1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ảnh hưởng chế độ nuôi dưỡng đến sức sản xuất của lợn nái hậu bị (landrace x yorkshire) và (yorkshire x landrace) trong điều kiện chăn nuôi trang trại

77 461 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của chế độ ăn đến năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace được nuôi tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ở lứa thứ nhất .... Ảnh hư

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGỤY THỊ VÂN

ẢNH HƯỞNG CHẾ ĐỘ NUÔI DƯỠNG

ĐẾN SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI HẬU BỊ

(LANDRACE x YORKSHIRE) VÀ

(YORKSHIRE x LANDRACE) TRONG ĐIỀU KIỆN

CHĂN NUÔI TRANG TRẠI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được làm rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Ngụy Thị Vân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Trần Thị Bích Ngọc, bộ môn Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ chăn nuôi - Viện chăn nuôi Việt Nam; thầy giáo TS Phạm Kim Đăng, bộ môn Sinh lý và tập tính động vật khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Bộ môn Sinh

lý và tập tính động vật đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Lời cảm ơn chân thành của tôi xin được gửi tới các bác, các cô, các chú trong trại lợn giống ngoại tại Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã hợp tác và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới, gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày tháng năm 2016 Tác giả luận văn

Ngụy Thị Vân

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái ngoại ở Việt Nam 3

2.2 Nhu cầu năng lượng và protein của lợn 4

2.2.1 Nhu cầu năng lượng 4

2.2.2 Nhu cầu Protein và axit amin 10

2.3 Ảnh hưởng của mức năng lượng, protein và axit amin trong khẩu phần ăn của lợn cái hậu bị đến năng suất sinh sản 13

2.4 Ảnh hưởng của chế độ ăn của lợn cái hậu bị đến năng suất sinh sản 17

2.5 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 18

2.5.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 18

2.5.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 22

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24

3.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

3.2 Nội dung nghiên cứu 24

3.3 Phương pháp nghiên cứu 24

Phần 4 Kết quả và thảo luận 30

4.1 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến khả năng sinh trưởng, tuổi thành thục sinh dục và độ dày mỡ lưng ở lợn cái hậu bị LY và YL 30

Trang 5

4.2 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn cái

hậu bị LY và YL 37

4.3 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị YL và LY ở lứa 1 43

4.4 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị YL và LY ở lứa 2 48

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị 54

Tài liệu tham khảo 55

Phụ lục 61

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CCS Số con cai sữa

CĐ Chế độ

cs Cộng sự

CSS Số con sơ sinh

CSSS Số con sơ sinh còn sống

KLBĐ Khối lượng bắt đầu

KLCS Khối lượng cai sữa

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng lợn và sản lượng thịt lợn hơi của Việt Nam giai đoạn

2011 - 2014 3

Bảng 2.2 Cơ cấu đàn nái trong tổng đàn giai đoạn 2006 - 2014 4

Bảng 2.3 Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con 5

Bảng 2.4 Nhu cầu protein và axit amin lợn con 11

Bảng 2.5 Ảnh hưởng của mức ăn trước kỳ động dục tới số lượng trứng rụng (Hughes và Vanley, 1980) 14

Bảng 2.6 Ảnh hưởng mức ăn trước thời kỳ động dục tới số lượng trứng rụng (Huges và Vanley 1980) 15

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 25

Bảng 3.2 Khẩu phần ăn cho lợn cái hậu bị nuôi tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 26

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến khả năng sinh trưởng, tuổi thành thục sinh dục và độ dày mỡ lưng ở lợn cái hậu bị Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace ở trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 32

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến khả năng sinh trưởng, tuổi thành thục sinh dục và độ dày mỡ lưng ở lợn cái hậu bị Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace ở trại lợn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 34

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn cái hậu bị Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 38

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn cái hậu bị Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace tại trại lợn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 40

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace được nuôi tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ở lứa thứ nhất 45

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace được nuôi tại trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An ở lứa thứ nhất 46

Trang 8

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị

Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace được nuôi tại trại

lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ở lứa thứ hai 48 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị

Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace được nuôi tại trại

lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An ở

lứa thứ hai 50

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Khối lượng phối giống lần đầu và khối lượng động dục lần đầu của

lợn cái hậu bị ở trại lợn Thái Nguyên 33

Biểu đồ 4.2 Khối lượng phối giống lần đầu và khối lượng động dục lần đầu của lợn cái hậu bị ở trại lợn Nghệ An 33

Biểu đồ 4.3 Tốc độ sinh trưởng của lợn cái hậu bị ở trại lợn Thái Nguyên 36

Biểu đồ 4.4 Tốc độ sinh trưởng của lợn cái hậu bị ở trại lợn Nghệ An 36

Biểu đồ 4.5 Tiêu tốn thức ăn của lợn cái hậu bị ở trại lợn Thái Nguyên 39

Biểu đồ 4.6 Tiêu tốn thức ăn của lợn cái hậu bị ở trại lợn Nghệ An 39

Biểu đồ 4.7 Lượng Protein ăn vào hàng ngày của lợn cái hậu bị ở trại lợn Thái Nguyên 41

Biểu đồ 4.8 Lượng Protein ăn vào hàng ngày của lợn cái hậu bị ở trại lợn Nghệ An 41

Biểu đồ 4.9 Năng lượng trao đổi ăn vào hàng ngày của lợn cái hậu bị ở trại lợn Thái Nguyên 42

Biểu đồ 4.10 Năng lượng trao đổi ăn vào hàng ngày của lợn cái hậu bị ở trại lợn Nghệ An 42

Biểu đồ 4.11 Khối lượng lợn con sơ sinh và lợn con cai sữa trên 1 ổ ở lứa 1 tại trại lợn Thái Nguyên 44

Biểu đồ 4.12 Khối lượng lợn con sơ sinh và lợn con cai sữa trên 1 ổ ở lứa 1 trại lợn Nghệ An 44

Biểu đồ 4.13 Tiêu tốn thức ăn trên 1 kg lợn con cai sữa ở lứa 1 tại trại lợn Thái Nguyên 47

Biểu đồ 4.14 Tiêu tốn thức ăn trên 1 kg lợn con cai sữa ở lứa 1 tại trại lợn Nghệ An 47

Biểu đồ 4.15 Khối lượng lợn con sơ sinh và lợn con cai sữa trên 1 ổ ở lứa 2 tại trại lợn Thái Nguyên 49

Biểu đồ 4.16 Khối lượng lợn con sơ sinh và lợn con cai sữa trên 1 ổ ở lứa 2 tại trại lợn Nghệ An 49

Biểu đồ 4.17 Tiêu tốn thức ăn trên 1 kg lợn con cai sữa ở lứa 2 tại trại lợn Thái Nguyên 51

Biểu đồ 4.18 Tiêu tốn thức ăn trên 1 kg lợn con cai sữa ở lứa 2 tại trại lợn Nghệ An 51

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Ngụy Thị Vân

Tên luận văn: Ảnh hưởng chế độ nuôi dưỡng đến sức sản xuất của lợn nái hậu bị (Yorkshire x Landrace) và (Landrace x Yorkshire) trong điều kiện chăn nuôi trang trại

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành trên 144 lợn cái hậu bị YL và LY nuôi tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ tháng 10/2014- 3/2016 Tại mỗi trại chăn nuôi, 36 lợn hậu bị của mỗi giống được phân ngẫu nhiên thành 03 lô thí nghiệm, mỗi lô 12 con tương ứng với 04 lần lặp Trong giai đoạn từ khi bắt đầu thí nghiệm (30 kg) cho đến 80 kg, lợn cái hậu bị ở các lô được cho ăn tự do bằng thức ăn của lợn choai (giai đoạn 30-50kg) và thức ăn của lợn nái hậu bị (giai đoạn 50-80kg) Từ 81 kg đến 10 ngày trước phối giống lần đầu lợn ở các lô được ăn như sau: Lô 1: ăn tự do; lô 2: ăn hạn chế 90% so với ăn tự do; lô 3: ăn hạn chế 80% so với ăn tự do Khẩu phần thức ăn cho các giai đoạn được xây dựng theo khuyến cáo của NRC (1998)

Các chỉ tiêu theo dõi: Khối lượng cơ thể, tăng trọng hàng ngày, lượng thức ăn ăn vào; tiêu tốn thức ăn; độ dày mỡ lưng Tuổi động dục lần đầu; tuổi phối giống lần đầu;

tỷ lệ thụ thai; ngày động dục trở lại Năng suất sinh sản: số con sơ sinh còn sống/ổ; khối lượng con sơ sinh còn sống/ổ; số con và khối lượng con cai sữa/ổ

Các số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp phân tích phương sai ANOVA-GLM bằng phần mềm Minitab phiên bản 14.0

Kết quả chính và kết luận

- Khối lượng phối giống lần đầu, tốc độ tăng trưởng, tuổi phối giống lần đầu và

độ dày mỡ lưng ở cả hai giống lợn bị ảnh hưởng rõ rệt bởi chế độ ăn trong điều kiện chăn nuôi tại hai trại thí nghiệm Theo đó, hạn chế lượng thức ăn làm giảm khối lượng cơ thể khi động dục lần đầu, tăng tuổi phối giống lần đầu và giảm độ dày mỡ lưng Tính trung bình cho cả 2 giai đoạn, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng của lô ăn hạn chế 90% và lô ăn hạn

Trang 11

chế 80% thấp hơn so với ăn đối chứng Hiệu quả sử dụng thức ăn không có sự khác biệt giữa giống lợn YL và LY

- Tại 2 trại thí nghiệm, ở cả lứa 1 và lứa 2 khối lượng lợn con cai sữa tính cho một ổ

ở nhóm lợn ăn hạn chế 90% cao hơn so với nhóm lợn ăn tự do và hạn chế 80%, tiêu tốn thức ăn (kg TA/kg lợn con cai sữa) thấp nhất thấy ở nhóm lợn được cho ăn hạn chế 90% Như vậy, có thể thấy rằng nuôi dưỡng lợn cái hậu bị ở mức ăn hạn chế 90% là hợp lý

Như vậy, rút ra kết luận là: Năng suất sinh sản ở lứa 1 và 2 không có sự sai khác giữa hai giống lợn ngoại LY và YL với cùng một chế độ cho ăn

- Chế độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị thích hợp nhất ở cả hai giống LY và YL là như sau: với khẩu phần ăn có mức ME, protein thô và axit amin tiêu hóa (lysine, methionine+cystine và threonine) theo khuyến cáo của NRC (1998), lợn cái hậu bị giai đoạn dưới 80 kg nên cho ăn tự do, giai đoạn từ 80 kg đến 10 ngày trước phối giống nên cho ăn hạn chế 90% (so với khả năng ăn được của lợn khi được ăn tự do) và giai đoạn

10 ngày trước phối giống nên cho ăn tự do

- Mức ăn hàng ngày thích hợp của lợn cái hậu bị giống LY và YL tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An tương ứng là: 2,68 - 2,60 kg TA/con/ngày ở giai đoạn 50 kg đến động dục lần đầu là 2,77 - 2,69 kg TA/con/ngày ở giai đoạn động dục lần đầu đến 10 ngày trước phối giống lần đầu

- Ở trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, khối lượng cơ thể của lợn hậu bị khi động dục lần đầu

và khi phối giống lần đầu cần đạt lần lượt là khoảng 90 - 105 kg và 110-140 kg Độ dày mỡ lưng tại thời điểm phối giống lần đầu khoảng 15 - 18 mm

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguy Thi Van

Thesis title: The effects of feeding regime on the productivity of gilts (Yorkshire x Landrace) and (Landrace x Yorkshire) in farm condition

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives

Ditermination the optimal feeding regime for YL, LY gilts raised in farm condition at Pho Yen Farm, Thai Nguyen province and Dai Phuong Farm, Nghe An province

Materials and Methods

This study was carried out at Pho Yen Farm, Thai Nguyen province and Dai Phuong Farm, Nghe An province with 144 YL and LY gilts from 10/2014 to 3/2016 In each farm, 36 gilts of each breed were randomly distributed to three treatment groups (12 heads/group with 4 replicates per group) In two first period (30-50kg) and (51-80kg) all gilts were fed ad libitum In the experiment priod (81 kg to 10 day before the first mating), pigs in group 1: fed ad libitum; Pigs in group 2: fed 90% compared with the amount of intake in group 1; Pigs in group 3: Fed 80% compared with the amount of intake in group 1 The diets were formulated according to NRC (1998) recomendation for gilts

Measurements: Growth rate, Feed intake, feed conversion ratio (FCR), the first estrus age, backfat thickness, the first mating age, fertilization rate, time returning estrus Reproduction performance: Total piglet alive, total pigliet weight per litter, total weaning piglet weight per litter and FCR/kg weaning piglet

ANOVA GLM was used to analyzed the experimental data with Minitab software version 14.0

Main results and conclusions

The weight, and age of first mating time, growth rate and backfat thickness in both breed were affected significantly by feeding regime in both farm Accordingly, feed restriction reduced body weight at first estrus, increased first mating age and decreased backfat thickness On average for both periods, FCR of gilts fed limited feed intake were lower than gilts fed ad libitum Feed efficiency did not differ between YL and LY breeds

In both farm, in the first two litters, total weaning piglet weight per litter in gilts fed 90% feed restriction was highest and FCR per kg weaning piglet was lowest

Trang 13

Therefore, the optimal feed statergy was 90% feed restriction

Conclusions:

- The is no difference in reproductive performance in two first litters of LY and

YL with the same dietary

- The most suitable feed regime for both LY and YL gilts was as follow: the diet with ME, crude protein and digestible amino acids (lysine, methionine + cystine and threonine) as recommended NRC (1998), gilts weighed less than 80 kg should be fed add libitum, from 80 kg to 10 days before mating should be fed limited 90 % (compared with fed ad libitum)

- The suitable feed intake of LY and YL gilts at Pho Yen Farm, Thai Nguyen province and Dai Phuong Farm, Nghe An province: 2,68 - 2,60 kg/head/day from 50 kg

to first estrus; 2,77 - 2,69 kg/ head/day from the first estrus period to 10 days before the first mating

- At Pho Yen Farm, Thai Nguyen province and Dai Phuong Farm, Nghe An province, the weight of first estrus and first mating should be 90-105 kg and 110-140

kg, respectively Backfat thickness at the first mating should be 15-18 mm

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu báo cáo của Cục Chăn nuôi (2014), tổng đàn lợn đạt trên 26,7 triệu con, tăng bình quân 0,04%/năm, giảm 17,88% so với kế hoạch giai đoạn năm 2011- 2015 Trong tổng số sản phẩm thịt của ngành chăn nuôi năm

2014 thì thịt lợn chiếm tương ứng khoảng 74% tổng sản lượng thịt hơi Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2014 đạt 3,28 triệu tấn tăng 1,2% so với năm 2013 (đạt 3,22 triệu tấn) và 3,0% so với năm 2012 (đạt 3,16 triệu tấn) và tăng trưởng sản lượng bình quân 2,1%/năm Có được tăng trưởng như vậy là nhờ chất lượng lợn giống đã được cải thiện đáng kể trong thời gian qua Nhiều giống mới có năng suất và chất lượng thịt cao đã được nhập khẩu vào Việt Nam Năm 2014, tổng số lợn nái trong cả nước khoảng 3,914 triệu con và đàn lợn nái ngoại là 849 ngàn con chiếm khoảng 21,7% tổng đàn nái Với xu hướng phát triển chăn nuôi lợn ngoại như vậy thì việc nghiên cứu chế độ ăn phù hợp cho các nhóm giống lợn ngoại nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế xã hội là rất cần thiết

Việc xác định các mục tiêu năng suất sinh sản là điều quan trọng trong chăn nuôi lợn nái Theo Julian (2001), mục tiêu thứ nhất là phải đạt được 2,4 lứa/nái/năm, mỗi chu kỳ bao gồm 116 ngày mang thai, 18 - 28 ngày nuôi con, khoảng cách từ lúc cai sữa đến phối giống lại thành công là 6 - 9 ngày Mục tiêu thứ hai là số lợn con cai sữa/nái/lứa là 10,5 (số lợn con sinh ra là 11) đối với lợn nái đẻ trên 1 lứa và 10 (số lợn con sinh ra là 10,5) đối với nái hậu bị Như vậy, mỗi con lợn nái sẽ đạt khoảng 24,5 lợn con cai sữa/năm và năng suất cho vòng đời lợn nái trung bình là 60 lợn con cai sữa và độ tuổi loại thải tối thiểu là 3 năm Tuy nhiên, những mục tiêu này rất khó đạt được là vì tỷ lệ loại thải lợn nái ở hầu hết các trang trại không nhỏ vào khoảng 30 - 50% (Thacker, 1999; Young, 2003), trong số đó khoảng 45 - 50% lợn hậu bị bị loại thải sau lứa đẻ thứ nhất và 35% ở lứa đẻ thứ hai (Lucia et al., 2000; Julian, 2001) Lý do loại thải này chủ yếu vì sau lứa đẻ thứ nhất lợn hậu bị không biểu hiện động dục và không có chửa Điều này dẫn đến kết quả là đàn nái hậu bị thay thế chiếm một tỷ lệ đáng kể trong đàn lợn giống và bất kỳ sự cải tiến nào về khả năng sinh sản của chúng đều ảnh hưởng lớn

Trang 15

đến năng suất sinh sản của toàn đàn Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn nái cơ bản, chế độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị từ khi chọn lọc đến lần phối giống đầu tiên đóng một vai trò rất quan trọng, bởi vậy chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn hậu bị thay thế cần được chú ý và quan tâm

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nuôi dưỡng lợn cái hậu bị nhưng vẫn còn nhiều tranh luận, đặc biệt về vấn đề nuôi lợn cái hậu bị theo chế

độ ăn tự do hay ăn hạn chế? Xuất phát từ thực tiễn việc tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng chế độ nuôi dưỡng đến sức sản xuất của lợn nái hậu bị (Yorkshire x Landrace) và (Landrace x Yorkshire) trong điều kiện chăn nuôi trang trại” là rất cần thiết

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Xác định chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho lợn cái hậu bị YL, LY trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI NGOẠI Ở VIỆT NAM

Việt Nam là nước có truyền thống lâu đời về chăn nuôi lợn và nằm trong

số 10 nước có số đầu lợn lớn nhất thế giới Kết quả công bố của Tổng cục Thống

kê cho thấy số lượng đàn lợn từ năm 2010 đến năm 2014 có sự tăng trưởng hằng năm nhưng không nhiều dao động trong khoảng từ 26,26 - 27,37 triệu con Như vậy, có thể thấy rằng đàn lợn Việt Nam đang có xu hướng duy trì ổn định về mặt

xu hướng giảm dần từ 77,2% năm 2006 giảm xuống còn 66,0% năm 2014

Hiện nay, trên cả nước có 4.293 trang trại chăn nuôi lợn, sản lượng thịt từ các trang trại đạt khoảng 40 – 45% tổng sản lượng thịt hơi trên thị trường Chăn nuôi lợn trang trại đang ngày một phát triển, dần thể hiện vai trò của chăn nuôi hiện đại Rất nhiều trang trại lớn với quy mô hàng ngàn nái hiện đã và đang xuất hiện ngày một nhiều Chăn nuôi trang trại chính là loại hình then chốt giúp thúc đẩy nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn do được đầu tư lớn về chuồng trại, con giống, kỹ thuật Chăn nuôi nông hộ còn khoảng 4 triệu hộ Cùng với sự phát triển chăn nuôi nông hộ có xu hướng giảm dần

Trang 17

Bảng 2.2 Cơ cấu đàn nái trong tổng đàn giai đoạn 2006 - 2014

Tỷ lệ trong tổng đàn (%)

Số lượng con (1000 con)

Tỷ lệ trong tổng đàn (%)

Số lượng con (1000 con)

Tỷ lệ trong tổng đàn (%)

Theo định hướng Đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi đến năm 2020 đã được

Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt, chăn nuôi nông hộ phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp, có kiểm soát, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, an toàn sinh học, giảm thiểu môi trường Đóng góp của phương thức chăn nuôi trang trại năm 2020

là đối với lợn số lượng đầu con có xu hướng tăng từ 30% đến 52%, sản lượng thịt

từ 40% tăng lên 60% Chăn nuôi lợn chuyển dịch theo hướng tăng trưởng nóng sang hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả chăn nuôi Theo dự kiến kế hoạch những năm tới, cơ cấu đàn giống, tỷ lệ nái ngoại chiếm 19,8% năm 2013 tăng lên khoảng 30% năm 2020

2.2 NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN CỦA LỢN

2.2.1 Nhu cầu năng lượng

* Nhu cầu năng lượng của lợn con

Sinh trưởng của lợn con chủ yếu là sinh trưởng mô nạc Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con được quyết định bởi tốc độ sinh trưởng mô nạc Hai yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của lợn con là năng lượng

và protein (axit amin) (Bùi Quang Tuấn và Đặng Thúy Nhung, 2002) Để có cơ

Trang 18

sở bổ sung năng lượng cho lợn con cần căn cứ vào mức năng lượng được cung cấp từ sữa mẹ và nhu cầu của lợn con, từ đó quyết định mức bổ sung cho lợn con Theo tác giả Lucac (1982) thì mức năng lượng cần bổ sung qua các giai đoạn cho lợn con như sau:

Bảng 2.3 Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con

Tuần

tuổi Khối lượng

Năng lượng tiêu hóa hàng ngày của mỗi lợn (Kcal)

Lợn con sau cai sữa với khối lượng khoảng từ 5 – 15 kg, lượng thức ăn thu nhận được xác định như sau (NRC, 1998):

Nguyễn Thị Lương Hồng và cs (2003) khi nghiên cứu về mức năng lượng

và protein thích hợp cho lợn con sau cai sữa cho biết, đàn lợn con ngoại thuần ở giai đoạn sau cai sữa có tốc độ sinh trưởng cao nhất khi ăn khẩu phần có mức năng lượng 3300 và 3400 Kcal ME/kg (14 MJ DE/kg); tốc độ sinh trưởng của lợn đạt cao khi khẩu phần có mức năng lượng 14 MJ DE/kg

* Nhu cầu năng lượng của lợn đang sinh trưởng

Năng lượng cung cấp cho lợn đang sinh trưởng bao gồm cho sự duy trì cơ thể, cho sự tăng trọng hàng ngày và dùng để duy trì thân nhiệt trong môi trường lạnh Để tính toán nhu cầu năng lượng thì chúng ta thừa nhận một số thông số sau:

Trang 19

- Năng lượng trao đổi (ME) = 95% năng lượng tiêu hóa (DE) (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2003)

- Mô cơ có 77% nước

- Mô mỡ có 10% nước

thiết cho các chức năng của cơ thể và những hoạt động thiết yếu Những nhu cầu này thường được biểu thị trên cơ sở khối lượng trao đổi của cơ thể khối lượng

được đề nghị là 0,67 (Heusner 1982); 0,60 (Noblet và cs 1989b); 0,42 (Noblet và

đến 160 Kcal/ngày, phổ biến nhất là từ 100 đến 125 Kcal/ngày Số liệu trung

cs 1980; Wenk và cs 1980; ARC, 1981; Noblet và Le Dividich, 1982; Campbell

và Denkin, 1983; Close và Stanier, 1984; Mc Nutt và Ewan, 1984, Gadeken và

cs, 1985; Noblet và cs, 1985), số này tương đương với 110 Kcal DE/kg Whittemore (1983) đưa ra mô hình có thể tính chính xác hơn:

bằng kg

Theo báo cáo của Robles và Ewan (1982), nhu cầu NE hàng ngày cần để

6,8 đến 14,0 Mcal ME/kg, trung bình là 10,6 Mcal/kg (Tess và cs, 1984) Các

Mcal ME/kg (Tess và cs 1984) Mặc dù năng lượng tiêu tốn cho tích lũy nạc và

mỡ tương đối gần nhau (Wenk và cs, 1980), nhưng trong 1kg thịt nạc chỉ chứa 20 – 23% protein, trong khi đó 1 kg thị mỡ có tới 80 – 95% mỡ Vì vậy, năng lượng dùng cho tích lũy nạc thấp hơn rất nhiều so với tích lũy mỡ

* Nhu cầu năng lượng của lợn nái sinh sản

Theo Vũ Duy Giảng (2010), lợn nái sinh sản có hai giai đoạn quan trọng

là mang thai và tiết sữa nuôi con Có những yêu cầu nuôi dưỡng hoàn toàn khác nhau cho mỗi giai đoạn:

Trang 20

- Giai đoạn mang thai cần cho ăn với một số lượng thức ăn hợp lý để lợn không quá béo trước khi vào đẻ

- Giai đoạn tiết sữa nuôi con cần cho lợn mẹ ăn được một lượng thức ăn tối đa để lượng sữa tiết được nhiều nhất, giúp lợn con khỏe mạnh và tăng trưởng tốt nhất

Trong giai đoạn nái mang thai nếu cho ăn nhiều thì lợn sẽ quá béo Lợn giai đoạn này quá béo, nhất là trước khi vào đẻ sẽ có nhiều tác hại Trước hết là lợn giảm ăn khi vào giai đoạn tiết sữa nuôi con, dù thức ăn lúc nào cũng đầy máng, chúng cũng ăn ít, thức ăn bỏ lại nhiều; ăn ít thì cơ thể hao mòn nhiều Sữa

ít thì sức lớn của lợn con giảm, khối lượng cai sữa thấp Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp có quan hệ với tăng trưởng sau này của lợn nuôi thịt Người

ta đã tính rằng khối lượng cai sữa giảm 1 kg so với bình thường thì để đạt khối lượng xuất bán (90 kg) phải tốn thêm 10 ngày nuôi nữa, nhưng khối lượng cai sữa tăng 1 kg thì sẽ giảm được 10 ngày nuôi để đạt khối lượng xuất bán (Vũ Duy Giảng, 2010)

Lợn mẹ hao mòn cơ thể nhiều thì làm cho thời gian chờ phối (số ngày từ khi cai sữa lợn con cho đến khi phối giống trở lại) kéo dài ra Vũ Duy Giảng,

2010 khi nghiên cứu trên lợn mẹ đang tiết sữa nuôi con cho biết: nếu hao cơ thể lợn mẹ trong thời kỳ này là 20 - 25 kg thì thời gian phối giống trở lại nằm trong khoảng 5 - 7 ngày, nhưng nếu hao mòn cơ thể lợn mẹ là 30 - 35 kg thì thời gian phối giống trở lại kéo dài tới 10 - 15 ngày Thời gian chờ phối càng kéo dài thì càng làm giảm số lứa đẻ của lợn nái trong năm

Tuy nhiên, trong giai đoạn mang thai nếu cho ăn quá ít thì cũng không tốt, lợn mẹ sẽ gầy yếu, con đẻ ra có khối lượng sơ sinh thấp Khối lượng sơ sinh của lợn con có quan hệ với khối lượng lợn cai sữa Theo tính toán nếu khối lượng

sơ sinh giảm hơn bình thường 100 g thì khối lượng cai sữa cũng sẽ giảm 200 g, ngược lại khối lượng sơ sinh cao hơn bình thường 100 g thì khối lượng cai sữa cũng sẽ tăng 200 g (Vũ Duy Giảng, 2010)

* Nhu cầu năng lượng cho nái chửa

Nhu cầu thức ăn và năng lượng cho nái chửa là rất khác nhau và phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, mức tăng trọng và thời gian chửa, các điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc khác nhau Aherne and Kirwood (1985), gợi ý rằng nái chửa cần được chăm sóc tốt và cho ăn sao cho cơ thể lợn mẹ có thể tăng trọng được 25 kg

Trang 21

trong thời gian chửa đối với ít nhất 3 đến 4 lứa đầu Khối lượng của nhau thai và các chất khác trong bào thai phải đạt khoảng 20 kg, như vậy tổng khối lượng cơ thể tăng lên trong thời gian có chửa là 45 kg (Noblet et al., 1990) Để đạt được khối lượng tăng lên của cơ thể mẹ và bào thai như trên, nói chung phải cung cấp

6 McalME/ngày và không ảnh hưởng gì đến số con đẻ ra cũng như tăng trọng lợn

mẹ (Elsley, 1973; ARC, 1981)

Lợn nái trong thời kỳ có chửa nhu cầu năng lượng hàng ngày là tổng nhu cầu năng lượng cho duy trì, cho tích lũy protein, tích lũy mỡ và điều hòa thân nhiệt Nhu cầu năng lượng duy trì hàng ngày cho lợn nái chửa được tính bằng

Dựa trên số liệu của Beyer và cs (1994) các sản phẩm thụ thai gắn liền với mỗi bào thai ước chừng nặng 2,28 kg và chứa 246 g protein Lượng tăng trọng còn lại ở nái chửa là lượng tăng trọng cơ thể mẹ, bao gồm cả nạc và mô mỡ Theo dữ liệu của Beyer và cs (1994), phần mô mỡ này được tính toán như sau:

Mô mỡ tích lũy = - 9,08 + (0,638 x MG) với MG là khối lượng tăng của

cơ thể lợn mẹ (kg)

Tổng lượng protein và mỡ tích lũy hàng ngày được tính toán với giả thiết thời gian chửa là 115 ngày Tiêu hao năng lượng cho tích lũy protien được giả định là 10,6 Kcal/ME/g và cho tích lũy mỡ là 12,5 Kcal ME/g Nhu cầu năng lượng hàng ngày cho mỗi bào thai là 35,8 Kcal ME (NRC, 1998)

Ở môi trường lạnh, lợn nái đòi hỏi được bổ sung một lượng năng lượng Trong

toán, một lợn nái với khối lượng khi chửa trung bình là 200kg mỗi ngày sẽ cần một

Như vậy tổng nhu cầu ME hàng ngày là tổng nhu cầu cho duy trì, cho tích lũy thịt, cho bào thai và cho điều chỉnh thân nhiệt Nhu cầu DE được tính bằng nhu cầu ME/0,96

Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2003 cũng cho biết nhu cầu năng lượng cho lợn nái chửa được xác định như sau:

Nhu cầu năng lượng = năng lượng duy trì + năng lượng cho phát triển cơ thể mẹ + năng lượng phát triển cho bào thai và các tổ chức có liên quan

Trang 22

Năng lượng duy trì = 0,5 MJDE x W0,75

Nhu cầu cho sự phát triển cơ thể mẹ phụ thuộc vào sự tăng trọng của cơ thể

mẹ trong giai đoạn có chửa Trung bình trong giai đoạn có chửa lợn mẹ tăng trọng 20kg Để tăng trọng 1kg khối lượng cơ thể cần cung cấp 26 MJDE từ thức ăn Nhu cầu cho sự phát triển cơ thể mẹ và các tổ chức liên quan có thể dùng phương pháp tính: 80 ngày chửa đầu thai còn bé, nhu cầu đó không đáng kể, nên chủ yếu tính cho 34 ngày chửa cuối Từ 80 ngày có chửa trở đi nhu cầu cho sự phát triển bào thai và các tổ chức có liên quan cộng với nhu cầu duy trì được tính gộp bằng 0,611

Lợn nái được ăn tự do trong thời gian chửa sẽ ăn vào lượng năng lượng nhiều hơn mức cần thiết cho duy trì và nuôi dưỡng bào thai, điều này làm cơ thể

mẹ tích lũy mỡ và protein nhiều hơn Vì năng lượng ăn vào và khối lượng cơ thể tăng trong thời gian chửa nên năng lượng ăn vào và khối lượng cơ thể khi nuôi con lại giảm (Baker et al., 1969; Brook and Smith, 1980, William et al., 1985)

Vì vậy cần hạn chế năng lượng trong giai đoạn chửa để kiểm soát tăng trọng

* Nhu cầu năng lượng của nái nuôi con

Nhu cầu năng lượng hàng ngày của nái nuôi con bao gồm nhu cầu cho duy

nái chửa nhu cầu năng lượng cho duy trì hàng ngày của nái nuôi con được tính

Nhu cầu năng lượng cho tiết sữa có thể được ước tính dựa trên tốc độ phát tiển của lợn con đang bú và số lượng lợn con trong đàn (Noblet and Etienne, 1989):

Năng lượng tiết sữa = (4,92 x ADG x số con) – (90 x số con) trong đó năng lượng tiết sữa là Kcal, năng lượng thô GE/ngày, ADG là tỷ lệ tăng trọng trung bình của lợn con trong giai đoạn bú (g/ngày), số con là số lợn con trong lứa Giả sử rằng hiệu quả của chuyển hóa năng lượng khẩu phần thành năng lượng tiết sữa là 0,72 (Noblet and Eteinne, 1989), thì có thể biểu diễn như sau:

ME cho sữa = (6,83 x ADG x số con) – (125 x số con)

Nếu năng lượng khẩu phần cung cấp không đủ đáp ứng cho nhu cầu duy trì và tiết sữa, cơ thể sẽ huy động các mô để cung cấp đủ dinh dưỡng cần cho tiết sữa Noblet and Eteinne (1987) đưa ra kết luận rằng hiệu quả chuyển hóa năng lượng cho tiết sữa là 0,88 với nguồn năng lượng chủ yếu từ mỡ

Trang 23

Tác giả Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2003) cho biết, ở nái nuôi con năng lượng của thức ăn đưa vào máu như glucoza và axit béo sẽ được chuyển thành năng lượng sữa ở dạng lactoza và mỡ sữa với mức hiệu quả là 65 - 70%

Sự chuyển hóa năng lượng thức ăn thành mỡ cơ thể đạt 75% Còn hiệu quả của

sự chuyển hóa năng lượng mỡ cơ thể thành năng lượng của sữa đạt 85 - 90% Quá trình chuyển hóa hai lần của năng lượng thức ăn thành năng lượng cơ thể rồi lại chuyển hóa thành năng lượng sữa đạt mức xấp xỉ 65%

Lợn nái nuôi con ở điều kiện chuồng trại nóng hay lạnh đều điều chỉnh năng lượng ăn vào để thích ứng Mô hình này coi nhiệt độ trung bình 24 giờ lý

* Nhu cầu năng lượng của lợn hậu bị

Lợn hậu bị cần được cho ăn tự do cho tới khi được chọn vào đàn giống, với khối lượng cơ thể khoảng 100 kg, cho phép đánh giá được tỷ lệ phát triển và tích lũy nạc Sau khi đã được lựa chọn vào đàn giống, năng lượng ăn vào cần được hạn chế nhằm đạt được khối lượng yêu cầu khi sử dụng làm giống (Wahlstrom, 1991)

Nhu cầu năng lượng cho lợn hậu bị được tính theo năng lượng trao đổi (ME)

Quang Linh, 2005)

MEp bao gồm năng lượng tích lũy tổ chức nạc và năng lượng tích lũy tổ chức mỡ Esley (1956) và Miseman (1986) tính toán năng lượng được tích lũy vào nạc và mỡ như sau: để tích lũy được 1kg tổ chức nạc, cần cung cấp 15 MJ/DE từ thức ăn; để tích lũy được 1kg tổ chức mỡ cần cung cấp 50MJ/DE từ thức ăn

Nguồn cung cấp năng lượng cho lợn nái hậu bị có thể lấy từ cám gạo, bột ngô, bột sắn, bột rễ củ và các phế phụ phẩm khác trong nông nghiệp cũng như trong công nghiệp chế biến thực phẩm

2.2.2 Nhu cầu Protein và axit amin

* Nhu cầu protein, axit amin của lợn con

Cung cấp đủ protein cho lợn con rất quan trọng bởi vì đây là thời kì sinh trưởng rất mạnh của hệ cơ và lượng protein được tích lũy rất lớn Ngoài việc cung

Trang 24

cấp đủ lượng protein trong khẩu phần thức ăn cho lợn con thì cũng cần cân đối axit amin trong khẩu phần Lysine có vai trò quan trọng trong hình thành xương, ảnh hưởng đến tổng hợp các nucleotit, hemoglobin, duy trì trạng thái bình thường của cơ thể Thiếu lysine con vật lười ăn, da khô, giảm khối lượng Số liệu tổng kết một số nghiên cứu gần đây về nhu cầu axit amin cho lợn con (3 – 20 kg) thì tổng nhu cầu lysine được thiết lập là; 5 kg, 1,45%; 10 kg, 1,25%; 15 kg, 1,15%; 20 kg, 1,05% (NRC, 1998)

Bảng 2.4 Nhu cầu protein và axit amin lợn con

Nguồn: Nielsen et al., (1982)

Tôn Thất Sơn và cs (2010) khi nghiên cứu ảnh hưởng của 3 mức Lysine (1,6%; 1,5%, 1,4%) trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng của lợn con từ 7- 28 ngày đã cho biết mức protein 23% và lysine 1,5 % cho khối lượng lợn con cao nhất Theo Cole (1985) khẩu phần cho lợn con cai sữa tới lúc đạt 50kg có mức lysine 0,9% và protein thô 18,5% là thích hợp nhất

Tốc độ sinh trưởng của lợn con rất nhanh nên đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao Lê Hồng Mận (2002) cho biết nhu cầu protein bổ sung cho lợn con 10 -12 ngày tuổi là 12g/con/ngày; 20 – 30 ngày là 24g/con/ngày; 30 – 45 ngày tuổi là 30g/con/ngày; 45 – 60 ngày tuổi là 40g/con/ngày Việc xác định được nhu cầu dinh dưỡng của lợn con là cơ sở để tính toán cân đối các loại nguyên liệu để có được khẩu phần phù hợp với các giai đoạn của lợn con

* Nhu cầu protein, axit amin của lợn nái chửa

Nhu cầu protein, axit amin ở nái chửa phụ thuộc vào nhu cầu cho duy trì, tổng hợp protein cho cơ thể mẹ và tổng hợp protein cho bào thai Theo theo Whittemore (1998), lượng protein tích lũy ở tử cung lợn mẹ trong giai đoạn chửa

Trang 25

Ngoài ra khi nuôi lợn nái có chửa cần cung cấp lượng protein cho sự phát triển tuyến vú Whittemore (1984) cho biết, nhu cầu protein cho sự phát triển tuyến vú là rất ít, nhu cầu này cực đại khoảng 10 g/ngày ở giai đoạn gần

t là ngày có chửa)

Như vậy nhu cầu protein cho phát triển bào thai và các tổ chức liên quan

sẽ được tính toán như sau: khối lượng sơ sinh cả ổ là 10 – 12 kg, khối lượng màng nhau, màng ối 2,5 kg, tử cung mẹ là 3 kg, tuyến vú khoảng 2 kg Tổng tăng trọng 18 kg (protein tích lũy 2,2 kg) Nhưng chủ yếu ở 34 ngày chửa cuối, do vậy trung bình hàng ngày ở giai đoạn chửa cuối, protein cần tích lũy ở bào thai và các

tổ chức có liên quan là 65 g/ngày

Như vậy nhu cầu protein của lợn nái ở giai đoạn chửa đầu là 60 g + 26 g

= 86 g/ngày Nếu như giá trị sinh học (BV) của protein là 60% và lợn có tỉ lệ tiêu hóa 80%, thì nhu cầu protein cần cung cấp hàng ngày sẽ là 179 g/ngày Ở giai đoạn chửa cuối nhu cầu protein sẽ là 151 g/ngày Vậy theo các chỉ số trên thì lợn cần 236 g/ngày Vậy nên khi cung cấp protein cho lợn nái chửa chúng ta cần phải chú ý đến chất lượng protein, đảm bảo cân bằng axit amin Whittermore (1998) cho biết số lượng các axit amin trong khẩu phần lợn nái chửa như sau: lysine 70g, threonine 45g, methionine + cystine 40g, triptophan 15g, histidine 25g, leucine 75g, isoleucine 40g, valine 50g, tyrosine + phenylalanin 75g Khẩu phần

ăn của lợn có chửa khoảng 12% protein thô có thể đủ cho nhu cầu của lợn nái chửa nhưng tỷ lệ lysine và methionine + cystine phải đảm bảo với mức 5% và 3,5% là tối thiểu

* Nhu cầu protein, axit amin cho lợn nái nuôi con

Để xác định nhu cầu protein cho lợn nái nuôi con cần phải biết sản lượng sữa trung bình/ngày của lợn mẹ, tỷ lệ protein trong sữa, protein duy trì của cơ thể mẹ

Phương pháp xác định protein duy trì cũng tương tự như đối với việc xác định cho lợn nái chửa (Whittermore et al., 1987) Carr and Borman (1982), đề

Nhu cầu protein sản xuất sữa của lợn nái được căn cứ vào hàm lượng protein trong sữa và sản lượng sữa tiết ra hàng ngày để xác định (sữa lợn trung bình 6% protein) Căn cứ vào giá trị sinh học (BV) và tỷ lệ tiêu hóa của protein,

ta sẽ xác định được lượng protein thô trong thức ăn Căn cứ vào lượng thức ăn

Trang 26

cung cấp, xác định được tỷ lệ protein thích hợp trong khẩu phần Có thể thấy nhu cầu protein cho lợn nái nuôi con là rất cao, nếu không cung cấp đủ thì lợn mẹ phải huy động nguồn protein dự trữ trong cơ thể để tạo sữa, hao mòn cơ thể lợn

mẹ sẽ cao, lâu phục hồi lại sức khỏe sau cai sữa Khi bổ sung protein cho lợn nái nuôi con cần chú ý tới chất lượng protein, sự cân bằng axit amin trong khẩu phần Tỷ lệ các axit amin trong khẩu phần có thể như sau: lysine 3,8%, Threonin 2,6%, Methionine + cystine 2,5%, Triptophan 0,8%, Histidine 1,9%, Leucine 6,4%, Isoleucin 4,5%, Valin 4,6%, Tyrosine + Phenylalanin 6,3% (NRC, 1998) 2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC NĂNG LƯỢNG, PROTEIN VÀ AXIT AMIN TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA LỢN CÁI HẬU BỊ ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN

Sinh sản là một quá trình sinh học phức tạp của cơ thể động vật đồng thời cũng là chức năng tái sản xuất của gia súc gia cầm Để tăng cường chức năng này nhằm nâng cao sức sản xuất của đàn gia súc cần nghiên cứu tới các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sản xuất của đực và cái giống, trong đó dinh dưỡng là một nhân tố quan trọng Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất

cả các hoạt động sống của cơ thể, nó đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Lợn nái ngoại khẩu phần ăn thường chiếm từ 15 - 17% protein, tùy thuộc vào thể trạng và các giai đoạn Nếu cung cấp thừa hay thiếu protein đều ảnh hưởng tới sinh sản của lợn nái Nếu thiếu ở giai đoạn mang thai sẽ làm khối lượng sơ sinh thấp, số con đẻ ra ít, thể trạng yếu ớt Ở giai đoạn nuôi con sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa từ đó ảnh hưởng đến khả năng nuôi con của lợn mẹ Nếu cung cấp protein thừa ở giai đoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ thai chết, gây lãng phí protein, không đem lại hiệu quả kinh tế Hàm lượng protein có trong khẩu phần thức ăn tùy thuộc vào từng giai đoạn nuôi dưỡng của lợn nái Theo tiêu chuẩn Việt Nam (1994) thì hàm lượng protein trong thức ăn đối với lợn nái chửa là 14%, đối với nái nuôi con là 16% Tuy nhiên việc cung cấp protein cho lợn nái còn phụ thuộc số con để nuôi và thể trạng của con mẹ Qua nhiều nghiên cứu cho thấy cung cấp protein có nguồn gốc từ động vật năng suất sinh sản của vật nuôi cao hơn so với protein có nguồn gốc từ thực vật

Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao được năng suất sinh sản Nếu cung cấp thừa hay thiếu năng lượng đều không tốt vì nó

Trang 27

ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản của lợn nái Cung cấp thừa năng lượng trong thời gian mang thai sẽ làm cho lợn nái béo gây chết phôi, đẻ khó và sau khi đẻ sẽ kém ăn làm giảm khả năng tiết sữa đặc biệt là sữa đầu, từ đó ảnh hưởng đến sức sống cũng như sự phát triển của đàn con Nếu cung cấp thiếu năng lượng cho lợn nái trong giai đoạn mang thai sẽ làm cho lợn nái quá gầy, không đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển của thai Nếu thiếu trầm trọng có thể dẫn đến tiêu thai, sẩy thai Nhu cầu năng lượng phù hợp cho nái ngoại và lợn nái lai ngoại là 3000 - 3100 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Khẩu phần ăn cho lợn nái chửa kỳ I là 1,8 - 2,5 kg/nái/ngày Lợn nái chửa kỳ II là 2,5 - 3 kg/con/ngày Nái nuôi con trung bình là từ 4,5 - 5 kg/con/ngày

Chu kỳ tính của lợn nái khoảng 19 - 27 ngày (trung bình là 21 ngày) Chu

kỳ tính phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố dinh dưỡng giữ vai trò quan trọng Trong cùng một giống nếu dinh dưỡng đầy đủ, chu kỳ tính ổn định, con vật có biểu hiện động dục đều đặn Nếu dinh dưỡng kém, chu kỳ tính kéo dài, động dục gián đoạn (Nguyễn Quang Linh, 2005)

Số lượng trứng rụng trong lần động dục cũng phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Qua nhiều thí nghiệm, Chester White and Polanchina (1987) đã kết luận rằng: số trứng rụng trong lần động dục đầu tiên trung bình là 9,8 trứng, nếu nuôi dưỡng tốt sẽ tăng thêm 2,9 trứng; số trứng rụng ở lứa đẻ thứ hai trung bình là 11,8 trứng, nếu nuôi dưỡng tốt sẽ tăng thêm 1,2 trứng (trích dẫn theo Nguyễn Quang Linh, 2005) Books and Cooper (1972) (dẫn theo Ian Gordon, 1997) cũng cho biết nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống

Nghiên cứu của Hughes and James (1996) cho biết rằng khi tăng mức ăn trước khi phối giống và hạn chế mức ăn trong tuần đầu sau khi phối sẽ tăng tỷ lệ thụ thai, tăng số con đẻ ra/lứa Mức ăn cao trước động dục đã nâng cao số tế bào trứng rụng

Bảng 2.5 Ảnh hưởng của mức ăn trước kỳ động dục tới số lượng

Trang 28

Bảng 2.6 Ảnh hưởng mức ăn trước thời kỳ động dục tới số lượng

trứng rụng (Huges và Vanley 1980)

Số nái TN (n) Ngày ăn cao trước động dục

Beltranena, Foxcroft, Aherne and Kirkwood (1991) cho biết tăng mức ăn trước kỳ phối giống thì tăng nồng độ insulin trong máu Theo các tác giả Cox, Bard, Kesner, Kraling, Matamoros and Rampacek (1990), khi tiêm insulin trong máu sẽ tăng kích thích não tăng tiết LH tăng số tế bào trứng rụng, nhưng tăng mức ăn vào giai đoạn đầu của thời kỳ có chửa sẽ giảm tỷ lệ số phôi sống (trích theo Nguyễn Quang Linh, 2005)

Theo số liệu từ một báo cáo của Aherne and Williams (1992), lượng thức

ăn ăn vào ở mức cao (> 2,5 kg/ngày) trong 3 ngày đầu thụ thai sẽ giảm tỷ lệ phôi thai sống sót khoảng 5%, tuy nhiên giảm tỷ lệ phôi sống sót không có nghĩa số con sinh ra giảm

Đối với lợn hậu bị, Park et al., (1987) cho rằng áp dụng chế độ ăn hạn chế theo giai đoạn để kìm hãm bớt tốc độ tăng trọng của lợn hậu bị sẽ làm tăng sản lượng sữa lứa đẻ thứ nhất của lợn nái Theo Crenshaw (1990), sản lượng sữa lứa

1 của lợn nái tăng 36% khi hạn chế thức ăn (TA) ăn vào ở giai đoạn trước khi thành thục và mang thai bằng cách bổ sung 30% xơ vào trong khẩu phần (KP) Theo Weldon et al., (1991), nếu tăng năng lượng ăn (5,76 đến 10,5 Mcal ME/kg

số lượng tế bào vú, và dẫn tới năng suất tiết sữa có thể giảm Theo Sorensen et al., (1993), khi cho lợn hậu bị (từ 42 ngày tuổi tới khi phối giống) ăn 3 khẩu phần: (i) đối chứng (thỏa mãn nhu cầu sinh trưởng); (ii) 75% so với đối chứng;

và (iii) cho ăn tự do, đã cho thấy không sai khác thống kê về sản lượng sữa, số con sinh ra, khối lượng cai sữa, và thời gian động dục lại sau cai sữa Tuy nhiên

ở khẩu phần 75% so với đối chứng có xu hướng giảm số con sinh ra Theo Klindt

et al., (1999) ở lợn hậu bị 13 – 25 tuần tuổi khi cho ăn hạn chế ở mức 75% và 90% so với ăn tự do cải thiện số bào thai sống ở thời điểm 30 ngày mang thai

Trang 29

Theo Nguyễn Tuấn Anh (1998), để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu duy trì dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần lưu ý đến cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 – 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2 kg/ngày (khẩu phần 14% protein thô) Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1 – 1,5 kg, có bổ sung khoáng và vitamin sẽ giúp cho lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 – 2,1 trứng/lợn nái Sau khi phối giống cần chuyển sang chế độ ăn hạn chế, nếu tiếp tục cho ăn mức năng lượng cao ở giai đoạn chửa đầu vừa không kinh tế, vừa làm cho tỷ lệ chết phôi cao, làm giảm số lợn con sinh ra trong một ổ

Khi nghiên cứu trên lợn nái chửa, Lodge, Elsley and Marpherson (1966) cho biết khối lượng của lợn mẹ tăng lên trong giai đoạn chửa ngoài việc tăng trọng của bản thân con mẹ là sự tăng lên các bộ phận của thai, các sản phẩm thai, tử cung và mô vú Tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, đặc biệt là thời kỳ cuối (thai lợn ngoại 28 ngày nặng 1 – 1,5 g; 50 ngày nặng 50 g; 70 ngày nặng 220 g) Cùng với sự phát triển của thai là sự hình thành của các màng thai, sự lớn lên nhanh chóng của dạ con do vậy nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi Như vậy trong giai đoạn này dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của lợn cũng như chất lượng của đàn con sinh ra

Theo Chung et al., (1998), tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng trọng của lợn con Ian Gordon (2004) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu

và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Robinson, 1990 dẫn theo Ian Gordon, 1997) Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ, làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ (Pike and Boaz,1969), do đó dẫn đến lợn nái sinh sản kém (dẫn theo Ian Gordon, 1997)

Trang 30

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lysine thấp và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang et al., 2000) 2.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN CỦA LỢN CÁI HẬU BỊ ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN

Khẩu phần ăn là một hỗn hợp thức ăn thỏa mãn tiêu chuẩn ăn của vật nuôi trong một ngày đêm Khi phối trộn thức ăn cần phải biết rõ các thành phần dinh dưỡng của thức ăn, nắm chắc nguyên tắc của phối trộn khẩu phần thức ăn mới có thể đáp ứng đủ hợp lý của lợn nói chung và của lợn nái hậu bị nói riêng Khẩu phần thức ăn phải đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng, thỏa mãn được tiêu chuẩn ăn, đảm bảo được sự cân bằng các chất dinh dưỡng như: axit amin, khoáng, vitamin…

Lợn là loài đa thai có khả năng đẻ nhiều con/lứa và nhiều lứa/năm Lợn mỗi lứa có thể đẻ được từ 6 - 14 con tùy theo từng giống Sở dĩ lợn có thể đẻ được nhiều con mỗi lứa là do số trứng rụng nhiều mỗi lần động dục Thông thường số trứng rụng mỗi lần động dục là từ 18 - 30 trứng (bình quân 20 - 25 trứng) và số trứng này cũng tăng dần theo mỗi lứa đẻ của lợn và đạt cao cho đến lứa thứ 7, thứ 8 Tuy nhiên số con đẻ ra thường ít hơn số trứng rụng là do số hợp

tử tạo thành ít và có một số phôi bị chết trong thời kỳ có chửa Nhưng nhìn chung

ta có thể tăng được số con đẻ ra mỗi lứa nếu tăng tỷ lệ thụ thai và chế độ chăm sóc lợn nái hợp lý khi có chửa Mỗi năm lợn có thể đẻ đạt 2,0 - 2,3 lứa/năm với

số con là 19 - 22 lợn con cai sữa Lợn cái bình thường có thể sử dụng tới 4 năm

Lợn cái hậu bị là lợn cái từ sau khi cai sữa được chọn làm cái giống nuôi cho đến khi phối giống lần đầu Khả năng năng sinh sản của lợn nái là chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế hết sức quan trọng, nó phản ánh phẩm chất giống và kỹ thuật chăn nuôi của lợn Kỹ thuật chăm sóc cái hậu bị rất quan trọng, làm sao cho cái hậu bị khi đến tuổi phối giống đạt khối lượng yêu cầu, đảm bảo thành thục về tính và thể vóc Chăm sóc lợn cái hậu bị là một khâu khó đòi hỏi lợn không được quá gầy yếu dẫn đến sức sinh sản kém, đồng thời tránh quá béo sẽ khó động dục Đây

là nguyên nhân gây nên loại thải, tỷ lệ loại thải cao có thể lên tới 40 - 45% Như vậy khẩu phần ăn cho lợn hậu bị cần phù hợp và là nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản Dinh dưỡng ảnh hưởng đến động dục lần đầu, nuôi hạn chế làm chậm động dục đến 16 ngày (Anderson and Melampy, 1972) Nuôi dưỡng tốt để tăng khối lượng cơ thể và mỡ dự trữ, điều chỉnh mức protein

Trang 31

và axit amin thu nhận để có khối lượng cơ thể và khối lượng protein cơ thể hợp

lý với lượng mỡ đảm bảo cân bằng với các chất khoáng và vitamin với mục đích

để có số trứng rụng nhiều nhất, số phôi sống lớn nhất, điều kiện cơ thể tốt nhất Chế độ nuôi dưỡng trước khi phối giống 11 - 14 ngày rất quan trọng

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

2.5.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Với một tỷ lệ loại thải lợn nái hậu bị cao trong các trang trại chăn nuôi từ

30 đến 50% (Thacker, 1999; Young, 2003), đàn nái hậu bị thay thế đóng một vai trò quan trọng trong chăn nuôi lợn nái Chính vì thế, việc đưa đàn lợn hậu bị vào đàn giống là nhằm đảm bảo năng suất sinh sản đạt được tối đa Để đạt được mục đích này lợn hậu bị phải đáp ứng đủ những chỉ tiêu như độ tuổi, khối lượng cơ thể và sinh lý thành thục trước khi chọn giống cũng như cân đối lượng thịt nạc và

mỡ tích luỹ tối ưu tại thời điểm phối giống đầu tiên (Julian, 2001; Close et al., 2004) Lợn cái hậu bị mà quá nạc tại thời điểm chọn lọc đưa vào đàn giống có thể giới hạn về năng suất sinh sản trong vòng đời của chúng (hoặc khả năng sinh sản thấp hoặc loại thải sớm) do chúng không đáp ứng đủ lượng mỡ dự trữ trong

cơ thể (lượng mỡ dự trữ ở lợn cái hậu bị thường được biểu hiện bằng độ dày mỡ lưng) Với một qui mô nghiên cứu lớn, Gaughan et al., (1995) đã chỉ ra rằng lợn hậu bị có độ dày mỡ lưng từ 9 - 13 mm tại thời điểm chọn lọc giống có số lứa đẻ

và số lợn sơ sinh còn sống/vòng đời lợn nái (2,81; 24,03) kém hơn so với lợn hậu

bị có độ dày mỡ lưng 14 - 16 mm (3,47; 30,86) và ≥ 17 mm (3,75; 32,76) Những kết quả này cho thấy số lợn con sơ sinh còn sống/chu kỳ lợn nái tăng thêm 9 con khi tăng thêm 6mm độ dày mỡ lưng của lợn hậu bị trước khi tiếp xúc với lợn đực giống Tương tự như vậy, Challinor et al., (1996) đã kết luận số lợn con sơ sinh còn sống/chu kỳ lợn nái tăng từ 51,2 đến 59,8 khi độ dày mỡ lưng P2 của lợn cái hậu bị tăng từ 14,6 đến 21,7 mm tại thời điểm phối giống đầu tiên Theo Close et al., (2004) lợn cái hậu bị được chọn lọc vào đàn giống nên đạt mức khối lượng là

60 kg với độ dày mỡ lưng khoảng 7 - 8mm và đưa vào phối giống đầu tiên ở độ tuổi từ 220 - 230 ngày, khối lượng cơ thể từ 130 - 140kg, độ dày mỡ lưng là 16 -

20 mm và phối giống ở lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3

Ở gia súc cho thịt tốc độ tăng trọng thịt nạc ngày càng cao và điều này cũng xảy ra tương tự đối với lợn cái hậu bị làm giống Mà lợn cái hậu bị tích luỹ nạc cao hơn sẽ đạt độ tuổi thành thục chậm hơn so với lợn hậu bị tích luỹ mỡ nhiều hơn (Rydmer et al.,1994; trích dẫn bởi Evans and O’Doherty, 2001), điều

Trang 32

này dẫn đến khả năng sinh sản ở lợn cái hậu bị giảm (Julian, 2001) Bên cạnh đó, tốc độ tích luỹ của thịt nạc và mỡ có mối tương quan với sinh lý thành thục và năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị (Edwards, 1998; trích dẫn bởi Evans and O’Doherty, 2001) và tốc độ này như là một chỉ tiêu quan trọng để xác định độ thành thục sinh dục (Ghaughan et al., 1997) Vì vậy, một điều quan trọng để đảm bảo lợn cái hậu bị đưa vào đàn giống có tuổi thọ kéo dài và năng suất sinh sản cao thì chúng cần đáp ứng đủ lượng nạc và mỡ dự trữ Điều này đặt ra một câu hỏi cho các nhà nghiên cứu dinh dưỡng gia súc là làm thế nào để cung cấp đủ nhu cầu năng lượng và axit amin (protein) cho lợn cái hậu bị nhằm cân đối và đáp ứng tối ưu lượng thịt nạc và mỡ dự trữ trong cơ

Việc xác định các mục tiêu năng suất sinh sản là điều quan trọng trong chăn nuôi lợn nái Theo Julian (2001), mục tiêu thứ nhất là phải đạt được 2,4 lứa/nái/năm, mỗi chu kỳ bao gồm 116 ngày mang thai, 18 - 28 ngày nuôi con, khoảng cách từ lúc cai sữa đến phối giống lại thành công là 6 - 9 ngày Mục tiêu thứ hai là số lợn con cai sữa/nái/lứa là 10,5 (số lợn con sinh ra là 11) đối với lợn nái đẻ trên 1 lứa là 10 (số lợn con sinh ra là 10,5) đối với nái hậu bị Như vậy, mỗi con lợn nái sẽ đạt khoảng 24,5 lợn con cai sữa/năm và năng suất cho vòng đời lợn nái trung bình là 60 lợn con cai sữa và độ tuổi loại thải tối thiểu là 3 năm

Tuy nhiên, những mục tiêu này rất khó đạt được là vì tỷ lệ loại thải lợn nái

ở hầu hết các trang trại không nhỏ vào khoảng 30 - 50% (Thacker, 1999; Young, 2003), trong số đó khoảng 45 - 50% lợn hậu bị bị loại thải sau lứa đẻ thứ nhất và 35% ở lứa đẻ thứ hai (Lucia và et al., 2000; Julian, 2001) Lý do loại thải này chủ yếu vì sau lứa đẻ thứ nhất lợn hậu bị không đủ khả năng sinh sản (không biểu hiện động dục và không có chửa) Điều này dẫn đến kết quả là đàn nái hậu bị thay thế chiếm một tỷ lệ đáng kể trong đàn lợn giống và bất kỳ sự cải tiến nào về khả năng sinh sản của chúng đều ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của toàn đàn Hơn nữa, trong số các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn nái

cơ bản, chế độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị từ khi chọn lọc đến lần phối giống đầu tiên đóng một vai trò rất quan trọng, bởi vậy chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn hậu bị thay thế cần được chú ý và quan tâm

Lợn cái hậu bị được chọn lọc để cho ra đời sau có năng suất sinh trưởng cao, tỷ lệ mỡ thấp đòi hỏi chế độ dinh dưỡng cao hơn lợn không được chọn lọc Một vài nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng việc nuôi lợn nái hậu bị bằng cách cho

ăn hạn chế 50 - 85% so với ăn tự do đã làm chậm thời gian động dục từ 10 đến 14

Trang 33

ngày Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng hạn chế lượng thức ăn, năng lượng, protein hoặc axit amin thấp hơn 10 - 15% so với lượng thức ăn thu nhận tự do trong suốt thời gian sinh trưởng của lợn cái hậu bị không làm chậm biểu hiện động dục, giảm tỷ lệ rụng trứng hay giảm năng suất sinh sản ở các lứa đẻ (Young, 2003) Nhưng cũng có ý kiến chứng minh rằng tốc độ phát triển nhanh ở lợn hậu

bị sinh trưởng không làm ảnh hưởng có hại đến năng suất sinh sản cho một chu kỳ giống Nghiên cứu ở cả hai trường ĐH bang Kansas (KSU) và Alberta (UA) ngay lập tức đã khẳng định lập luận này Trường ĐH Alberta cho biết nếu tốc độ tăng trọng khoảng 0,55-0,8 kg ở giai đoạn từ khi sinh đến 100 ngày tuổi thì không có mối quan hệ giữa tốc độ tăng trọng và độ tuổi thành thục Tương tự nghiên cứu trên, trường ĐH bang Kansas đã đưa ra kết luận với tốc độ sinh trưởng khoảng 0,6 - 1,04 từ 70 đến 200 ngày tuổi đối với tất cả lợn cái hậu bị đạt thành thục sinh dục thì không có mối quan hệ giữa tốc độ sinh trưởng và độ tuổi thành thục (trích bởi Young, 2003) Vì thế một khuyến cáo cho rằng lợn nái hậu

bị trong giai đoạn sinh trưởng (trước động dục) cần được ăn tự do để đảm bảo nhận đuợc ít nhất 8360 kcal DE trên ngày suốt cả thời kỳ từ khi chọn lọc đến khi phối giống (Thacker, 1999) tức là khẩu phần phải đảm bảo đạt 3100 kcal DE/kg, 15% protein, 0,7% lysine 0,82 % Ca và 0,73% P Lợn nái cần trải qua ít nhất 2 chu

kỳ động dục, khối lượng đạt 115 - 125 kg và độ dày mỡ lưng đạt 17 - 20 mm Hoặc nếu vì một lý do nào đó lợn phải ăn hạn chế trong qua trình mang thai thì ít nhất cũng phải được ăn tự do trong 2 tuần trước khi phối giống Trong khi đó, Gill (2007) cho biết lợn cái hậu bị nên ăn tự do ở các giai đoạn 30 – 60 kg với khẩu phần ăn chuẩn của lợn thịt sinh trưởng và 60 – 100 kg với khẩu của lợn thịt kết thúc Giai đoạn từ 100 kg đến phối giống lợn cái hậu bị cần ăn khẩu phần với mức 13,5 MJ/kg và 0,8% lysine nhằm tiếp tục đáp ứng nhu cầu cho sự tích luỹ thịt nạc

và mỡ, nhưng lượng ăn vào cần được hạn chế khoảng 80 - 90% so với độ thèm ăn

để kiểm soát tốc độ tăng trọng nhanh và giảm rủi ro về què chân Close và cs (2004) lại cho rằng giai đoạn 25 – 60 kg lợn cái hậu bị nên ăn tự do với mật độ năng lượng và lysine trong khẩu phần là 3,25 Mcal ME/kg và 12 g /kg, từ 60-125

kg cho ăn ở mức 2,5 - 3,5 kg Một chiến lược quan trọng nhằm đảm bảo tỷ lệ rụng trứng và phôi sống đạt cao nhất ở lợn cái hậu bị là cung cấp thức ăn với mức cao (ăn tự do) trong thời kỳ động dục trước khi phối giống với hàm lượng năng lượng

và lysine tương tự như giai đoạn 60 - 125 kg Ngược lại với các ý kiến nêu trên, tại Anh cho khuyến cáo gần đây nhất về nhu cầu dinh dưỡng cho lợn cái hậu bị ở giai

Trang 34

đoạn sinh trưởng từ 30 đến 130 kg nên cho lợn hậu bị ăn hạn chế để có tăng trọng thấp hơn nhưng độ dày mỡ lưng cao hơn lợn cái nuôi thịt

Yếu tố giống ảnh hưởng rất lớn đến độ tuổi thành thục sinh dục, trong

đó lợn cái lai hậu bị đạt độ tuổi thành thục sinh dục sớm hơn và số ngày không mang thai ngắn hơn so với lợn giống thuần (Bidanel và cs 1996) Bên cạnh đó, sự biến động về độ tuổi thành thục sinh dục giữa các giống là trong khoảng 20 ngày và được giải thích bởi sự tiến bộ di truyền trong các giống

và chế độ nuôi dưỡng Mặt khác, lợn cái hậu bị nên đạt khối lượng cơ thể tối thiểu khoảng 75 kg trước khi đạt sự thành thục sinh dục (Young et al., 1990; trích dẫn bởi Evans and O’Doherty, 2001) Tuy nhiên, khối lượng cơ thể ở

độ tuổi thành thục sinh dục rất khác nhau giữa các giống và chế độ nuôi dưỡng Bởi vậy, Philip và et al (2007, 2008) đã nghiên cứu ảnh của chế độ dinh dưỡng cho hai dòng lợn cái hậu bị YL và Nebraska Index Line (L45X) (60 kg - phối giống) với hai chế độ ăn tự do (3400 Kcal ME/kg và 0,7% lysine tổng số) và ăn hạn chế 75% năng lượng ME ăn vào so với ăn tự do (3400 ME Kcal và 0,93% lysine tổng số) đến khả năng sinh trưởng và sinh sản qua 4 lứa đẻ Kết quả cho thấy, tuy tốc độ sinh trưởng ở cả 2 giống YL

và L45X khác nhau rõ rệt tại thời điểm 123 ngày tuổi và lúc phối giống, nhưng khối lượng cơ thể cũng như độ dày mỡ lưng vào lúc đẻ và cai sữa lợn con giữa hai giống và giữa hai chế độ ăn không có sự sai khác Mặc dù chế

độ ăn hạn chế đã làm giảm khối lượng cơ thể và độ dày mỡ lưng lúc phối giống nhưng không làm giảm năng suất sinh sản (số con cai sữa/ổ, khối lượng lợn con cai sữa/ổ) của lợn nái qua 4 lứa đẻ

Giảm lượng thức ăn cho gia súc sẽ làm giảm giá thành thức ăn Klindt et

al (1999) đã nghiên cứu các chế độ nuôi dưỡng ở lợn cái hậu bị từ 13 - 25 tuần tuổi Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hạn chế mức ăn vừa phải (74% so với ăn tự do) ở lợn cái hậu bị trong giai đoạn này có khả năng tăng 30% số phôi sống sót trên một đơn vị thức ăn tiêu thụ từ 13 tuần tuổi đến 30 ngày có chửa Bởi vậy, chế độ ăn hạn chế cho lợn cái hậu bị có thể tăng hiệu quả chăn nuôi lợn mà không ảnh hưởng tới năng suất sinh sản Tương tự như trên, Le Cozler et al., (1999) cho biết lợn cái hậu bị ăn hạn chế (90% so với ăn tự do) cũng không ảnh hưởng tới năng suất sinh sản Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng lợn cái hậu bị

ăn hạn chế có lượng thức ăn thu nhận ở giai đoạn nuôi con và tỷ lệ loại thoải cao

Trang 35

hơn so với lợn cái hậu bị ăn tự do Điều này cho thấy hiệu quả kinh tế ở lợn cái hậu bị ăn hạn chế có thể giảm sau hai lứa đẻ đầu tiên

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nuôi dưỡng lợn cái hậu bị nhưng vẫn còn nhiều tranh luận, đặc biệt về vấn đề nuôi lợn cái hậu bị theo chế

độ ăn tự do hay ăn hạn chế? Như vậy có thể nói rằng, tuỳ thuộc vào giống, độ dày mỡ lưng và khối lượng cơ thể của lợn cái hậu bị lúc phối giống mà có chế độ dinh dưỡng thích hợp

2.5.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực nuôi dưỡng lợn cái hậu bị giống ngoại ở nước ta còn rất ít Phùng Thị Vân và cs (2000) đã nghiên cứu chế độ ăn hạn chế ở lợn cái hậu bị L, Y và cái lai YL, LY tới năng suất sinh sản của chúng qua 3 lứa đẻ Tác giả đã đưa ra được qui trình nuôi dưỡng chúng, từ 30 - 65 kg ăn

tự do với nhu cầu năng lượng 5512 Kcal ME /ngày ở khẩu phần 3000 Kcal ME/kg và 15% protein; từ 65 kg đến 14 ngày trước phối giống tương ứng với

5800 Kcal ME/ngày ở khẩu phần 2900 Kcal ME/kg và 14% protein Kết quả cho thấy nhu cầu năng lượng trao đổi cũng như mật độ chất dinh dưỡng đó trong khẩu phần thấp hơn rất nhiều so với khuyến cáo của NRC (1998) Hơn nữa, nghiên cứu này vẫn còn hạn chế vì chỉ thực hiện tại một vùng sinh thái trong cả nước (một số tỉnh miền Bắc) và qui trình nuôi dưỡng này lại áp dụng chung cho

cả 4 nhóm giống trên

Năm 2014, Đoàn Vĩnh nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và chế độ ăn thích hợp trên lợn cái hậu bị giống ngoại L, Y, LY và YL, kết quả cho thấy: Nhu cầu năng lượng trao đổi cho lợn cái hậu bị L và Y trong giai đoạn từ 20 kg đến 50 kg; từ 51 kg đến 90 kg và từ 91 kg đến khi phối giống lứa 1 là 3.265 kcal/kg Protein thô; lysine; methionine + cystine và threonine tiêu hóa, tương ứng trong giai đoạn từ 20 kg đến 50 kg là 17%; 0,75%; 0,44%; 0,46%; từ 51 đến 90 kg là 16%; 0,7%; 0,42%; 0,44% và từ 91 kg đến khi phối giống lần 1 là 14%; 0,55%; 0,33; 0,37 trong điều kiện cho ăn tự do (ad libitum) Nhu cầu năng lượng, protein

và axit amin tiêu hóa (lysine, methionine + cystine, threonine) ở lợn cái hậu bị thuộc hai giống lai YL và LY là như nhau và có mức dinh dưỡng khẩu phần ở mức 105% NRC (1998) Nhu cầu năng lượng trao đổi, cho lợn cái hậu bị giống lai YL và LY trong giai đoạn từ 20 kg đến 50 kg; từ 51 kg đến 90 kg và từ 91 kg đến khi phối giống lứa thứ nhất 3.425 kcal/kg Protein thô; lysine; methionine + cystine và threonine tiêu hóa, tương ứng trong giai đoạn từ 20 kg đến 50 kg là

Trang 36

độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị thích hợp nhất ở cả 2 giống lai YL và LY là như sau: với khẩu phần ăn có mức ME, protein thô và axit amin tiêu hóa (lysine, methionine+cystine và threonine) 105% NRC (1998) Giai đoạn dưới 50 kg nên cho ăn tự do, giai đoạn từ 51 kg đến 10 ngày trước phối giống nên cho ăn hạn chế 90% so với khả năng

Theo báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu nhu cầu năng lượng, protein và axit amin (lysine, methionine, threonine và tryptophan) cho các tổ hợp lợn lai ngoại x ngoại nuôi thịt ở Việt Nam”, kết quả cho thấy nhu cầu năng lượng và protein cho lợn lai 2 và 4 máu ngoại giai đoạn 20 - 50 kg và 50 kg đến xuất chuồng tương ứng là 3050 - 2950 Kcal ME/kg và 16 - 13% Nhu cầu axit amin tiêu hóa đối với lợn lai 4 máu ngoại giai đoạn 20 – 50 kg và 50 kg đến xuất chuồng tương ứng là lysine: 0,98 - 0,83% (vụ đông - xuân) và 0,89 - 0,74% (vụ hè - thu), methionine + cystine: 0,64 - 0,50% (vụ đông-xuân) và 0,53 - 0,44% (vụ hè - thu), threonine: 0,71 - 0,56% (vụ đông-xuân) và 0,60 - 0,50% (vụ hè - thu), tryptophan: 0,18 - 0,15% (vụ đông - xuân) và 0,16 - 0,13% (vụ hè - thu) Nhu cầu axit amin tiêu hóa đối với lợn lai 2 máu ngoại giai đoạn 20-50 kg và 50 kg đến xuất chuồng tương ứng là lysine: 0,89 - 0,74% (vụ đông-xuân) và 0,74 - 0,65% (vụ hè-thu), methionine + cystine: 0,53 - 0,44% (vụ đông-xuân) và 0,48 - 0,39% (vụ hè-thu), threonine: 0,60 - 0,50% (vụ đông-xuân) và 0,54 - 0,44% (vụ hè - thu), tryptophan: 0,16 - 0,13% (vụ đông - xuân) và 0,16 - 0,12% (vụ hè - thu)

Trang 37

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 VẬT LIỆU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Vật liệu nghiên cứu: Tổng số 144 lợn cái hậu bị YL và LY có khối lượng ban đầu 30 ± 0,6 kg Toàn bộ gia súc sẽ được kiểm tra cá thể và tiêm phòng trước khi đưa vào thí nghiệm Các số liệu theo dõi về chế độ nuôi dưỡng thích hợp đối với lợn cái hậu bị YL và LY

Thức ăn cho lợn thí nghiệm được sản xuất dưới dạng viên, dựa trên các nguyên liệu: ngô, sắn, cám gạo tẻ, khô dầu đậu tương, bột đá, dicanxi phốt phát (DCP), premix vitamin – khoáng và các axit amin tổng hợp

Địa điểm nghiên cứu:

- Trại lợn tại Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

- Trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Thời gian: từ tháng 10/2014- 3/2016

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Ảnh hưởng của chế độ ăn đến khả năng sinh trưởng, tuổi thành thục sinh

- Ảnh hưởng của chế độ ăn đến hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn cái hậu bị

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nội dung này bao gồm 2 thí nghiệm được triển khai tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Thiết kế thí nghiệm ở mỗi trại như sau:

Ở mỗi giống lợn, thí nghiệm được thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn (Completely Randomized Design-CRD) trên 36 lợn cái hậu bị khoảng 30kg với độ tuổi từ

Trang 38

khoảng 80 ngày, bao gồm 3 lô thí nghiệm: lô 1 cho ăn tự do, lô 2 ăn hạn chế 90%

và lô 3 ăn hạn chế 80% Mỗi lô là 12 con, được nuôi trong 3 ô chuồng (4 con/ô, mỗi ô là một lần lặp lại) (bảng 3.1)

Hạn chế 80%

10 ngày trước phối

Cách xác định mức ăn hạn chế: các mức ăn hạn chế được xác định dựa trên lượng thức ăn thu nhận trung bình của 3 ngày ăn tự do trước đó và sau đó các mức

ăn hạn chế sẽ được điều chỉnh theo lô ăn tự do (Lô 1) Lô ăn hạn chế 80% và 90% được cho ăn làm 2 bữa (sáng khoảng 8 giờ và chiều khoảng 4 giờ)

Các axit amin thiết yếu như methionine, methionine + cystine và threonine, trong các khẩu phần được cân đối theo lysine dựa trên khuyến cáo cho lợn cái hậu bị của NRC (1998) Hàm lượng các nguyên tố khoáng đa lượng (Ca, P) trong khẩu phần ăn cho lợn ở các lô là như nhau, cân đối theo khuyến cáo cho lợn cái hậu bị của Lewis et al., (2001) Các khẩu phần thức ăn cho lợn thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.2 Thành phần giá trị dinh dưỡng của một số nguyên liệu thức ăn xem ở bảng phụ lục

Ngày đăng: 24/03/2017, 23:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bùi Quang Tuấn và Đặng Thúy Nhung (2002). Nghiên cứu xác định mức Lysine và năng lượng (hay L/NL) đối với lợn con lai Yorkshire x Móng Cái giai đoạn sau cai sữa. Tạp chí chăn nuôi. Số 4 (46). Tr. 10 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định mức Lysine và năng lượng (hay L/NL) đối với lợn con lai Yorkshire x Móng Cái giai đoạn sau cai sữa
Tác giả: Bùi Quang Tuấn, Đặng Thúy Nhung
Nhà XB: Tạp chí chăn nuôi
Năm: 2002
5. Lê Hồng Mận (2002). Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
7. Ninh Thị Len, Trần Quốc Việt và Lê Văn Huyên (2008). Nghiên cứu xác định giá trị năng lượng tiêu hoá, năng lượng trao đổi, hệ số tiêu hoá tổng số các chất dinh dưỡng và hệ số tiêu hoá axit amin hồi tràng tiêu chuẩn của một số loại thức ăn chủ yếu dùng trong khẩu phần của lợn nuôi thịt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định giá trị năng lượng tiêu hoá, năng lượng trao đổi, hệ số tiêu hoá tổng số các chất dinh dưỡng và hệ số tiêu hoá axit amin hồi tràng tiêu chuẩn của một số loại thức ăn chủ yếu dùng trong khẩu phần của lợn nuôi thịt
Tác giả: Ninh Thị Len, Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên
Năm: 2008
8. Nguyễn Tuấn Anh (1998). Dinh dưỡng tác động đến sinh sản lợn nái, Chuyên san chăn nuôi, Hội chăn nuôi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng tác động đến sinh sản lợn nái
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Chuyên san chăn nuôi
Năm: 1998
9. Nguyễn Thị Lương Hồng, Bùi Quang Tuấn và Đặng Thúy Nhung (2003). Xác định mức năng lượng và protein thích hợp cho lợn con sau cai sữa ở miền Bắc Việt Nam.KHKT Nông nghiệp. 1(3). tr. 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định mức năng lượng và protein thích hợp cho lợn con sau cai sữa ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lương Hồng, Bùi Quang Tuấn, Đặng Thúy Nhung
Nhà XB: KHKT Nông nghiệp
Năm: 2003
10. Nguyễn Quang Linh (2005). Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
11. Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Văn Duy và Lê Thanh Hải. Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển ngành chăn nuôi lợn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển ngành chăn nuôi lợn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Văn Duy, Lê Thanh Hải
13. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm và Ngôn Thị Hoán. Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc. Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
14. Vũ Duy Giảng (2010). Không nên nuôi lợn nái quá béo, truy cập ngày 5/5/ 2016 tại {http://www.hua.edu.vn/khoa/cnts/index.2p } Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không nên nuôi lợn nái quá béo
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Năm: 2010
17. Viện Chăn nuôi năm (2014). Báo cáo đề tài Nghiên cứu xác định nhu cầu năng lượng, axit amin và chế độ nuôi dưỡng của lợn cái hậu bị giống ngoại để nâng cao khả năng sinh sản ở Đồng bằng sông Hồng và miền Trung.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài Nghiên cứu xác định nhu cầu năng lượng, axit amin và chế độ nuôi dưỡng của lợn cái hậu bị giống ngoại để nâng cao khả năng sinh sản ở Đồng bằng sông Hồng và miền Trung
Tác giả: Viện Chăn nuôi
Nhà XB: Tài liệu nước ngoài
Năm: 2014
19. Aherne, F. X. and R. N. Kirkwood (1985). Nutrition and sow prolificacy. J. Reprod. Fertil. Suppl. 33. pp.169 – 183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutrition and sow prolificacy
Tác giả: F. X. Aherne, R. N. Kirkwood
Nhà XB: J. Reprod. Fertil. Suppl.
Năm: 1985
21. Baker, D. H., D. E. becker, H. W. norton, C.E. Sasse, A. H. jensen. and B. G. harmon (1969). Reproductive performance and progeny development in swine as influenced by feed intake during pregnancy. J. Nutr. Vol 97. tr. 489 – 495 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive performance and progeny development in swine as influenced by feed intake during pregnancy
Tác giả: D. H. Baker, D. E. Becker, H. W. Norton, C. E. Sasse, A. H. Jensen, B. G. Harmon
Nhà XB: J. Nutr.
Năm: 1969
24. Brooks P. H. and D. A. Smith (1980). The effect of mating age on the reproductive performance, food utilization and liveweight change of the female pig. Livestock Prod.Sci. Vol 7. pp. 67- 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of mating age on the reproductive performance, food utilization and liveweight change of the female pig
Tác giả: Brooks P. H., D. A. Smith
Nhà XB: Livestock Prod.Sci.
Năm: 1980
25. Campbell R. G. and A. C. Dunkin (1983). The effect of energy intake and dietary protein on nitrogen retention, growth performance, body composition and some aspects of energy metabolism of baby pigs. Br. J. Nutr. Vol 49. pp. 221 – 230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of energy intake and dietary protein on nitrogen retention, growth performance, body composition and some aspects of energy metabolism of baby pigs
Tác giả: Campbell R. G., A. C. Dunkin
Nhà XB: Br. J. Nutr.
Năm: 1983
26. Close W. H., C. Close and B. Workingham (2004). Nutrition and management stratergies to optimise performance of the modern sow and boar. D. J. A. Cole, Nottingham Nutriton International, East Leake Loughborough, Lei Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutrition and management stratergies to optimise performance of the modern sow and boar
Tác giả: W. H. Close, C. Close, B. Workingham
Nhà XB: Nottingham Nutriton International
Năm: 2004
27. Close W. H. and M. W. Stanier (1984). Effects of nutrition and environmental temperature on the growth and development of the early weaned pig. 2. Energy production Animal. Vol 38. pp. 221 – 231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of nutrition and environmental temperature on the growth and development of the early weaned pig. 2. Energy production
Tác giả: Close W. H., M. W. Stanier
Nhà XB: Animal
Năm: 1984
30. Chiba (2004). Pig Nutrition and Feeding. Animal Nutrition Handbook. 12/01/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pig Nutrition and Feeding
Tác giả: Chiba
Nhà XB: Animal Nutrition Handbook
Năm: 2004
37. Gill B. P. (2006). Body composition of breeding gilts in response to dietary protein and energy balance from thirty kilograms of body weight to completion of first parity. J. Anim. Sci. 2006. 84. pp.1926–1934 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Body composition of breeding gilts in response to dietary protein and energy balance from thirty kilograms of body weight to completion of first parity
Tác giả: Gill B. P
Nhà XB: J. Anim. Sci.
Năm: 2006
38. Gill P. (2007). Nutrion management of the gilts for lifetime productivity – feeding fitness or fatness. London Swine Conference – Today’s Challenges, Tomorrow’s Opportunities 3-4 April 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutrion management of the gilts for lifetime productivity – feeding fitness or fatness
Tác giả: Gill P
Nhà XB: London Swine Conference – Today’s Challenges, Tomorrow’s Opportunities
Năm: 2007
48. Lee Johnston (1998). Gilt Nutrition: Nutritional Programs Enhance Gilt Development. http://nationalhogfarmer.com/mag/farming_gilt_nutrition_nutritional Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gilt Nutrition: Nutritional Programs Enhance Gilt Development
Tác giả: Lee Johnston
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w