Mục lụcI: Lời mở đầu II: Tìm hiểu chung về đạo Hòa Hảo 1: hoàn cảnh ra đời đạo hòa hảo .III: Cấu trúc đạo Hòa Hảo 1: Cấu trúc đạo hòa hảo 1.1: giáo lý hòa hảo IV:Các chính sách và hoạt đ
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Bài tìm hiểu :
Đạo Hòa Hảo ở Việt Nam
Lớp: KH14-Nhân sự 1
Họ tên:
Hoàng Thị Diên (nhóm trưởng)
Hoàng Thị Tuyết Mai
Trang 2Mục lục
I: Lời mở đầu
II: Tìm hiểu chung về đạo Hòa Hảo
1: hoàn cảnh ra đời đạo hòa hảo
.III: Cấu trúc đạo Hòa Hảo
1: Cấu trúc đạo hòa hảo
1.1: giáo lý hòa hảo
IV:Các chính sách và hoạt động quản lí nhà nước về tôn giáo:
1:các chính sách của nhà nước đối với tôn giáo:
2: Hoạt động quản lí của nhà nước đối với tôn giáo
3: thực trạng hoạt động và ảnh hưởng của đạo Hòa Hảo đến đời sống người Việt Nam
3.1 thực trạng hoạt động của đạo Hòa Hảo
3.2: Ảnh hưởng của phật giáo hòa hảo đến đời sống người Việt Nam:
V:Kết luận
Trang 3II: Tìm hiểu chung về đạo Hòa Hảo
1: hoàn cảnh ra đời đạo hòa hảo
Đạo hòa hảo hay còn gọi là phật giáo hòa hảo ra đời ở miền Tây Nam Bộ vào những năm cuối thập kỉ 30 của thế kỉ XX.Thời kì này,thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ tư sản bóc lột các tầng lớp nhân dân vô cùng dã man cả về vật chất cũng như tinh thần
Cuộc sống của người dân hầu như bế tắc Các phong trào đấu tranh chống đếquốc Pháp và bẽ lũ phong kiến đều bị thực dân đàn áp Nhiều tầng lớp nhân dân cũng có tâm trạng bi quan,chán chường trong cuộc sống hiện thực,có nhu cầu được an ủi,giải thoát về mặt tinh thần
Trong xã hội các tôn giáo truyền thống như Nho,Phật,Lão tỏ ra bất lực trước thời cuộc.Hệ tư tưởng tư sản không phù hợp với số đông quần chúng lao động.Hệ tư tưởng vô sản chưa thật sự ăn sâu,bám rễ và phổ biến rộng rãi
Người dân Tây Nam Bộ (phần lớn là nông dân) sống trong hoàn cảnh nghèo túng,trình độ học vấn lúc đó có hạn nên ít chú ý tới những vấn đề triết lí cao siêu rối rắm của các tôn giáo truyền thống Họ có xu hướng đơn giản hóa các triết lí cao siêu đó.Đặc biệt,họ đề cao tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm,ngợi ca những gương trung liệt như Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực…
Trang 4Trước khi đạo Hòa Hảo ra đời,ở miền Tây Nam Bộ đã hình thành và tồn tại nhiều phong trào quần chúng mang màu sắc tôn giáo như đạo Bửu sơn kì
hương,đạo Tứ ân hiếu nghĩa
Đạo bửu sơn kì hương là một môn phái thiền của phật giáo do Đoàn Minh Huyên(1807) quê ở Sa Đéc, một sĩ phu yêu nước thời Gia Long sáng lập ở vùng núi Thất Sơn-Châu Đốc Thông qua tổ chức tôn giáo này ông có ý định tập hợp các lực lượng chống pháp.Đạo Hòa Hảo chịu ảnh hưởng tư tưởng rất lớn của phái thiền Bửu sơn kì hương
Đạo Tứ ân hiếu nghĩa được sáng lập bởi Đức Bổn sư Ngô Lợi ( 1831-1890) Đạo này đề cao vai trò nghĩa vụ và trách nhiệm của con người,khơi gợi truyền thống yêu nước,kêu gọi mọi người đứng dậy chống ngoại xâm,giải quyết mối quan hệ giữa đạo và đời
Sự ra đời của đạo Hòa Hảo gắn liền với tên tuổi ông Huỳnh Phú Sổ.Trong thời gian chữa bệnh ở vùng Thất Sơn,ông giành nhiều thời gian đọc sấm Trạng Trình và nghiên cứu tư tưởng của môn phái phật giáo Bửu hương kì sơn và đạo
Tứ ân hiếu nghĩa
Chữa bệnh không khỏi, về nhà ông tự nhận mình là bậc “sinh như tri” biết rõquá khứ nhìn thấu tương lai,cứu chúng sinh khỏi bể khổ
Ngày 15/05/1939 thấy cơ duyên đã đến,ông tổ chức lễ khai đạo tại làng Hòa Hảo,cho ra đời môn phái Hòa Hảo
2.Sự phát triển
Khi thuyết giảng về đạo pháp,Huỳnh Phú Sổ có nói về viễn cảnh thái bình của đất nước,tinh thần đấu tranh chống giặc,bài xích quan lại tham tàn,ca ngợi gương chiến đấu của các anh hùng dân tộc….điều đó đã đáp ứng được tình cảm của đa số nông dân.số người theo ông ngày một đông
2.1.Thời kỳ Nhật xâm chiếm
Trang 5Cuối những năm 1940 số tín đồ của đạo Hòa Hảo có đến vài trăm ngàn người.Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của
mình một cách nhanh chóng,cùng đó cả Nhật và Pháp đều muốn lợi dụng đạo Hòa Hảo để phục vụ mưu đồ chính trị của mình Khi Nhật vào Đông Dương họ
đã đặt quan hệ với Hòa Hảo để lật pháp nhưng không thành.Pháp lo ngại Huỳnh Phú Sổ theo Nhật ,nên bắt và giam ông ở nhiều nơi như: Châu Đốc,Sa Đéc, Cần Thơ,Bạc Liêu
Năm 1942, Nhật đưa giáo chủ Hòa Hảo về Sài Gòn Tại đây ông đã vận độngđược nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để tăng cường hoạt động chính trị,tổ chức vũ trang
Tháng 3/1945 Huỳnh Phú Sổ được Nhật giao đi vận động phong trào khuyến nông,tuyên truyền thuyết “Đại Đông Á” kêu gọi thanh niên vào lực lượng vũ trang
Tháng 8/1945 ông có tham gia tổng khởi nghĩa.sau đó được mời tham gia ủy ban kháng chiến Nam Bộ,với tư cách là đại biểu cho đồng bào theo đạo Hòa Hảo
Năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với những người lãnh đạo Hòa Hảo
thành lập tổ chức việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng gọi tắt là "Đảng Dân xã"
vào Tháng Chính năm 1946 bao gồm lực lượng nòng cốt trong Hòa Hảo và tổ chức Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng Đảng Dân xã có điều lệ và chương trình hành động, cơ cấu tổ chức riêng, có vai trò như một tổ chức chính trị Từ đóHòa Hảo vừa có đạo vừa có đảng mang hình thức gần với một tổ chức chính trị Khối Hòa Hảo còn tổ chức lại lực lượng vũ trang vào Tháng 6 năm 1946 mang tên "Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc liên đội nguyễn Trung Trực"
2.2 1947-1963 lực lượng võ trang.
Trang 6Năm 1947 ông qua đời trong một biến cố ở Đốc Vàng-Châu Đốc.Nhân đó bọn phản động lôi kéo các tín đồ phản đối,chống Việt Minh.Pháp ào ạt vũ trang cho Hòa Hảo,lập các vùng căn cứ chống lại kháng chiến tiêu biểu là:
-Lê Quang Vinh(Ba Cụt) vùng Long Xuyên
-Trần Văn Soái( Năm Lửa) vùng Cần Thơ
-Lâm Thành Nguyên( Hai Ngoán) vùng Châu Đốc
- Nguyễn Giác Ngộ vùng Chợ Mới-Long Xuyên
Những năm 1946,1947,1948 lực lượng vũ trang Hòa Hảo phát triền mạnh vớikhẩu hiệu:” cứu nước,chống cộng,giữ đạo,thờ thầy”tổ chức nhiều cuộc tấn công vào cơ sở kháng chiến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, gây thiệt hại cho cách mạng
Đến năm 1954 tổng số tín đồ đạo Hòa Hảo khoảng trên 1 triệu người
Năm 1955 Chính phủ Đệ nhất cộng hòa được thành lập và mở những
cuộc hành quân như "Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng" rồi "Chiến dịch Nguyễn Huệ" để bình định các giáo phái thống nhất quân lực Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp.Quang Vịnh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu Đốc, long Xuyên, Rạch Giá
Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử
2.3 Thời kì 1963-1975
Năm 1964 đạo Hòa Hảo có sự củng cố lại về tổ chức, xây dựng mở
mang các cơ sở tôn giáo, văn hóa, xã hội Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã) Đảng Dân xã cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu.Năm 1972 Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung
Trang 7ương mới Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vàothời Đệ nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên Khi chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ thì các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện Tất cả những cơ sở này bị chính quyền mới tịch thu.
Đầu tháng 5/1975 tổ chức đảng Dân Xã tan rã,Ban trị sự giải tán,đạo Hòa Hảo trở lại thành một tôn giáo khuyến thiện
2.4 Thời kì sau 1975
Ở những năm 1975 số tín đồ của đạo Hào Hảo đã có khoảng 2 triệu ngườiĐạo Hòa Hảo ra đời trong tình hình chính trị phức tạp, từng bị các thế lực phản động lôi kéo lợi dụng.Trên thực tế sự lợi dụng này có lúc khá nặng nề, gây thiệt hại cho cách mạng và còn tạo ra tình trạng chia rẽ không bình thường trong nội
bộ của đạo Hòa Hảo Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 19-6-1975,
Tổ đình đạo Hòa Hảo tuyên bố giải tán Ban trị sự các cấp, kêu gọi tín đồ tu tại gia như lúc đầu Cho đến đầu năm 1999, đạo Hòa Hảo không có tổ chức giáo hội, tín đồ tu tại gia.Hàng năm đến ngày khai đạo (18 tháng 5 Âm lịch) các tín đồ
tổ chức hành hương về Tổ đình (nơi sinh sống của gia tộc ông Huỳnh Phú Sổ) Ngày 26-5-1999, Đại hội đại biểu đạo Hòa Hảo lần thứ I được tổ chức tại An Giang, thông qua chương trình đạo sự, quy chế tổ chức, hoạt động của Ban đại diện, đồng thời đã bầu ra Ban Đại diện nhiệm kỳ I và ngày 11-6-1999, Ban Tôn giáo của Chính phủ đã chấp thuận quy chế đạo Hòa Hảo, tổ chức hoạt động và nhân sự của Ban đại diện và cho đến nay, hoạt động của đạo Hòa Hảo đã trở nên bình thường.Các tín đồ Hòa Hảo làm tốt việc đời,việc đạo,mong xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc
Trang 8Tuy nhiên có không ít kẻ phản động mượn danh đạo để chống phá cách mạng,hò la “hiệp tác liên tôn” để “chấn hưng Tổ Quốc Tháng 4/2001 Lê Quang Liêm,tự xưng là người đứng đầu hệ phái phật giáo Hòa Hảo tuyên truyền xuyên tạc về các chủ trương chính sách của đảng,âm mưu của Lê Quang Liêm là gây biểu tình,chống phá nhà nước
III: Cấu trúc đạo Hòa Hảo
1: Cấu trúc đạo hòa hảo
1.1: giáo lý hòa hảo
Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 6 tập:
1 Sấm khuyên người đi tu niệm
2 Kệ của người Khùng
3 Sấm giảng
4 Giác mê tâm kệ
5 Khuyến thiện
6 Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hiền
Giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu Nhân”
Nội dung giáo lý có hai phần : Học Phật và Tu Nhân
Phần Học Phật: chủ yếu dựa vào giáo lý Phật giáo là ác pháp, chân pháp và
thiện pháp
- Ác pháp:là các pháp làm trở ngại cho thiện pháp, gây nên tội lỗi khiến con
người không thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi
Trong các pháp có:
*Tam ngiệp
+Thân nghiệp gây ra sát sinh,trộm cắp,tà dâm
+Khẩu nghiệp gây ra nói dối,nói hai mặt
Trang 9+Ý nghiệp gây tham lam, giận dữ, si mê
- Chân pháp: là các pháp phá tan những mê hoặc, tối tăm, giúp trí bừng sáng để
giác ngộ chân lý.Thuộc về chân pháp có:
+Tứ diệu đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế
+Thập nhị nhân duyên
+Ngũ trược là 5 thứ nhơ bẩn làm ô nhiễm than tâm,mải say đắm trong cõi trần ai,trụy lạc gồm: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược
- Thiện pháp: là các pháp lành, con người cần tu tập để trở thành người tốt, sửa
thân tâm cho trong sạch.,Thiện pháp gồm có:
* Bát chính đạo là 8 con đường tu hành chân chính nếu ai theo được sẽ diệt trừ được cái ác do thân, khẩu, ý tạo ra gồm: chính kiến,chính nghiệp, chính mạng, chính ngữ diệt, chính tư duy, chính tinh tiến, chính định, chính niệm
* Bát nhẫn là 8 điều nhẫn nhịn để vượt qua được những thử thách trong xử thế
và tu tập:
+Nhẫn năng:giữ cách xử thế với đời
+Nhẫn giới: giữ nghiêm giới luật
+Nhẫn hương lân: giữ tình làng xóm
+Nhẫn phụ mẫu: giữ tình hiếu thảo với cha mẹ
+Nhẫn tâm: giữ lòng an định
Trang 10+Nhẫn đức: giữ cho tính điềm đạm
+Nhẫn thành: giữ thành tâm thành tín
Phần học phật của đạo Hòa Hảo cho rằng con người ta do tam nghiệp, lục dục, ngũ uẩn, ngũ trược…nên phạm các điều các, chịu đau khổ trong vòng luân hồi sinh tử chỉ khi có chân pháp, hiểu được tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên thì mới diệt được ác pháp và đồng thời phải tu theo bát chính đạo, chịu “ bát nhẫn” thì mới có thiện pháp để thoát khỏi luân hồi sinh tử trở thành bậc hiền nhân
Phần Tu Nhân: Tu Nhân là tu “tứ ân hiếu nghĩa”, bao gồm: ân tổ tiên cha mẹ,
ân đất nước, ân đồng bào nhân loại, ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng)
- Ân tổ tiên cha mẹ: phải hiếu nghĩa, nghe lời răn dạy, không làm điều xấu, chăm sóc cha mẹ lúc già yếu ốm đau
- Ân đất nước: yêu quê hương, góp phần làm cho quê hương giàu mạnh, bảo
vệ đất nước khi có ngoại xâm, không được phản bội làm tay sai cho ngoại bang
- Ân đồng bào nhân loại: Đồng-bào ta và ta cùng chung một chủng-tộc, cùng một nòi-giống rồng tiên, cùng có những trang lịch-sử vẻ-vang oanh-liệt, cùng tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy- biến, cùng chung phận-sự đào-tạo
một tương-lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang-sơn đất nước Đồng-bào ta và
ta có một liênquan mật-thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và
chẳng khi nào có ta mà không có đồng-bào, hay có đồng-bào mà không có ta Thế nên ta phải ráng giúp đỡ họ hầu đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một
- Ân tam bảo: tôn kính tam bảo ghi nhớ công ơn khai mở trí huệ cứu
vớt chúng sinh ra khỏi vùng luân hồi khổ ải
Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên
công đức.Có công đức để trở thành bậc hiền nhân Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì
Trang 11không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dụng
tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên tu viễn ký (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời)
1.2 Giáo chủ
Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do
Huỳnh Phú Sổ, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1920 (tức 25/11 Kỷ Mùi)thành
lập,ông là con của Huỳnh Công Bộ, một con người điềm đạm trầm tính, ít nói, thường xa lánh chốn đông người ồn ã Ông được cha cho học hết bậc sơ Pháp-Việt tại một trường ở huyện, có năng khiếu thơ, văn và thông minh, nhạy cảm Nhưng do sức khỏe luôn đau ốm nên ông không tiếp tục học lên bậc cao hơn Ông phải lên núi Cấm tìm thầy chữa bệnh và tại đây ông đã tu theo phái Bửu sơn
Kỳ Hương do Phật thầy Đoàn Minh Huyên (1807-1856) làm giáo chủ
Huỳnh Phú Sổ tự nhận mình là bậc "sinh như tri", biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ
Hương để "Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc" Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học và chính những lúc đi chữa bệnh đó ông đã kết hợp rao giảng về
Tứ ân hiếu nghĩa của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên qua những bài sấm
kệ do ông soạn thảo Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng Ngày 15tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4/7/1939) được ông chọn làm ngày khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi.Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa
Trang 12Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo Ông đã được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ
Hòa Hảo
Huỳnh Phú Sổ được xưng tụng là Phật thầy mượn thân xác mình để cứu độ chúng sinh Ông làm nhiều bài ca dao, thơ ca, nói thiên cơ, sau được tập hợp lại thành bài giảng "Giác mê tâm kệ" có phần gần gũi tư tưởng thần bí, tín ngưỡng dân gian nên trong hoàn cảnh đời sống nhân dân Nam Bộ đầu những năm 40 thế kỷ 20 dễ đi vào lòng người, được quần chúng tin theo Người tính dồ Phật Giáo Hòa Hảo có một câu răn lòng mình là: "Một đời, một đạo đến ngày
sự cần đến
Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của đạo ở làng Hòa Hảo gọi là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc Đạo này không xây dựng chùa chiền, không có tượng ảnh thờ Vật thờ của đạo Hòa Hảo là miếng vải đỏ (trần điều) trên bàn thờ (còn gọi là trang thờ) đặt ở gian chính giữa
và xây một bàn thông thiên ở sân trước của nhà Việc thờ phụng này thể hiện tư tưởng của Phật giáo: "Phật tại tâm, tâm tức Phật" Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà
tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ nguyên nhân
Lễ vật khi thờ phúng cũng rất đơn giản chỉ có hoa và nước lạnh (nước mưa, nước lọc tinh khiết) Ban đêm đốt đèn ở bàn thờ trong nhà và bàn thờ thông
Trang 13thiên Khi thờ tín đồ chỉ đọc sấm giảng do thầy Huỳnh Phú Sổ soạn và niệm lục
tự Nam-mô-a-di-đà-Phật với mục đích tĩnh tâm
Ngoài ra đạo Hòa Hảo còn có một số quy định về tôn giáo và quan hệ gia đình, xã hội Ví dụ người nhập môn phải tuyên thuệ trước Tam Bảo, nam tín đồ phải để vấn tóc (búi) để giữ hiếu nghĩa với ông bà tổ tiên, tín đồ phải thực hiện
ăn chay từ thấp đến cao (4 đến 10 ngày trong 1 tháng hoặc trường chay như đạo Cao Đài, ngày tín đồ phải 2 lần cầu nguyện và khấn lạy trước bàn thờ (sáng, tối).Lời khấn nguyện khi cúng lễ của tín đồ Hòa Hảo là câu Nam mô nhất nguyện, Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng, Liên hoa hải hội, thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an
Các ngày lễ tết
Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:
Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán
Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ thượng nguyên
Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
Ngày 18 tháng 5: Lễ khai đạo
Ngày Rằm tháng 7: Lễ trung nguyên
Ngày 12 tháng 8: Vía Phật thày Tây An
Trang 14người đời phải đặt ra câu hỏi: Đây có lẽ có phải là một vị Tiên, Phật, Thánh, Thần chi chi mượn xác phàm để ra đời cứu thế chăng?
Từ chỗ nghi ngờ phát sanh lòng tin tưởng Nghi sanh Tín) Ðức tin đó càng ngày càng tăng trưởng do hành động hay phương pháp chữa trị của Ðức Huỳnh Giáo Chủ
- Chữa căn ( giải đáp nguồn gốc phát sinh bệnh tật, bệnh do yếu tố gì gây nên,
do đó bệnh căn học là một vấn đề cơ bản của y học)chứ không chữa quả, nghĩa
là bệnh nào đau căn thì Ngài nhận chữa, còn bệnh nào đau về nghiệp quả(gieo nhân nào thì gặp quả nấy)thì Ngài từ chối Như có lần (ở Nhơn Nghĩa) có một bệnh điên chở đến; Ngài cũng cho uống thuốc và làm cho con bệnh bớt điên, nhưng Ngài bảo thân nhân chở về nhà, rán cầu nguyện và làm phước may ra mớibớt Điều này chứng tỏ Ngài soi rõ căn quả của con bệnh, bệnh nào thuộc về căn,bệnh nào thuộc về quả Đó cũng là bằng chứng Ngài là bực siêu phàm mới có năng khiếu ấy
- Trong lúc chữa trị, với những bệnh hung tợn, Ngài thường kêu gọi chư Thần,chư vị sai khiến, như bảo trói hay khảo tra thì liền sau đó con bệnh tự trói lấy, tự lấy roi đánh vào người rồi lăn lộn than khóc van xin Ngài không cho khảo tra nữa, nó cũng công khai Ngài sai khiến luôn cả chư thần như thế, hẳn Ngài là bực phi phàm: Phật Tiên Thần Thánh mới có uy lực sai thần tróc quỉ như vậy
- Có nhiều chứng bệnh Ngài không chữa bằng phương pháp huyền diệu như cho uống lá cây hay các thứ bông mà lại bằng phương pháp thường của một vị lương y như bao nhiêu lương y trong làng, nghĩa là Ngài ra toa, rồi cầm toa ấy lạitiệm thuốc Bắc, hốt thuốc về sắc uống Ngài có học thuốc Bắc hồi nào đâu?Thế
mà Ngài viết các tên thuốc rất đúng, đến các thầy thuốc Bắc cũng phải kinh ngạc.Điều này chứng tỏ Ngài không phải là hạng thường nhơn
- Mỗi khi Ngài chữa bệnh, thường bắt con bệnh uống nước cúng Phật và khi lành mạnh, bắt phải lạy bàn thờ Phật Ngoài ra Ngài còn dạy khi về nhà rán niệm