciências Contábeis da UERJ
Năm: 2005
4. Raheman, A. &amp; Nasr, M. (2007) – “Working capital management and profitability” – case of Pakistani firms, International Review of Business Research Papers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working capital management and profitability
5. Shin, H., &amp; L. Soenen, (1998) – “Efficiency of Working Capital and Corporate Profitability”, Financial Practice and Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Efficiency of Working Capital and Corporate Profitability
6. Soenen, L.A (1993), – “Cash Conversion Cycle and Corporate Profitability”, Journal of Cash Management Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cash Conversion Cycle and Corporate Profitability
Tác giả: L.A Soenen
Nhà XB: Journal of Cash Management
Năm: 1993
7. Sharma, A.K. &amp; Kumar, S. (2011) – “Effect of Working Capital Management on Firm Profitability”, Empirical Evidence from India”, Global Business Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of Working Capital Management on Firm Profitability, Empirical Evidence from India
Tác giả: A.K. Sharma, S. Kumar
Nhà XB: Global Business Review
Năm: 2011
8. Scherr, F. C. (2007). – “Modern Working Capital Management, Prentice-Hall International, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern Working Capital Management
Tác giả: F. C. Scherr
Nhà XB: Prentice-Hall International, Inc
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w