1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Mô tả sự hài lòng của người bệnh về thái độ và thực hành chuyên môn của điều dưỡng viên tại bệnh viện Da liễu Trung ương và một số yếu tố liên quan đến năm 2013

52 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 660,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Mô tả sự hài lòng người bệnh về thái độ và kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng – kỹ thuật viên tại Bệnh viện Da liễu rung ư ng và một số yếu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

TẠI BỆNH VIỆN D LIỄU TRUNG ƯƠNG VÀ

ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QU N NĂ 2013

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP C NH N ĐIỀU DƯỠNG HỆ VLVH

HÀ NỘI - Tháng 11 năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

TẠI BỆNH VIỆN D LIỄU TRUNG ƯƠNG VÀ

ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QU N NĂ 2013

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP C NH N ĐIỀU DƯỠNG HỆ VLVH

Người hướng dẫn khoa h c r n h hanh ư ng

HÀ NỘI - Tháng 11 năm 2013

Trang 3

LỜI CẢ ƠN

Để hoàn thành đề tài này:

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo, khoa khoa học sức khỏe,bộ môn điều dưỡng Tường Đại học Thăng Long, Ban lãnh đạo Bệnh viện Da liễu Trung ương đã hết lòng quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn kính trọng sâu sắc tới r n h hanh

ư ng, Phó Chủ nhiệm bộ môn Y đức Trường Đại học Y Hà Nội người thầy đã hết

lòng tận tâm trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo cho tôi những kiến thức, phương pháp quý báu trong suốt qua trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn kính trong tới G Phạm Minh Đức Chủ nhiệm bộ

môn Khoa khoa học sức khỏe Trường Đại học Thăng Long, người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn kính trọng tới các thầy cô Khoa khoa học sức khỏe, bộ môn điều dưỡng Trường Đại học Thăng Long đã tận tình chỉ bảo,giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn kính trọng tới các thầy trong hội đồng chấm đề tài này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng nghiệp, cơ quan liên quan đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này

Cuối cùng , tôi bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè thân thiết đã hết lòng giúp Đỡ tôi, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài này

Hà Nội, ngày tháng năm 2013

Nguyễn Thị inh Phương

Trang 5

D NH ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT Bảo hiểm y tế

CBYT Cán bộ y tế ĐTNC Đối tƣợng nghiên cứu TCYTTG Tổ chức y tế thế giới KNGT Kỹ năng giao tiếp CBVC Cán bộ viên chức

Trang 6

ỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1 Khái niệm giao tiếp 3

1.1 Định nghĩa giao tiếp 3

1.2 Thái độ: 3

1.3 Mục đích của giao tiếp 4

1.4 Các phương thức giao tiếp 5

1.4.1 Giao tiếp bằng lời 5

1.4.2 Giao tiếp không lời 5

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng kỹ năng giao tiếp 6

1.5.1 Phong tục tập quán 6

1.5.2.Tuổi 6

1.5.3 Giới tính 7

1.5.4 Nghề nghiệp 7

1.5.5 Yếu tố người bệnh 7

1.6 Sự hài lòng của người bệnh đối với chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe 7 2 Các nghiên cứu về giao tiếp của nhân viên y tế 8

2.1 Trên thế giới 8

2.2 Tại Việt Nam 9

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

2.1 Địa điểm nghiên cứu 10

2.2 Đối tượng nghiên cứu 10

2.2.1.Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng: 10

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân ra khỏi nghiên cứu: 10

2.3 Thời gian thu thập số liệu 10

2.4 Phương pháp nghiên cứu 10

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 10

2.4.2 Cỡ mẫu: 10

2.4.3 Kỹ thuật và công cụ 11

2.5 Xử lý số liệu 11

Trang 7

2.6 Một số sai số có thể gặp phải và cách khắc phục 12

2.7 Đạo đức nghiên cứu 12

2.8 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 13

2.9 Biến số và chỉ số nghiên cứu chính 14

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 16

3.2 Mức độ hài lòng của bệnh nhân với các kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng 17 3.2.1 Mức độ hài lòng của người bệnh ngoại trú 17

3.2.2 Mức độ hài lòng của người bệnh điều trị nội trú 19

3.3 Một số yếu tố liên quan tới mức độ hài lòng của bệnh nhân 22

3.3.1 Mối liên quan giữa mức độ hài lòng của bệnh nhân với thái độ giao tiếp của điều dưỡng theo giới tính của bệnh nhân 22

3.3.2 Mối liên quan giữa mức độ hài lòng của bệnh nhân nội trú với thái độ giao tiếp của điều dưỡng theo chế độ BHYT của bệnh nhân 24

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 28

4.1 Đối tượng nghiên cứu 28

4.2 Mức độ hài lòng của bệnh nhân với các kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng 29 4.2.1 Mức độ hài lòng của người bệnh ngoại trú 29

4.2.2 Mức độ hài lòng của người bệnh điều trị nội trú 31

KẾT LUẬN 34

KIẾN NGHỊ 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

theo chế độ BHYT của BN 25 Bảng 3.6 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung của bệnh nhân ngoại trú với một

số yếu tố 26 Bảng 3.7 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung của bệnh nhân nội trú với một số

yếu tố 27

Trang 9

thuật chăm sóc và điều trị 20 Biểu đồ 3.5 Mức độ hài lòng của BN với sự hướng dẫn và tư vấn thông tin của ĐD 21

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Trong đó giao tiếp là một yếu

tố không thể thiếu để duy trì các mối quan hệ hội đó Nó giúp con người có thể sống, lao động, học tập công tác tốt hơn

Giao tiếp chính là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nhân cách Nhờ có giao tiếp con người sẽ tự hiểu, hoàn thiện mình nhiều hơn Đồng thời

cũng hiểu được tâm tư, tình cảm, ý nghĩ nhu cầu của người khác[10]

Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, giao tiếp càng trở nên quan trọng

Kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp con người giải quyết công việc nhanh gọn hơn, tạo ra tâm lý hưng phấn, gắn bó với nhau trong cuộc sống thường ngày Ngược lại giao tiếp không tốt, không đúng mức sẽ đem lại những tác hại không thể tháo gỡ được Giao tiếp trong ngành y nói chung và của điều dưỡng nói riêng Không những

là hoạt động mang tính xã hội mà còn là quan hệ xã hội, giao tiếp giữa con người với con người Vì vậy giao tiếp không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp cho người cán bộ y tế mà còn là một bộ phận cấu thành của hoạt động nghề nghiệp

Ngày nay có 3 yếu tố quan trọng làm tăng hiệu quả điều trị, chăm sóc Đó là

sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng trang thiết bị hiện đại và nghệ thuật giao tiếp ứng xử [10] Kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng tốt sẽ giúp cho công việc chăm sóc được thực hiện thuận lợi và đem lại sự hài lòng cho người bệnh Nó góp phần làm phục hồi sức khỏe, giúp quá trình điều trị sớm đạt kết quả Tuy nhiên vai trò giao tiếp trong bệnh viện nói chung, điều dưỡng nói riêng được thực hiện đến đâu thì vẫn chưa có một đề tài nào thống kê vai trò hiệu quả của giao tiếp với người bệnh

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Mô tả sự hài lòng người bệnh về thái độ và kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng –

kỹ thuật viên tại Bệnh viện Da liễu rung ư ng và một số yếu tố liên quan”

Trang 11

Mục tiêu cụ thể:

1 Mô tả sự hài lòng của người bệnh về thái độ kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng – kỹ thuật viên Bệnh viện Da liễu W

2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới sự hài lòng của người bệnh về thái độ và

kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng kỹ thuật viên tại Bệnh viện Da liễu W

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QU N

1 hái niệm giao tiếp

1.1 Định nghĩa giao tiếp

Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người trong xã hội, nhằm trao đổi thông tin, hiểu biết, tình cảm, kinh nghiệm sống v.v tạo nên những ảnh hưởng, tác động qua lại để con người đánh giá, điều chỉnh và phối hợp với nhau trong hoạt động

Trong tâm lý học xã hội, giao tiếp là một dạng thức căn bản của hành vi con

người, là “cơ chế để các liên hệ người tồn tại và phát triển.”(Cooley -1902) [5] ,

thông qua giao tiếp các cá nhân không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các bối cảnh xã hội

mà họ phản ứng lại, mà còn tác động lẫn nhau thường xuyên với những người khác được coi là người đối thoại

Trong các lý luận về giao tiếp xã hội, tồn tại một quan niệm khá phổ biến coi như giao tiếp như một quá trình thông tin: quá trình này bao gồm việc thực hiện và duy trì sự liên hệ giữa các cá nhân Theo Osgood C.E, nhà tâm lý học xã hội người

Mỹ thì giao tiếp bao gồm các hành động riêng lẻ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin Ông cho rằng giao tiếp là một quá trình hai mặt: liên lạc

và môi trường sống Con người có thể giúp cho việc thay đổi cách suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề, mức độ quan tâm tới vấn đề và từ đó dẫn tới sự thay đổi thái độ

Trang 13

1.3 ục đích của giao tiếp

Mục đích của giao tiếp là truyền tải các thông điệp và thu nhận được những thông tin cần thiết Trong quá trình khám chữa bệnh thì các công việc cụ thể là hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ quá trình điều trị, tư vấn chăm sóc, vệ sinh cá nhân, giải đáp các thắc mắc đồng thời lắng nghe người bệnh để thấu hiểu họ, tạo ra sự gắn kết giữa người bác sĩ, điều dưỡng với bệnh nhân của mình Qua đó làm tăng hiệu quả khám chữa và điều trị [10]

ình 1 Các mục đích của giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp (KNGT) giữa thầy thuốc – người bệnh là xây dựng mối quan hệ tốt giữa thầy thuốc với người bệnh ngay từ thời điểm tiếp xúc ban đầu Những người bệnh này có thể ở trạng thái lo lắng, bối rối, đôi khi hốt hoảng, tuyệt vọng vì bệnh tật Giao tiếp tốt, thái độ phục vụ ân cần, thông cảm, ấn tượng tốt đẹp

và những lời nói động viên khuyến khích của người thầy thuốc sẽ giúp người bệnh

Duy trì mối quan hệ Giải đáp thắc mắc

Biểu đạt cảm xúc

Truyền gửi thông tin

An ủi, sẻ chia Duy trì mối quan hệ

Đưa ra quyết định

Tạo niềm tin

Giao tiếp

Trang 14

an tâm hơn Họ sẽ tâm sự khó khăn, lo lắng của họ, đồng thời cảm thấy yên tâm và tin tưởng vào người thầy thuốc [10]

KNGT tốt sẽ giúp cho nhân viên y tế khai thác được các thông tin tế nhị và nhạy cảm mà người bệnh ngại nói ra Nhờ đó mà mà việc chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sẽ đạt hiệu quả cao hơn

1.4 Các phương thức giao tiếp

Có hai hình thức giao tiếp:

- Giao tiếp bằng lời

- Giao tiếp không lời

1.4.1 Giao tiếp bằng lời

Giao tiếp bằng lời là sử dụng ngôn ngữ như nói, nghe, đọc, viết có lời để thực hiện hành vi giao tiếp Khi giao tiếp câu từ phải đơn giản, ngắn gọn, truyền đạt

đủ nội dung Cần phải có đủ các thành phần phong phú, sinh động, giầu hình ảnh càng dễ gây ấn tượng, cảm xúc cho bệnh nhân Từ ngữ dùng trong giao tiếp là các từ phổ thông, tránh dùng nhiều từ y học, chuyên ngành làm cho bệnh nhân khó hiểu Khi nói tốc độ nói vừa phải, không nên nói quá nhanh hoặc quá chậm Khi giao tiếp

ta có cụm từ chủ ngữ nên thể hiện tôn trọng và tin tưởng đối tượng.[10]

Ngôn ngữ là công cụ cơ bản để giao tiếp, truyền thông tin Ngữ điệu trong giọng nói sử dụng hợp lý với từng môi trường, đối tượng khác nhau: như đối với

NB phải nhã nhặn, mạch lạc khi hướng dẫn về nội quy bệnh viện hay hướng dẫn họ

sử dụng thuốc Thái độ phải ân cần khi giải thích, hướng dẫn Lắng nghe là là một khả năng quan trọng khi giao tiếp với NB Lắng nghe tốt giúp ta có nhiều thông tin

từ đó ta có thể xử lý, giải mã chính xác Lắng nghe tích cực sẽ thành đạt trong giao tiếp.[10]

1.4.2 Giao tiếp không lời

Giao tiếp không lời là giao tiếp thể hiện qua các hành vi, cử chỉ Giao tiếp không lời được biểu hiện bên ngoài cá nhân như quần áo trang phục, trang điểm thể hiện tình trạng kinh tế, văn hóa, tôn giáo Tư thế con người cũng thể hiện tình trạng sức khỏe, thái độ giao tiếp Nét mặt thể hiện sự ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, căm ghét, hạnh phúc, tươi cười

Trang 15

ình 2 Một số hành vi giao tiếp không lời

Hành vi không lời làm tăng tác dụng giao tiếp bằng lời, làm thay đổi theo văn hóa: cười, vẫy tay có thể có ý nghĩa khác nhau với phong tục văn hóa khác nhau Vậy khi giao tiếp người điều dưỡng phải kiểm soát nét mặt, dáng đi đứng, thái độ, tác phong khi giao tiếp với NB Qua GT không lời người nhận thông tin có thể hiểu được nhiều thông tin như cử chỉ có thể diễn đạt cảm xúc buồn, mệt mỏi, thích thú Điệu bộ có thể diễn đạt sự tức giận, lo lắng, vui sướng Nét mặt có thể diễn đạt sự yêu thương, căm ghét, vui buồn Ánh mắt có thể là tín hiệu của yêu thương, buồn rầu, lo lắng Vận động cơ thể như bắt tay, vỗ vai, xoa đầu thể hiện sự

không lời

Trang 16

1.5.3 Giới tính

Nam và nữ có những cách sử dụng ngôn từ, diễn đạt không giống nhau Nam thì thường mạnh mẽ, dứt khoát Nữ thì mềm mỏng, nhẹ nhàng Vậy khi giao tiếp thì cũng cần chú ý tới giới tính của người đôí diện để có những cách giao tiếp cho phù hợp[ 2]

1.5.4 Nghề nghiệp

Những người làm việc cùng một ngành nghề thì họ thường có những ngôn

từ, cách diễn đạt giống nhau khi giao tiếp, nó đặc trưng riêng cho ngành nghề đó Thế nên nghề nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ tới KNGT Nhân viên y tế nói

chung và các điều dưỡng nói riêng phải có KNGT trong thực hành nghề y[2]

1.5.5 Yếu tố người bệnh

Tác động đến quá trình giao tiếp giữa điều dưỡng và người bệnh còn là những yếu tố chủ quan của người bệnh Người bệnh mà điều dưỡng tiếp xúc ở đây rất phong phú với đủ mọi đối tượng: độ tuổi, người già, trẻ em, phụ nữ mang thai mắc các bệnh cấp tính và mạn tính, người nằm viện trong thời gian dài, người mới vào viện Người bệnh là người đang có vấn đề về sức khỏe, do đó họ thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố: bệnh tật đang bị mắc, thời gian mắc bệnh, điều kiện kinh tế, yếu tố tâm lý

Mỗi người bệnh là một cá nhân riêng, có suy nghĩ và hành vi khác nhau, do

đó việc áp dụng KNGT vào mỗi người bệnh của mỗi điều dưỡng phải linh hoạt tùy

từng trường hợp[10]

1.6 Sự hài lòng của người bệnh đối với chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Năm 2000, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã nêu khái niệm “sự thông cảm” (responseveness) nhằm cố gắng đưa ra đặc điển hài lòng của người dân trong hệ thống y tế “Sự thông cảm” được định nghĩa là “đo lường những hoạt động của hệ thống lien quan đến giá trị y tế ,kỳ vọng của người dân về cư xử của những người cung cấp dịch vụ dự phòng, chăm sóc và những dịch vụ không liên quan đến con người” WHO đã nêu 7 đặc điểm của “sự thông cảm” và được liệt kê thành 2 nhóm:

- Tôn trọng con người:

+ Tôn trong giá trị của con người + Sự bí mật (Xác định ai được xem xét hồ sơ y tế của bệnh nhân)

Trang 17

+ Tự chủ tham gia chọn lựa sức khỏe của chính mình

- Định hướng khách hàng:

+ Quan tâm ngay đối với những trường hợp cấp cứu và thời gian chờ đợi hợp

lý đối với trường hợp không cấp cứu + Chất lượng đầy đủ như sạch sẽ, không gian rộng rãi + Tiếp nhận được những hỗ trợ từ ngoài: bệnh nhân có thể nhận được sự chăm sóc từ gia đình và bạn bè

+ Tự do chọn lựa người (cá nhân hay tổ chức) cung cấp dịch vụ [3]

2 Các nghiên cứu về giao tiếp của nhân viên y tế

2.1 Trên thế giới

Từ lâu giao tiếp trong y học đã được đề cập tới nhưng mới chỉ được xem xét

bó hẹp ở phạm vi ứng xử của người thầy thuốc với người bệnh và trước khi ngành tâm lý học y học ra đời, vấn đề này thường được các danh y, các thầy thuốc có tên tuổi trên toàn thế giới đánh giá như một phạm trù đạo đức, một tiêu chuẩn đạo đức không thể thiếu được của người thầy thuốc chân chính

Ở nước Nga trước cách mạng tháng 10, vấn đề giao tiếp giữa thầy thuốc với người bệnh chỉ được các nhà y học đề cập tới dưới góc độ là một biểu hiện của đạo đức y học Từ kinh nghiệm của mình họ đưa ra những chuẩn mực nhất định, quy định quan hệ thầy thuốc – người bệnh Giao tiếp đã được đưa vào chương trình dạy học như một môn học chính quy trong chương trình đào tạo nhân viên y tế ở khoa Y dược, Đại học tổng hợp Mat cơ va Một trong những nhà lâm sàng nội khoa lớn nhất thê kỷ 19 là M.Mucdrop đã dạy sinh viên “đối với người bệnh phải thân yêu, gặp gỡ người bệnh phải tỏ ra khiêm tốn và thận trọng” Ông đã nhiều lần nói “trong nghệ thuật y học không chỉ tồn tại những thầy thuốc chỉ đơn thuần làm cho xong công tác khoa học của mình” [3] Năm 1885 giáo sư V.M Beckhocchierev đã thành lập phòng thí nghiệm đầu tiên về tâm lý y học thực hiện ở trường Đại học y khoa Kazan Trong quá trình làm việc ông đã từng nói “nếu sau khi trò chuyện với thầy thuốc, người bệnh không thấy dễ chịu hơn thì không phải là thầy thuốc” [7]

Tác giả Nguyễn Bích Lưu nghiên cứu trên 175 bệnh nhân khám và điều trị tại khoa ngoại, bệnh viện Banpong, tỉnh Ratchaburi, Thái Lan cho thấy 100% bệnh nhân có nhu cầu được quan tâm và chia sẻ trong quá trình nằm viện, 59,4% bệnh nhân đánh giá cao các hoạt động chăm sóc và 51% bệnh nhân rất hài lòng với

Trang 18

những hoạt động chăm sóc đó Những yếu tố liên quan gồm: tuổi, giới, thời gian nằm viện, mức độ đánh giá điều kiện chăm sóc, trình độ chuyên môn của điều dưỡng, chất lượng chăm sóc của điều dưỡng, mức độ cung cấp thông tin y tế và giáo dục sức khỏe [1]

2.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp giữa thầy thuốc và người bệnh từ lâu đã được các bậc danh y tiền bối đề cập tới Nó được nhìn dưới góc độ là một biểu hiện y đức người thầy thuốc như: :

Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tính 1225 – 1399) – một danh y nổi tiếng đã có những quan điểm y học thực tế và nhân đạo Ông khuyên người thầy thuốc phải làm điều

lành, phải giúp người bệnh một cách rộng rãi để đem lại cái phúc cho hậu thế “dám

khuyên y học hậu lại; Tế sinh, tích thiện, phúc trời hậu ta” [7]

Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông 1724 – 1791) cũng đã nêu một cách cặn

kẽ và đầy đủ về “lòng từ bi, đức bắc ái” của người thầy thuốc Ông đã phê phán

những thầy thuốc “mỗi khi xem bệnh làm cho cha mẹ người ta kinh sợ, bất chẹn kẻ

có bệnh nguy cấp phải đến lúc đêm hôm, bệnh dễ thì bảo là khó, bệnh khó thì bảo là chết, không còn tý lương tâm nào! Đối với người giàu thì nóng lòng để cầu lợi, đối

với người nghèo thì tẻ nhạt khinh thường”

Chủ Tịch Hồ Chi Minh là người rất coi trọng việc giáo dục cán bộ, nhân viên y

tế về thái độ xử sự với người bệnh Bác nhắc “người thầy thuốc chẳng những có

nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần cho những người ốm yếu” [7]

Theo tác giả Tống Duy Cương thì “trước hết y đức là lối ứng xử của thầy thuốc

trong mối quan hệ xã hội, muôn màu muôn vẻ trong mọi hoàn cảnh thể hiện trên các mặt trách nhiệm, thái độ và tấm lòng” [7]

Tác giả Lê Nữ Thanh Uyên nghiên cứu trên 200 bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Bến Lức, Tỉnh Long An Kết quả cho thấy: 90,0% bệnh nhân hài lòng chung về toàn bệnh viện; 94,5% hài về khám bệnh, theo dõi và điều trị; 91,8% hài lòng chăm sóc của điều dưỡng; 74,5 % khâu thông tin hướng dẫn; 70 % khâu thủ tục hành chính; 65,0% khâu phục vụ ăn uống; 61,8% khâu vệ sinh; 60,9% khâu phòng lưu bệnh Không có khác biệt về sự hài lòng giữa bệnh nhân ở độ tuổi, giới, nơi cư trú, nghề nghiệp, số lần đến khám bệnh, thời gian nằm viện và bảo hiểm y tế [14]

Trang 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân đến khám ngoại trú Bệnh nhân nằm điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu TW

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:

- Bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu TW trong thời gian nghiên cứu

- Người nhà bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo, không mắc các rối loạn tâm thần

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân ra khỏi nghiên cứu:

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.3 Thời gian thu thập số liệu

Từ 01/2013 đến 11/ 2013

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

p : tỷ lệ về KNGT, tính p = 0,5

Trang 20

q = 1- p = 0,5

α : mức ý nghĩa thống kê, trong nghiên cứu này lấy α = 0,05

Z2(1-α/2) : giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α = 1,96

ε : sai số tương đối, trong nghiên cứu này lấy = 0,25 }

2.4.3 ỹ thuật và công cụ

- Bệnh nhân sử dụng phiếu tự điền, có hướng dẫn điền phiếu, giám sát quá trình điền

- Quy trình thu thập số liệu:

+ Xây dựng bộ câu hỏi điều tra dựa trên các biến số nghiên cứu In ấn bộ câu hỏi

+ Được sự đồng ý của bệnh viện, khoa khám bệnh chúng tôi liên hệ với bệnh nhân và tiến hành thu thập số liệu, có sự trợ giúp của nhân viên bệnh viện + Trước khi điền vào bộ câu hỏi, đối tượng được giải thích rõ về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu, xin ý kiến đồng ý tham gia nghiên cứu và hướng dẫn trả lời câu hỏi

+ Nghiên cứu viên sẽ soát lại phiếu sau khi đối tượng nghiên cứu hoàn thành xong để đảm bảo không bị bỏ sót câu trả lời

2.5 Xử lý số liệu

- Làm sạch số liệu trước khi nhập

- Nhập số liệu sử dụng phần mềm Epidata

- Xử lý số liệu bằng phần mềm STATA

- Đánh giá lựa chọn của bệnh nhân ở từng câu hỏi theo thang điểm:

Rất không hài lòng: 1 điểm Không hài lòng: 2 điểm Bình thường: 3 điểm Hài lòng: 4 điểm Rất hài lòng: 5 điểm

Đánh giá hài lòng chung của người bệnh nội trú

 Cách đánh giá:

 Hài lòng khi ≥ 38 điểm

 Không hài lòng khi < 38 điểm

Trang 21

Đánh giá sự hài lòng chung của người bệnh ngoại trú

 Cách đánh giá:

 Hài lòng khi ≥ 24 điểm

 Không hài lòng khi < 24 điểm

2.6 ột số sai số có thể gặp phải và cách khắc phục

- Trong nghiên cứu này một số sai số có thể gặp là:

+ Sai số do bệnh nhân, người nhà bệnh nhân bỏ trống không điền

+ Sai số do bệnh nhân, người nhà bệnh nhân chưa hiểu rõ câu hỏi

+ Sai số trong quá trình nhập số liệu

- Cách khắc phục sai số:

+ Hướng dẫn kỹ cho đối tượng trước khi tự điền vào bộ câu hỏi

+ Điều tra viên hướng dẫn lần lượt từng câu hỏi để bệnh nhân, người nhà bệnh nhân điền thông tin

+ Kiểm tra bộ câu hỏi mà bệnh nhân, người nhà bệnh nhân đã trả lời ngay tại chỗ sau khi bệnh nhân, người nhà bệnh nhân trả lời xong để đảm bảo các thông tin thu thập được đầy đủ và đúng mục tiêu nghiên cứu

+ Kiểm tra kỹ file số liệu trước khi phân tích để phát hiện những lỗi sai trong quá trình nhập và khắc phục sai sót đó

2.7 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được Ban Giám đốc bệnh viện Da liễu TW cho phép thực hiện nhằm mục đích nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân

- Trước khi tiến hành nghiên cứu, nghiên cứu viên đã giải thích cho đối tượng rõ nội dung, mục đích, ý nghĩa của việc tham gia nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu ký cam kết đồng ý tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ tiến hành với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân tình nguyện và đảm bảo giữ bí mật với các thông tin thu thập được

Trang 22

- Kết quả nghiên cứu thu được nhằm mục đích cải thiện, nâng cao chất lượng về quy tắc ứng xử và kỹ năng giao tiếp của Điều dưỡng và KTV bệnh viện Da liễu TW

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu

- Mọi thông tin cá nhân vế đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc bệnh viện Da Liễu TW lãnh đạo các khoa phòng ủng hộ

2.8 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục

Hạn chế:

- Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nên có thể gặp sai

số do kỹ năng hướng dẫn của từng điều tra viên

- Đối với những bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính, phải vào viện nhiều lần,

có khả năng sẽ trả lời hài lòng nhiều hơn vì sợ khó khăn cho những lần nằm sau vào viện

- Việc phỏng vấn bệnh nhân tại bệnh viện cũng có thể khiến cho sự trả lời của người

bệnh không thật sự đúng với các suy nghĩ của họ

Cách khắc phục

- Các phiếu điều tra không ghi tên người bệnh chỉ thu thấp các thông tin cá nhân như: tuổi, giới, nghề nghiệp

- Đã tiến hành tập huấn cho điều tra viên cẩn thận trước khi tiến hành thu thập số liệu

- Điều tra viên đã hướng dẫn cẩn thận và đầy đủ về cách điền phiếu khảo sát

- Các phiếu điều tra được nhóm nghiên cứu kiểm tra ngay sau khi hoàn thành phỏng vấn, những phiếu thông tin thu thập không đầy đủ thì loại bỏ ra khỏi nghiên cứu

- Cam kết bảo mật thông tin cho người bệnh

Trang 23

2.9 Biến số và chỉ số nghiên cứu chính

Ứng với mỗi mục tiêu nghiên cứu có những biến số và chỉ số riêng:

1 ỤC TIÊU 1: ô tả đánh giá của người bệnh về thái độ và thực hành chuyên môn của ĐD viên tại bệnh viện Da liễu Trung ương

- Thái độ của điều dưỡng tại các khoa cận lâm sàng

- Hướng dẫn của điều dưỡng tại các khoa cận lâm sàng

- Thái độ của nhân viên khi hướng dẫn thủ tục thanh toán

- Hướng dẫn của nhân viên về thủ tục thanh toán

Trang 24

ỤC TIÊU 2: ô tả một số yếu tố liên quan tới sự hài lòng của người bệnh

về thái độ và kỹ năng giao tiếp của ĐDV tại bệnh viện Da liễu Trung ương

- Thái độ khi giao tiếp với NB

- Sự động viên, giải thích khi thực hiện các kỹ thuật của ĐD

- Sự cảm thông, chia sẻ về bệnh tật của ĐD với người bệnh

- Thời gian chờ đợi để nhận được

sự chăm sóc của ĐD

- Thực hiện công khai thuốc

- Hướng dẫn các quy trình khám chuyên khoa ,làm các xét nghiệm

- Việc ĐD hướng dẫn nội quy bệnh viện, nội quy khoa phòng

- Việc ĐD hướng dẫn chế độ ăn, sinh hoạt, tập luyện

- Việc ĐD tư vấn kiến thức về bệnh, cách theo dõi và chăm sóc bệnh của bệnh nhân khi ra viện

Trang 25

CHƯƠNG 3

ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Thông tin

Bệnh nhân nội trú

Bệnh nhân ngoại trú Tổng số

Nhận xét:

Tổng số bệnh nhân được phỏng vấn là 300 người (200 bệnh nhân ngoại trú,

100 bệnh nhân nội trú), trong đó bệnh nhân nam chiếm 48,3%, nữ chiếm 51,7% Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 40 ± 15 Nơi sống của bệnh nhân tập trung

nhiều ở thành thị (47,0%) và nông thôn (33,3%), tuy vậy tỷ lệ bệnh nhân ở miền núi chiếm 19,7% cũng là một con số cao

Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu hay gặp nhất là cán bộ CNVC (33,0%), những nghề còn lại ít gặp hơn và phân bố đồng đều trong khoảng từ (14.3 % -19.7%)

Trang 26

3.2 ức độ hài lòng của bệnh nhân với các kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng 3.2.1 ức độ hài lòng của người bệnh ngoại trú

3.2.1.1 Mức độ hài lòng của bệnh nhân ngoại trú với thái độ và sự hướng dẫn của điều dưỡng tại khu vực tiếp đón và thanh toán

Biểu đồ 3.1 Mức độ hài lòng của BN nội trú với thái độ và sự hướng dẫn của ĐD

tại n i tiếp đón và thanh toán

Ngày đăng: 25/03/2017, 21:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1  Đặc điểm đối tượng nghiên cứu - Mô tả sự hài lòng của người bệnh về thái độ và thực hành chuyên môn của điều dưỡng viên tại bệnh viện Da liễu Trung ương và một số yếu tố liên quan đến năm 2013
Bảng 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (Trang 25)
Bảng 3.3.  Mức độ hài lòng của BN ngoại trú với thái độ giao tiếp của điều - Mô tả sự hài lòng của người bệnh về thái độ và thực hành chuyên môn của điều dưỡng viên tại bệnh viện Da liễu Trung ương và một số yếu tố liên quan đến năm 2013
Bảng 3.3. Mức độ hài lòng của BN ngoại trú với thái độ giao tiếp của điều (Trang 32)
Bảng 3.5.  Mức độ hài lòng của BN ng ai trú với thái độ giao tiếp của điều - Mô tả sự hài lòng của người bệnh về thái độ và thực hành chuyên môn của điều dưỡng viên tại bệnh viện Da liễu Trung ương và một số yếu tố liên quan đến năm 2013
Bảng 3.5. Mức độ hài lòng của BN ng ai trú với thái độ giao tiếp của điều (Trang 34)
Bảng  3.6.  Mối liên quan giữa  sự hài lòng chung của bệnh nhân ngoại trú với - Mô tả sự hài lòng của người bệnh về thái độ và thực hành chuyên môn của điều dưỡng viên tại bệnh viện Da liễu Trung ương và một số yếu tố liên quan đến năm 2013
ng 3.6. Mối liên quan giữa sự hài lòng chung của bệnh nhân ngoại trú với (Trang 35)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w