1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco

87 484 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LƯU VĂN TRÁNG NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI F1 LANDRACE X YORKSHIRE, F1 YORKSHIRE X LANDRACE PHỐI VỚI ĐỰC DUROC VÀ PIDU NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH LỢN GI

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LƯU VĂN TRÁNG

NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI F1 (LANDRACE X YORKSHIRE), F1 (YORKSHIRE X LANDRACE) PHỐI VỚI ĐỰC DUROC

VÀ PIDU NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH

LỢN GIỐNG DABACO

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Vũ Bình

TS Nguyễn Hoàng Thịnh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lưu Văn Tráng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sự giúp

đỡ tận tình của GS.TS Đặng Vũ Bình và TS Nguyễn Hoàng Thịnh đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu, cũng như đánh giá phân tích kết quả và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi, các thầy cô Viện đào tạo Sau đại học, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, cán bộ công nhân viên Công ty TNHH Lợn giống DABACO trong quá trình triển khai thực hiện đề tài

Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi cũng xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới nhà trường, các thầy cô, gia đình cùng bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lưu Văn Tráng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis Abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.1.1 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng 4

2.1.2 Lai giống và ưu thế lai 6

2.1.3 Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 10

2.1.4 Đặc điểm sinh lý và sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng 19

2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước 24

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 24

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 27

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 31

3.1 Địa điểm nghiên cứu 31

3.2 Thời gian nghiên cứu 31

3.3 Vật liệu nghiên cứu 31

3.4 Nội dung nghiên cứu 32

3.5 Phương pháp nghiên cứu 32

3.5.1 Theo dõi, thu thập dữ liệu 32

3.5.2 Theo dõi lợn nái sinh sản 32

Trang 5

3.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi 36

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4 Kết quả và thảo luận 39

4.1 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) và F1(YL) 39

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của nái F1(YL) và F1(LY) 45

4.3 Năng suất sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng 48

4.3.1 Năng suất sinh sản theo loại nái 48

4.3.2 Năng suất sinh sản theo đực phối 49

4.3.3 Năng suất sinh sản theo tổ hợp lai 50

4.3.4 Năng suất sinh sản qua các lứa đẻ 53

4.3.5 Năng suất sinh sản qua các năm 56

4.3.6 Năng suất sinh sản qua hai vụ Đông – Xuân và Hè – Thu 58

4.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi lợn nái sinh sản 59

4.4.1 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật 59

4.4.2 Hạch toán thu chi 62

4.4.3 Lợi nhuận chăn nuôi lợn nái 65

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Kiến nghị 69

Tài liệu tham khảo 70

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

F1(LY) F1 (Landrace x Yorkshire)

F1(YL) F1 (Yorkshire x Landrace)

PD PiDu F1( Pie′train x Duroc)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số lứa đẻ theo dõi 31

Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng thức ăn dùng cho các loại lợn 32

Bảng 3.3 Mức ăn hàng ngày cho các loại lợn 33

Bảng 3.4 Khẩu phần ăn lợn nái nuôi con 33

Bảng 4.1 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của nái F1(YL) và F1(LY) 39

Bảng 4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của nái F1(YL) và F1(LY) 45

Bảng 4.3 Năng suất sinh sản theo loại nái 48

Bảng 4.4 Năng suất sinh sản theo loại đực phối 49

Bảng 4.5 Năng suất sinh sản theo tổ hợp lai 51

Bảng 4.6 Năng suất sinh sản theo lứa đẻ 53

Bảng 4.7 Năng suất sinh sản theo năm 56

Bảng 4.8 Năng suất sinh sản theo mùa vụ 58

Bảng 4.9 Số nái, ổ đẻ, lợn con sơ sinh sống và cai sữa trong 3 năm 2013, 2014 và 2015 60

Bảng 4.10 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của đàn nái qua các năm 2013, 2014 và 2015 60

Bảng 4.11 Tỷ lệ các khoản thu qua các năm 2013, 2014 và 2015 (%) 62

Bảng 4.12 Tỷ lệ các khoản chi qua các năm 2013, 2014 và 2015 (%) 63

Bảng 4.13 Hạch toán thu chi sản xuất qua các năm 2013, 2014 và 2015 65

Bảng 4.14 Hạch toán kinh tế của 1 nái/năm và của 1 lợn con cai sữa 66

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 So sánh số con sơ sinh/ổ, số con còn sống/ổ, số con cai sữa/ổ khi

được phối bởi đực D và PD 50

Hình 4.2 Khối lượng cai sữa/ổ được phối bởi đực D và PD phối 50

Hình 4.3 Số con sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con cai sữa/ổ của các tổ hợp lai (LY x D), (LY x PD), (YL x D), (YL x PD) 52

Hình 4.4 Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con cai sữa/ổ qua các lứa đẻ 54

Hình 4.5 Số con sơ sinh, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa qua các năm 57

Hình 4.6 Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ qua hai vụ Đông – Xuân và Hè - Thu 59

Hình 4.7 Số lứa đẻ/nái/năm qua các năm 61

Hình 4.8 Số con cai sữa/nái/năm qua các năm, số con cái sữa/nái/năm 61

Hình 4.9 Tỷ lệ các khoản thu trung bình trong 3 năm 62

Hình 4.10 Tỷ lệ các khoản chi trung bình trong 3 năm 64

Hình 4.11 Hạch toán thu chi chăn nuôi lợn nái qua các năm 2013, 2014, 2015 65

Hình 4.12 Hạch toán kinh tế của 1 nái/năm qua các năm 2013, 2014, 2015 67

Hình 4.13 Hạch toán kinh tế của 1 lợn con cai sữa qua các năm 2013, 2014, 2015 67

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Lưu Văn Tráng

Tên luận văn: “Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LY), F1(YL) phối với đực Duroc và PiDu nuôi tại Công ty TNHH Lợn giống DABACO”

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên hai đàn nái lai F1(LY) và F1(YL) phối giống với hai loại đực giống Duroc và PiDu nuôi tại Công ty TNHH Lợn giống DABACO trong khoảng thời gian từ 2011 đến 2015

Kết quả chính và kết luận

Kết quả cho thấy: Nái lai F1(LY) và F1(YL) phối giống với đực Duroc có khoảng cách lứa đẻ ngắn hơn, các chỉ tiêu về số con/ổ, khối lượng sơ sinh/con, cai sữa/ổ và cai sữa/con cao hơn rõ rệt so với phối giống với đực PiDu Trong 4 tổ hợp lai, tổ hợp lai (YL x D) đạt các chỉ tiêu số con sơ sinh, sơ sinh sống và để nuôi/ổ cao nhất và khoảng cách lứa đẻ ngắn nhất Ngược lại, tổ hợp lai (YL x PiDu) có các chỉ tiêu số con sơ sinh,

sơ sinh sống và để nuôi/ổ thấp nhất và khoảng cách lứa đẻ dài nhất Các chỉ tiêu số con

sơ sinh, sơ sinh sống và để nuôi/ổ tăng dần từ lứa 1 đến lứa 6 và bắt đầu giảm từ lứa 7 Trong khi đó, khối lượng sơ sinh/ổ tăng từ lứa 1 đến lứa 5 và bắt đầu giảm từ lứa 6 Trong 5 năm từ 2011 đến 2015, nhìn chung, các chỉ tiêu năng suất sinh sản có xu hướng năm sau luôn cao hơn năm trước Các chỉ tiêu số con sơ sinh, sơ sinh sống và cai sữa/ổ trong vụ Đông – Xuân đạt cao hơn, khoảng cách lứa đẻ và số ngày nuôi con dài hơn vụ

Hè –Thu Ngược lại, các chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ, khối lượng sơ sinh và cai sữa/ con trong vụ Hè – Thu đạt cao hơn, khoảng cách lứa đẻ và số ngày nuôi con ngắn hơn

do với vụ Đông – Xuân

Nguồn thu của công ty chủ yếu là do bán lợn con cai sữa (chiếm 80,60%), từ bán lợn nái loại (11,74%), từ lợn thịt và lợn hậu bị loại (3,36%) Tổng chi trung bình chiếm 89,44% tổng doanh thu, trong đó cao nhất là chi về thức ăn (chiếm 43,39%), thuốc thú y (14,5 %), lương-thưởng-phụ cấp (6,58%), giống gốc (5,23%), khấu hao chuồng trại và cơ sở vật chất (4,13%), điện nước-xăng dầu (3,24%) Lợi nhuận trung bình chiếm 10,56% doanh thu Trung bình đầu tư nuôi 1 nái/năm khoảng

35 triệu đồng, lợi nhuận thu được là 4,2 triệu đồng/nái/năm Chi cho sản xuất 1 lợn con cai sữa trung bình là 1,4 triệu đồng, lợi nhuận thu được là 164.000đ/con

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Luu Van Trang

Thesis title: “Reproductive performance of F1(LY), F1 (YL) hybrid sows crossed with Duroc and PiDu males at DABACO Breeding Pigs Ltd Company”

Major: Animal Science Code: 60.62.01.05

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

The topic was executed to assess the reproduction performances of the hybrid and the economic efficiency of sows reared at DABACO pig-breeding ltd company

Materials and Methods

The study was conducted on two sows herds crossbred F1(LY) and F1 (YL) crossed with two Durroc and PiDu terminal boars that were reared at DABACO pig-breeding ltd company in period from 2011 to 2015

Main findings and conclusions

The results showed that: The crossbred F1(LY) and F1 (YL) sows crossed with Duroc boars had shorter intervals, litter size, body weight of piglet at birth, litter and piglet average weights at weaning were higher significally in comparison with PiDu boars In 4 hybrid combinations, YLxD was highest in litter sizer, number of piglet born alive and shortest interval In contrast, YLxPiDu had lowest in litter size, number of piglet born alive and largest interval The indicators in litter size, number of piglet born alive increased from litter 1 to litter 6 and started decreasing from litter 7 Meanwhile, litter weight at birth increased form litter 1 to litter 5 and started decreasing from litter

6 In the five years from 2011 to 2015, the reproductive performance tended to be the laster year always higher than the previous year The indicators in litter size, number of piglet born alive and number of piglet at weaning in Winter-Spring were higher, but interval and lactation period were longer than in Summer-Fall In contrast, the indicators in weaned litter weight, piglet weight at birth and at weaning in Summer-Fall were higher, interval and lactation period were shorter than in Winter-Spring

Source of revenue mainly due to sale of piglets weaned (80.60%), sale of cutted sows (11.74%), fattening pig and cutted gilt (3.36%) The average expenditures hold 89.44% of total revenue, the highest of which were feed (43.39%), veterinary medicament (14.5%), salary-bonus-allowance (6.58%), breeding animals (5.23%), depreciation of buildings and infrastructure (4.13%), electric-water-petrol (3.24%) Average profit was 10.56% revenue Average investment was about 35 million/sows/year, profits was 4.2 million/sows/year Average expenditure was 1.4 million per weaned piglet and profits was VND 164,000

Trang 11

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho người dân Đây cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động Trong những năm qua, ngành chăn nuôi đã có sự phát phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm qua các giai đoạn có xu hướng tăng lên

rõ rệt Trong 5 năm gần đây (2011-2015) tăng trưởng bình quân hàng năm 5.5%/năm Cùng với đó ngành chăn nuôi lợn đã, đang có những bước phát triển khá mạnh, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu đời sống ngày một cao của nhân dân

Ở nước ta, tổng đàn lợn có mặt thường xuyên từ 21,8 triệu con năm 2011 tăng lên 27,75 triệu con năm 2015, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 5.5%/năm Sản lượng thịt lợn chiếm tỷ lệ 73% trong tổng sản lượng thịt sản xuất các loại trong nước

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020”, định hướng phát triển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Trong những năm tiếp theo, hướng phát triển ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất theo phương thức trang trại, chăn nuôi công nghiệp, phấn đấu tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến đến năm 2020 đạt khoảng 42%

Việt Nam hiện là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP, do đó các ngành kinh tế nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng phải đối mặt với nhiều thách thức trong cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh về giá thành và chất lượng sản phẩm, đòi hỏi ngành chăn nuôi lợn cần nâng cao năng suất và chất lượng tăng sức cạnh tranh Đây là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

Việc nhập các giống lợn ngoại có sinh trưởng nhanh, sinh sản tốt, tỷ lệ thịt nạc cao như: Landrace (L), Yorkshire (Y), Duroc (D), Piétrain (P) đã trở thành yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất và tỷ lệ nạc trong sản xuất chăn nuôi lợn ở nước ta Nghiên cứu sử dụng các tổ hợp lai ngoại (x) ngoại nhằm sản xuất lợn thương phẩm nâng cao năng suất, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế đã được chú trọng trong những năm gần đây

Trang 12

Trong chăn nuôi lợn hiện nay, việc sử dụng nái lai F1(LY); F1(YL) phối với đực ngoại đã được nhiều cơ sở chăn nuôi công nghiệp áp dụng Các nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1999), Trương Hữu Dũng và cs (2004), Phan Xuân Hảo (2006), Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006),

Vũ Đình Tôn (2010) đã xác nhận nái lai F1(LY) cho năng suất sinh sản cao hơn nái L hoặc Y thuần

Công ty TNHH Lợn giống DABACO là một Công ty thành viên của Công

ty cổ phần Tập đoàn DABACO Việt Nam, Công ty được thành lập tháng 8 năm

2008 với lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là chăn nuôi lợn Bắt đầu hoạt động chăn nuôi từ tháng 6 năm 2009, công ty có quy mô 3.000 lợn nái phẩm giống bố mẹ (trong đó có 2.400 lợn nái sinh sản và 600 lợn cái hậu bị) sản xuất lợn con giống nuôi thương phẩm

Xuất phát từ tình tình trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LY), F1(YL) phối với đực Duroc và PiDu nuôi tại Công

ty TNHH Lợn giống DABACO”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài nhằm đánh giá khả năng sinh sản của các tổ hợp lai và hiệu quả kinh

tế của chăn nuôi lợn nái tại Công ty TNHH Lợn giống DABACO

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành trên hai đàn nái lai F1(LY) và F1(YL) phối giống với hai loại đực giống D và PD nuôi tại Công ty TNHH Lợn giống DABACO trong khoảng thời gian từ 2011 đến 2015

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Những đóng góp mới

- Đánh giá năng suất sinh sản của hai loại nái lai F1(LY) và F1(YL) phối với đực D và PD trong điều kiện chăn nuôi của Công ty TNHH Lợn giống DABACO

- Đánh giá được các yếu tố cấu thành hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái tại Công ty TNHH Lợn giống DABACO

Trang 13

Luận văn góp phần làm phong phú thêm những dẫn liệu về khả năng sinh sản của lợn nái F1(LY) và F1(YL) phối với đực D và PD, đồng thời đánh giá được các yếu tố cấu thành hiệu quả kinh tế của sản xuất chăn nuôi lợn nái sinh sản theo hướng chăn nuôi công nghiệp

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong chăn nuôi lợn, giống là yếu tố hàng đầu, quyết định đến thành công của chăn nuôi Người chăn nuôi cần tạo được con giống có năng suất, chất lượng cao đảm bảo được khả năng cạnh tranh Muốn vậy chọn lọc và lai tạo giống là việc rất quan trọng trong chăn nuôi giúp tăng được giá trị giống và tạo được ưu thế lai tối đa Quá trình chọn lai chỉ thực sự hiệu quả khi người chăn nuôi có những kiến thức cơ bản về di truyền, đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng Bởi bản chất sinh học của mỗi giống vật nuôi đều được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó; kiểu gen, dưới tác động của các nhân tố môi trường cụ thể sẽ biểu hiện thành kiểu hình tương ứng của vật nuôi đó

2.1.1 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng

2.1.1.1 Tính trạng số lượng

Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác giữa các cá thể,

là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại

Tính trạng số lượng có các đặc trưng sau:

+ Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều gen, mỗi gen chỉ có một tác động nhỏ;

+ Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện môi trường; + Có thể xác định các giá trị của tính trạng số lượng bằng các phép đo; + Các giá trị quan sát được của các tính trạng số lượng là biến liên tục Tính trạng số lượng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong chăn nuôi nói riêng được coi là tính trạng năng suất Hầu hết các tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc đều là tính trạng số lượng

Có 2 hiện tượng di truyền cơ bản có liên quan đến tính trạng số lượng và mỗi hiện tượng di truyền này là cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền ở giống vật nuôi Trước hết là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, quan hệ thân thuộc càng gần, con vật càng giống nhau Đó là cơ sở di truyền của sự chọn lọc Thứ nữa là sự suy hoá cận thân và hiện tượng ưu thế lai Đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân thuần và lai tạo

Trang 15

Cơ sở lý thuyết của di truyền học số lượng đã được thiết lập bởi nhiều công trình nghiên cứu Cho đến nay, di truyền học số lượng đã được nhiều nhà di truyền học thống kê bổ sung, nâng cao và trở thành ngành khoa học có cơ sở khoa học vững chắc, được ứng dụng rộng rãi vào việc cải tiến di truyền các giống vật nuôi (Nguyễn Văn Thiện, 1995)

2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), biểu hiện bề ngoài hoặc các đặc tính khác của một số cá thể được gọi là kiểu hình của cá thể đó đối với tính trạng số lượng cũng như tính trạng chất lượng

Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ một tính trạng nào cũng được biểu thị thông qua giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E) Giá trị kiểu hình được biểu thị như sau:

P = G + E Trong đó:

P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value);

G: Giá trị kiểu gen (Genotypic Value);

E: Sai lệch môi trường (Enviromental Deviation)

Kiểu hình do các gen chi phối thuộc ít nhất hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau:

P = A + D + I + Eg + Es Trong đó A (Additive Value): Giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống

D (Dominant Deviation): Sai lệch trội;

I (Interactive Deviation): Sai lệch tương tác;

Eg (General Enviromental Deviation): Sai lệch môi trường chung;

Es (Special Enviromental Deviation): Sai lệch môi trường riêng

Qua việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở trên có thể thấy muốn nâng cao năng suất của vật nuôi cần tác động những biện pháp sau:

- Tác động về mặt di truyền (G): là nhiệm vụ của nhà làm công tác giống + Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc

+ Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách lai giống

Trang 16

- Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như thức ăn, chuồng trại, vệ sinh, chăm sóc, thú y

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng có hệ số di truyền thấp, hiệu quả chọn lọc sẽ thấp, hiệu quả lai giống lại cao Ngược lại, các tính trạng có hệ số

di truyền cao, hiệu quả chọn lọc sẽ cao, hiệu quả lai giống lại thấp

Ở lợn hầu hết các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp còn các tính trạng có liên quan đến chất lượng sản phẩm và sự sinh trưởng có hệ số di truyền cao

2.1.2 Lai giống và ưu thế lai

số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên

Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định

2.1.2.2 Ưu thế lai

Thuật ngữ ưu thế lai được nhà di truyền học người Mỹ Shull đưa ra và ngày nay được hiểu như sau: Ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con so với trung bình của đời bố mẹ Có thể ưu thế lai là sức sống, sức đề kháng đối với bệnh tật

và tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn tốt

Khi lai giữa hai giống thì con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể

và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ ba, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1

Trang 17

Mô hình năng suất ở con lai với các công thức lai như sau:

Cần phân biệt 3 biểu hiện sau đây của ưu thế lai:

- Ưu thế lai cá thể (ký hiệu HI): Là ưu thế lai do kiểu gen của chính con vật gây nên

- Ưu thế lai của mẹ (ký hiệu HM): Là ưu thế lai do kiểu gen mà mẹ con vật gây ra thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó (ngoại cảnh mẹ) Chẳng hạn, nếu bản thân mẹ là con lai, thông qua sản lượng sữa, khả năng nuôi con khéo mà con lai có được ưu thế lai này

- Ưu thế lai của bố (ký hiệu HB): Là ưu thế lai do kiểu gen mà bố con vật gây ra thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó (ngoại cảnh bố) Ưu thế lai của bố không quan trọng bằng ưu thế lai của mẹ Có rất ít tính trạng có được

ưu thế lai của bố, song cũng có thể thấy rằng, khả năng thụ thai, tình trạng sức khoẻ của con đực lai tạo nên ưu thế lai cho đời con của nó

* Có thể giải thích hiện tượng ưu thế lai bằng các giả thuyết sau:

- Thuyết trội: giả thuyết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội đồng hợp tử khác nhau Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các kiểu gen trội ở tất cả các locus

Nếu: Bố AAbbCCDDee x Mẹ aaBBccddEE, con F1 có kiểu gen AaBbCcDcEe

Kiểu gen trội xuất hiện nhiều hơn ở đời con là nguyên nhân của ưu thế lai

- Thuyết siêu trội: Thuyết này cho rằng các cặp gen dị hợp tử có tác động lớn hơn các cặp gen đồng hợp tử

Nghĩa là Aa > AA > aa

Trang 18

Kiểu gen dị hợp ở đời con là nguyên nhân của ưu thế lai

- Thuyết siêu trội: Ưu thế lai có thể do hiện tượng siêu trội của một hay nhiều locus gây nên

- Tương tác gen: tương tác gen trong cùng một locus hoặc giữa các locus khác nhau cũng là nguyên nhân của ưu thế lai

Cơ sở thống kê của ưu thế lai

Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra:

Ưu thế lai ở F1: HF1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: 1

2 F

H  dy Như vậy, ưu thế lai ở F1 phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp và sự khác biệt giữa hai quần thể

Cơ sở thống kê này cho phép tính toán được ưu thế lai ở các thế hệ lai khác nhau Ưu thế lai ở F2: HF2 = 1/2dy2, do đó HF2 = 1/2 HF1

Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng được coi là hiện tượng suy hoá cận huyết Theo Falconer (1993), ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con Ảnh hưởng của mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá thụ tinh, có chửa, tiết sữa và nuôi con Các ảnh hưởng này chỉ có thể xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của con vật và được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau Có 5 loại ảnh hưởng của mẹ:

- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất nhưng không phải là ADN ngoài nhân;

- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân;

- Ảnh hưởng của mẹ trong giai đoạn trước khi đẻ;

- Ảnh hưởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con

- Ảnh hưởng của mẹ sau khi sinh

Khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và

ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F Nếu dùng đực lai giao phối với nái của

Trang 19

giống thứ ba, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1 Trong lai bốn giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố

Các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao,

vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một giải pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn

2.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai

- Công thức lai

Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi công thức lai Theo Trần Đình Miên và cs (1994), Mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể Theo Trần Kim Anh (2000), Ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con Ưu thế lai

cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống,

tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược thì số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10 - 15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin and Whittemore, 1998)

- Tính trạng

Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di truyền cao nhưng cũng có tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao Vì vậy để cải tiến tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn

Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai

cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cá thể là 9%,

ưu thế lai của mẹ là 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể là 12%, ưu thế lai của mẹ là 18% Richard (2000)

- Sự khác biệt giữa nguồn gốc di truyền của bố và mẹ

Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu Nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một

Trang 20

tính trạng nào đó thì mức dị hợp tử cao nhất ở F1, với sự phân ly của các gen trong các thế hệ sau mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần

Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý thì ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia súc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu thế lai

- Điều kiện nuôi dưỡng: nếu chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo thì ưu thế lai có được sẽ thấp và ngược lại

2.1.3 Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

2.1.3.1 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản ở lợn nái

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, khả năng sinh sản là yếu tố quan tâm hàng đầu của người chăn nuôi Yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là nâng cao khả năng sinh sản nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng lợn cho khâu sản xuất lợn thịt

Có nhiều chỉ tiêu sinh học đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái, nhưng các nhà di truyền chọn giống lợn chỉ quan tâm tới một số tính trạng năng suất nhất định là các chỉ tiêu có tầm quan trọng kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản Holness (1994), (Nguyễn Thiện và cs., 2005) cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu cho phép đánh giá lợn nái bao gồm: Tuổi động dục lần đầu,

tỷ lệ thụ thai, số con/ổ, thời gian động dục trở lại Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp

Hệ số di truyền của các tính trạng sinh sản là:

- Tuổi động dục lần đầu: 0,30

- Số vú: 0,30

- Số con cai sữa/ổ: 0,12

- Khối lượng lúc cai sữa: 0,17

Tuổi đẻ lứa đầu của lợn có hệ số di truyền là 0,27 và khoảng cách 2 lứa đẻ có

hệ số di truyền là 0,08 (Nguyễn Thiện và cs., 2005)

Trang 21

Các tính trạng phản ánh năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp vì vậy chúng chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện môi trường và phụ thuộc vào yếu tố ngoại cảnh như dinh dưỡng, mùa vụ, phương thức phối giống, thời điểm phối giống, đực giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại, khả năng phòng chống dịch bệnh

Để tăng cao được hiệu quả chọn lọc cần phải tìm biện pháp nhằm nâng hệ số di truyền các tính trạng số lượng, tăng khả năng tương tác giữa các gen

Gordon (2004) cho rằng: trong các trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm số trứng rụng, tỉ lệ lợn con sống lúc sơ sinh và tỉ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa là các thành phần quan trọng nhất đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Do vậy việc nâng cao chỉ tiêu số con đẻ ra sống và số con cai sữa là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chăn nuôi lợn nái sinh sản

Mabry et al (1997) cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng 21 ngày/ổ và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu này có tầm quan trọng về mặt kinh tế và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người sản xuất lợn giống cũng như người nuôi lợn thương phẩm

Tiêu chuẩn Việt Nam về lợn giống (TCVN 1280 - 81 – TCVN 1282 - 81) đã

đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái sinh sản là:

- Số con đẻ ra còn sống (con)

- Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi (kg)

- Khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi(kg)

- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): đối với lợn nái đẻ lứa thứ nhất

- Khoảng cách lứa đẻ (ngày): đối với lợn nái đẻ từ lứa thứ 2 trở lên

Trong thực tế thường quan tâm đến một số chỉ tiêu quan trọng về năng suất

mà qua đó có thể đánh giá được khả năng cũng như năng suất sinh sản của lợn nái

Trang 22

- Tuổi động dục lần đầu (ngày): Là thời gian từ sơ sinh đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu Tùy theo từng giống và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau mà tuổi động dục khác nhau Lợn ngoại có tuổi động dục muộn hơn lợn nội Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng không hợp lý thì tuổi động dục cũng muộn hơn so với chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý

- Tuổi phối giống lần đầu (ngày): Thông thường người ta phối giống lần đầu vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 vì ở lần động dục đầu cơ thể phát triển chưa đầy

đủ, chưa tích lũy đủ dinh dưỡng nuôi bào thai và trứng rụng ít, chưa đều nên thường bỏ qua không phối giống

- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): Là tuổi khi lợn nái đẻ lứa thứ nhất Tuổi đẻ lứa đầu nói lên tuổi thành thục về tính, thể vóc đảm bảo về khối lượng của lợn nái khi đưa vào phối giống

- Số con đẻ ra/ổ (con): Là tổng số con đẻ ra trong 1 ổ bao gồm cả số con đẻ

ra sống và số con đẻ ra chết Chỉ tiêu này đánh giá khả năng đẻ sai hay đẻ ít con của giống, khả năng nuôi con của lợn nái đồng thời đánh giá được kỹ thuật chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai và kỹ thuật phối giống

- Số con đẻ ra sống/ổ (con): Là số con đẻ ra sống được đến khi lợn mẹ đẻ ra con cuối cùng Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng vì nó phản ánh đúng khả năng đẻ sai hay đẻ ít con của giống đồng thời phản ánh cả chất lượng đàn con đẻ ra

- Số con đẻ ra chết/ổ (con): Có thể là thai chết, thai non, thai gỗ, chết trong quá trình đỡ đẻ, chết trong khoảng thời gian từ khi đẻ con đầu tiên đến con cuối cùng (thường được tính trong vòng 24 giờ)

- Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg): Là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ ra, lau khô, cắt rốn, bấm răng nanh và chưa cho bú sữa đầu Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi Khối lượng sơ sinh cao hay thấp ảnh hưởng đến các giai đoạn sau này

- Số con 21 ngày tuổi (con): Đánh giá chất lượng sữa và khả năng nuôi con khéo của lợn mẹ

- Số con cai sữa/ổ (con): Đây là chỉ tiêu đánh giá rất quan trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, vì số con cai sữa/ổ cao thì số con cai sữa/nái/năm cao, như vậy hiệu quả chăn nuôi sẽ cao hơn Chỉ tiêu này cho biết chất lượng của giống, trình độ chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như quy trình vệ sinh, phòng bệnh dịch của các nhà chăn nuôi

Trang 23

- Khối lượng toàn ổ khi cai sữa (kg): Đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con, khả năng tiết sữa của lợn mẹ và kỹ thuật cho ăn của người chăn nuôi Đây là chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất đối với người chăn nuôi, khối lượng cai sữa toàn

ổ ảnh hưởng đến khối lượng khi xuất bán

- Khối lượng 60 ngày: là khoảng thời gian nuôi từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi, đánh giá khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn của lợn con, khả năng ăn, khả năng thích nghi với môi trường sống mới của lợn con khi tách khỏi lợn mẹ

- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày): Là thời gian từ lúc cai sữa đến lúc động dục trở lại Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa Chỉ tiêu này đánh giá được tỷ

lệ hao hụt của lợn nái, trình độ kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con và lợn nái chờ phối số ngày này càng ngắn thì hiệu quả chăn nuôi càng cao

- Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày): Khoảng cách 2 lứa đẻ là thời gian từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo, bao gồm thời gian nuôi con + thời gian chờ phối + thời gian mang thai Trong đó, thời gian mang thai thường cố định hoặc biến đổi rất nhỏ nên khoảng cách hai lứa đẻ phụ thuộc vào thời gian nuôi con và thời gian chờ phối 2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh

- Yếu tố di truyền

Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999, Hamann et al., 2004) Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm các tính trạng vốn có hệ số di truyền nhỏ, lại thường không tạo được áp lực chọn lọc cần thiết nên hiệu quả của chọn lọc rất thấp Các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số biến động khá cao Tương quan giữa số con/ổ và khối lượng toàn ổ cũng như giữa khối lượng toàn ổ và khối lượng trung bình một lợn con là dương và chặt chẽ, nhưng giữa số con và khối lượng trung bình một lợn con là

Trang 24

- Các giống đa dụng như Y, L và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá

- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như , L, P của Bỉ, Hampshire, Poland China

có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao

- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém

- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường

- Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ

lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với L và Y (Blasco et al., 1995)

Tỷ lệ lợn con bị chết sau khi đẻ trung bình là 11% (6-13%), trong đó 7% là

do bị mẹ đè (Grandinson et al., (2003) Colin (1998) cho biết: Tỷ lệ lợn con bị chết ngay sau khi sinh chiếm 2 -10%, có thể tới 11% chết trong tuần tuổi đầu tiên Trung bình tỷ lệ lợn con chết từ khi đẻ ra cho tới khi cai sữa là 12% (5 - 25%) Lợn con có khối lượng sơ sinh thấp sẽ có tỷ lệ chết cao hơn so với lợn con

có khối lượng sơ sinh cao (Fireman et al., 1998) Theo Gordon (2004), tỷ lệ chết lợn con trước khi cai sữa chiếm tới 60,10% ở ngày đẻ đầu tiên; 23,6% từ ngày 2 – 7 sau đẻ và 16,2% sau 7 ngày

Như vậy năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của giống và cá thể, mỗi một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả kinh

tế của nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau

- Phương pháp nhân giống

Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau

+ Cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng là năng suất của giống đó ví dụ như: L x L, Y x Y

+ Cho lai giống thì năng suất sẽ cao hơn 2 giống gốc, các giống gốc càng thuần thì khi lai giống cho ưu thế lai càng cao

Như vậy, nhân giống thuần chủng hay lai giống sẽ cho năng suất sinh sản khác nhau

Trang 25

- Chế độ nuôi dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái Lợn nái và lợn cái hậu bị khi có chửa cần được cung cấp đủ về số lượng

và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt

Zimmerman et al (1996) (trích từ Rothschild et al., 1998) cho biết các mức

ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hưởng đến

tỷ lệ thụ thai Yamada et al (1998) nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ

Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống (Ashworth et al., 2000) Do đó áp dụng chế độ dinh dưỡng “Flushing” trong pha sinh trưởng của buồng trứng của lợn nái nên đã làm tăng số lượng trứng rụng (85% so với 64%) và tăng lượng progesteron trong máu (10,5 ng/ml so với 4,5 ng/ml) (Gordon, 1997) Lợn nái ăn gấp đôi lượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở ngày phối giống so với bình thường có tác dụng làm tăng số lượng trứng rụng và số con đẻ ra/ổ

Khẩu phần ăn của lợn hậu bị giai đoạn chờ phối cần đảm bảo thể trạng đến khi vào phối, đủ tuổi phải đủ khối lượng và độ dày mỡ lưng cần đảm bảo từ 16-18mm thì mới đáp ứng được yêu cầu

Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ (Prunier et al., 2000) làm giảm 20-30% số phôi khi nuôi với mức dinh dưỡng bình thường (Whaley và cs., 1997)

Cozler et al (2000) cho biết nuôi dưỡng lợn nái với mức năng lượng cao trong thời kỳ có chửa sẽ làm giảm mức thu nhận thức ăn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con và ngăn cản sự phát triển của tuyến vú Việc cung cấp thức ăn theo nhu cầu của lợn nái theo từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý của lợn, tiết kiệm được thức ăn vừa nâng cao được năng suất sinh sản, nâng cao được hiệu quả chăn nuôi

Trang 26

Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỉ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Gordon, 1997) Theo Lember (1998) tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng sinh trưởng của lợn con Gordon (2004) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu

kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức

ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu

Nếu khẩu phần ăn với mức lysin thấp và protein thấp làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ

ra và số con còn sống/ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tối đa sinh trưởng của lợn con (Yang et al., 2000) Song mức protein quá cao trong khẩu phần đều không tốt cho lợn nái cả giai đoạn chửa và nuôi con

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Gordon, 1997) Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ , làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ, do

đó dẫn đến lợn nái sinh sản kém

- Mùa vụ

Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Gaustad-Aas et al (2004) cho biết: mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp, tỷ lệ chết ở lợn con cao (Akos et al., 2004) Nhiệt độ cao làm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng và tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm (Quiniou et al., 2000)

Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, giảm khả năng sinh sản từ 5 - 20%

Nhiệt độ cao không những làm tăng tỷ lệ nái không động dục mà còn làm giảm tỷ lệ thụ thai, giảm khả năng sống của thai (Pistoni, 1997)

Trang 27

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái (theo Gordon, 1997) nhận thấy từ tháng 7 đến tháng 11, lợn nái thường ít động dục Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi et al., 2000) Tỷ

lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít vào mùa hè đã được Dominguez et al (1998) xác nhận

Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục Claus và Weiler (theo Gordon, 1997) cho biết từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng khác

Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20%

và do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái (Peltoniemi et al., 2000)

- Tuổi và lứa đẻ

Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ (Gordon, 1997) Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu et al., 1998) Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert et al., 1998) Số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (Warrick và cs., 1989, dẫn từ Gordon, 1997)

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì

có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau

đó gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên Koketsu et al (2000) cho biết số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ tư, ở lứa đẻ thứ tám trở

đi, số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi Lợn đẻ lứa đầu tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin, 1998) Lợn mới đẻ lứa đầu thường hay sợ hãi do đó tỷ lệ thụ thai thấp và tỷ lệ chết cao (Grandinson et al., 2003)

Tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng phối giống lần đầu quá sớm hay quá muộn, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác quá sớm cơ thể phát triển chưa hoàn thiện nên số trứng rụng ít, tỷ lệ thụ thai kém Hơn nữa nó còn ảnh hưởng đến phát triển thể chất, thể

Trang 28

vóc sau này Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác muộn giảm hiệu quả kinh tế Do

đó, trong thực tế hiện nay đối với lợn F1 (LY); F1(YL) người ta thường áp dụng khối lượng phối giống trên 135kg, tuổi đẻ lứa đầu 340-355 ngày tuổi

- Số lần phối và phương thức phối giống

Số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ (Serenius et al., 2002) (từ Gordon, 1997), cho biết: phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ (Tilton and Cole, 1982 dẫn từ Gordon, 1997), thấy rằng: khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần

Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt Trong phối trực tiếp, ảnh hưởng của con đực rất rõ Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai do

kỹ thuật phối giống (Theo Anon, 1993 dẫn từ Gordon, 1997), phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo làm tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn từ 0 - 10% so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998), nhưng kết quả nghiên cứu của Alexopoulos et al (1997) thì ngược lại

- Thời gian cai sữa

Kết quả phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ (Xue et al., 1993 dẫn theo Gordon, 1997) nhận thấy: thời gian bú sữa của lợn con dài, khoảng cách

từ khi đẻ đến phối giống trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản do làm giảm số lứa đẻ/nái/năm

Nghiên cứu của Gaustad - Aas et al (2004) cho biết: phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn Theo Gordon (2004), giảm thời gian cai sữa từ 20 xuống 15 ngày sẽ làm giảm 0,2 con trong ổ, giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con trong ổ Lợn nái cai sữa ở 28 - 35 ngày, thời gian động dục trở lại 4 - 5 ngày có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998) Không nên phối giống cho lợn nái sớm hơn 3 tuần sau khi đẻ, phối giống sớm sẽ làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái (Newport, 1997, Cole et al., 1975, dẫn từ Gordon, 1997)

Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Tonn et al., 1995, dẫn từ Gordon, 1997)

Trang 29

2.1.4 Đặc điểm sinh lý và sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng

2.1.4.1 Đặc điểm sinh lý và sinh trưởng phát triển của lợn con

Đối với lợn con khả năng sinh trưởng có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng mang tính quyết định tới khối lượng cai sữa và khối lượng xuất chuồng sau này

Sau khi được sinh ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con sẽ phải trải qua 4 giai đoạn (bú sữa, thành thục, trưởng thành và già cỗi) Giai đoạn bú sữa rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới khối lượng lợn con cai sữa Nếu nuôi dưỡng tốt lợn con ở giai đoạn này sẽ làm tăng khả năng sinh sản của lợn mẹ và làm cơ sở cho quá trình sinh trưởng của lợn con ở những giai đoạn tiếp theo

Đặc điểm sinh trưởng của lợn con: lợn con có khả năng sinh trưởng rất mạnh, thể hiện bằng khả năng tăng khối lượng của cơ thể Sau khi đẻ ra 1 tuần khối lượng lợn con đã gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, đến khi cai sữa ở 60 ngày tuổi gấp 10- 15 lần Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa cao càng lớn Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt để

có khối lượng sơ sinh lớn là cần thiết, làm tiền đề cho khối lượng cai sữa cao Khối lượng sơ sinh cao còn là điều kiện đảm bảo cho tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa cao Tốc độ sinh trưởng của lợn con lớn nhất ở 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần và giảm nhanh hơn cho đến 60 ngày tuổi Điều này phù hợp với qui luật tiết sữa của lợn mẹ (cao nhất về số lượng và chất lượng ở 21 ngày sau đẻ, giảm dần đến 45 ngày sau đó giảm rất nhanh) Mặt khác sau 21 ngày tuổi, lượng sắt trong máu lợn con rất thấp do lượng dự trữ trong gan đã hết làm cho lợn con mắc bệnh thiếu máu, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát dục của lợn con Để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của con ngày càng tăng mà dinh dưỡng từ sữa mẹ giảm, cần tập cho lợn con ăn sớm vào giai đoạn từ 7 đến 10 ngày tuổi Việc này có tác dụng rất lớn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, vừa đảm bảo đáp ứng dinh dưỡng cho con vừa làm giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm cho lợn con quen dần với các loại thức ăn sau này

Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa

- Khối lượng lợn con sơ sinh/ổ (kg): Tổng khối lượng của lợn con sơ sinh còn sống theo dõi trong 24 giờ sau khi lợn nái đẻ xong con cuối cùng

- Khối lượng cai sữa/lứa (kg): Tồng khối lượng của tất cả lợn con còn sống

Trang 30

ở thời điểm cai sữa mẹ nuôi riêng của 1 lứa đẻ

- Tăng khối lượng cơ thể từ sơ sinh đến cai sữa (gam/con/ngày)

- Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con (kg)

2.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng

Các tính trạng về khả năng sinh trưởng của vật nuôi nói chung và của lợn nói riêng đều là những tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền

và yếu tố ngoại cảnh

 Ảnh hưởng của yếu tố di truyền:

Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh trưởng, cho thịt khác nhau (Evan, 2003)

Giống ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, khả năng tích luỹ mỡ Các giống lợn địa phương thường có tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ nạc thấp, nhưng tỷ lệ mỡ trong cơ lại cao (Labroue et al., 2000)

Con lai cho ưu thế lai cao hơn bố mẹ về tăng trọng (10%) và thu nhận hàng ngày (Sellier et al., 1998) Theo Liu Xiaochun et al (2000), con lai 3 giống có ưu thế lai về tăng trọng tới 16,44 %, ưu thế lai về tiêu tốn thức ăn là -8,18%, trong khi đó con lai trở ngược có ưu thế lai về tăng trọng chỉ đạt 7,03 %, tiêu tốn thức

ăn là - 2,7%

Để tạo ra dòng, giống có sức sản xuất cao phải chọn lọc những cơ thể đực

và cái có đặc tính di truyền mong muốn cho giao phối, trong quá trình đó cần chọn lọc những cá thể có đặc tính tốt để củng cố tính di truyền Kết hợp với phương pháp chọn giống ta còn phải tiến hành lai tạo để nâng cấp khả năng sinh trưởng của giống đó

Về phương diện sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếu tới nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì vậy mà hầu hết đàn lợn thương phẩm ở các nước là lợn lai

Bên cạnh giống và ưu thế lai, các tính trạng nuôi vỗ béo, thân thịt và chất lượng thịt cũng bị chi phối bởi một số gen như gen halothan, tính nhạy cảm stress với halothan chủ yếu làm giảm nhanh pH trong cơ sau khi giết thịt Điều này làm tăng thịt PSE (Pale Sorf Excudative: nhợt, mềm và rỉ nước) ở các lợn mắc hội chứng stress

Ngoài ra, tính biệt cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng, cho

Trang 31

thịt của con vật đó là do sự cấu thành của cơ thể khác nhau điều này được chi phối bởi tác động của hormone Thường ở lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn nái và đực thiến, tuy nhiên nhu cầu năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng lớn hơn lợn cái và đực thiến Một số công trình nghiên cứu cho rằng lợn đực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn

 Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh:

Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn nói riêng

và của gia súc, gia cầm nói chung bao gồm rất nhiều yếu tố: Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý và sử dụng,…

- Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và chuồng trại

Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại biểu thị tổng hợp sự chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng đàn lợn Lợn sẽ phát huy được hết tiềm năng và cho sức sản xuất cao trong điều kiện chăn nuôi phù hợp với đặc tính của chúng Thông thường, khi bị nuôi trong chuồng chật hẹp thì khả năng tăng trọng của lợn là thấp hơn so với được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi

- Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối sinh trưởng và khả năng cho thịt của gia súc Một khẩu phần đầy phù hợp cho từng giai đoạn phát triển, từng mục tiêu sản xuất với một chế độ ăn hợp lý sẽ tạo điều kiện cho lợn phát huy được hết tiềm năng di truyền của nó Trong khẩu phần ăn của lợn ngoài việc phải đầy đủ các chất dinh dưỡng thì yêu cầu sự cân bằng dinh dưỡng và chất lượng thức ăn là rất quan trọng, nó tăng tỷ lệ hấp thu, giảm chi phí năng lượng cho tiêu hóa từ đó tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn và làm giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng

Mối quan hệ giữa năng lượng và protein là yếu tố quan trọng giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng trọng, tỉ lệ nạc mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt Theo Wood et al (2004), nuôi lợn thịt bằng khẩu phần protein thấp, lợn sẽ sinh trưởng chậm, khối lượng giết thịt thấp Mức năng lượng và protein thấp trong khẩu phần làm tăng khả năng tích luỹ mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ (Chang et al., 2003)

Tốc độ tăng khối lượng, chất lượng thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các vitamin với nhau và giữa vitamin với protein và khoáng Bên cạnh đó hàng loạt nghiên cứu đã xác nhận tác dụng của việc bổ sung các axit

Trang 32

amin giới hạn vào khẩu phần lợn thịt: tăng trọng tăng, tiết kiệm được thức ăn và protein Chất khoáng cũng đặc biệt quan trọng với lợn thịt Jondreville et al (2003) cho biết bổ sung Cu, Zn một cách hợp lý vào khẩu phần có tác dụng làm tăng khả năng sinh trưởng và giảm ô nhiễm môi trường Hiệu quả sử dụng protein bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Lợn hướng nạc có hiệu quả sử dụng protein cao hơn so với lợn hướng mỡ, lợn còn non cao hơn lợn trưởng thành, lợn đực cao hơn lợn cái và lợn đực thiến Khẩu phần có đủ axit amin tốt hơn khẩu phần không đủ

 Thời gian nuôi:

Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn, người ta đề ra 3 phương thức nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi tăng trọng nhanh, thường kết thúc khi lợn có khối lượng 80-90 kg, nuôi theo hướng kiêm dụng nạc - mỡ, thời gian nuôi dài hơn, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn 2 phương thức kia

Đinh Văn Chỉnh và cs (1995) nghiên cứu trên lợn kiểm tra cá thể cho biết:

độ lớn của hệ số tương quan giữa độ dày mỡ lưng so với tỷ lệ mỡ giảm dần theo tuổi, sự tích luỹ mỡ tăng dần theo sự tăng về khối lượng Cứ tăng 10kg khối lượng thì độ dày mỡ lưng tăng khoảng 1mm ở tất cả các điểm

Thành phần hoá học của cơ thể thay đổi phụ thuộc vào tuổi của gia súc, khối lượng, tính biệt, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Khi sơ sinh, nước chiếm 77%, protein 18%, lipit 2% và khoáng tổng số là 3% Ở giai đoạn trưởng thành nước chiếm 64-65%, protein 16%, lipit 16% và khoáng tổng số 3% Khối lượng

cơ thể càng tăng, tỷ lệ mỡ càng cao Thời gian nuôi càng dài, tỷ lệ mỡ trong thân thịt càng tăng và tỷ lệ nạc càng giảm

 Các yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng:

Nhiệt độ chuồng nuôi thấp hoặc cao hơn nhiệt độ giới hạn thích ứng cho phép đều là các yếu tố bất lợi đối với sinh trưởng của lợn thịt

Khi lợn càng lớn nhiệt độ môi trường tối ưu càng giảm Ở lợn mới đẻ, nhiệt

độ chuồng nuôi chuồng nuôi tối ưu là 30-320C, lợn khoảng 30 kg thì nhiệt độ tối

ưu 260C, lợn 50 kg thì nhiệt độ tối ưu 190C, lợn lớn hơn 50 kg đến xuất chuồng nhiệt độ tối ưu là 13-150C

Các yếu tố stress ảnh hưởng không tốt đến trao đổi chất và sức sản xuất của

Trang 33

lợn bao gồm: sự thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi, tiểu khí hậu không thích hợp, cho

ăn không theo khẩu phần, chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, cân gia súc, vận chuyển, bắt lợn để lấy máu, thiến hoạn, phân đàn, chuyển chuồng tiêm chủng và điều trị, thay đổi kích thước và hình dáng chuồng nuôi, thay đổi khẩu phần, đột ngột bỏ đói, cho uống nước thiếu

Số lượng lợn nuôi thịt trong một ô chuồng có ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng, thu nhận thức ăn, tiêu tốn thức ăn nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ nạc

 Ảnh hưởng của năm và mùa vụ

Có nhiều tác giả nghiên cứu về năm và mùa vụ trong chăn nuôi cho biết chúng gây ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng của lợn Pathiraja et al (1990) cho biết sự khác nhau giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng khối lượng

và dày mỡ lưng là rõ rệt

Huang et al (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt tới độ dày mỡ lưng

và hiệu quả sử dụng thức ăn Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày mỡ lưng thấp hơn mùa thu và mùa xuân (Choi et al., 1997) Stress nhiệt có liên quan mức sinh trưởng chậm vì khả năng thu nhận thức ăn thấp

Khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng tăng khối lượng của lợn nhiều tác giả cũng cho biết tăng khối lượng chịu ảnh hưởng lớn của yếu

tố mùa vụ và năm thí nghiệm

Ngoài các yếu tố trên thì còn một số yếu tố khác như tính biệt, tuổi, khối lượng giết mổ cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng sản xuất và cho thịt cũng như chất lượng thịt của lợn

 Ảnh hưởng của tuổi và khối lượng giết mổ

Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cũng phụ thuộc vào tuổi và khối lượng lúc giết thịt Giết thịt ở độ tuổi lớn hơn thì chất lượng thịt sẽ tốt hơn do sự tăng lên của các mô ở giai đoạn cuối của thời kỳ trưởng thành Song không nên giết thịt ở tuổi quá cao vì lợn sau 6 tháng tuổi khả năng tích lũy mỡ lớn, dẫn đến tỷ lệ nạc sẽ thấp và hiệu quả kinh tế kém

Chất lượng thịt lợn cũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần cơ thể phát triển khác nhau ở từng giai đoạn Mô cơ phát triển rất mạnh ngay từ khi còn nhỏ nhưng tốc độ giảm dần, còn mô mỡ tốc độ tích lũy ngày càng tăng

Trang 34

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC VÀ TRONG NƯỚC 2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Lai giống là biện pháp quan trọng để sản xuất lợn có năng suất cao, chất lượng thịt tốt ở nhiều nước trên thế giới Nửa đầu thế kỷ 20 nội dung chủ yếu của công tác giống lợn là chọn lọc và nhân thuần bằng các phương pháp kiểm tra lợn đực giống qua đời sau Nhưng từ nửa sau thế kỷ này do có thêm về những hiểu biết mới về ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo lợn, nên ở các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến đã phát triển mạnh lai kinh tế ở lợn Thời kỳ đầu chỉ mới áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ ba, bốn, năm giống lợn và cao hơn nữa

là các chương trình lai tạo lợn hybrid

Kết quả nghiên cứu của Hansen et al (1997) cho biết lai hai giống: (DWhite composite) và (MeishanWhite composite) có tốc độ sinh trưởng tốt hơn lợn Meishan thuần, lợn lai (DWhite composite) tăng trọng cao hơn (MeishanWhite composite) Lai hai, ba, bốn giống đã trở thành phổ biến trong chăn nuôi lợn tại Ba Lan (Ostrowski et al (1997)

(Tài liệu thông tin kỹ thuật - Viện Chăn nuôi, 1996) việc khảo sát đặc tính của một số giống lợn đang được sử dụng ở các nước có nền chăn nuôi phát triển, (chất lượng lợn mẹ, số con/lứa đẻ, hình dạng, sức đề kháng, tốc độ sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, chất lượng thân thịt, chất lượng thịt) đã cho biết:

- Năng suất thịt cao nhất ở giống P, tiếp đến L Bỉ, Hampshire;

- Khả năng sinh sản (số con/lứa đẻ, chất lượng lợn mẹ) cao ở hai giống

Y và L;

- Tạo nái lai tốt nhất là sử dụng con đực và cái thuộc các giống L và Y;

- Sử dụng đực tốt nhất trong lai là đực thuộc giống L Bỉ, P, Hampshire, D;

- Tăng khối lượng của lợn Y và L là cao, tiêu tốn thức ăn thấp hơn, nhưng

độ dày mỡ lưng cao hơn so với các giống P, L Bỉ Hai giống Y và L có mức sinh sản cao, do vậy trong cơ cấu đàn lợn giống chiếm khoảng 50-60%

Theo Gordon (1997), lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ hơn 50 năm trước, việc sử dụng lai hai, ba, bốn giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm đã trở thành phổ biến Các chủ trại chăn nuôi lợn ở Mỹ sử dụng rộng rãi lai kinh tế và có tới 90% lợn thương phẩm do lai giống mà ra

Trang 35

Ở Đan Mạch, lai kinh tế giữa lợn L và Y tạo ra tổ hợp lai thuận - nghịch: L(F1(YL)) và Y(F1(YL)) hoặc D(YL), Hampshire(F1(YL)) (Staun, 1987)

Ronald (1993) khi nghiên cứu về ưu thế lai có sử dụng hệ thống lai luân chuyển đã công bố ưu thế lai khi dùng các cá thể lợn mẹ là lợn lai đối với ngày tuổi đạt 100kg ở nái lai F1 là 10%, nái lai nhiều giống là 27%

Nghiên cứu của Yen et al (2001) trên các cặp lai giữa hai giống lợn D và lợn Taoyuan đối với các tính trạng kinh tế ở con lai giữa chúng đã cho biết: ưu thế lai trực tiếp thể hiện rõ rệt ở tốc độ tăng khối lượng từ 150 – 180 g/ngày Các nghiên cứu của Gerasimov et al (1997) cho biết lai hai, ba giống đều

có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống

và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 con so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Ưu thế lai về khối lượng khi cai sữa tới 18,30% (Chokhataridi, 2000) Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm Gerasimov et al (1997) Gerasimov et

al (1997) cho biết trong nhiều tổ hợp lai hai, ba giống, tổ hợp lai hai giống (DLarge Black), tổ hợp lai ba giống D(Poltava MeatRussian Large White) có khả năng tăng trọng cao nhưng tiêu tốn thức ăn lại thấp so với các tổ hợp lai khác Nghiên cứu của Pogodaev et al (1997) cũng có kết quả tương tự

Xue et al (1997) nhận thấy lợn lai ba giống D(YL) có tốc độ sinh trưởng, chất lượng thân thịt tốt Do đó việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm

Kim et al (1994) nhận thấy, lai giữa đực D với nái (F1(LY) ) cho số con sơ sinh/ổ lợn cao hơn, con lai đạt khối lượng 110 kg sớm hơn 20 ngày so với giống thuần

Lai giữa 3 giống lợn L, Y và D, con lai có tốc độ tăng khối lượng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp và số ngày đạt khối lượng giết thịt 94 kg thấp hơn so với các công thức lai khác (Haminell et al., 1993)

Tại Trung Quốc lợn thịt thương phẩm được sản xuất từ ba giống D, L, Y đạt 90kg ở 165 ngày tuổi (Tan Deming et al., 2000), sử dụng nái lai (F1(LY) ) hoặc (F1(YL)) phối với lợn đực Hampshire và lai luân chuyển giữa ba giống: Hampshire, Y, L có kết quả tốt nhất trong 64 công thức lai khác nhau (Wang et al., 1997) Việc sử dụng nái F1(LY) phối với đực D được áp dụng khá rộng rãi

để nâng cao tốc độ tăng trọng và khả năng cho thịt (Liu Xiao chun et al., 2000)

Trang 36

Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan Tuz et al (2000) nhận thấy lai ba giống đạt được số con/lứa ở 1, 21, 42 ngày tuổi cũng như khối lượng sơ sinh/con cao hơn hẳn so với giống thuần Sử dụng nái lai để phối với lợn đực thứ ba có hiệu quả nâng cao khối lượng khi cai sữa và khả năng tăng trọng khi nuôi thịt (Kamyk et al., 1998) Lai ba, bốn giống đã trở thành phổ biến trong chăn nuôi lợn (Ostrowski et al., 1997; Grzeskowiak et al., 2000; Migdal et al., 2000)

Các nghiên cứu của Gerasimov et al (1997) cho biết lai ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/ổ, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Gerasimov et al (2000) cho biết nái lai có chất lượng tốt về sản xuất sữa, khối lượng sơ sinh, con lai sinh trưởng tốt và có năng suất thịt xẻ cao Việc sử dụng lai ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản

và sản xuất lợn thịt thương phẩm, con lai có mức tăng trọng tốt và tỷ lệ nạc cao (Gerasimov et al., 1997)

Việc sử dụng nái (L x Y) phối với lợn P để sản xuất con lai ba giống, sử dụng nái (L x Y) phối với lợn đực lai (P x D) để sản xuất con lai bốn giống khá phổ biến tại Bỉ sản xuất ra lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp (Leroy et al., 1996) Warnants et al (2003) cho biết ở Bỉ thường sử dụng lợn nái lai phối giống với lợn đực P để sản xuất lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp Lai ba và bốn giống là hệ thống chủ yếu để sản xuất lợn thịt thương phẩm

Theo Vangen et al (1997), trong số 1,2 triệu lợn giết mổ hàng năm tại Na

Uy thì lợn lai chiếm trên 60% Nái lai (LxY) có tỷ lệ đẻ, số con đẻ ra /lứa cao hơn lợn nái thuần L, nái lai (LxY) được sử dụng nhiều trong các công thức lai (Gaustad-Aas et al., 2004)

Tại Áo, với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần như tất cả được sản xuất từ lai hai, ba giống Nái lai được sử dụng phổ biến là F1(EdelschweinLW)

và F1(EdelschweinL) được phối với lợn đực giống P hoặc D để sản xuất con lai

ba giống nuôi thịt

Legault et al (1998) cho biết lai giữa các giống lợn địa phương với lợn D

và P so sánh với công thức lai LWL Pháp Kết quả cho thấy khi lai với D hoặc

P đã có tác dụng nâng cao được khả năng tăng trọng, với 64 g ở công thức lai PGascony, 226 g ở công thức lai DLimousin, giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng với 0,49 kg ở công thức DGascony, 0,66 kg ở công thức PGascony, tăng

tỷ lệ nạc khi lai với P Đối với lợn địa phương, các tác giả cho biết cần áp dụng

hệ thống quản lý tốt hơn hoặc phải tiến hành lai với giống tốt để nâng cao hiệu quả kinh tế

Trang 37

Ở châu Âu hiện nay, ba giống phổ biến được sử dụng là P, Hampshire và D Giống P có tỷ lệ nạc cao nhưng tần số gen halothan cao, giống Hampshire có khả năng kháng stress song có hạn chế là tồn tại gen RN và ảnh hưởng đến chất lượng thịt, giảm năng suất thịt khi chế biến, giống D có khả năng kháng stress nhưng cũng có hạn chế là tỷ lệ mỡ trong thân thịt và trong thịt nạc cao Lợn đực

P đồng hợp tử kháng stress đã được tạo ra ở Hà Lan, Scandinavia, Thuỵ Sĩ và Bỉ

Sử dụng lợn đực P trong các công thức lai ba giống đã được Wuensch et al (2000) công bố, sử dụng lợn đực giống P trong công thức lai ba giống: P(LWL Đức), tác giả cho biết con lai ba giống có mức tăng trọng và hiệu quả kinh tế cao nhất Tại Ba Lan, Ostrowski et al (1997) tiến hành các công thức lai: PD, PPolish

LW, (PPolish LW)(Polish LWPolish L) cho biết chất lượng thịt tốt nhất ở con lai có 25 %, 50 % máu P Buczyncki et al (1998) tiến hành lai giữa lợn đực P với lợn nái Polish LW, Zlotnicka Spotted và nái lai (Zlotnicka Spotted  Polish LW), con lai ba giống có mức tăng trọng, tỷ lệ nạc cao hơn con lai hai giống Kamyk (1998) cho biết sử dụng nái lai: (Pulawyhybrid 990), (PulawyD), (PulawyP) phối với lợn đực hybrid 990, D và P, con lai P(Pulawy  hybrid 990) có diện tích

cơ thăn cao nhất Nghiên cứu sử dụng P trong các công thức lai ba giống đã được Gajeweczyk et al (1998), Lyczyncki et al (2000) công bố, các kết quả nghiên cứu cho thấy con lai có máu P có tỷ lệ nạc và diện tích cơ thăn cao Các công thức lai bốn giống có P cũng được Gajewczyk et al (1998) nghiên cứu

Warnants et al (2003) cho biết ở Bỉ thường sử dụng lợn nái lai phối giống với lợn đực P để sản xuất lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp Theo Leroy et al (2000), dòng P-ReHal kháng stress có tỷ lệ thịt móc hàm và tỷ lệ nạc cao đã được tạo ra ở Bỉ Người ta thường dùng lợn đực P-ReHal là đực cuối cùng trong các công thức lai

Như vậy, hầu hết các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển trên thế giới đều

sử dụng các tổ hợp lai kinh tế để sản xuất lợn thương phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao từ việc giảm chi phí thức ăn, tiết kiệm thời gian nuôi thịt và nâng cao

tỷ lệ nạc nhờ ưu thế lai Đa số lợn thịt thương phẩm trên thế giới đều là những tổ hợp lai từ 3, 4 hoặc 5 giống

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Việc lai tạo hai giống lợn L, Y để tạo ra thế hệ lợn lai F1(LY) hoặc F1(YL) là một trong những hướng đi quan trọng để mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, đáp ứng được nhu cầu phát triển và bắt kịp sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn trên thế

Trang 38

giới phù hợp với chương trình phát triển ngành chăn nuôi lợn của nước ta

Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (2001) cho biết năng suất sinh sản của lợn nái L và Y nuôi tại trung tâm giống gia súc Phú Lãm - Hà Nội như sau: Khối lượng phối giống lần đầu của L và Y là 99,3 và 100,2 kg ; tuổi phối giống lần đầu là 254,11 và 282,00 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 367,1 và 396,3 ngày; số con

đẻ ra còn sống là 8,20 và 8,30 ngày; khối lượng sơ sinh/ổ là 9,12 và 10,89 kg; khối lượng lúc 21 ngày tuổi/ổ là 40,70 và 42,10 kg tương ứng là 5,10 và 5,2 kg/con

Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1999) cho thấy: nái lai F1(LY) có nhiều chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần L Nái lai F1(LY) có

số con sơ sinh sống, số con cai sữa tương ứng là 9,25 - 9,87; 8,50 - 8,80 con/ổ; khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa/con là 1,32 kg và 8,12 kg Nái L có số con sơ sinh sống, số con cai sữa tương ứng là 9,00 - 9,83 và 8,27 - 8,73 con/ổ Theo Lê Thanh Hải (2001), nái lai F1(LY) và F1(YL) đều có các chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần L, Y Nái lai F1(LY) , F1(YL) và nái thuần L,

Y có số con cai sữa/ổ tương ứng là 9,27; 9,25; 8,55 và 8,60 con; với khối lượng toàn ổ khi cai sữa tương ứng là 78,90; 83,10; 75,00 và 67,20 kg

Phùng Thị Vân và cs (2002) cho biết: lai hai giống giữa đực Y với nái L và ngược lại đều có ưu thế về nhiều chỉ tiêu sinh sản so với giống thuần, F1(YL) và F1(LY) có số con cai sữa/ổ tương ứng là 9,38 và 9,36 con; khối lượng cai sữa/ổ

ở 35 ngày tuổi là 79,30 và 81,50 kg Trong khi đó, nái thuần Y và L có số con cai sữa/ổ tương ứng là 8,82 và 9,26 con, khối lượng cai sữa/ổ ở 35 ngày tuổi chỉ đạt 72,90 kg cho cả hai giống

Đặng Vũ Bình và cs (2005) cho biết nái F1 giữa hai giống L và Y, ưu thế lai

rõ nhất ở số con đẻ ra/ổ, số con để nuôi/ổ, khối lượng sơ sinh/ổ, sau đó là các tính trạng số con cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/ổ Năng suất sinh sản nái F1(LY) có

ưu thế lai cao hơn nái F1(YL)

Theo Phan Xuân Hảo (2006) năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) là tương đối cao, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách lứa đẻ lần lượt là 249,13; 365,97 và 159,02 ngày Tổng số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con 21 ngày/ổ và số con cai sữa/ổ lần lượt là 10,97;

Trang 39

10,41; 9,88; 9,35 và 9,32 con/ổ Như vậy tỷ lệ sơ sinh sống 95,32%, tỷ lệ nuôi sống 94,17% Khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng 21 ngày/ổ và khối lượng cai sữa/ổ lần lượt là 14,6; 49,01 và 52,28 kg/ổ Khối lượng sơ sinh/con, khối lượng

21 ngày/con và khối lượng cai sữa/con lần lượt là 1,41; 5,27 và 5,67 kg/con Trong những năm qua có khá nhiều công trình nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LY) và F1(YL) khi phối giống với các loại đực cuối cùng như D, P và PD

Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006), năng suất sinh sản của lợn nái F1(LY) khi phối với đực P và D có số con đẻ ra/ổ tương ứng là 10,05 và 9,63 con; số con 21 ngày tuổi/ổ là 9,7 và 9,23 con; số con cai sữa/ổ tương ứng là 9,39 và 3,13 con; khối lượng 60 ngày tuổi/con tương ứng là 19,72 và 19,70 kg Lai ba giống giữa đực D với nái lai F1(LY) hoặc F1(YL) có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản, giảm chi phí thức ăn để sản xuất 1kg lợn con ở 60 ngày tuổi; số con cai sữa đạt 9,6-9,7 con/ổ với khối lượng cai sữa/ổ tương ứng là 80,0 – 75,7kg ở 35 ngày tuổi Con lai giữa 3 giống D(LY) có mức tăng trọng trung bình 655,9g/ngày; tỷ lệ nạc 61,81% và tiêu tốn thức ăn 2,98; con lai ba giống D(YL) có mức tăng trọng trung bình 655,7g/ngày, tỷ lệ nạc 58,71%, tiêu tốn thức

ăn 2,95kg thức ăn/kg tăng trọng (Phùng Thị Vân và cs., 2002)

Năng suất sinh sản và sinh trưởng của các tổ hợp lai PD× Y, PD × L và

PD × F1 (L×Y) (LY) Kết quả cho thấy khi sử dụng đực lai PD trong các công thức lai tạo đều cho năng suất sinh sản khá cao và con lai sinh trưởng tốt Cụ thể: số con sơ sinh sống và cai sữa ở các tổ hợp lai PD × Y là 11,65 và 11,10 con; ở PD × L là 11,01 và 10,49 con và ở PD × F1 (LY) là 11,50 và 10,90 con Khối lượng cai sữa/con của các con lai trên lần lượt là 8,34; 8,42 kg và 8,44 kg ở

32 ngày tuổi (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy, 2009)

Lợn nái F1(YL) có các chỉ tiêu số con trong ổ cao hơn so với nái F1(LY), nhưng nái F1(LY) lại có các chỉ tiêu khối lượng lợn con và tỷ lệ nuôi sống cao hơn so với nái F1(YL) Phối giống giữa nái F1(YL) và F1(LY) với đực L19 đạt được các chỉ tiêu số con trong ổ cao hơn so với đực D, nhưng phối giống giữa nái F1(LY) và F1(YL) với đực D đạt được các chỉ tiêu khối lượng lợn con cao hơn so với đực L19 Tổ hợp lai L19(YL) đạt được các chỉ tiêu về số con trong ổ

Trang 40

cao nhất Tổ hợp lai D(LY) đạt được các chỉ tiêu khối lượng lợn con cao nhất (Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình, 2011)

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cũng cho rằng năng suất sinh sản, sinh trưởng và năng suất thịt của tổ hợp lai 4 giống cao hơn và tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với tổ hợp lai 2 giống Nên sử dụng lợn đực

PD phối với nái F1(LY) để đạt được năng suất cao hơn trong thực tế (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010) Việc sử dụng đực PD phối với nái ngoại (L,

Y và LY) đạt được năng suất cao nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng thịt tốt (Phan Xuân Hảo và cs., 2009; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010)

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng sản sinh sản cũng như sức sản xuất của lợn nái F1(YL), F1(LY) phối giống với đực PD, D Tuy nhiên các kết quả thu được còn nhiều khác biệt do khác nhau về thời gian, địa điểm nghiên cứu, phương thức chăn nuôi, cũng như dung lượng mẫu theo dõi

Việc nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F1(YL), F1(LY) phối với đực PD, D trong điều kiện sản xuất chăn nuôi của Công ty Lợn giống DABACO, thuộc Tập đoàn DABACO là một đòi hỏi khách quan nhằm đánh giá một cách xác thực đáp ứng yêu cầu cụ thể cho sản xuất của Công ty nói riêng và Tập đoàn nói chung Các kết luận của nghiên cứu này cũng góp phần làm phong phú thêm việc đánh giá các tổ hợp lai hiện đang phổ biến trong sản xuất chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp của nước ta

Ngày đăng: 24/03/2017, 23:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình (1995). Các tham số thống kê. di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản lợn nái Yorkshire và Landrace. Kỷ yếu kết quả nghiên cứu Khoa học Chăn nuôi- thú y (1991-1995). Trường Đại học Nông Nghiệp I (1995). tr. 61 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tham số thống kê. di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản lợn nái Yorkshire và Landrace
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Kỷ yếu kết quả nghiên cứu Khoa học Chăn nuôi- thú y (1991-1995). Trường Đại học Nông Nghiệp I
Năm: 1995
4. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt và Vũ Ngọc Sơn (1995). Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây. Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa CNTY 1999-2001. NXB Nông Nghiệp. tr. 70 - 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1995
5. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân, Phan Xuân Hảo và Hoàng Sĩ An (1999). Kết quả bước đầu xác định khả năng sinh sản của lợn nái L và F 1 (LY) có các kiểu gen halothan khác nhau nuôi tại xí nghiệp thức ăn chăn nuôi An Khánh. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi-Thú y (1996-1998). Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội. tr. 9 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu xác định khả năng sinh sản của lợn nái L và F 1 (LY) có các kiểu gen halothan khác nhau nuôi tại xí nghiệp thức ăn chăn nuôi An Khánh
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân, Phan Xuân Hảo, Hoàng Sĩ An
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
6. Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo và Đỗ Văn Chung (2001). Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống Phú Lãm – Hà Tây. Kết quả nghiên cứu KHKT khoa chăn nuôi thú y (1991-1995). Trường Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống Phú Lãm – Hà Tây
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Chung
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp
Năm: 2001
7. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011). Khả năng sinh sản của tổ hợp lai F 1(Landrace x Yorkshire) và F 1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19 Tạp chí Khoa học và Phát triển 2011. 09 (4). tr. 614 – 621 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản của tổ hợp lai F 1(Landrace x Yorkshire) và F 1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19
Tác giả: Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2011
11. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005). So sánh khả năng sinh sản của lái nai F 1 (Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc và Piétrain Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Trường Đại học Nông Nghiệp I. 03 (2). tr. 140 - 143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh khả năng sinh sản của lái nai F 1 (Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc và Piétrain
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Trường Đại học Nông Nghiệp I
Năm: 2005
12. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006). Năng suất sinh sản- sinh trưởng- chất lượng thân thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F 1 (LandraceYorkshire) phối với lợn đực Duroc và Pietrain. Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Trường Đại học Nông Nghiệp I. 04 (6). tr 48 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản- sinh trưởng- chất lượng thân thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F 1 (LandraceYorkshire) phối với lợn đực Duroc và Pietrain
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Trường Đại học Nông Nghiệp I
Năm: 2006
13. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010). Năng suất sinh sản- sinh trưởng- thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L x L) với đực giống Landrace. Duroc và (Pietrain x Duroc). Tạp chí khoa học và phát triển 2010. 08.(1). tr. 98 – 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản- sinh trưởng- thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L x L) với đực giống Landrace. Duroc và (Pietrain x Duroc)
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Vũ Đình Tôn
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2010
14. Nguyễn Văn Thiện (1995). Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
16. Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008). Khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc. L19 với nái F1(L x Y) và F1(Y x L) nuôi tại Vĩnh Phúc. Tạp chí khoa học và phát triển 2008. 05 (6). tr. 537 – 541 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc. L19 với nái F1(L x Y) và F1(Y x L) nuôi tại Vĩnh Phúc
Tác giả: Phan Văn Hùng, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2008
19. Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy, Đinh Văn Chỉnh, Nguyễn Chí Thành và Đặng Vũ Bình (2009). Đánh giá năng suất và chất lượng thịt của các con lai giữa đực lai PiDu (Pietrain x Duroc) và nái Landrace hay F1 ( Landrace x Yorkshire). Tạp chí khoa học và phát triển 2009. 07 (4). tr. 484 – 490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất và chất lượng thịt của các con lai giữa đực lai PiDu (Pietrain x Duroc) và nái Landrace hay F1 ( Landrace x Yorkshire)
Tác giả: Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy, Đinh Văn Chỉnh, Nguyễn Chí Thành, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2009
21. Phùng Thị Vân, Hoàng Hương Trà, Trương Hữu Dũng (2000). Nghiên cứu khả năng cho thịt của lợn lai D(LY) và D(YL) và ảnh hưởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt của lợn ngoại có tỷ lệ nạc > 52%. Tạp chí Khoa học công nghệ và quản lý KT. (9). tr. 397 - 398 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng cho thịt của lợn lai D(LY) và D(YL) và ảnh hưởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt của lợn ngoại có tỷ lệ nạc > 52%
Tác giả: Phùng Thị Vân, Hoàng Hương Trà, Trương Hữu Dũng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học công nghệ và quản lý KT
Năm: 2000
24. Trần Kim Anh (2000). Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn. Chuyên san chăn nuôi lợn. Hội Chăn nuôi Việt Nam. tr. 94 - 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Kim Anh
Nhà XB: Chuyên san chăn nuôi lợn
Năm: 2000
26. Từ Quang Hiển và Lương Nguyệt Bích (2005). Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái giống Landrace. Yorkshire và nái lai YL nuôi tại trại chăn nuôi Tân Thái tỉnh Thái Nguyên. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về chăn nuôi.NXB Nông nghiệp. Hà Nội. tập I. tr. 256 - 278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái giống Landrace. Yorkshire và nái lai YL nuôi tại trại chăn nuôi Tân Thái tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Từ Quang Hiển, Lương Nguyệt Bích
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
28. Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010). Năng suất sinh sản. sinh trưởng và chất lượng thân thịt của các tổ hợp lợn lai giữa nái F1( Landrace x Yorkshire) và đực giống Duroc và Landrace nuôi tại Bắc Giang. Tạp chí khoa học và phát triển 2010. 09 (02). tr. 397 - 398.2. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản. sinh trưởng và chất lượng thân thịt của các tổ hợp lợn lai giữa nái F1( Landrace x Yorkshire) và đực giống Duroc và Landrace nuôi tại Bắc Giang
Tác giả: Vũ Đình Tôn, Nguyễn Công Oánh
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2010
32. Blasco A., J. P. Binadel and C. S. Haley (1995). Genetic and neonatal survial. The neonatal pig Development and survial. Valey M.A. (Ed). CAB International.Wallingford. Oxon. UK. pp. 17-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The neonatal pig Development and survial
Tác giả: Blasco A., J. P. Binadel, C. S. Haley
Nhà XB: CAB International
Năm: 1995
33. Buczyncki J. T., K. Szulc, E. Fajfer and A. Panek (1998). The results of crossbreeding Zlotniki WhitePolish LW sows with P, PPolish L or PZloniki Pied boar, Animal Breeding Abstracts. Vol. 66 (12). pp. 8317 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The results of crossbreeding Zlotniki WhitePolish LW sows with P, PPolish L or PZloniki Pied boar
Tác giả: Buczyncki J. T., K. Szulc, E. Fajfer, A. Panek
Nhà XB: Animal Breeding Abstracts
Năm: 1998
35. Choi J. G, G., J Jbon, J. H. Lee, D. H. Kim and J. B. Kim J.B (1997). Estimation of environmental effects on carcass traits in pigs . Animal Breeding Abstracts. Vol 65 (11). pp. 6005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimation of environmental effects on carcass traits in pigs
Tác giả: Choi J. G, J Jbon, J. H. Lee, D. H. Kim, J. B. Kim
Nhà XB: Animal Breeding Abstracts
Năm: 1997
37. Colin T and Whittemore (1998). The science and practice of pig production. Second Edition. Blackwell Science Ltd. pp. 91-130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The science and practice of pig production
Tác giả: Colin T, Whittemore
Nhà XB: Blackwell Science Ltd
Năm: 1998
38. Cozler Y. Le., M. Neil, E. Ringmar Cederberg and J. Y. Dourmad (2000). Effect of feeding level during reaing and mating strategy on performances of first and second litter sows. Animal Breeding Abstracts. Vol 68 (12). pp. 7557 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of feeding level during reaing and mating strategy on performances of first and second litter sows
Tác giả: Cozler Y. Le., M. Neil, E. Ringmar Cederberg, J. Y. Dourmad
Nhà XB: Animal Breeding Abstracts
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng thức ăn - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Bảng 3.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng thức ăn (Trang 42)
Bảng 4.1. Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của nái F1(YL) và F1(LY) - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Bảng 4.1. Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của nái F1(YL) và F1(LY) (Trang 49)
Hình 4.1. So sánh số con sơ sinh/ổ, số con còn sống/ổ, số con cai sữa/ổ khi - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.1. So sánh số con sơ sinh/ổ, số con còn sống/ổ, số con cai sữa/ổ khi (Trang 60)
Bảng 4.5. Năng suất sinh sản theo tổ hợp lai - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Bảng 4.5. Năng suất sinh sản theo tổ hợp lai (Trang 61)
Hình 4.3. Số con sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con cai sữa/ổ của các tổ hợp lai - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.3. Số con sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con cai sữa/ổ của các tổ hợp lai (Trang 62)
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản theo lứa đẻ - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản theo lứa đẻ (Trang 63)
Bảng 4.7. Năng suất sinh sản theo năm - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Bảng 4.7. Năng suất sinh sản theo năm (Trang 66)
Hình 4.5. Số con sơ sinh, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.5. Số con sơ sinh, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa (Trang 67)
Bảng 4.8. Năng suất sinh sản theo mùa vụ - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Bảng 4.8. Năng suất sinh sản theo mùa vụ (Trang 68)
Hình 4.6. Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.6. Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ (Trang 69)
Hình 4.7. Số lứa đẻ/nái/năm qua các năm - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.7. Số lứa đẻ/nái/năm qua các năm (Trang 71)
Hình 4.10. Tỷ lệ các khoản chi trung bình trong 3 năm - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.10. Tỷ lệ các khoản chi trung bình trong 3 năm (Trang 74)
Bảng 4.14. Hạch toán kinh tế của 1 nái/năm và của 1 lợn con cai sữa - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Bảng 4.14. Hạch toán kinh tế của 1 nái/năm và của 1 lợn con cai sữa (Trang 76)
Hình 4.12. Hạch toán kinh tế của 1 nái/năm qua các năm 2013, 2014, 2015 - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.12. Hạch toán kinh tế của 1 nái/năm qua các năm 2013, 2014, 2015 (Trang 77)
Hình 4.13. Hạch toán kinh tế của 1 lợn con cai sữa - năng suất sinh sản của lợn nái lai f1 (landrace x yorkshire), f1 (yorkshire x landrace) phối với đực duroc và pidu nuôi tại công ty tnhh lợn giống dabaco
Hình 4.13. Hạch toán kinh tế của 1 lợn con cai sữa (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w