1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

quản lý nhà nước về tôn giáo đạo cao đài

40 1,5K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 10,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát chung về tôn giáo ở Việt Nam II.Đạo Cao Đài 1.Quá trình hình thành và phát triển đạo Cao Đài trên đất nước Việt Nam 2.Cấu trúc tôn giáo của đạo Cao Đài.. Hiện nay, ở nước ta có

Trang 2

CHÀO MỪNG CÔ VÀ CÁC BẠN ĐẾN

VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM 11

LỚP KH14NS2

Trang 4

Tòa Thánh tại Tây Ninh

Trang 5

TỔNG QUAN CHUNG

A.PHẦN MỞ ĐẦU

B.PHẦN NỘI DUNG

I Khái quát chung về tôn giáo ở Việt Nam

II.Đạo Cao Đài

1.Quá trình hình thành và phát triển đạo Cao Đài trên đất nước Việt Nam

2.Cấu trúc tôn giáo của đạo Cao Đài.

C PHẦN KẾT LUẬN

Trang 6

A PHẦN MỞ ĐẦU

Tôn giáo là gì???

Trang 7

- Tôn giáo là một hình thành tố của kiến trúc thượng tầng, là một

hình thái của ý thức xã hội, phản ánh sự tồn tại xã hội Song sự phản ánh đó là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc người ta

những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của

họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh ở thế gian

đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian Nó có tác động rất lớn đối với xã hội, con người.

- Như C.Mác đã nhận xét rằng: “ Tôn giáo là tiếng thở dài của

chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.”

Trang 8

B.PHẦN NỘI DUNG

Trang 9

I Khái quát chung về tôn giáo ở Việt

Nam

- Tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng, có sự

xuất hiện của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo…, những tôn giáo nội sinh đặc trưng như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo… và nhiều tôn giáo nội sinh khác

- Hiện nay, ở nước ta có 6 tôn giáo lớn

đã được Nhà nước thừa nhận về tổ

chức là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Hoà Hảo với khoảng

20 triệu tín đồ

Trang 10

- Phật giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở nước ta.

- Tính đến năm 2007, tổng số tín đồ các tôn giáo ở Viêt Nam

• Cao Đài 3,2 triệu

• Hòa Hảo 1,4 triệu

Trang 11

- Tôn giáo là một vấn đề rất tế nhị, nhạy cảm và phức tạp Do đó,

để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải hết sức thận trọng, tỉ mỉ và chuẩn xác; vừa đòi hỏi giữ vững nguyên tắc, đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt, đúng như tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng

ta là: không "tuyên chiến" với tôn giáo mà tôn trọng quyền tự do

tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân.

- Những người hoạt động tôn giáo, bên cạnh việc hành đạo phải

tôn trọng pháp luật quốc gia.

- Chính vì vậy, ở nước ta, tôn giáo là vấn đề lớn liên quan đến

chính sách luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện

Trang 12

II Đạo Cao Đài

1 Quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài trên đất nước Việt Nam

a Quá trình hình thành đạo Cao Đài ở Việt Nam

- Đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân Pháp và triều đình phong kiến

nhà Nguyễn tăng cường áp bức bóc lột, vơ vét tài nguyên, đàn áp nhân dân để phục vụ lợi ích của chúng Cuộc sống của nhân dân lao động, đặc biệt là người nông dân Nam Bộ bị bần cùng hoá Các cuộc đấu tranh của nhân dân đều bị thất bại

- Bất lực trong cuộc sống, khủng hoảng về tư tưởng, đồng thời các tôn giáo

và đạo lý đương thời bị suy thoái đây là tiền đề và điều kiện thuận lợi cho

sự ra đời của đạo Cao Đài

Trang 13

- Đạo Cao Đài là một tôn giáo bản địa Việt Nam, tên đầy đủ là “Đại

đạo Tam kỳ Phổ độ”, ra đời vào đêm Noel năm 1925 ,cách mạng

nước ta đang bị khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh

đạo,chính sách cai trị thực dân Pháp đang đẩy nông dân Nam Bộ

vào con đường cùng,tôn giáo khác dần dần bị mất uy tín

- Đây là hệ quả trực tiếp và điển hình của tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” (Phật – Lão – Nho), là sự hòa nhập giữa trào lưu “Thần

linh học” với tục cầu hồn, cầu tiên của người Việt trong những năm

1924 – 1926, đã tạo nên phong trào cầu cơ – chấp bút (gọi tắt là cơ bút), khá sôi nổi ở vùng Nam Bộ.

- Cao Đài do một số người thuộc tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản), công chức chủ trương.

Trang 14

- Sự hình thành đạo Cao Đài ở Việt Nam gắn với một số nhân vật và câu chuyện về cuộc đời của 3 nhân vật chính, đó là:

• Ông Ngô Minh Chiêu

• Ông Lê Văn Trung

• Ông Phạm Công Tắc

Trang 15

• Ông Ngô Minh Chiêu (1878- 1932)

- Ham mê truyện thần tiên và cầu cơ, tiếp thu

“Thông linh học”

- Ông tổ chức cầu cơ và tuyên truyền là mình

đã tiếp xúc được với một đấng thiêng liêng

là Cao Đài tiên ông và được vị tiên này phán

bảo sứ mệnh xây dựng một tôn giáo mới ở

phương Nam

- Đến khi đạo Cao Đài chính thức ra đời, ông

nhường quyền lãnh đạo cho ông Lê Văn

Trung rồi trở về Cần Thơ tu luyện và hình

thành phái Cao Đài Chiếu Minh đàn (là biến

âm của tên ông) Ông Ngô Minh Chiêu

Trang 16

• Ông Lê Văn Trung (1876- 1934)

- Năm 1920, ông bị thua lỗ trong kinh

doanh và bị phá sản, ông quay sang

hoạt động tôn giáo.

- Nhờ sự thông minh, tài ngoại giao và

tài tổ chức, ông đã nhanh chóng tiếp

thu sứ mệnh khai đạo của ông Ngô

Minh Chiêu và trở thành Giáo tông

đứng đầu “Cửu trùng đài” – cơ quan

hành pháp của đạo Cao Đài

Ông Lê Văn Trung

Trang 17

• Ông Phạm Công Tắc (1890- 1959)

- Ông bắt đầu làm công chức ngành thuế từ

năm 1940.Sau do bị chèn ép nên ông bỏ

nhiệm sở chuyển sang hoạt động đạo Cao

Đài với chức Hộ pháp, đứng đầu Hiệp

Thiên đài – cơ quan lập pháp của đạo này

- Sau khi ông Lê Văn Trung chết, Phạm Công

Tắc trở thành lãnh tụ tối cao nắm cả hai cơ

quan Hành pháp và Lập pháp và cũng từ đó

mâu thuẫn trong nội bộ đạo Cao Đài nổ ra

và chia rẽ thành nhiều hệ phái

Ông Phạm Công Tắc

Trang 18

b Quá trình phát triển của đạo Cao Đài ở Việt Nam

- Ngày 12/2/1926, trong một bài cơ Đức Thượng đế đã phán dạy hai nhóm cơ bút

thống nhất hình thành đạo Cao đài Ông Ngô Minh Chiêu được Thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Cao đài

- Ngày 7/10/1926, 28 người đại diện cho 247 tín đồ đã thống nhất ký tên vào Tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp Giữa tháng 11/1926, những chức sắc Thiên

phong đầu tiên của đạo Cao đài tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén, Tây Ninh, chính thức cho ra mắt Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, gọi tắt là đạo Cao đài

- Năm 1926 khi Cao Đài mới ra đời có tới 10.000 tín đồ Chỉ 4 năm sau, đến năn

1930, tín đồ đạo Cao Đài tăng lên 500.000 người, đạo Cao Đài nhanh chóng phát triển ra lục Nam Kỳ, Sài Gòn, Gia Định, Bến Tre, Cần Thơ, Cà Ma, Long Xuyên, Đồng Tháp, Đồng Nai…

Trang 19

- Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên

đài và Cửu Trùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo

hội mất đoàn kết ngày càng tăng => nội bộ chức sắc xuất hiện tư tưởng ly khai khỏi Toà thánh.

- Trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, đạo Cao

Đài tổ chức “Cao Đài cứu quốc” là thành viên của mặt trận Việt

Minh.

- Trong thời kì kháng chiến chống pháp ở Nam Bộ (1945-1954)

một số tín đồ ở Nam Bộ đứng ra vận động các tín đồ thành lập hội cứu quốc là thành viên của mặt trận Liên Việt Cho đến năm 1954 đạo Cao Đài phân thành 12 nhóm với trên 1 triệu tín đồ.

Trang 20

- Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) chiến tranh ác liệt

kéo dài đã tạo thuận lợi cho đạo Cao Đài phát triển Đồng thời, sự tàn khốc của chiến tranh cũng làm cho đạo Cao Đài tiếp tục phân rã

- Sau phong trào đồng khởi của đồng bào miền Nam, mở đầu thời đấu tranh

chống Mỹ Diệm, các khối Cao Đài nói trên đã hình thành khối Cao Đài liên giao

I (1962), liên giao II(19720) đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng thu hút 18 hệ phái Cao Đài tham gia Cho đến năm 1975 đạo Cao Đài có hơn 2 triệu tín đồ,20.000 chức sắc

- Từ sau năm 1975, các phái Cao Đài không hoạt động theo mô hình tổ chức cũ

Các Hội thánh Cao đài xây dựng tổ chức hành chính đạo theo hai cấp: cấp Trung ương là Hội thánh, cấp cơ sở là Họ đạo Từ năm 1995 đến năm 2000, lần lượt 09 Hội thánh Cao đài có đông chức sắc, tín đồ tổ chức Đại hội

Trang 21

- Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao đài, đến nay đạo Cao đài

có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với

958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao đài)

- Nhìn chung trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, đông đảo chức sắc,

tín đồ đạo Cao đài đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của vào

sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng bào đạo Cao đài đang cùng toàn dân tham gia vào công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng đất nước

Trang 22

2 Cấu trúc tôn giáo của đạo Cao Đài

a.Giáo lý của đạo Cao Đài

- Nội dung giáo lý của đạo Cao Đài là sự vay mượn, chắp vá,

kết hợp, nhào trộn các giáo lý của các tôn giáo đã có từ cổ chí kim, từ đông sang tây.

- Tôn chỉ Cao Đài là "Tam giáo quy nguyên, ngũ chi phục

nhất" Tam giáo tức là Tam giáo đạo gồm: Phật giáo – Lão giáo – Nho giáo.

Trang 23

• Tam giáo quy nguyên: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ xây dựng

một nền giáo lý toàn diện tức là giáo lý Đại Đạo trên nền

tảng tổng hợp giáo lý Tam giáo đạo Cái cao thâm, tinh

khiết đó là từ bi bác ái của Phật, công bằng nhân nghĩa của Nho, phù phép thần tiên của Lão

• Tam giáo quy nguyên được suy luận mở rộng ra gọi là “

Hiệp nhất ngũ chi” tức là thống nhất năm nghành đạo.Nhân đạo là từ Nho, Thần đạo là từ đạo thờ các chủ thần, Thánh đạo là Thiên chúa giáo, Tiên đạo là Đạo giáo và đạo Phật

Trang 24

- Cao Đài công nhận mục đích cứu cánh của tất cả tôn giáo chân chính có

cùng một chân lý là hướng dẫn con người sống có đạo đức, hoàn thiện hóa bản thân, hoàn thiện hóa xã hội và giải thoát linh hồn

- Cao Đài chủ trương tôn trọng tín ngưỡng của mọi tôn giáo và nêu lên

nguyên lý chung của mọi nền giáo lý

- Giáo lý Cao Đài xây dựng dựa trên 2 nguyên lý căn bản là: thiên địa vạn

vật đồng nhất thể (Trời đất vạn vật có cùng một bản thể); và nguyên lý nhất bản tán vạn thù, vạn thù quy nhất bản (Một gốc phân tán ra vạn hình thức (sai biệt), vạn hình thức (sai biệt) quay về một gốc)

Trang 25

- Giáo lý của đạo Cao Đài đặc biệt quan tâm và đề cao tính thiêng

liêng huyền diệu của cơ bút, coi đó là linh hồn của đạo Mỗi khi cần ban bố trong đạo điều gì về giáo lý, về thánh lễ đều phải qua lễ cầu

- Các giáo lý và điều luật của đạo Cao Đài được thể hiện ở các kinh

sách như sau: Đại thừa Chân giáo, Ngọc đế Chân truyền, Pháp Chánh truyền, Thánh ngôn hợp tuyển

Trang 26

b Giáo chủ của đạo Cao Đài

- Nói một cách tổng quát Giáo Chủ là người làm chủ một nền Đạo, một tôn giáo, một môn phái tín ngưỡng

- Trong lịch sử Đạo Cao Đài có hai người xưng Giáo Chủ là Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Ngài Ngô Văn Chiêu

• Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc chính thức xưng danh giáo chủ Đạo Cao

Đài trong giai đoạn Ngài cầm quyền thống nhất Hiệp Thiên Đài và Cửu

Trùng Đài

• Ngài Ngô Văn Chiêu qua cơ bút trong môn phái của Ngài được tôn vinh lên làm giáo chủ Đạo cao Đài sau khi Ngài đã qui thiên

Trang 27

c Nghi lễ tôn giáo của đạo Cao Đài

- Đạo Cao Đài đặt ra nhiều qui định về luật lệ, lễ nghi để hướng

dẫn người theo đạo tu tập và xử thế Luật đạo có nhiều nhưng có một số nội dung quan trọng là “ngũ giới cấm”, “tứ đại điều qui”,

• Ngũ giới cấm (tức 5 điều cấm kỵ) : bất sát sinh, bất du đạo, bất

tà dâm, bất tửu nhục, bất vọng ngữ

• Tứ đại điều quy là bốn điều trau dồi đức hạnh được rút ra từ

Nho giáo đó là ôn, cung, khiêm, nhường.

Trang 28

- Ăn chay:

• Các đạo tâm sau khi nhập môn trở thành tín đồ của đạo Cao đài thì việc ăn

chay là một quy định bắt buộc

• Mới nhập môn chưa quen ăn chay thì người tín đồ chỉ tập ăn chay mỗi

tháng 6 ngày, gọi là lục trai

• Trải qua 6 tháng quen rồi, người tín đồ cần phải tiến lên một nấc cao hơn là

ăn chay mỗi tháng 10 ngày, gọi là thập trai

• Khi giữ được 10 ngày chay quen rồi, nên tiến lên một nấc thang cao hơn

nữa là ăn chay suốt trong 3 tháng Âm lịch

• Sau đó có thể tiến lên bậc Thượng thừa tức là ăn chay trường (ăn chay suốt

đời) luôn thì rất tốt

Trang 29

- Việc ăn chay trong đạo Cao đài là vô cùng quan trọng:

*Ăn chay là thể hiện lòng từ bi thương yêu và tôn trọng sự sống của muôn

loài vạn vật

* Ăn chay sẽ giúp cho tâm hồn được thanh khiết và sau khi chết đi sẽ dễ

dàng thăng về chín tầng trời và quy hồi về nơi Bạch Ngọc

*Ăn chay là nhằm giữ điều thứ nhất của Ngũ giới cấm - “bất sát sanh”

- Đạo Cao Đài còn những quy định về việc nhập môn cầu đạo, xây dựng thánh thất, tổ chức quan, hôn, tang, tế… đạo Cao Đài rất chú trọng giáo dục các tín đồ về đạo đức theo tiêu chuẩn đạo đức Tam cương, ngũ thường của Nho giáo

Trang 30

- Tang lễ:

• Các nghi thức áp dụng trong tang lễ của người tín đồ Cao Đài đặt trên căn bản một cuộc tiễn đưa linh hồn người quá cố đi qua một thế giới mới khác hơn cuộc sống trần tục của chúng ta

• Nội dung các bài kinh đọc trong suốt các diễn tiến của đám tang đều có cùng ý nghĩa là tỏ lòng thương tiếc, biết ơn đối với người đã chết,…

• Những người thân trong gia đình và bạn bè của người chết tập trung cầu nguyện cho linh hồn người chết được nhẹ nhàng siêu thoát qua lời kinh cầu siêu

Trang 31

• Trong các nghi thức tang lễ của người tín đồ Cao Đài, phép độ thăng

là phần sinh hoạt cao cấp nhất thuộc lãnh vực huyền linh và rất khó thực hiện:

+ Nó đòi hỏi người chết phải có một đời sống tu hành tối thiểu là giữ

được giới luật 10 ngày chay mỗi tháng một cách nghiêm chỉnh.

+ Phải có chức sắc được thọ truyền bí pháp độ thăng có đủ quyền năng linh hiển mới thực hiện được.

+ Phương pháp này chỉ là sự giúp đỡ một phần nào cho vong linh người chết được nhẹ nhàng siêu thoát, chứ nó không phải là một phép màu xóa

bỏ được tất cả mọi tội tình oan nghiệt trong kiếp sinh của người ấy

+ Thăng hay đọa là kết quả của cả kiếp người.

Trang 32

- Linh tượng thờ chủ yếu của đạo Cao Đài là

hình con mắt, gọi là Thiên Nhãn

- Việc thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa rất quan

trọng với người tín đồ Cao Đài Nhắc nhở

tín đồ rằng mọi cử chỉ, hành động luôn có

Thượng đế soi xét; Thiên Nhãn giúp người

tín đồ Cao đài nhận được Thần của Đức

Chí Tôn khi chăm chú nhìn Thiên Nhãn

trong lúc tụng kinh và người tu luyện định

Thần, Thần đó sẽ kết hợp với Tinh và Khí

trong bản thân mỗi người để thành Tam

Bửu

Thiên Nhãn

Trang 33

- Các ngày lễ của đạo Cao Đài bao gồm:

* Hàng ngày có 4 khóa lễ vào các giờ: sáng sớm, giữa trưa, chập tối và đêm khuya.

Hàng tháng có 2 ngày lễ vào ngày rằm và mồng một, âm lịch.

* Hàng năm có các ngày lễ chính (theo âm lịch) là ngày 9 tháng Giêng, 15 tháng hai, 8 tháng tư, 15 tháng bảy, 15 tháng tám, 15 tháng mười và ngày 15 tháng Chạp

- Lễ nghi của đạo Cao Đài khá rườm rà và cầu kỳ Đạo Cao Đài giải thích rằng lễ nghi sinh hoạt tôn giáo cũng thể hiện tinh thần tổng hợp tôn giáo.

- Đạo phục chung là màu trắng

- Về thờ cúng, các tín đồ đạo Cao Đài phải tôn thờ đấng trí tôn là Cao Đài thượng Đế, đồng thời họ vẫn có thờ cúng tổ tiên, nhưng không được cúng lễ vật bằng đồ mặn, không được đốt vàng mã.

•  

Trang 34

a Tổ chức tôn giáo của đạo Cao Đài

nước Nhìn chung tổ chức giáo hội của đạo Cao Đài được mô

phỏng theo mô hình thể chế chính trị quân chủ lập hiến

hiến kiểu Nhật Bản là hình thức chính quyền hợp với Việt Nam.Do

đó, khi thiết kế tổ chức xã hội đạo Cao Đài, họ rập khuôn theo bộ máy nhà nước Nhật Bản, nhưng nhiều chỗ rườm rà, quan liêu hơn, đặt tên gọi các tổ chức, chức sắc bằng những tên Hán Việt cầu kỳ, tăng vẻ huyền bí tôn giáo

đồ Hệ thống tổ chức cấp trung ương của đạo có ba đài là: Bát quái đài, Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài

Ngày đăng: 25/03/2017, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái của ý thức xã hội, phản ánh sự tồn tại xã hội. Song sự  phản ánh đó là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc người ta - quản lý nhà nước về tôn giáo đạo cao đài
Hình th ái của ý thức xã hội, phản ánh sự tồn tại xã hội. Song sự phản ánh đó là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc người ta (Trang 7)
Hình con mắt, gọi là Thiên Nhãn - quản lý nhà nước về tôn giáo đạo cao đài
Hình con mắt, gọi là Thiên Nhãn (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w