1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace×yorkshire) phối với đực pidu, duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống sơn đồng công ty cổ phần giống vật nuôi hà

77 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng khi lai giữa các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất, các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì thế tr

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHUẤT THANH LONG

ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA

TỔ HỢP LAI GIỮA LỢN NÁI F1(LANDRACE×YORKSHIRE) PHỐI VỚI ĐỰC PIDU, DUROC VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CON LAI ĐẾN 60 NGÀY TẠI TRẠI LỢN GIỐNG SƠN ĐỒNG -

CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG VẬT NUÔI HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Xuân Hảo

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đã chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016 Tác giả luận văn

Khuất Thanh Long

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo và cán bộ phòng Chăn nuôi - Sở Nông nghiệp và Phát triển chăn nuôi thành phố Hà Nội, phòng Kinh tế UBND huyện Phúc Thọ đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong bộ môn Di truyền- Giống vật nuôi - Khoa Chăn nuôi đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc Trại lợn giống Sơn Đồng - Công ty cổ phần giống vật nuôi Hà Nội đã hợp tác và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã giúp đỡ động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Khuất Thanh Long

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các biểu đồ viii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

2.1.1 Tính trạng số lượng 3

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng 3

2.1.3 Bản chất di truyền của ưu thế lai 5

2.1.4 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn 7

2.2 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản 9

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái 9

2.3 Năng suất sinh sản của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 11

2.3.1 Năng suất sinh sản của lợn nái 11

2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản 14

2.4 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng 16

2.4.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng 16

2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng 18

2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 23

Trang 5

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Địa điểm thời gian nghiên cứu 26

3.3 Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu 26

3.3.1 Xác định năng suất sinh sản theo 2 tổ hợp lai 26

3.3.2 Xác định tiêu tốn TA/kg lợn cai sữa 27

3.3.3 Xác định các chỉ tiêu sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.1 Theo dõi năng suất sinh sản của các tổ hợp lai 27

3.4.2 Xác định tiêu tốn TA/kg lợn cai sữa 28

3.4.3 Xác định tăng KL và TTTA của lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi 28

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4 Kết quả và thảo luận 29

4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LY) phối với đực Duroc và đực PiDu 29

4.2 Năng suất sinh sản của lợn nái f1(lxy) phối với lợn đực pidu và duroc qua các lứa đẻ 38

4.2.1 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) phối với lợn đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ nhất 38

4.2.2 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) phối với lợn đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ hai 41

4.2.3 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) phối với lợn đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ ba 43

4.2.4 Năng suất sinh sản của lượn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ tư 45

4.2.5 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ năm 47

4.2.6 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ sáu 49

4.3 Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 1 kg lợn cai sữa 54

Trang 6

4.4 Sinh trưởng của lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi của hai tổ hợp lai

DurocxF1(LxY) và (PiDu)xF1 (LxY) 56

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 60

Tài liệu tham khảo 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Cs

cs CTV

Du

KL

L LxY

Pi PiDu

SS

TĂ TTTĂ

Y

Cai sữa cộng sự Cộng tác viên Giống lợn Duroc Khối lượng Giống lợn Landrace Lợn lai Landrace và Yorkshire Giống lợn Pietrain

Lợn lai giữa Pietrain và Duroc

Sơ sinh Thức ăn Tiêu tốn thức ăn Giống lợn Yorkshire

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LY) phối với đực PiDu và Duroc 30 Bảng 4.2 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LxY) phối với đực Duroc và

PiDu ở lứa đẻ 1 39 Bảng 4.3 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LxY) phối với đực Duroc và PiDu

ở lứa đẻ 2 42 Bảng 4.4 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LxY) phối với đực Duroc và PiDu

ở lứa đẻ 3 44 Bảng 4.5 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LxY) phối với đực Duroc và PiDu

ở lứa đẻ 4 46 Bảng 4.6 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LxY) phối với đực Duroc và PiDu

ở lứa đẻ 5 48 Bảng 4.7 Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LxY) phối với đực Duroc và PiDu

ở lứa đẻ 6 50 Bảng 4.8 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 55 Bảng 4.9 Sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn từ cai sữa đến 60 ngày 57

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Số con đẻ ra, số con đẻ ra còn sống, số con để nuôi và số con cai sữa của

lợn nái F1(LY) phối với đực PiDu và Duroc 36 Biểu đồ 4.2 Số con đẻ ra/ổ của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và Duroc qua

các lứa đẻ 51 Biểu đồ 4.3 Số con đẻ ra sống/ổ của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và

Duroc qua các lứa đẻ 52 Biểu đồ 4.4 Số con cai sữa/ổ của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và

Duroc qua các lứa đẻ 53 Biểu đồ 4.5 Khối lượng cai sữa/ổ của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và

Duroc qua các lứa đẻ 54 Biểu đồ 4.6 Khả năng tiêu tốn thức ăn cho lợn con cai sữa 56

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Khuất Thanh Long

Tên Luận văn: “Đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai gữa lợn nái F1(Landrace×Yorkshire) phối với đực PiDu, Duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống Sơn Đồng - Công ty cổ phần giống vật nuôi Hà Nội”

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tuổi

Phương pháp nghiên cứu

1 Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu

Xác định năng suất sinh sản theo 2 tổ hợp lai, tiêu tốn TA/kg lợn cai sữa, sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi

2 Phương pháp nghiên cứu

Theo dõi thu thập các chỉ tiêu năng suất sinh sản của các tổ hợp lai, phân lô nuôi theo dõi TTTA và sinh trưởng đến 60 ngày

3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý trên phần mềm SAS 9.0 theo phương pháp thống kê sinh học Các tham số tự tính toán gồm: Dung lượng mẫu (n), giá trị trung bình ( ), sai số tiêu chuẩn (SE), hệ số biến động Cv (%) và sai khác (P)

Kết quả chính và kết luận

- Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) phối với đực PiDu và đực Duroc đạt khá cao, cụ thể:

+ Tuổi đẻ lứa đầu của 2 tổ hợp trên lần lượt là 356,80 và 357,08 ngày;

+ Số con đẻ ra còn sống/ổ lần lượt là 11,83 và 11,16 con;

+ Số con cai sữa/ổ lần lượt là 11,14 và 10,80 con;

+ Khối lượng cai sữa/con ở tổ hợp lai PiDu x F1(LY) và Duroc x F1(LY) lần lượt là 6,60 và 6,63(kg)

X

Trang 11

- Năng suất sinh sản của nái lai F1(LxY) phối với đực PiDu, Duroc tăng dần từ lứa

đẻ 1 đến lứa đẻ 5 và có sự giảm dần từ lứa đẻ 6

- Tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa của con lai ở hai tổ hợp lai chênh lệch nhau không nhiều: Duroc x F1(LY) là 6,03kg; PiDu x F1(LY) là 5,97 kg

- Tăng khối lượng/g/con/ngày của tổ hợp lai PiDu x F1(LY) tương đương so với tổ hợp lai Duroc x F1(LxY) Cụ thể tăng khối lượng/ngày của công thức PiDu x F1(LY) là 280,56g với mức TTTA/kg tăng khối lượng là 1,10kg thức ăn; tương ứng ở công thức Duroc F1(LY) là 277,39g và 1,17kg thức ăn

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Khuat Thanh Long

Thesis title: Reproductive performance of crossbred between F1(Landrace×Yorkshire) sows and PiDu or Duroc boars and the growth rate of hybrid pigs up to 60 day in the pig breeding farm of Son Dong - JSC Hanoi livestock breeds

Major: Animal Science Code: 60.62.01.05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

- Evaluate reproductive performance of crossbred pigs resulted from F1(Landrace×Yorkshire) sows and PiDu or Duroc in the pig breeding farm of Son Dong - JSC Hanoi livestock breeds, the growth performance of hybrids up to 60 days old and determination of effective crossbred in the pig farms

Materials and Methods

1 The content and research indicators

To investigation of reproductive performance of crossbred pig from F1 (Landrace×Yorkshire) sows and PiDu or Duroc boars, ADG (Average daily gain), FCR (Feed conversion ratio) in period from weaning to 60 days

2.Research methodology

Observation reproductive performance of hybrid combinations, ADG, FCR

3.Methods of data processing

Data is processed in SAS software 9.0 under bio-statistical methods.Main findings and conclusions

- Reproductive performance of female pig interbreed with males Duroc PiDu boars was high, for example:

+ Age of first farrowing of 2 complexes was 356,80 and 357,08 days respectively; + The number of surviving born piglets/litter was respectively 11,83 and 11,16 pigs; + The number of weaning pigs/letter was respectively 11,14 and 10,80 pigs; + The weaning weight of PiDu x F1(LY) and Duroc x F1(LY) pigs was respectively 6,60 and 6,63 (kg)

- Reproductive performance of female pigs F1(LxY) mate with PiDu, Duroc boars increases regularly from first calving to fifth farrowing and decrease from sixth farrowing

Trang 13

- FCR/1kg of crossbred pigs weaned at two different hybrid combinations not much difference: Duroc x F1 (LY) was 6,03 kg;PiDu x F1 (LY) was 5,97 kg.

- The ADG and FCR of PiDu x F1 (LY) equivalents compared with Duroc x F1(LxY). For example: ADG of PiDu x F1 (LY) was 280,56g with FCR was 1,10 kg, and

of Duroc F1 (LY) were 277,39 g and 1,17kg, respectively

Through the result of our research, we suggest some open widely the using of the same hybrid combinations 3 and 4 like DurocxF1(LY), PiDuxF1 (LY) to grow hybrids and enables use this result as a reference makes construction plans raising extra-large

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi là nghề truyền thống đã có từ lâu đời ở nước ta, trong đó chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng Ước cả năm 2015, đàn lợn đạt khoảng 27,2 triệu con (tăng 1,6%), đàn gia cầm đạt khoảng 339 triệu con (tăng 3,5%), đàn bò khoảng 5,31 triệu con (tăng 1,5%), riêng đàn bò sữa đạt 275 nghìn con, tăng 20,8% so với năm 2014; đàn trâu đạt 2,51 triệu con, tương đương năm 2014 Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 4,78 triệu tấn, tăng 3,9%; sản lượng sữa tươi đạt 645,6 nghìn tấn, tăng 17,5%; sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp quy đổi đạt 15,6 triệu tấn, tăng 6,2% so với năm 2014 (Tổng cục Thống kê, năm 2015)

Thịt lợn chiếm tới trên 70% tổng lượng thịt tiêu thụ ở thị trường trong nước, song với mức sống ngày càng nâng cao thì nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cả về

số lượng cũng như chất lượng Điều đó đòi hỏi phải nâng cao năng suất chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn Năng suất chăn nuôi lợn của nước ta trong thời gian qua

đã không ngừng được nâng lên, đó là nhờ có sự đóng góp to lớn của các nhà khoa học đã nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác giống, kỹ thuật chăn nuôi, thú y, thức ăn cũng như cải tiến chế độ quản lý tổ chức

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi hiện nay chăn nuôi lợn đang tập trung phát triển theo mô hình chăn nuôi lợn tập trung quy mô lớn, đảm bảo

an toàn dịch bệnh, có năng suất và hiệu quả cao Đặc biệt các giống lợn ngoại như Landrace, Yorkshire đã được nước ta nhập từ lâu dễ thích nghi, có sức đề kháng tốt, khả năng sinh sản cao, nuôi con khéo và chất lượng thịt thơm ngon, rất phù hợp với tập quán chăn nuôi của người dân Việt Nam Mục tiêu của chăn nuôi lợn là đổi mới

cơ cấu giống theo hướng tăng tỷ lệ máu ngoại và nâng cao sản lượng, chất lượng thịt lợn đáp ứng tốt nhu cầu tiêu thụ trong nước và hướng tới xuất khẩu

Đứng trước nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và thế giới về

số lượng, chất lượng thịt theo định hướng, kế hoạch phát triển chăn nuôi lợn của Bộ NNPTNT đến năm 2020 đạt 30 triệu lợn có tỉ lệ nạc cao Bên cạnh nâng cao tiến bộ

di truyền, chọn lọc tốt cải tiến chế độ chăm sóc… việc nhập một số giống lợn ngoại

có năng suất và chất lượng thịt tốt có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất chăn nuôi Các giống lợn có năng suất và chất lượng cao đã được nhập vào nước ta như

Trang 15

Yorkshire, Landace, Duroc, Pietrain để nuôi thuần chủng hoặc cho lai để tạo ra tổ hợp lai mới có năng suất, chất lượng thịt cao, được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả thiết thực

Lợn Landrace và Yorkshire được đưa vào chăn nuôi từ năm 2000 đến nay tại trại giống lợn ngoại Sơn Đồng - thành phố Hà Nội Tại đây hai giống lợn này được chăn nuôi dưới hình thức chăn nuôi công nghiệp, chuồng trại tiên tiến, mô hình chuồng nuôi khép kín

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tổ hợp lai cho tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có nhiều

đực lai như Pietrain × Duroc… Với mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn toàn diện và bền vững, nhằm tăng nhanh sản lượng thịt và nâng cao chất lượng thịt phục

vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, nghiên cứu các công thức lai nhằm xác định những cặp lai phù hợp là yêu cầu cấp thiết đối với sản xuất hiện nay Xuất phát từ cơ

sở thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace×Yorkshire) phối với đực PiDu, Duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống Sơn Đồng - Công ty cổ phần giống vật nuôi Hà Nội”

1.2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

- Đánh giá khả năng sinh sản của một số tổ hợp lai từ đó xác định được tổ hợp lai phù hợp và có hiệu quả tại trại lợn giống Sơn Đồng - Công ty cổ phần giống vật nuôi Hà Nội

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tuổi

- Trên cơ sở đó xác định tổ hợp lai phù hợp và có hiệu quả trong chăn nuôi lợn trang trại tại trại lợn giống Sơn Đồng - Công ty cổ phần giống vật nuôi Hà Nội

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Mỗi giống vật nuôi được hình thành trong điều kiện ngoại cảnh nhất định Trải qua nhiều thế hệ, chúng có đặc tính sinh học ổn định và có khả năng truyền lại những đặc tính đó cho thế hệ kế tiếp Đó là đặc tính sinh học của động vật nói chung và vật nuôi nói riêng Để giúp cho công tác chọn lọc giống vật nuôi đạt được kết quả tốt, trước hết cần phải nắm vững những kiến thức cơ bản về di truyền và ưu thế lai

2.1.1 Tính trạng số lượng

Tính trạng số lượng là những tính trạng được quy định bởi nhiều cặp gen, trong đó mỗi cặp gen chỉ tác động, đóng góp một hiệu ứng nhỏ nhất định Tính trạng số lượng bị tác động lớn bởi các nhân tố môi trường và sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác vê mức độ hơn sự sai khác về chủng loại, đó là bản chất của tính trạng đa gen Hầu hết những tính trạng có giá trị kinh tế cao của gia súc đều là những tính trạng số lượng

Có hai hiện tượng di truyền cơ bản liên quan đến tính trạng số lượng và mỗi một hiện tượng di truyền này là một cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền giống vật nuôi, đó là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc hay còn gọi là quan hệ thân thuộc và hiện tượng suy hoá cận huyết Quan hệ thân thuộc là cơ sở di truyền của chọn lọc còn hiện tượng suy hoá cận huyết liên quan đến sức sống, sức sinh sản đời con và đó cũng chính là cơ sở di truyền của chọn phối để nhân thuần hay tạp giao

Các tính trạng liên quan đến năng suất của vật nuôi là các tính trạng số lượng

do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật Giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi nhân tố ngoại cảnh

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng

Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ tính trạng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E) Giá trị kiểu hình được minh họa như sau:

P = G + E Trong đó:

P: Giá trị kiểu hình (Phenotype Value)

G: Giá trị kiểu gen (Genotyp Value)

E: Sai lệch môi trường

Trang 17

Giá trị kiểu gen

Giá trị kiểu gen của từng tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định Tuỳ theo tác động khác nhau của các gen bao gồm các thành phần khác nhau: giá trị di truyền cộng gộp hay giá trị giống, sai lệch trội D và sai lệch tương tác gen I

G = A + D + I Giá trị cộng gộp (A): Bố mẹ chỉ truyền cho con cái các gen của chúng chứ không phải truyền đạt kiểu gen cho thế hệ sau Để đo lường giá trị truyền đạt từ bố

mẹ sang đời con phải có một giá trị đo lường có quan hệ với gen chứ không phải có liên quan đến kiểu gen, đó là “hiệu ứng trung bình” của các gen Hiệu ứng trung bình của một gen là sai lệch trung bình của cá thể so với trung bình của quần thể

mà nó đã nhận gen đó từ bố hoặc mẹ nào đó còn gen kia nhận được từ bố hoặc mẹ khác trong quần thể Tổng thể các hiệu ứng trung bình của quần thể mà nó mang được gọi là giá trị cộng gộp giá trị giống của cá thể Giá trị giống là thành phần quan trọng của kiểu gen, vì nó cố định và có thể di truyền được cho thế hệ sau Do

đó, nó là nguyên nhân chính gây ra sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, đây cũng là nhân tố chủ yếu sinh ra đặc tính di truyền của quần thể và sự đáp ứng của quần thể đối với chọn lọc Hơn nữa, đó chính là thành phần duy nhất mà người ta có thể xác định được từ sự đo đạc các tính trạng đó ở quần thể

Tác động của các gen gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen dị hợp luôn luôn là kiểu hình trung gian so với kiểu hình của hai kiểu gen đồng hợp

Bố mẹ luôn truyền một nửa giá trị cộng gộp của mỗi tính trạng của chúng cho đời con Tiềm năng di truyền do tác động cộng gộp của gen bố và mẹ tạo nên gọi là giá trị di truyền của con vật hay giá trị giống Giá trị giống dùng để chọn lọc và có khả năng di truyền cho đời sau

Sai lệch trội (D): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các cặp alen trong cùng một locus (đặc biệt là cặp gen dị hợp tử) Sai lệch trội cũng là một phần thuộc tính của quần thể, sai lệch trội của bố mẹ không được truyền sang con cái

Sai lệch tương tác gen (I): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các gen thuộc các locus khác nhau Sai lệch tương tác gen không có khả năng

di truyền cho thế hệ sau

Trang 18

Sai lệch môi trường (E): sai lệch môi trường được thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung và sai lệch môi trường riêng

Sai lệch môi trường chung Eg: là sai lệch do loại môi trường tác động lên toàn bộ con vật trong suốt cuộc đời của nó

Sai lệch môi trường riêng Es: là sai lệch do loại môi trường chỉ tác động lên một số con vật trong một giai đoạn nào đó trong đời của chúng

Như vậy, kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai locus trở lên có giá trị kiểu hình chi tiết như sau:

P = A + D + I + Eg + Es Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng, chúng ta

có thể thấy muốn nâng cao năng suất của vật nuôi cần phải:

Tác động về mặt di truyền (G), bao gồm:

Tác động vào hiệu ứng cộng gộp A bằng cách chọn lọc

Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và tương tác gen (I) bằng cách phối giống và tạp giao Tác động về mặt môi trường bằng cách cải tiến các điều kiện chăn nuôi thức ăn, thú y, chuồng trại, quản lý…

2.1.3 Bản chất di truyền của ưu thế lai

Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho các đực giống và cái giống thuộc hai quần thế khác nhau phối giống với nhau, hai quần thế này có thể là hai dòng, hai giống, hay hai loài khác nhau Do đó đời con của chúng mang đặc điểm di truyền của bố mẹ nó Lai giống có tác dụng mang lại ưu thế lai ở đời con một số tính trạng nhất định Hiệu ứng cộng gộp của gen đực và cái là nguyên nhân tạo nên ưu thế lai

XP1P2 = XP1 + XP2

2

thứ hai

Trang 19

Mức độ ưu thế lai của một tính trạng năng suất được xác định

B A A B

Trong đó: H là ưu thế lai (tính theo %);

AB: giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố A, mẹ B;

BA: giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố B, mẹ A;

AA: giá trị kiểu hình trung bình của giống (hoặc dòng) A;

BB: giá trị kiểu hình trung bình của giống (hoặc dòng) B

Như vậy không có ưu thế lai khi năng suất của con lai chỉ bằng năng suất của chính bố mẹ chúng Nếu như giao phối cận huyết làm tăng mức độ đồng hợp

tử và giảm mức độ dị hợp tử của các kiểu gen thì ngược lại lai giống làm tăng mức

độ dị hợp tử, giảm mức độ đồng hợp tử các kiểu gen Vì thế ưu thế lai gắn liền với tác động của các thể dị hợp tử của các locus Trong một quần thể vật nuôi, nếu giao phối giữa các con vật họ hàng sẽ gây suy thoái cận huyết, nhưng sau đó giao phối không cận huyết giữa những con vật đã bị cận huyết sẽ có ưu thế lai Như vậy những tính trạng bị mất đi do giao phối cận huyết đã được bù đắp lại khi cho những cá thế cận huyết giao phối với nhau Do đó, khi nhân giống các dòng cận huyết quần thể chịu ảnh hưởng của suy thoái cận huyết Nhưng khi lai giữa các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất, các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì thế trong chăn nuôi lợn sinh sản việc lai giống là giải pháp nâng cao năng suất sinh sản nhanh nhất

Bản chất của hịên tượng ưu thế lai được Nguyễn Thiện và cs (1995) giải thích bởi ba giả thuyết đó là thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết át gen

- Thuyết trội: các gen có lợi phần lớn là gen trội, con lai tập hợp được nhiều gen trội hơn bố mẹ, các tính trạng về năng suất sinh sản, sinh trưởng và cho thịt là những tính trạng số lượng do nhiều kiểu gen điều khiển vì vậy ít khi có đồng hợp tử, thế hệ con lai tạo ra giữa hai cá thể được biểu hiện do các gen trội của bố và mẹ

- Thuyết siêu trội: hiệu quả của một alen trạng thái dị hợp tử sẽ khác với hiệu quả từng alen ở trạng thái đồng hợp tử và các alen di hợp tử có tác động lớn hơn các cặp alen đồng hợp tử Aa> AA>aa

Trang 20

- Thuyết át gen: cho rằng lai giống đã hình thành nên các tổ hợp gen mới trong đó có tác động tương hỗ giữa các alen không cùng locus là nguyên nhân tạo ra

ưu thế lai

2.1.4 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn

Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế chăn nuôi lợn cho thấy việc lai giống đã mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn Hiện nay trên thế giới trong chăn nuôi lợn có tới 90% con giống thương phẩm là con lai Trong thực tế nhân giống lợn hiện nay đang sử dụng công thức lai “ba giống” với sơ đồ:

♀ dòng A ♂ dòng B

♀ lai ♂

F1(AB) dòng C

♀ ♂

Con lai F1 (AB)C

PF1(AB)C = ¼ aA + 1/4aB + 1/4aC +BC + HM + HI + E

E: Ảnh hưởng của môi trường

Như vậy trong lai 3 giống hay dòng, do sử dụng mẹ lai (hoặc bố lai) nên con

Theo William (1997), ở lợn có 3 loại ưu thế lai:

- Ưu thế lai ở lợn mẹ có lợi cho cá thể đời con là ưu thế lai quan trọng nhất bởi vì năng suất sinh sản phụ thuộc vào số con cai sữa/lứa, đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất

Trang 21

- Ưu thế lai của con có lợi cho chính bản thân chúng, thể hiện ở tăng khối lượng, sức sống, đặc biệt là sau khi cai sữa

- Ưu thế lai của bố được tạo thành từ bố thể hiện thông qua con đực từ kết quả giao phối Ưu thế lai của đực giống thể hiện rất hạn chế, kiểu gen của lợn đực giống không ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con đẻ ra và số lượng con còn sống đến 21 ngày tuổi, khối lượng lợn con sơ sinh của đực lai cao hơn đực thuần

Ưu thế lai đạt được ở các chỉ tiêu năng suất là khác nhau phụ thuộc vào phương pháp lai, giữa các cặp lai ưu thế lai thể hiện cao đối với các chỉ tiêu sinh sản, thể hiện trung bình đối với các chỉ tiêu vỗ béo và thấp đối với các chỉ tiêu giết thịt

Để lợn lai nuôi thịt có khả năng sinh trưởng cao và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp, tỉ lệ nạc cao, hiện nay hệ thống sản xuất con lai được tổ chức theo

sơ đồ hình tháp nhằm thực hiện các công thức lai giữa nhiều dòng, nhiều giống khác nhau, hệ thống sản xuất con lai được tổ chức như sau:

- Đàn cụ - kỵ: Nhiệm vụ nhân các dòng, giống thuần

- Đàn ông bà (GP): Lai giữa hai dòng, giống thuần với nhau tạo ra đời ông

bà, nếu dùng công thức lai giữa 4 dòng giống khác nhau thì cần có 2 đàn ông bà khác nhau, một đàn ông bà tạo ra đàn bố, còn đàn kia tạo ra đàn mẹ Nếu sử dụng công thức lai giữa 3 dòng khác nhau, thì chỉ cần một đàn ông bà, đàn này thường dùng để tạo ra đàn mẹ, còn đàn bố thường là dòng, giống thuần trong đàn cụ kỵ

- Đàn bố - mẹ (P): Lai giữa hai đàn bố mẹ tạo ra đời con là con lai giữa 3 hay

Các nhân tố ảnh hưởng tới ưu thế lai:

- Nguồn gốc di truyền của bố và mẹ: Bố và mẹ có nguồn gốc di truyền càng

xa nhau thì ưu thế lai càng cao và ngược lại

- Tính trạng nghiên cứu: Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì các tổ hợp lai thường đạt ưu thế lai cao và ngược lại

Trang 22

- Công thức lai: ưu thế lai còn phụ thuộc vào công thức lai và việc sử dụng

cá thể nào làm bố, cá thể nào làm mẹ Trong lai tạo, nên chọn tổ hợp lai nào làm bố hay mẹ để có ưu thế lai của mẹ hay của bố lai cao

- Điều kiện nuôi dưỡng: Nếu điều kiện nuôi dưỡng kém thì mức độ thể hiện

ưu thế lai thường thấp và ngược lại

2.2 CƠ SỞ SINH LÝ CỦA SỰ SINH SẢN

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái

Sinh sản là một thuộc tính của sinh vật, là quá trình sinh lý phức tạp nhằm đáp ứng chức năng duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự tiến hoá của sinh vật Trong chăn nuôi còn mang ý nghĩa tái sản xuất ra các sản phẩm phục vụ lợi ích con người

Vì vậy, thuộc tính sinh sản được quan tâm nhiều, nhằm mục đích làm sao trong thời gian ngắn nhất sinh sản được nhiều nhất, thế hệ sau có đặc tính tốt hơn thế hệ trước, trong đó năng suất sinh sản ngày càng được nâng cao sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi

2.2.1.1 Sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau,

ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày) Kết quản nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (2001), cho biết lợn Landrace thành thục về tính là 213,1 ngày

Sự thành thục về tính bao gồm các biểu hiện sau:

+ Bộ máy sinh sản đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng lần đầu và con đực sinh tinh Trứng và tinh trùng gặp nhau có khả năng thụ thai

+ Các đặc tính sinh dục phụ thứ cấp xuất hiện

+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: Con cái động dục thích gần con đực và chịu đực, con đực có phản xạ giao phối

Trang 23

Sự thành thục về tính của lợn nái được tính từ lần động dục đầu tiên Ở lần động dục này lợn cái có rụng trứng và có khả năng thụ thai nhưng trên thực tế người

ta bỏ qua lần động dục này, không phối giống bởi vì bộ máy sinh dục vẫn chưa phát triển hoàn thiện Thời gian thành thục về tính thường là 200 ngày và biến động trong phạm vi 135 – 250 ngày Lợn nội ở nước ta thành thục về tính lúc 4 – 5 tháng tuổi, lợn ngoại từ 6 – 7 tháng tuổi

Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế

độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể…

+ Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu

là 208 - 209 ngày

+ Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Browska et al (1997) chỉ rõ, lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi)

và khối lượng cơ thể là 48,4 kg

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều

đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác

Trang 24

trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ mỗi ngày

+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes và James (1996), lợn cái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 -

20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu

2.2.1.2 Thành thục về thể vóc

Tuổi thành thục về thể vóc hay còn gọi là tuổi trưởng thành, là tuổi mà khi đó toàn bộ cơ quan, bộ phận cơ thể đã phát triển hoàn thiện Nói cách khác khi ngoại hình và thể vóc của con vật đạt tới mức hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định gọi là thành thục về thể vóc Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn tuổi thành thục về tính

Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ vẫn chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này làm ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn nội khi được 6 – 7 tháng tuổi, khối lượng đạt 40 – 50 kg mới cho phối; đối với lợn ngoại khi được 8 –

9 tháng tuổi, khối lượng đạt 120 – 140 kg mới nên cho phối

2.3 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 2.3.1 Năng suất sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu có liên quan đến khả năng sinh sản của từng giống, chất lượng đàn con sinh ra nhưng nhìn chung mỗi chỉ tiêu chỉ đánh giá được một mặt nào đó chất lượng của nái đẻ Các chỉ tiêu thường được dùng là:

Trang 25

* Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)

giống lần đầu sớm thì tuổi đẻ lứa đầu sớm Ngoài ra tuổi đẻ lứa đầu còn phụ thuộc vào kết quả phối giống, thời gian mang thai và tuổi thành thục về tính của từng giống lợn khác nhau Với lợn nội tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn lợn ngoại do tuổi thành thục về tính ngắn hơn

* Thời gian mang thai (ngày)

Là khoảng thời gian tính từ lợn phối giống có chửa đến khi đẻ Thời gian mang thai của lợn thường nằm trong khoảng 110 – 118 ngày, trung bình khoảng

114 ngày

* Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày)

Là khoảng thời gian tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa sau do đó được tính bằng tổng: Thời gian nuôi con + thời gian chờ phối đến lúc có chửa + thời gian mang thai đến lúc đẻ

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ càng ngắn, hệ số lứa đẻ/nái/năm càng cao

* Thời gian động dục sau cai sữa (ngày)

Là khoảng thời gian tính từ khi cai sữa đến khi phối giống có chửa, số ngày phối giống có chửa sau khi cai sữa bình thường là 5 - 7 ngày Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tỷ lệ hao hụt của lợn nái, trình độ kỹ thuật, chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái nuôi con và lợn nái chờ phối

* Số con đẻ ra/ổ (con)

Số con đẻ ra trên ổ bao gồm cả số con sống, số con chết, số thai chết và thai

gỗ Thông thường số con đẻ ra trên ổ khác nhau qua các lứa đẻ và tuân theo một quy luật, lứa đầu thường thấp sau đó tăng lên ở lứa thứ 2, tương đối ổn định ở các lứa tiếp theo đến lứa 6 – 7, rồi sau đó giảm dần Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi

* Số con sơ sinh sống/ổ (con)

Đây là số con sơ sinh sống đến 24 giờ kể từ khi đẻ xong con cuối cùng Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của lợn mẹ và sức sống của bào thai

Trang 26

* Khối lượng sơ sinh/con (kg)

Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn và số lợn con được sinh ra trên ổ Các giống lợn ngoại thường có khối lượng sơ sinh cao hơn so với các giống lợn nội Trong một lứa nếu số con đẻ ra nhiều thì khối lượng trung bình thường nhỏ hơn số con đẻ ra ít

Đây là chỉ tiêu đánh giá được khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa Khối lượng sơ sinh càng cao càng tốt, con vật sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau

* Số con để nuôi/ổ (con)

Là số con sơ sinh sống sau khi chuyển đi hoặc nhận về trên mỗi lợn nái nuôi đến lúc cai sữa

* Số con cai sữa/ổ (con)

Đây là chỉ tiêu quan trọng vì năng suất của chăn nuôi lợn nái sinh sản phụ thuộc nhiều vào số lượng lợn con cai sữa/ổ sống cho đến khi xuất chuồng, chỉ tiêu này liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, khả năng tiết sữa của lợn mẹ

và khả năng nuôi con khéo của lợn nái

* Khối lượng cai sữa/ổ (kg)

Khối lượng cai sữa trên ổ không chỉ phụ thuộc vào số con cai sữa trên ổ mà còn phụ thuộc vào thời gian cai sữa vì hiện nay người chăn nuôi thường tiến hành cai sữa sớm khi lợn con đạt được một khối lượng nhất định và khả năng ăn được nhiều hay ít thức ăn, có thể cai sữa vào 21 ngày tuổi, 28 – 30 ngày tuổi và cũng có thể muộn hơn

* Tuổi cai sữa (ngày)

Là số ngày lợn con từ khi sinh ra được nuôi đến lúc cai sữa Tuổi cai sữa phụ thuộc nhiều vào điều kiện chăn nuôi và kỹ thuật tập ăn sớm cho lợn con của mỗi trang trại

* Tỷ lệ sống đến cai sữa (%)

Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa bằng tỷ số giữa số con còn sống đến khi cai sữa

so với số con để nuôi, và được tính theo công thức

Trang 27

Số con sống đến cai sữa

Tỷ lệ sống đến cai sữa(%) = x 100%

Số con để nuôi

* Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày)

Là khoảng thời gian từ khi lợn nái được cai sữa con đến khi có biểu hiện động dục trở lại Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ dịnh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa Chỉ tiêu này đánh giá được tỷ lệ hao hụt của lợn nái, trình độ kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái, lợn nái nuôi con và lợn nái chờ phối

2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản

Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau, đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố Năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua các chỉ tiêu như số con sinh ra/ổ, số con còn sống/ổ, khối lượng sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khoảng cách lứa đẻ, các chỉ tiêu này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản Theo Ducos (1994), yếu tố quyết định cho số con cai sữa gồm số trứng rụng, tỷ lệ lợn con sống lúc sơ sinh và

tỷ lệ lợn con sống đến cai sữa Do đó việc nâng cao số con đẻ ra còn sống và số con cai sữa là hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của người chăn nuôi.Như vậy năng suất sinh sản phụ thuộc chặt chẽ vào sự tác động của tính di truyền và các yếu tố ngoại cảnh

- Yếu tố di truyền:

Giữa các dòng, giống lợn có sự khác nhau về tuổi thành thục, sức sản xuất, nhiều nghiên cứu cho thấy năng suất sinh sản của lợn nái có hệ số di truyền thấp.Theo Perrocheau (1994), hệ số di truyền về sinh sản của lợn là: Số lứa

Qua đó thấy rằng năng suất sinh sản phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và những tác động của con người trong quá trình nhân giống, nuôi dưỡng chăm sóc Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau, việc chọn lọc, nhân và phát triển đàn hạt nhân để làm cơ sở tạo ra lợn lai 3- 4 máu ở con

Trang 28

lai thương phẩm đã mang lại hiệu quả kinh tế cho chăn nuôi lợn sinh sản Đánh giá ảnh hưởng của lai giống đối với năng suất sinh sản nhiều tác giả cho biết nhờ có ưu thế lai đã cải thiện được năng suất sinh sản của cả đàn Theo nghiên cứu của Đặng

Vũ Bình (1999) có một số chỉ tiêu năng suất sinh sản phân biệt rõ rệt qua giống là: Tương ứng với các giống Yorkshire và Landrace có tuổi đẻ lứa đầu lần lượt 418,5 ngày và 409,3 ngày; số con đẻ ra/ổ là 9,8 và 9,9 con và khối lượng sơ sinh trung bình/con là 1,2 và 1,2 kg

Lợn thuộc các giống khác nhau thì sự thành thục về tính cũng khác nhau Sự thành thục về tính ở các giống lợn có tầm vóc, khối lượng nhỏ thường sớm hơn các giống lợn có tầm vóc, khối lượng lớn Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xảy ra lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6

- 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild và Bidanel, 1998) Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tính sớm, năng suất sinh sản cao và chức năng làm mẹ tốt So với giống lợn LW, lợn Meishan (MS) đạt tuổi thành thục về tính sớm hơn khoảng 100 ngày và có số con đẻ ra nhiều hơn 2,4 - 5,2 con/ổ (Prez 1975)

Otrowski and Blrchanski (1995) cho biết, cùng trong một cơ sở trại giống nái

LW và nái L có số con sơ sinh/lứa lần lượt là 9,6 và 10,4 con; số con sơ sinh sống/lứa là 9,1 và 9,7 con tương ứng cho 2 giống Sự sai khác này có ý nghĩa thống

kế (P<0,001)

Phương thức chăn nuôi cũng có ảnh hưởng tới tuổi động dục lần đầu, lợn hậu

bị nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu lớn hơn nuôi chăn thả, nếu cho đực tiếp xúc với lợn cái hậu bị 5 – 6 tháng tuổi mỗi ngày 15 phút sẽ làm cho lợn hậu bị động dục sớm Tuy nhiên ở lần động dục đầu tiên nếu cho phối giống ngay tỉ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít, do vậy chỉ nên phối giống từ lần động dục thứ 2

- Yếu tố môi trường

Chế độ dinh dưỡng: Điều quan trọng đối với cái hậu bị và lợn nái là cần đủ

số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để đảm bảo cho khả năng sinh sản tốt Zimmerman et al (1996) cho biết: Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ khi lợn nái cai sữa con đến lúc động dục trở lại và phối giống có ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ thai Cho ăn mức năng lượng cao trong vòng 7 - 10 ngày của chu kỳ động dục trước khi phối giống, số trứng rụng đạt được tối đa Tuy nhiên, nếu tiếp tục cho ăn với mức năng lượng cao vào đầu giai đoạn có chửa sẽ làm tăng tỉ lệ chết phôi và giảm

Trang 29

số lượng lợn con sinh ra trong ổ Cho lợn ăn quá mức không những làm lãng phí mà còn làm tăng khả năng chết thai (Diehl et al., 1996) Chế độ dinh dưỡng còn bao gồm dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của Vitamin

Mặt khác, chế độ cho ăn phù hợp với từng giai đoạn cũng ảnh hưởng tới năng suất của lợn nái Nhiều tác giả cho biết: Với mức tăng khối lượng trung bình của lợn cái hậu bị, phải chọn nhiều con có khối lượng cao trong đàn, đồng thời cho

ăn hạn chế từ khi cai sữa đến phối giống nhưng phải đảm bảo khối lượng cần thiết Theo Mc Phee (2001) lợn hậu bị sau khi đã chọn lọc ở 50kg và trong 6 tuần nuôi tiếp theo chỉ cho ăn khẩu phần ăn hạn chế bằng 80% khẩu phần ăn tự do, đã xuất hiện động dục và không ảnh hưởng tới tỉ lệ sống sau khi sinh Zimmerman et al (2000) cho biết các mức ăn khác nhau cho lợn cái trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ thai

Theo Hughes et al (1980), lợn cái hậu bị tăng mức ăn trước phối giống 10 ngày số trứng rụng nhiều hơn 1,6 trứng, từ 12 – 14 ngày số trứng rụng tăng 3,1 trứng Tác giả khuyến cáo rằng lợn hậu bị trước khi động dục lần đầu đến khi phối giống (chu kỳ 2), tăng mức ăn lên 3kg thức ăn/con/ngày bằng thức ăn của loại lợn choai hay nái nuôi con Qua nhiều thực nghiệm cho thấy rằng thời gian thích hợp tập trung mức ăn năng lượng cao để phát triển số trứng rụng là 11 – 14 ngày trước khi phối giống Theo Nguyễn Tấn Anh (1998) trước phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn 1,0 – 1,5kg thức ăn có bổ sung khoáng, sinh tố sẽ làm tăng số trứng rụng từ 2,0 – 2,1 trứng (điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động dục lần thứ ba và được phối giống)

Đặc biệt lợn nái mang thai, nếu thiếu Vitamin sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con…là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất, hiệu quả trong chăn nuôi

2.4 CƠ SỞ SINH LÝ CỦA SỰ SINH TRƯỞNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

2.4.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình phát triển liên tục, nghiên cứu quy luật sinh trưởng

để đánh giá khả năng sản xuất của con giống, đồng thời tìm ra phương thức nuôi dưỡng thích hợp nhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng và tích luỹ cơ thể, giảm mức chi

Trang 30

phí thức ăn Trong chăn nuôi lợn sinh sản khả năng sinh trưởng của lợn con có liên quan tới khối lượng cai sữa và khối lượng xuất chuồng, do đó sự sinh trưởng của lợn con ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành và hiệu quả chăn nuôi

Sinh trưởng của lợn con chia làm 2 giai đoạn

- Giai đoạn trong thai: gồm 3 thời kỳ

+ Thời kỳ phôi thai: thời gian của thời kỳ phôi thai từ 1-22 ngày, bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh tạo thành hợp tử, 1 – 3 ngày đầu hợp tử bám và làm tổ ở sừng tử cung tại vị trí thụ thai (1/3 phía trên ống dẫn trứng có đầy đủ các điều kiện

về dinh dưỡng, độ pH, nhiệt độ, ẩm độ, cation, anion) Hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng từ tế bào trứng và từ chất tiết của tử cung (sữa tử cung) để bắt đầu thực hiện quá trình phân chia, sau 3-4 ngày hình thành phôi dâu, sau 5-6 ngày hình thành túi phôi chứa dịch lỏng, sau 7 -8 ngày màng ối hình thành bao bọc lấy thai và phôi phát triển thành phôi vị dẫn đến hình thành 3 là phôi Sự hình thành các lá phôi là quá trình trung gian tạo điều kiện chuyển nguyên liệu chủ yếu đến vị trí phát triển sau này của các cơ quan

Giai đoạn phôi hết sức quan trọng, nhiều nghiên cứu và thực tế cho thấy các hiện tượng xảy ra như tiêu biến hợp tử, chết thai, sảy thai… điều này làm ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ

+ Thời kỳ tiền thai từ 23 – 38 ngày: Sự phát triển của thai trong giai đoạn này được đặc trưng bởi yêu cầu tăng về dinh dưỡng, hô hấp, trao đổi chất và bài tiết Nhau thai đã hình thành trở thành cơ quan trung gian giữa tuần hoàn của thai và tuần hoàn cơ thể mẹ để đáp ứng cho sự sinh trưởng phát dục của thai, các mô và các cơ quan hình thành và hoàn thiện

+ Thời kỳ thai nhi từ 39 -114 ngày: Giai đoạn này, cấu trúc vi thể mô và cơ quan được phân hoá, thai dần dần thành thục và lớn lên, vào đầu thời kỳ của giai đoạn bào thai tốc độ sinh trưởng tương đối của thai cao nhất, sau đó giảm dần Ngược lại khối lượng tuyệt đối lại tăng nhanh nhất là giai đoạn 1/3 thời gian cuối trước khi đẻ, lúc này tử cung và màng thai cũng phát triển, lượng nước trong thai tăng lên, đây là giai đoạn đòi hỏi sự nuôi dưỡng chăm sóc tốt nhất để có khối lượng

sơ sinh cao Bào thai ở cuối thời kỳ này có khối lượng 1200 – 1300 gam

Căn cứ vào quá trình sinh trưởng của thai qua các giai đoạn, trong chăn nuôi lợn nái sinh sản chia làm 2 thời kỳ để thuận tiện cho việc chăm sóc nuôi dưỡng và

có chế độ ăn thích hợp

Trang 31

* Giai đoạn chửa kỳ 1: Từ khi thụ thai đến trước khi đẻ 1 tháng

* Giai đoạn chửa kỳ 2: Là thời gian 1 tháng trước khi đẻ

- Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ được chia làm các thời kỳ: Thời kỳ bú sữa, thời

kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và già cỗi

Theo Trương Lăng (1993) cho biết khối lượng lợn con 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với sơ sinh, ở thời điểm 21 ngày tăng gấp 4 lần, 30 ngày tuổi tăng gấp

5 – 6 lần, 40 ngày tuổi tăng gấp 7 – 8 lần, 50 ngày tuổi tăng 10 lần và 60 ngày tuổi tăng gấp 12 – 14 lần lúc sơ sinh Tốc độ sinh trưởng của lợn con bú sữa nhanh nhất ở 21 ngày tuổi sau đó sự giảm xuống do lượng sữa của mẹ giảm ở tuần tuổi thứ 3 sau đẻ, đây là thời kỳ khủng hoảng thứ nhất của lợn con, mặt khác ở giai đoạn này lợn con hay bị thiếu Fe dẫn đến thiều máu bởi vì lượng Fe dự trữ trong gan lợn con giai đoạn bào thai đã hết cần có sự bổ sung từ bên ngoài vào Để khắc phục những mâu thuẫn về khả năng sinh trưởng tăng lên của lợn với sự thiếu hụt

về dinh dưỡng do lượng sữa mẹ giảm cả về số lượng và chất lượng, người chăn nuôi đã thực hiện bổ sung thức ăn cho lợn con bằng các loại thức ăn giàu dinh dưỡng từ khi lợn 7 – 10 ngày tuổi, để tăng cường sự hoạt động của bộ máy tiêu hoá, kích thích cho lợn con tiết dịch vị, hoạt hóa men tiêu hóa, do đó khi lợn 15 –

20 ngày tuổi đã có thể tiêu hoá được thức ăn bình thường, sinh trưởng tốt khi tách

mẹ Hiện nay xuất phát từ điều kiện chăn nuôi công nghiệp, công nghệ chế biến thức ăn tiên tiến chúng ta có thể cai sữa sớm đồng loạt cho lợn con để tăng số lứa

đẻ trong năm

2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng

Tính trạng về khả năng sinh trưởng và cho thịt của vật nuôi nói chung và của lợn nói riêng được gọi chung là tính trạng sản xuất và chúng hầu hết là tính trạng số lượng do đó nó chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và ngoại cảnh

- Ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản yếu tố dòng, giống ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản và sinh trưởng của lợn, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, đó là quá trình tích lũy các chất mà chủ yếu là protein Tốc độ tổng hợp protein phụ thuộc vào sự hoạt động của gen điều khiển sự sinh trưởng của

cơ thể, tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc thông qua hệ số di truyền

Trang 32

di truyền biểu hiện rõ qua kiểu hình và có h2 cao hơn Một kết quả nghiên cứu khác của Triebler (1982) cho rằng hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,02 – 0,05 và hệ số này thấp hơn so với sinh trưởng sau cai sữa và thời kỳ vỗ béo

Hệ số di truyền về khả năng tăng khối lượng/ngày, tiêu tốn thức ăn đều phụ thuộc vào giống, quần thể và phương thức nuôi, theo Busse et al (1986) hệ số di truyền về chỉ tiêu sinh trưởng trong thời gian kiểm tra ở giai đoạn từ 20 – 100kg là 0,50

Hệ số di truyền càng cao thì thời gian chọn lọc càng ngắn và ngược lại Đối với lợn nái giai đoạn hậu bị tăng khối lượng nhanh sẽ giảm chi phí về thức ăn và thúc đẩy thành thục về tính sớm hơn so với lợn nái hậu bị tăng khối lượng chậm

Về phương diện sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếu tới nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì vậy mà hầu hết đàn lợn thương phẩm ở nước ta là con lai Con lai có ưu thế lai cao hơn so với bố mẹ về tăng trọng 10% (Sellier, 1998)

- Ảnh hưởng của ngoại cảnh

Dinh dưỡng:

Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nái sinh sản nói riêng, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ khá cao tới 70 – 80% giá thành, do đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Thực tế cho thấy vật, nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hoá cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn, tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng chính là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn của cơ thể đạt được tốc độ tăng khối lượng và đó cũng chính là kết quả của quá trình chuyển hoá thức ăn Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng sẽ dẫn tới giảm chi phí thức ăn Việc xác định một khẩu phần thức ăn thích hợp cho các giai đoạn sinh trưởng của lợn là hết sức cần thiết, các thành phần dinh dưỡng chủ yếu đối với lợn nái và lợn con sau cai sữa là năng lượng, protein, khoáng, và các chất bổ sung khác Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng khối lượng, mặt khác phương thức cho ăn và giá trị dinh dưỡng

Trang 33

trong khẩu phần là yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới khả năng tăng khối lượng của bào thai trong thời kỳ mang thai và tốc độ sinh trưởng của lợn con sau cai sữa

Nhu cầu năng lượng và protein của lợn nái chửa ở giai đoạn 1/3 thời gian cuối, để đáp ứng nhu cầu duy trì của lợn mẹ và sinh trưởng mạnh mẽ của bào thai, lượng thức ăn hỗn hợp thường sử dụng trong giai đoạn này khoảng 3 – 3,2kg/con/ngày

Đối với lợn con theo mẹ và sau cai sữa, đặc điểm dinh trưởng mạnh nhưng không đều ở các giai đoạn, do vậy tốc độ sinh trưởng phụ thuộc rất nhiều vào việc đáp ứng dinh dưỡng từng giai đoạn nuôi Thực tế chăn nuôi và nhiều nghiên cứu cho thấy dinh dưỡng ảnh hưởng đến khối lượng 21 ngày tuổi và khối lượng cai sữa một cách rõ rệt Bổ sung thức ăn sớm là một trong những biện pháp nâng cao khối lượng lợn con khi cai sữa, cho lợn con tập ăn từ ngày tuổi thứ 8 – 10 nhằm thúc đẩy

bộ máy tiêu hoá lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Theo Hodge, tốc độ sinh trưởng của lợn trước cai sữa xấp xỉ 200g/ngày, sau 4 tuần tuổi có thể đạt 500g/ngày.Tuy vậy tốc độ sinh trưởng của lợn con phụ thuộc rất nhiều vào phương thức nuôi dưỡng

Bổ sung thức ăn sớm cho lợn con bú sữa khắc phục được mâu thuẫn về sự giảm tiết sữa của lợn mẹ ở 21 ngày tuổi và tốc độ sinh trưởng của lợn con và có thể cai sữa sớm cho lợn con, thức ăn cho lợn ăn thực tế cho thấy ở dạng lỏng sệt thường

có lợi hơn so với thức ăn dạng khô, do lợn dễ ăn hơn, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn

Nhu cầu về protein của lợn con ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trọng, đặc biệt nhu cầu về các axit amin không thay thế Nhu cầu về lysin của lợn con cao hơn lợn trưởng thành, nếu trong khẩu phần ăn của lợn con không đủ lysin thì các axit amin khác không được hấp thu triệt để Vì vậy lysin được coi là axit amin giới hạn thứ nhất trong khẩu phần thức ăn cho lợn con, lượng protein hình thành trong cơ thể chịu tác động bởi lysin

Chất Fe tham gia vào quá trình tạo máu và các men trong cơ thể, sữa mẹ có hàm lượng Fe thấp, chỉ có thể cung cấp 1 – 2 mg/ngày trong khi đó nhu cầu của lợn con cần đến 7 mg/ngày Do vậy, khi lợn con phụ thuộc hoàn toàn vào sự cung cấp

Fe từ bên ngoài Thiếu Fe dẫn đến thiếu máu, chậm sinh trưởng, bị bệnh tiêu chảy, giảm sức đề kháng và khối lượng cai sữa thấp Hiện nay có thể bổ sung Fe cho lợn con bằng nhiều cách như tiêm vào cơ 200mg Fe ở dạng Dextran-Fe, Fero- Fe,

Trang 34

Humat – Fe ở 3 ngày tuổi để phòng còi cọc, hay có thể dùng Premix khoáng (trong

đó có Fe) dưới dạng tảng đá liếm để trong chuồng cho lợn con

Chất kháng sinh, thực chất không phải là chất dinh dưỡng nhưng có tác dụng đối với sinh trưởng của lợn con, có thể diệt vi khuẩn có hại trong đường tiêu hoá, kích thích tiết dịch vị, kích thích sinh trưởng Kháng sinh và một số chất dược phẩm dùng phối hợp trong khẩu phần thức ăn có hiệu quả rõ rệt về tốc độ sinh trưởng của lợn con, giảm tỷ lệ chết, tỷ lệ mắc các bệnh về đường tiêu hoá và đường phổi Theo kết quả nghiên cứu của một số trường đại học ở Mỹ, khi bổ sung kháng sinh tăng trọng nhanh hơn lợn không bổ sung khoảng 20%, tiêu tốn thức ăn giảm 7,8%

Mùa vụ:

Lợn điều chỉnh thân nhiệt của chúng bằng cách cân bằng nhiệt lượng mất đi với nhiệt tạo ra qua trao đổi chất và lượng nhiệt hấp thụ được Khi sự khác nhau giữa thân nhiệt và nhiệt độ môi trường trở nên lớn thì tỉ lệ thoát nhiệt sẽ tăng lên

Về mùa lạnh nhiệt độ môi trường xuống thấp dưới nhiệt độ hữu hiệu thì tăng thêm chi phí thức ăn để tăng nhiệt lượng trao đổi chất để vật nuôi tự nó tạo ra nhiệt lượng

để giữ ấm cho cơ thể

nhu cầu thức ăn/1 lợn nái/ngày đêm tăng 0,68 kg; với lợn choai có khối lượng trung

Chuồng trại:

Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt Cơ sở chăn nuôi minh họa tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn Thông thường lợn bị nuôi chật hẹp thì khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi

Trang 35

Nghiên cứu của Brumm và Miller (1996) cho thấy diện tích chuồng nuôi

ăn trong một bữa được nhiều hơn nhưng số bữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức

ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn so với lợn nuôi nhốt riêng từng ô chuồng

Các tác nhân stress có ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn, đó là điều kiện chuồng nuôi, khẩu phần ăn không được đảm bảo, chế

độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém, vận chuyển, phân đàn, tiêm phòng, điều trị, thay đổi khẩu phần ăn…

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Để nâng cao năng suất và chất lượng giống trong chăn nuôi lợn, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng và phù hợp với nền sản xuất hàng hoá hiện nay, chúng ta đã từng bước cải thiện những nhược điểm của các giống lợn địa phương

Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều giống lợn ngoại đã được nhập vào Việt Nam như: Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain… Việc kiểm tra tính năng năng suất của các giống này được tiến hành thường xuyên và liên tục

Giống lợn ngoại Yorkshire và Landrace được quan tâm trong nhiều nghiên cứu Trong nhiều năm qua, nhiều đề tài đã nghiên cứu và đánh giá năng suất sinh sản của hai giống này

Trong những năm gần đây xuất phát từ nhu cầu về thịt ngày càng tăng cả về chất lượng và số lượng, đặc biệt cho nhu cầu về xuất khẩu thịt lợn, đòi hỏi vấn đề cải tiến con giống theo hướng tăng tỷ lệ nạc, tăng khả năng tăng trọng và rút ngắn thời gian nuôi thịt, giảm chi phí thức ăn Lợn nái cần được rút ngắn khoảng cách lứa

đẻ, tăng số lứa đẻ/năm, tăng số con đẻ ra/lứa, tăng số con cai sữa/lứa, tăng khối lượng xuất chuồng/con.Nhiều công trình nghiên cứu về khả năng sinh sản và khả năng nuôi thịt của con lai giữa lợn ngoại với lợn ngoại Nguyễn Thiện và cs (1995) cho biết số con sinh ra/ổ của lợn nái Ladrace và Yorkshire là 9,57 và 8,40 con/lứa; khối lượng sơ sinh/ổ là 11,89 và 11,30kg; khối lượng 21 ngày tuổi là 31,3 và 33,67kg

Trang 36

Phan Xuân Hảo và cs (2001) cho biết tuổi động dục lần đầu của Yorkshire

và Landrace lần lượt là 203,39 và 197,36 ngày; tuổi đẻ lứa đầu lần lượt là 374,49 và 367,91 ngày; khối lượng động dục lần đầu là 93,76 và 96,03 kg; thời gian mang thai

là 114,43 và 114,22 ngày; chu kỳ động dục là 20,13 và 20,06 ngày; thời gian động dục trở lại sau cai sữa là 6,37 và 5,86 ngày

Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (1999) về khả năng sinh sản của Landrace cho biết: trên 140 ổ đẻ trung bình đạt 8,66 con sơ sinh còn sống/ ổ với khối lượng sơ sinh bình quân là 1,42 kg/con Số con sơ sinh đạt cao nhất là dòng là dòng Landrace Nhật (9,02 con) và thấp nhất là dòng Landrace Bỉ (8,04 con) Dòng Landrace Bỉ có khối lượng sơ sinh cao nhất (1,54 kg/con) và thấp nhất ở dòng Landrce Nhật (1,29 kg/con) Khả năng tiết sữa bình quân đạt 76,50 kg, dòng Landrace Cu Ba cao hơn hai dòng Landrace Nhật (1,29 kg/con) và không có biểu hiện sai khác rõ giữa 3 dòng Landrace Khối lượng toàn ổ cai sữa bình quân 76,50

kg, dòng Landrace Cu Ba cao hơn 2 dòng Landrace Nhật, Bỉ nhưng không đáng kể

Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản và chất lượng thịt của lợn nái lai D×(L×Y), L×(L×Y), (P×D)×(L×Y) tại các trang trại chăn nuôi Hải Dương, Phạm Thị Đào (2006) cho biết các công thức lai đều thể hiện ưu thế lai cao về các chỉ tiêu sinh sản, nhất là ưu thế lai về khối lượng cai sữa và khối lượng 60 ngày tuổi

2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nâng cao năng suất - chất lượng con giống trong quá trình sản xuất lợn luôn

là yếu tố hàng đầu, then chốt được các nhà nghiên cứu, các nhà chăn nuôi của mọi quốc gia trên thế giới quan tâm Việc nghiên cứu chọn lọc dòng cao sản và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai đạt số con sơ sinh sống/ổ cao,tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày

mỡ lưng thấp đã thành công lớn ở các nước có trình độ chăn nuôi tiên tiến như: Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Úc

Ngày nay, thành tựu khoa học về công tác giống lợn trên thế giới đã có những bước phát triển nhảy vọt Từ các phương pháp chọn lọc tiến bộ di truyền thông qua kiểu hình, giờ đây kết hợp với nghiên cứu cơ bản về di truyền học, được công nghệ hỗ trợ, công tác chọn lọc giống lợn đã áp dụng các phương pháp có hiệu quả hơn như tăng cường áp lực chọn lọc, rút ngắn khoảng cách thế hệ, lợi dựng thế lai, chuyển ghép nhiễm sắc thể, chuyển ghép gen vào các nền di truyền khác nhau, nhằm cải tạo, nâng cao phẩm chất từng tính trạng

Trang 37

Để tạo ra dòng lợn có năng suất cao, các nhà khoa học thấy rằng nên kết hợp nhiều dòng khác nhau chọn lọc chủ yếu là cải tiến chất lượng thịt, khả năng tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn, đối với lợn nái chọn lọc tập trung về một số chỉ tiêu như số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, sức sống đàn con Đối với các nước chăn nuôi phát triển công thức lai phổ biến để tạo tổ hợp lai nuôi thịt có từ

2, 3 và 4 giống tham gia, đực giống chủ yếu là Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain

Năng suất sinh sản phụ thuộc vào phẩm giống và các giống phối hợp với nhau, Bereskin Steele (1986) cho biết với công thức lai thuận nghịch giữa 2 giống Duroc và Large White, lợn lai có tốc độ tăng khối lượng nhanh hơn so với Duroc hay Large White thuần

Việc nghiên cứu lai tạo dòng tổng hợp, dòng chuyên hoá và lai tạo tìm ra các

tổ hợp lai cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao đã rất thành công tại các nước có trình độ chăn nuôi tiên tiến như Mỹ, Đức, Canada, Anh, Đan Mạch, Australia… Hầu hết các nước có nền chăn nuôi phát triển đều xây dựng riêng cho mình một hệ thống giống lợn hoàn thiện theo mô hình giống hình tháp Các chương trình nhân giống đã phát triển đến mức tinh vi hơn với các hệ thống đàn hạt nhân, đàn nhân giống và đàn sản xuất được bao hàm trong mô hình tháp giống Trong đó, đàn hạt nhân (cụ kỵ) là những đàn thuần, được kiểm tra và chọn lọc theo những định hướng

cụ thể Đàn nhân giống (ông bà) thường là các tổ hợp lai, có số lượng nhiều hơn so với đàn cụ kỵ được chọn lọc và cuối cùng là đàn sản xuất (bố mẹ)

So sánh giữa các công thức lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski et al (1997) cho thấy con lai có 25% và 50% giống Pietrain có tỉ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt Các nghiên cứu của Gerasimov et al (1997) cho biết lai hai, ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 con so với 10,1 con/lứa), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Vì vậy, việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản Theo Gerasimov et al (1997) cho biết công thức lai hai giống (Du×Large Black), công thức lai ba giống D × (Poltava Meat×Russian Large White) có khả năng tăng trọng cao nhưng tiêu tốn thức ăn lại thấp so với các công thức khác

Việc sử dụng nái lai (LY) phối với lợn Pietrain để sản xuất con lai ba giống,

sử dụng nái lai (LY) phối với đực lai (PixDu) để sản xuất con lai bốn giống khá phổ

Trang 38

biến tại Bỉ (Leroy et al., 1996) Lợn đực giống Pietrain đã được cải tiến có tỷ lệ nạc cao được sử dụng là dòng đực cuối cùng để sản xuất lợn thịt (Leroy et al., 1996)

Tại Áo với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần như tất cả được sản xuất từ lai hai, ba giống Nái lai được sử dụng phổ biến là F1 (Edelschwein×LW) và F1 (Edelschwein×Landrace) được phối giống với lợn đực Pietrain hoặc Duroc để sản xuất con lai ba giống nuôi thịt Khi lai giữa Duroc với Ladrace Bỉ, các tác giả Pavlik và Pulkrabek (1989) cho biết con lai có tăng khối lượng đạt 804g/ngày cao hơn so với lợn lai F1(LY)

Ngày đăng: 24/03/2017, 23:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT (2015) Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sơ bộ tình hình nông nghiệp năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sơ bộ tình hình nông nghiệp năm 2015
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & PTNT
Năm: 2015
3. Driox M. (1994). Di truyền về lợn ở Pháp, France Porc ACTIM với sự cộng tác tại Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền về lợn ở Pháp
Tác giả: Driox M
Nhà XB: France Porc ACTIM
Năm: 1994
4. Đặng Vũ Bình (1999a). Một số giải pháp và công nghệ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt hướng nạc. Báo cáo đề tài cấp Bộ mã số B96.32.07 TĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp và công nghệ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt hướng nạc
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Báo cáo đề tài cấp Bộ
Năm: 1999
5. Đặng Vũ Bình (1999b), Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi- Thú y (1996-1998). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 5- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
6. Đặng Vũ Bình (2002). Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi, Giáo trình sau đại học. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo và Đỗ Văn Chung (2001), đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Y và L nuôi tại Trung tâm Giống vật nuôi Phú Lãm – Hà Tây, Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa CNTY (1999 – 2001), Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Y và L nuôi tại Trung tâm Giống vật nuôi Phú Lãm – Hà Tây
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Chung
Nhà XB: Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa CNTY
Năm: 2001
9. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011). Khả năng sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái lai F 1 (Landrace x Yorkshire), F 1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19.Tạp chí Khoa học và Phát triển. 9(4). tr. 614-621 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái lai F 1 (Landrace x Yorkshire), F 1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19
Tác giả: Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2011
10. Nguyễn Thanh Sơn và Phạm Văn Duy (2006). Quản lý lợn cái hậu bị và phối giống nhằm tối ưu hoá tỷ lệ đẻ, số con sơ sinh và tuổi thọ lợn nái. Tổng hợp từ tài liệu của Gorden F.Jones Khoa Nông nghiệp, Trường đại học Westem, Kentucky, Bowling Green, K.Y, USA, Bản tin chăn nuôi Việt Nam, số 2/2006. Cục Chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn cái hậu bị và phối giống nhằm tối ưu hoá tỷ lệ đẻ, số con sơ sinh và tuổi thọ lợn nái
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Văn Duy
Nhà XB: Bản tin chăn nuôi Việt Nam
Năm: 2006
11. Nguyễn Thiện (2002). Kết quả nghiên cứu và phát triển lợn lai có năng suất và chất lượng cao ở Việt Nam. Viện Chăn Nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952-2002.Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 81- 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu và phát triển lợn lai có năng suất và chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2002
12. Nguyễn Thiện, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc, Phạm Hữu Doanh, Phạm Nhật Lệ và CTV (1995), “Kết quả nghiên cứu các công thức lai giữa lợn ngoại và lợn Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu các công thức lai giữa lợn ngoại và lợn Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc, Phạm Hữu Doanh, Phạm Nhật Lệ, CTV
Năm: 1995
13. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005). So sánh khả năng sinh sản, của lái nai F1(Landrac x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc và Pietrain” - Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp. 3(2). tr. 61-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh khả năng sinh sản, của lái nai F1(Landrac x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc và Pietrain
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Năm: 2005
14. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010). Năng suất sinh sản, sinh trưởng, thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực giống Landrace, Duroc Và (Pietrain x Duroc) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản, sinh trưởng, thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) với đực giống Landrace, Duroc Và (Pietrain x Duroc)
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Vũ Đình Tôn
Năm: 2010
15. Nguyễn Văn Thiện (1995). Di truyền số lượng. Giáo trình cao học Nông nghiệp, nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 191-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền số lượng
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
16. Nguyễn Thị Viễn (2004). Năng suất sinh sản đàn nái tổng hợp giữa hai nhóm giống Yorkshire và Landrace. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y. NXBNN. tr. 240 – 248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản đàn nái tổng hợp giữa hai nhóm giống Yorkshire và Landrace
Tác giả: Nguyễn Thị Viễn
Nhà XB: Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y
Năm: 2004
17. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009). Đánh giá khả năng sản xuất của lợn ngoại đời bố mẹ và con lai nuôi thịt”. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất của lợn ngoại đời bố mẹ và con lai nuôi thịt
Tác giả: Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy
Nhà XB: Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ
Năm: 2009
19. Phùng Thị Vân (1999), Quy trình chăn nuôi lợn giống ngoại cao sản, Viện Chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình chăn nuôi lợn giống ngoại cao sản
Tác giả: Phùng Thị Vân
Nhà XB: Viện Chăn nuôi
Năm: 1999
22. Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện và Trịnh Đình Đạt (1994). Di truyền chọn giống động vật. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền chọn giống động vật
Tác giả: Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Đình Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 1994
23. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân và Vũ Kính Trực (1997). Chọn giống nhân giống gia súc, Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
25. Zimmerman D . R., E . D.Purkinser and J . W Parker . (2000). Quản lý lợn cái và lợn đực hậu bị để sinh sản có hiệu quả. Cẩm nang chăn nuôi lợn. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 185-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn cái và lợn đực hậu bị để sinh sản có hiệu quả
Tác giả: Zimmerman D . R., E . D.Purkinser, J . W Parker
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
27. Barton-Gate P., S . N. Brown and Lambooij (1995). Methods of improving pig welfare and meat quality by reducing stress and discomfort before slaughter- method of assessing meat quality. Proceeding of the EU- Semina Mariensee, pp. 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methods of improving pig welfare and meat quality by reducing stress and discomfort before slaughter- method of assessing meat quality
Tác giả: Barton-Gate P., S. N. Brown, Lambooij
Nhà XB: Proceeding of the EU- Semina Mariensee
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực PiDu và Duroc - đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace×yorkshire) phối với đực pidu, duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống sơn đồng   công ty cổ phần giống vật nuôi hà
Bảng 4.1. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LY) phối với đực PiDu và Duroc (Trang 43)
Bảng 4.2. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ 1 - đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace×yorkshire) phối với đực pidu, duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống sơn đồng   công ty cổ phần giống vật nuôi hà
Bảng 4.2. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ 1 (Trang 52)
Bảng 4.3. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ 2 - đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace×yorkshire) phối với đực pidu, duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống sơn đồng   công ty cổ phần giống vật nuôi hà
Bảng 4.3. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ 2 (Trang 55)
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ 5 - đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace×yorkshire) phối với đực pidu, duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống sơn đồng   công ty cổ phần giống vật nuôi hà
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản của lợn nái F 1 (LxY) phối với đực PiDu và Duroc ở lứa đẻ 5 (Trang 61)
Bảng 4.8. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa - đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace×yorkshire) phối với đực pidu, duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống sơn đồng   công ty cổ phần giống vật nuôi hà
Bảng 4.8. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa (Trang 68)
Bảng 4.9. Sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn từ cai sữa đến 60 ngày - đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace×yorkshire) phối với đực pidu, duroc và sinh trưởng của con lai đến 60 ngày tại trại lợn giống sơn đồng   công ty cổ phần giống vật nuôi hà
Bảng 4.9. Sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn từ cai sữa đến 60 ngày (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w