1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn cho lợn con lai pidu x (lxy) từ 4 đến 28 ngày tuổi

79 430 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng được chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 nhu cầu sử dụng TĂCN của cả nước ước tính là 27,4 triệu tấn, như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN LƯỢNG

SỬ DỤNG GẠO XAY THAY THẾ NGÔ TRONG THỨC ĂN CHO LỢN CON LAI PiDu x (LxY)

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Lượng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn , ngoài sự nổ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của nhà trường, các thầy cô giáo Đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi

Những gì hoàn thành được trong lần thực hiện khóa luận này là có công lao vô cùng to lớn của PGS.TS Tôn Thất Sơn Người đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình giúp tôi

có kế hoạch của bản thân trong quá trình làm luận văn rất chặt chẽ, khoa học Em xin bày tỏ cảm ơn sâu sắc đến Thầy

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, khoa Chăn nuôi, trường học viện nông nghiệp Việt Nam đã góp ý và chỉ bảo

để luận văn của tôi được hoàn thành

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: giám đốc Th.S Lê Thị Minh Thu và Ban quản lý cùng toàn thể các anh, chị cán bộ công nhân viên Công ty TNHH MTV lợn giống Lạc Vệ

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè , đồng nghiệp , anh chị em đã động viên, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Hà Nội, ngày tháng năm 2016 Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Lượng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục ii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng v

Danh mục biểu đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tiềm năng sử dụng lúa gạo trong chăn nuôi ở Việt Nam 3

2.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc gạo 6

2.3 Một số đặc điểm sinh lý của lợn con 14

2.3.1 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con 14

2.3.3 Hiện tượng khủng hoảng sinh lý của lợn con 18

2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con 20

2.4.1 Số lượng thức ăn ăn vào và số lần cho ăn trong ngày 20

2.4.3 Nhu cầu về lipit cho lợn con 22

2.4.4 Nhu cầu về protein và axít amin cho lợn con 22

2.4.5 Nhu cầu về khoáng cho lợn con 25

2.4.6 Nhu cầu về vitamin cho lợn con 25

2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

2.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 32

3.1 Đối tượng nghiên cứu 32

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 32

3.2 Địa điểm nghiên cứu 32

3.3 Nội dung nghiên cứu 32

Trang 5

3.4 Phương pháp nghiên cứu 33

3.5 Phương pháp chỉ tiêu theo dõi 36

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4 Kết quả và thảo luận 38

4.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng sử dụng gạo xay thay thế ngô trong khâu phần ăn đối với lợn con giai đoạn từ tập ăn đến cai sữa (4-23 ngày) 39

4.1.1 Khối lượng cơ thể lợn con từ sơ sinh đến 23 ngày tuổi 39

4.1.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con theo mẹ 41

4.1.3 Sinh trưởng tương đối của lợn con giai đoạn từ 4 -23 ngày tuổi 43

4.1.4 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn giai đoạn từ 4 -23 ngày tuổi 45

4.1.5 Ảnh hưởng của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô đến bệnh tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ 4 - 23 ngày tuổi 50

4.2 Ảnh hưởng của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô vào khẩu phần ăn đối với lợn con giai đoạn 24-28 ngày tuổi 53

4.2.1 Khối lượng của lợn con giai đoạn sau cai sữa (24 – 28 ngày tuổi) 53

4.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con giai đoạn 24- 28 ngày tuổi 55

4.2.3 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai đoạn 24 - 28 ngày tuổi 57

4.2.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô đến bệnh tiêu chảy ở lợn con giai đoạn 24 - 28 ngày tuổi 60

4.2.5 Hiệu quả của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô cho lợn con giai đoạn 24-28 ngày tuổi 62

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 64

5.1 Kết luận 64

5.2 Kiến nghị 64

Tài liệu tham khảo 65

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BW Khối lượng cơ thể lợn con

NRC Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ

TLNS Tỷ lệ nuôi sống

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo xay và ngô 7

Bảng 2.2 Thành phần axit béo của ngô và gạo xay (%) 8

Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thóc, gạo xay, ngô và lúa mỳ (%) 9

Bảng 2.4 Thành phần axit amin của gạo xay và ngô hạt 10

Bảng 2.5 Thành phần hóa học của ngô và gạo xay 11

Bảng 2.6 Thành phần hóa học của thóc, gạo xay và ngô 13

Bảng 2.7 Thành phần axit amin trong thóc, gạo tẻ, ngô tẻ và lúa mỳ 13

Bảng 2.8 Một số loại men tiêu hóa 17

Bảng 2.9 Mức ăn hàng ngày cho lợn con từ 10 - 45 ngày tuổi 20

Bảng 2.10 Mức năng lượng cho lợn con theo khối lượng cơ thể 21

Bảng 2.11 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin cho lợn con 23

Bảng 2.12 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin tổng số cho lợn con 24

Bảng 2.13 Thành phần hóa học của thóc và gạo lật giống IR 15404 (% VCK) 27

Bảng 2.14 Thành phần hóa học của thóc và gạo lật (% VCK) 28

Bảng 2.15 Thành phần axit amin của thóc và gạo lật giống IR 15404 29

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm trên lợn con theo mẹ và sau cai sữa Giai đoạn 1 (4 - 23 ngày tuổi) 34

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm trên lợn con theo mẹ và sau cai sữa Giai đoạn 2 (24 - 28 ngày tuổi) 34

Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm 35

Bảng 3.4 Công thức thức ăn thí nghiệm 35

Bảng 4.1 Khối lượng lợn con thí nghiệm giai đoạn sơ sinh - 23 ngày tuổi 39

Bảng 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con theo mẹ (g/con/ngày) 42

Bảng 4.3 Sinh trưởng tương đối của lợn con giai đoạn từ 4 -23 ngày tuổi 44

Bảng 4.4: Lượng thức ăn thu nhận và lượng thức ăn tích lũy từng ngày của lợn con giai đoạn từ 4 -23 ngày tuổi 46

Bảng 4.5 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn cho lợn con giai đoạn sơ sinh – 23 ngày tuổi 49

Bảng 4.6 Tỷ lệ tiêu chảy của lợn con thí nghiệm giai đoạn từ 4 - 23 ngày tuổi 51

Bảng 4.7 Khối lượng lợn con thí nghiệm giai đoạn 24 - 28 ngày tuổi 54

Bảng 4.8 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con theo ổ thí nghiệm giai đoạn 24-28 ngày tuổi (g/con/ngày) 56

Trang 8

Bảng 4.9 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai

đoạn 24 - 28 ngày tuổi 58 Bảng 4.10 Lượng thu nhận thức ăn và lượng thức ăn tích lũy từng ngày giai

đoạn 24-28 ngày tuổi 59 Bảng 4.11 Tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con thí nghiệm giai đoạn 24 - 28 ngày tuổi 60 Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế của sử dụng gạo xay thay thế ngô với lợn con từ 24

- 28 ngày tuổi 62

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Khối lượng lợn con thí nghiệm từ sơ sinh – 23 ngày tuổi 41

Biểu đồ 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con giai đoạn 4 -23 ngày tuổi 43

Biểu đồ 4.3 Sinh trưởng tương đối của lợn con giai đoạn từ 4 -23 ngày tuổi 44

Biểu đồ 4.4 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con giai đoạn từ 4 -23 ngày tuổi 47

Biểu đồ 4.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai đoạn từ 4 -23 ngày tuổi 50

Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con từ 4 – 23 ngày tuổi 52

Biểu đồ 4.7 Khối lượng lợn con giai đoạn từ 24 - 28 ngày tuổi 55

Biểu đồ 4.8 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con theo ổ thí nghiệm giai đoạn 24 – 28 ngày tuổi 57

Biểu đồ 4.9 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con từng ngày giai đoạn 24 -28 ngày tuổi 59

Biểu đồ 4.10 Tỷ lệ mắc tiêu chảy của lợn con từ 24 - 28 ngày tuổi 61

Biểu đồ 4.11 Hiệu quả kinh tế sử dụng gạo xay thay thế ngô cho lợn con từ 24 – 28 ngày tuổi 63

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Văn Lượng

Tên Luận văn: Sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn cho lợn con lai PiDu x (L x Y) từ 4 đến 28 ngày tuổi

Sử dụng gạo xay thay thế 25% và 50% ngô trong khẩu phần cho lợn con theo

mẹ (4-23 ngày tuổi) và sau cai sữa (24-28 ngày tuổi)

Nguyên vật liệu

- Lợn con PiDu ( LxY) từ 4 – 28 ngày tuổi tại công ty lợn giống Dabaco

Nguyên liệu Gạo Xay: Do công ty DABACO nhập vào

Thức ăn: Sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 4000A, gồm 3 lô: ĐC., TN1, TN2 sử dụng gạo xay thay thế ngô với mức 25%, 50%

Kết quả chính và kết luận

Kết quả chính

- Sử dụng gạo xay thay thế ngô tỷ lệ 50% ứng với lô 3 đã đưa lại các kết quả tốt nhất, cụ thể như sau:

- Tăng khả năng tăng khối lượng của lợn con, mức tăng khối lượng của các lô 1,

2 và 3 lần lượt là: 246,67 g/con/ngày; 251,35g/con/ngày và 267,98 g/con/ngày

- Ảnh hưởng tích cực đến khả năng phòng bệnh tiêu chảy của lợn con, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của các lô 1, 2 và 3 lần lượt là 4,45%; 3,33% và 2,5%

- Giảm chi phí thuốc thú y, mức chi phí của các lô 1, 2 và 3 lần lượt là: 300 VNĐ/con; 150VNĐ/con và 100 VNĐ/con

- Khi sử dụng gạo xay thay thế ngô trong khẩu phần ăn cho lợn con đã làm tăng mức

độ chênh lệch giữa thu và chi theo hướng có lãi hơn đặc

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Van Luong

Thesis title: Using milled rice to replacing corn in the diet of piglets PiDu (LxY) from 4 to 28 days of age

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

To determine the effects of using milled rice to replace corn in the diet of foreign piglets in the period from 4 to 28 days of age

- Milled rice: purchased by Dabaco Nuclear Breeding Pig Company

- Food: Used in the experiment is a complete mixture food 4000A, consists of three lots: ĐC TN1 TN2, using milled rice to replace corn with ratio 25%, 50%

Main findings and conclusions

- Positive influence to the ability preventing diarrhea disease for piglets, the rate

of diarrhea in the plot of 1, 2 and 3 is 4.45%; 3.33% and 2.5% respectively

-Reduce the cost of veterinary medicines, the cost of the plot of 1, 2 and 3 is 300 000/children; 150VNĐ/children and 100 000/ respectively

Using the milled rice replacing corn in the diet of piglets has been increased the level of discrepency between revenues and costs towards more profitable

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nền nông nghiệp nước ta gắn liền với cây lúa nước trên diện tích khoảng 4,3 triệu hecta Nước ta cũng là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan) Đây là một tiềm năng rất lớn cần được khai thác cho thị trường thức ăn chăn nuôi Trong những năm gần đây, ngành sản xuất thức ăn công nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh, với sản lượng năm 2012 đạt 12,7 triệu tấn và đến năm 2013 với 234 nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp (công suất thiết kế 22,3 triệu tấn/năm) đã sản xuất 17 triệu tấn thức ăn/năm, vượt Thái Lan (Cục Chăn nuôi, 2014) Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7 triệu tấn gạo thu

về 3 tỷ đô la nhưng hàng năm Việt Nam lại phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu

để sản xuất thức ăn chăn nuôi Năm 2011, Việt Nam đã sử dụng gần 3,7 tỷ đô la

để nhập khẩu gần 8 triệu tấn thức ăn, trong đó đáng chú ý 1,3 tỷ đô la để nhập 3,86 triệu tấn ngô, cám gạo và lúa mỳ (Cục Chăn nuôi, 2012) Để đáp ứng chiến lược phát triển chăn nuôi, đến năm 2020 nhu cầu sử dụng thức ăn của Việt Nam ước tính là 27,4 triệu tấn (tăng 1,3 lần so với năm 2012) Như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, đặc biệt các loại giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, khô dầu đỗ tương Tuy nhiên Hội đồng ngũ cốc quốc tế (IGC) dự báo sản lượng ngô thế giới trong một số năm tới sẽ giảm nhiều do thời tiết khô hạn ở một số quốc gia sản xuất lớn như Mỹ, Ấn Độ Dự báo sản lượng lúa mỳ thế giới ước tính giảm xuống còn 662 triệu tấn so với dự kiến 665 triệu tấn

Trong một tương lai không xa, chúng ta hướng đến chăn nuôi để xuất khẩu

Vì vậy nếu chăn nuôi luôn phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu thức

ăn chăn nuôi từ các nước như hiện nay thì sẽ là một rào cản khó vượt qua để hướng đến mục tiêu Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng vẫn phải nhập quá nhiều nguyên liệu như ngô, đậu tương, cám gạo thì không thể đảm bảo cho một ngành chăn nuôi bền vững Bên cạnh đó, hàng năm Việt Nam còn tồn dư một lượng lớn thóc trong dân, giá lúa nhiều lúc giảm thấp, nhà nước đã phải chi nguồn ngân sách không nhỏ cho việc mua tạm trữ lúa gạo

để bình ổn giá Như vậy trong khi nguồn lúa gạo trong nước tồn đọng khá lớn (khoảng 2 triệu tấn mỗi năm), thì ngành chăn nuôi lại chi ra một khoản ngoại tệ

Trang 13

không nhỏ để nhập 4 triệu tấn nguyên liệu cung cấp năng lương như ngô lúa mì

để sản xuất thức ăn chăn nuôi

Để đáp ứng được chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 nhu cầu

sử dụng TĂCN của cả nước ước tính là 27,4 triệu tấn, như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa trong khi sản lượng ngô, lúa mì trên thế giới đang trên đà sụt giảm mạnh, giá liên tục tăng Vì vậy, Việt Nam phải tìm cách thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu của các nước như hiện nay Để giúp ngành chăn nuôi giải quyết khó khăn trong việc tìm nguyên liệu và chủ động được nguồn nguyên liệu trong nước chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn cho lợn con lai PiDu x (LxY) từ 4 đến 28 ngày tuổi” 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định tỷ lệ sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn con lai PiDu x (LxY) từ 4 - 28 ngày tuổi

Xác định hiệu quả của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô trong khẩu phần của lợn con lai giống ngoại giai đoạn từ 4 đến 28 ngày tuổi

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TIỀM NĂNG SỬ DỤNG LÚA GẠO TRONG CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM

Sản xuất lúa gạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ nông dân tham gia sản xuất lúa gạo, chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền thống Do sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các hộ nông dân, nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo

Nước ta có hai vùng trọng điểm sản xuất lúa là đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 4 triệu ha gieo trồng/năm) và đồng bằng sông Hồng (khoảng 1,1 ha gieo trồng/ năm) Năm 2011, diện tích gieo cấy lúa cả nước là 7,652 triệu ha, năng suất trung bình đạt 55,3 tạ/ha, sản lượng thóc cả nước khoảng 42,3 triệu tấn (Niên giám thống kê, 2011) Theo Cục Trồng Trọt - Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, qui hoạch quĩ đất trồng lúa năm 2015 là 3,899 triệu ha, trong đó lúa nước hai vụ trở lên là 3,258 triệu ha, diện tích gieo trồng là 7,3 triệu ha.; Năm

2020 bảo vệ quỹ đất lúa ổn định là 3,812 ha, trong đó lúa hai vụ trở lên là 3,222 triệu ha, diện tích gieo trồng 7 triệu ha Áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến để đạt sản lượng 42 – 43 triệu tấn vào năm 2015 – 2020, đảm bảo

an ninh lương thực và xuất khẩu gạo

Như vậy, sản lượng thóc của nước ta từ nay đến năm 2020 dao động trong khoảng từ 42 - 43 triệu tấn/năm Nhu cầu thóc giống trong nước từ 0,8 - 1 triệu tấn/năm Nhu cầu thóc để ăn và dự trữ trong cả nước mỗi năm khoảng 22 - 24 triệu tấn Nhu cầu thóc để chế biến khoảng 0,6 - 1,0 triệu tấn Nhu cầu cho chăn nuôi và hao hụt từ 7,5 - 8,5 triệu tấn/năm Như vậy, lượng thóc hàng hóa dự kiến trong năm 2015 là 11,1 triệu tấn và năm 2020 là 8,7 triệu tấn Đây là nguồn thóc gạo rất lớn đối với thị trường trong nước

Việt Nam là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan) Trong năm 2011, nước ta đã xuất khẩu khoảng 7,1 triệu tấn gạo Theo Tổng Công ty Lương thực Miền Nam, những năm gần đây xuất khẩu gạo của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tuy có tăng về lượng nhưng giảm dần về giá trị Năm 2012, sản lượng gạo xuất khẩu đạt 7,72 triệu tấn (tăng 8,3% so năm 2011),

Trang 15

trị giá FOB 3,45 tỉ USD (giảm 1,98%); năm 2013 đạt gần 6,7 triệu tấn, trị giá FOB hơn 2,89 tỉ USD Có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là gạo Việt Nam vừa không có thương hiệu, chất lượng lại thấp (khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là gạo có phẩm cấp thấp - 25% tấm) nên khó tiếp cận vào các phân khúc thị trường cấp cao Trong khi đó phân khúc cấp trung, cấp thấp lại có nhiều quốc gia cùng cạnh tranh, đưa đến giá bán và lợi nhuận giảm Để giảm thiểu rủi

ro và nâng cao lợi nhuận, các chuyên gia nghiên cứu đưa ra báo cáo này khuyến nghị, cần chọn phân khúc thị trường gạo chất lượng cao và đặc sản cho xuất khẩu trong thời gian tới, đồng thời cần chú trọng vào việc chế biến đa dạng hóa các sản phẩm từ lúa gạo

Một vấn đề được nhiều người quan tâm, nó như một nghịch lý, khi Việt Nam là một nước nông nghiệp, kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm đạt khoảng 3,7 tỷ USD thì kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cũng gần 3 tỷ USD Vìệc sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu thức ăn nhập khẩu mà giá các nguyên liệu này lại không ngừng tăng lên Giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng lên do rất nhiều nguyên nhân, trong đó thiên tai cũng là những cảnh báo đáng lo ngại Vụ thiên tai cuối năm 2011 và đầu năm

2012, một vụ khô hạn chưa từng có trong 25 năm qua ở Mỹ đã làm cho 61% diện tích đất trồng trọt bị ảnh hưởng và làm giảm đáng kể sản lượng ngô và đỗ tương World Bank cảnh báo rằng khô hạn sẽ còn tiếp tục diễn ra ở Mỹ, Nga và Ấn Độ, điều này làm cho giá ngô và đỗ tương tăng lên tới hai lần so với năm 2010 Báo cáo tổng hợp tình hình thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của phòng Thông tin thương mại và hội nhập quốc tế tháng 9/2013 cho biết, giá thức

ăn và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thế giới đang có xu thế giảm dần Giá ngô đã giảm xuống mức thấp nhất (180,9 USD/tấn) trong phiên giao dịch ngày 20/9/2013 do dự báo sản lượng ngô, lúa mỳ và đỗ tương trên thế giới sẽ tăng lên vào niên vụ 2013/2014 Tuy vậy, sự bất ổn về giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thị trường thế giới vẫn là những khó khăn dẫn đến sự phát triển không bền vững của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi nước ta

Ngành chăn nuôi của Việt Nam sẽ phải đương đầu với những khó khăn, gần như một thảm họa nếu sản xuất thức ăn chăn nuôi bị chi phối bởi nguồn nguyên liệu nhập khẩu Như vậy, việc khai thác nguồn nguyên liệu trong nước để chủ động sản xuất thức ăn chăn nuôi đang là một yêu cầu bức thiết

Trang 16

Thêm vào đó, để tránh nguy cơ mất thị trường do không cạnh tranh được với các quốc gia xuất khẩu gạo khác, ngành sản xuất lúa gạo Việt nam cần áp dụng nhiều giải pháp nhằm nâng cao giá trị hạt gạo và tìm những thị trường cao cấp cho gạo thơm của Việt Nam Đồng thời chúng ta cũng phải tìm thị trường tiêu thụ cho số lượng gạo chất lượng trung bình và thấp khi không xuất khẩu được hoặc xuất khẩu với giá thấp Có thể nói thị trường sản xuất thức ăn gia súc trong nước đang là một tiềm năng cần được khai thác Việc sử dụng lúa gạo để sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể góp phần giải quyết tình hình xuất khẩu gạo gặp khó khăn Tuy nhiên, để khai thác thị trường này, chúng ta cần giải được bài toán về giá thành và hiệu quả của việc sử dụng thóc gạo thay thế ngô và lúa mì nhập khẩu Giải quyết được vấn đề này, chúng ta còn giải quyết được nhiều khó khăn khác đang tồn tại trong thực tế sản xuất của nghành nông nghiệp trong nước

Một trong giải pháp để giải bài toán giá thành trong việc sử dụng thóc gạo thay thế ngô và lúa mì nhập khẩu là sử dụng thóc của các giống lúa cao sản Theo các nhà chuyên môn, giống lúa IR 50404 là giống lúa lai có năng xuất cao (18 tấn/ha/năm) Giống lúa này có thể trồng được tới ba vụ trong năm Đây là giống lúa ngắn ngày có thể thích nghi với mọi điều kiện thời tiết Không những thế, khả năng chống chịu bệnh tật rất tốt, chi phí phân bón thấp nên giá thành hạ Nhược điểm chính là chất lượng gạo của giống lúa này không cao (hạt gạo ngắn, tỷ lệ bạc bụng nhiều, hàm lượng amylose cao nên cơm bị khô cứng), không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nên khó tiêu thụ sản phẩm Do đó, mặc dù năng suất rất cao, song việc canh tác giống lúa này cũng không được khuyến khích do giá bán thấp hơn khá nhiều so với các giống lúa khác Hiện nay, với những thành tựu khoa học

về lúa lai, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu thành công nhiều giống lúa lai siêu cao sản, năng suất có thể đạt tới 20 tấn/ha/năm Như vậy, phương

án sản xuất thóc IR 50404 và các giống lúa lai cao sản khác có giá thành thấp có thể

là đáp án của bài toán thay thế ngô, lúa mì nhập khẩu bằng thóc sản xuất trong nước làm thức ăn chăn nuôi Đây là một phương án có tính khả thi cao trong điều kiện thực tế ở nước ta Nhất là việc xuất khẩu gạo không phải lúc nào cũng thuận lợi Gạo xuất khẩu đòi hỏi phải có chất lượng cao nhưng năng suất của các giống lúa có chất lượng cao thường lại thấp và đòi hỏi kỹ thuật canh tác cao Xuất khẩu gạo khó khăn

sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người trồng lúa và sự phát triển bền vững của ngành này Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã nêu ra một ý tưởng chiến lược hết sức có ý nghĩa, đó là sử dụng lúa gạo làm thức ăn chăn nuôi thay thế

Trang 17

cho việc nhập khẩu ngô và lúa mì Biện pháp này vừa giải quyết được đầu ra cho người trồng lúa, vừa đỡ tiêu tốn ngoại tệ cho việc nhập khẩu ngô và hạt mì để sản xuất thức ăn chăn nuôi

Như vậy, tiềm năng lúa gạo sản xuất trong nước sử dụng làm thức ăn chăn nuôi là rất lớn Với các giải pháp như qui hoạch vùng sản xuất lúa gạo để sản xuất thức ăn chăn nuôi (Các giống lúa không đòi hỏi chất lượng gạo cao); Nghiên cứu chọn tạo, gieo trồng các giống lúa cao sản phù hợp với mục đích làm thức ăn chăn nuôi; xây dựng qui trình thâm canh phù hợp nhằm phát huy hết tiềm năng năng suất lúa; đồng thời nghiên cứu công nghệ chế biến lúa gạo làm thức ăn chăn nuôi có hiệu quả

2.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc gạo

Thóc và phụ phẩm của ngành chế biến thóc gạo bao gồm các thành phần như trấu (husk), chiếm tỷ lệ khoảng 20%; gạo xay (còn gọi là gạo lức, gạo lật - brown rice) với tỷ lệ khoảng 80%; cám bổi (polard) chiếm 11%, trong đó, cám mịn (Rice polishing) là 8% và cám thô (bran) là 3%; tấm (crack rice) khoảng 2%

và gạo trắng (white rice) chiếm tỷ lệ khoảng 67%

Tỷ lệ các thành phần của thóc, gạo và các loại phụ phẩm được trình bầy trong Sơ đồ 2.1

Trước đây, khi thóc gạo còn khan hiếm, phần gạo trắng thường được sử dụng làm lương thực cho người Người ta chỉ sử dụng các sản phẩm phụ như tấm

và cám làm thức ăn chăn nuôi

Sơ đồ 2.1 Tỷ lệ phụ phẩm của ngành xay xát thóc

Nguồn: Floukes ( 1998)

Trang 18

Tuy nhiên, hiện nay chúng ta có thể sử dụng cả gạo để sản xuất thức ăn chăn nuôi Vì thế, thông thường người ta hay sử dụng gạo xay (còn gọi là gạo lứt hay gạo lật) Tỷ lệ gạo xay chiếm tới 80%, bao gồm cả tấm và cám

Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại hạt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như giống cây trồng, chế độ canh tác, đặc điểm thổ nhưỡng và mùa vụ gieo trồng v.v Vì vậy, các kết quả nghiên cứu trên các giống khác nhau, chế độ canh tác và mùa vụ ở các địa phương khác nhau thì kết quả cũng sẽ khác nhau

Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo xay và ngô được đánh giá ở các chỉ tiêu năng lựợng, protein thô, chất béo, chất chiết không nitơ, chất xơ, chất khoáng theo kết quả của Kyiomi Kosaka (1990) được trình bầy ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng

của thóc, gạo xay và ngô

Nguồn: Kiyomi Kosaka (1990)

*STFC: Srandard Tables of Feed Composition in Japan, 1987

** Arbolio: Một chủng thóc của Ý, chi tiết từ Yamzaki et al (1988 )

Kết quả ở bảng 2.1 cho thấy, sự khác nhau về hàm lượng protein thô, chất triết không nitơ và tro thô giữa ngô và gạo xay là không đáng kể Đặc biệt giá trị năng lượng trao đổi của ngô và gạo xay gần như tương đương nhau (3,27 và 3,29 Mcal/kg) Mặc dù hàm lượng lipit thô của gạo xay thấp hơn ngô khá nhiều (2,1

Trang 19

và 3,9 %) Điều này cho thấy thay thế ngô bằng gạo, hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng Hàm lượng xơ thô trong gạo xay thấp hơn trong ngô là 1% (0,9 và 1,9%) Điểm yếu nhất của gạo xay so với ngô là rất nghèo sắc tố (xanthophyll và criptoxanthine…)

Riêng thóc, có nhiều yếu điểm hơn so với ngô và gạo xay Giá trị năng lượng trao đổi của thóc thấp hơn so với gạo xay và ngô khoảng 15-20% Hàm lượng xơ thô cao hơn gạo xay từ 6,1 – 7,7% và cao hơn ngô từ 5,1 – 6,7% Đặc biệt vỏ trấu của thóc rất khó tiêu hóa Theo Sikka (2007) trong vỏ trấu có 35% cellulose, 30% lignin, 18% pentosans và 17% tro thô

Trong kết quả nghiên cứu của mình, Piao et al (2002) đã cho biết thành phần axit béo của ngô và gạo xay (bảng 2.2.)

Bảng 2.2 Thành phần axit béo của ngô và gạo xay (%)

Axit béo bão hòa

Axit béo chưa bão hòa

Chưa bão hòa đơn

0,7643

Nguồn: Piao et al.(2002)

Hàm lượng chất béo của gạo xay tuy chỉ bằng khoảng 2/3 của ngô, nhưng hàm lượng axit béo no của gạo xay lại cao hơn ngô (2,007 và 1,384) Tuy nhiên,

Trang 20

hàm lượng axit béo chưa no lại thấp hơn ngô (0,9055 và 0,9599) Kết quả là tỷ lệ axit béo chưa no và axit béo no (USFA/SFA) của gạo xay (0,4512), thấp hơn của ngô (0.6936) Điều này giúp cho mỡ thân thịt của gia súc, gia cầm sử dụng gạo xay để vỗ béo có độ cứng hơn và dễ chế biến hơn so với sử dụng ngô để vỗ béo

Kết quả nghiên cứu của Leeson and Summer (2008) đã cho biết thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo xay, ngô và lúa mì (bảng 2.3.) Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thóc, gạo xay, ngô và lúa mỳ (%)

Nguồn: Leeson and Summer (2008)

Kết quả ở bảng 2.3 cho biết, giá trị năng lượng trao đổi (ME) cao nhất là của gạo xay (3345kcal/kg), tiếp đến là ngô (3330 kcal/kg); sau đó là lá lúa mì (3150 kcal/kg) và thấp nhất là thóc (2680 kcal/kg) Ngược lại, hàm lượng xơ cao nhất là trong thóc (10,0%), tiếp đó là lúa mì (2,7%), sau đó là ngô (2,5%) và thấp nhất là gạo xay (1,2%) Hàm lượng lipit cao nhất trong ngô (3,8%), sau đó là gạo

Trang 21

xay (2,42%) và thấp nhất trong lúa mì (1,5%) Hàm lượng các chất khoáng và axit amin tổng số trong hạt ngô là thấp nhất và cao nhất là trong hạt lúa mì

Kết quả nghiên cứu của Piao et al (2002) về hàm lượng protein thô cùng hàm lượng 16 axit amin trong ngô và gạo xay được trình bày trong bảng 2.4

Bảng 2.4 Thành phần axit amin của gạo xay và ngô hạt

Nguồn: Piao et al (2002)

Kết quả ở bảng 2.4 cho thấy, trong ngô và gạo xay có hàm lượng protein thô (7,93 và 8,00%) gần như nhau Trong 16 axit amin phân tích được thì có chín axit amin (Asparctic, glycine, valine, methionine, isoleucine, leucine, lysine, argynine, cystine) trong ngô cao hơn gạo xay; có bẩy axit amin (threonine,

Trang 22

serine, glutamic, alanine, tryptophane, phenylalanine, histidine) trong gạo xay cao hơn ngô

Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của ngô và gạo xay theo Li et al (2006) được trình bày ở bảng 2.5

Bảng 2.5 Thành phần hóa học của ngô và gạo xay

Trang 23

Kết quả ở bảng 2.5 cho biết, trong các chỉ tiêu phân tích cơ bản về thành phần hóa học của ngô và gạo xay gồm protein thô, lipit thô, xơ thô, tro thô và tinh bột tổng số thì chỉ có hàm lượng tinh bột tổng số của gạo xay là cao hơn hẳn so với ngô (72,4 và 59,6%) Các chỉ tiêu khác, sự khác nhau giữa ngô và gạo xay không nhiều

Trong 10 axit amin thiết yếu được phân tích thì có tám axit amin (Arginine, isoleucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophane, valine) trong gạo xay cao hơn ngô, chỉ có hai axit amin (histidine và leucine) trong ngô cao hơn gạo xay Trong số năm chất khoáng phân tích được gồm Ca,

P, Cu, Zn, Mn trong gạo xay đều cao hơn ngô

Kết quả nghiên cứu của Li et al (2006) cho biết, giá trị năng lượng trao đổi (ME) của gạo xay và ngô tương ứng là 14,13 và 14,24 MJ/kg; tỷ lệ ni tơ tích lũy là 48 và 54,7%; giá trị sinh học protein (BV) của ngô là 59,1% và gạo xay là 64,6%; tỷ lệ protein thuần sử dụng (NPU) của ngô là 47,8% và gạo xay là 54,9% Như vậy, có thể nói, chất lượng protein của gạo xay tốt hơn của ngô

Theo Sittiya et al (2011) giá trị ME tương ứng của ngô và gạo xay là

2790 và 3020 kcal/kg; Giá trị năng lượng trao đổi thực (TME) của gạo xay khác nhau theo giống lúa và biến động từ 2904 đên 3692 kcal/kg

Kết quả phân tích thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia cầm Việt nam của Viện Chăn nuôi quốc gia (1995) đã cho biết thành phần hóa học và giá trị năng lượng trao đổi của thóc tẻ, gạo tẻ xay, ngô và lúa mỳ (bảng 1.6 và 1.7)

Khác với hầu hết kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, kết quả

ở bảng 1.6 cho thấy giá trị năng lượng trao đổi của ngô vàng cao hơn gạo tẻ xay 50 kcal/kg (3321 và 3271 kcal/kg) Điều này không có gì đặc biệt bởi thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại hạt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Thời điểm phân tích, mẫu phân tích, giống cây trồng và chế độ canh tác khác nhau thì kết quả cũng khác nhau

Trang 24

Bảng 2.6 Thành phần hóa học của thóc, gạo xay và ngô

Chỉ tiêu tiêu tiêu tiêu tiêu Thóc tẻ Gạo tẻ xay Ngô vàng

Năng lượng trao đổi (kcal/kg) 2687 3271 3321

Nguồn: Viện Chăn nuôi (1995)

Bảng 2.7 Thành phần axit amin trong thóc, gạo tẻ, ngô tẻ và lúa mỳ Axit amin (g/kg thức ăn) Thóc tẻ Gạo tẻ Ngô tẻ Lúa mỳ

Trang 25

Hàm lượng protein thô của ngô cao hơn gạo xay (8,90 và 8,61), tuy nhiên mức cao hơn là không nhiều Kết quả này phù hợp với kết quả của Leeson và Summer (2008) Giá trị năng lượng trao đổi và hàm lượng protein thô trong ngô

và gạo tẻ xay đều cao hơn trong thóc tẻ

Kết quả ở bảng 2.7 cho thấy hàm lượng axit amin tổng số cao nhất trong hạt lúa mì, sau đó là hạt gạo tẻ, tiếp đến là ngô và thấp nhất trong thóc tẻ

Từ các kết quả phân tích thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo ngô và lúa mì ở trên cho thấy, giá trị năng lượng, hàm lượng protein và các axit amin giữa gạo xay và ngô không khác nhau nhiều Điều này cho thấy có thể sử dụng gạo xay thay thế ngô trong khẩu phần ăn cho các loại gia cầm Song, điểm hạn chế nhất của gạo so với ngô đỏ và vàng không phải là ở các thành phần dinh dưỡng đã nêu trên mà là hàm lượng các sắc tố (xanthophyll) Trong 1kg ngô

đỏ hay vàng có 20 – 30 mg sắc tố, nhưng trong gạo gần như không có (2 – 3mg/kg) Sắc tố tuy không cung cấp năng lượng hay các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm, nhưng lại có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Thiếu sắc tố sẽ làm da gà có mầu trắng và lòng đỏ trứng có mầu vàng rất nhạt Điều này làm giảm chất lượng sản phẩm và không hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, vấn đề này hoàn toàn có thể giải quyết được trong chăn nuôi hiện nay Chúng ta có thể sử dụng gluten ngô, DDGS (phụ phẩm chế biến Ethanol) và các loại bột thức ăn xanh để bổ sung thêm sắc tố trong khẩu phần ăn cho gia cầm Như vậy, xét về mặt dinh dưỡng, khả năng sử dụng gạo xay (brown rice) thay thế ngô trong chăn nuôi là hoàn toàn khả thi

2.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON

2.3.1 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con

Khi còn trong cơ thể mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai được xác định do thân nhiệt của lợn mẹ Sau khi sinh, cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt bị mất đi nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh phân trắng lợn con Trong tuần lễ đầu, thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Ở hai ngày đầu, nếu nhiệt độ môi trường từ 5 - 6°C, lợn con có thể chết do lạnh và mất nhiệt Khả năng điều tiết nhiệt ở lợn con trong 3 tuần tuổi đầu còn rất kém do thân nhiệt chưa ổn định Nguyên nhân chủ yếu lớp

mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và lượng đường glycogen được dự trữ trong cơ thể còn ít, cho nên khả năng cung cấp năng lượng để chống rét bị hạn chế Mặt

Trang 26

khác, trên cơ thể lợn lông mao đang còn thưa nên khả năng giữ nhiệt còn kém

Do đó, khi nuôi lợn con trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, thân nhiệt của lợn con giảm nhanh làm cho lợn con dễ bị cảm lạnh, hay bị ỉa chảy và ỉa phân trắng Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt lợn con mới tương đối ổn định (39 - 39,5°C), khả năng điều hòa thân nhiệt tốt dần lên để đáp ứng với môi trường bên ngoài

Cơ thể lợn con mới sinh có tới 82% là nước, sau 30 phút nước giảm 12% thân nhiệt giảm 5°C Do vậy lợn con bị lạnh, hoạt động chức năng của các bộ phận trong cơ thể bị rối loạn, đòi hỏi phải sưởi ấm cho lợn con nhất là trong 7 ngày đầu đảm bảo cho sự trao đổi năng lượng và trao đổi vật chất cao Nếu chuồng có độn rơm, phoi bào, đèn sưởi để có nhiệt độ 32 - 34°C trong tuần đầu,

29 - 30°C trong tuần sau, từ ngày tuổi thứ 10 lợn con mới tự điều chỉnh cân bằng được thân nhiệt

Nghiên cứu khác cho thấy ở lợn sơ sinh, tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82

%, vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhiều, 30 giây sau đẻ, nước trong cơ thể giảm 1,5 - 2% kèm theo thân nhiệt giảm 5 - 10°C lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến lợn con bị chết non Yêu cầu nhiệt độ của lợn con sơ sinh đến 7 ngày tuổi: 32 - 34°C, sau 7 ngày tuổi: 29 - 30°C nhiệt độ thích hợp cho lợn con:

Sơ sinh đến 7 ngày tuổi: 30 - 32°C

Từ 8 - 21 ngày tuổi: 28 - 29°C Từ 22

- 56 ngày tuổi: 27 - 28°C

Có thể nói, khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra Cho nên nếu nuôi lợn con trong chuồng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao thì thân nhiệt hạ xuống càng nhiều

Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 38°C, sau 10 ngày tăng lên

39,5 đến 39,7°C và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 1°C Chuồng lạnh là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp (mẹ

đè chết con) làm tỷ lệ chết của lợn con cao Lợn chết trong 48 giờ là 12,1% khi nhiệt độ chuồng nuôi là 20 -25°C , trong khi đó tỷ lệ chết là 7,7% khi nhiệt độ chuồng nuôi lớn hơn 25°C (Vũ Duy Giảng, 2001)

Lợn con dưới 3 tuần tuổi, nếu nuôi ở nhiệt độ chuồng nuôi là 18°C thì thân nhiệt của lợn con giảm xuống 2°C so với thân nhiệt ban đầu Khi nhiệt độ chuồng nuôi giảm xuống 0°C thì thân nhiệt lợn con giảm xuống 4°C Khi khối

Trang 27

lượng sơ sinh trung bình của lợn con là 1,13 kg được nuồi ở trong chuồng nuôi

có nhiệt độ 16 - 21°C thì sau 30 phút thân nhiệt lợn con bị giảm xuống 1,6°C nhưng lợn con có khối lượng trung bình 2,4 kg nuôi trong điều kiện là - 4°C thì thân nhiệt giảm tới 16,6°C Điều này chứng tỏ khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con ít phụ thuộc vào khối lượng sơ sinh mà chủ yếu phụ thuộc và nhiệt độ chuồng nuôi và tuổi lợn con

Trong thực tế, những biến động thời tiết thường tạo ra môi trường nhiệt độ rất khác biệt với vùng nhiện độ tối thích của lợn con và đó chính là một trong số những nguyên nhân dẫn tới khủmg hoảng sinh lý của lợn con sau cai sữa (Hitoshi Mikami, 1994)

2.3.2 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con

Sau khi sinh cần phải cho lợn bú ngay sữa đầu vì sữa đầu có giá trị dinh dưỡng rất cao: hàm lượng vitamin A gấp 5- 6 lần so với sữa thường, vitamin D gấp 3 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Lợn con mới sinh

ra sống nhờ vào sữa mẹ, lúc này chức năng của cơ quan tiêu hoá chưa hoàn thiện Nghiên cứu thành phần của sữa lợn cho biết trong 1 kg sữa đầu có chứa 175g protein thô, gấp khoảng 3 lần so với sữa thường (56g) Song hàm lượng lipit và đường lactose trong sữa đầu ( 67g và 32g/kg) lại thấp hơn trong sữa thường (101g và 49g), điều này sẽ giúp lợn con sử dụng sữa đầu tốt hơn

Đặc biệt sữa đầu có 11,29% protein huyết thanh, trong đó có 45,29% là γ globulin có tác dụng làm tăng sức đề kháng cho cơ thể lợn con Sau khi bú sữa đầu, hàm lượng protein tổng số trong huyết thanh tăng từ 2,28g/100ml lên 6,00g/100ml

Khả năng tiết enzym của lợn thay đổi theo tuổi và giảm sau cai sữa Những nghiên cứu cho thấy hình thành enzym có mối quan hệ với lượng thức ăn thu nhận, và thức ăn thu nhận càng cao thì hoạt tính enzym càng mạnh Theo Lindemann et al (1986) hoạt tính enzym tăng khi dang bú mẹ và giảm khi cai sữa ( khi lượng thức ăn thu nhận thấp), và lại tăng lại sau khi lợn co qua stress sau cai sữa Một số loại men tiêu hóa được trình bày ở bảng 2.1 Enzym trong dịch vị đã có từ khi lợn mới đẻ, nhưng trước 20 ngày tuổi chúng chưa có khả năng tiêu hóa vì trong dịch vị thiếu axit HCl Hoạt lực của enzym tăng lên theo

độ tuổi một cách rõ rệt, cụ thể là 9 ngày tuổi tiêu hoá 30mg Fibrin trong 19 giờ,

28 ngày tuổi chỉ cần 2 -3 giờ, đến 50 ngày tuổi HCl 0,4% vào thức ăn cho lợn 3 – 4 ngày tuổi sẽ kích thích tiết dịch vị và tăng khả năng tiêu hoá của lợn con

Trang 28

Bảng 2.8 Một số loại men tiêu hóa Enzym Chất dinh dưỡng tiêu hóa

Khả năng ngưng kết sữa của dịch vị lợn con cũng thay đổi theo tuổi, lượng chymozine tăng lên trước 1 tháng tuổi, sau đó bị giảm Khả năng miễn dịch của lợn con thường được đánh giá thông qua hàm lượng γ globulin có trong máu 24 giờ sau khi bú sữa đầu, hàm lượng γ globulin trong máu lợn đạt 20,3 mg/100ml máu, hàm lượng γ globulin trong máu tăng lên chậm dần, đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24 mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65,0 mg γ globulin/100ml máu) Hàm lượng γ globulin tăng lên là do cơ thể lợn con đã có đáp ứng miễn dịch thụ động Một vài nghiên cứu đã phát hiện rằng miễn dịch thụ động có thể kéo dài tới vài tháng

Những γ globulin có phân tử lượng lớn (macro - molecular globulin) có thể hấp thu toàn bộ qua vách ruột chỉ trong vòng 36 giờ mà không bị mất hoạt tính miễn dịch Chất ức chế tripsin ở sữa đầu đã hạn chế sự phân giải các protein miễn dịch của tripsin trong 1 - 2 ngày đầu sau khi sinh Sau đó, khả năng hấp thu qua niêm mạc ruột giảm xuống là do nồng độ chất ức chế này giảm dần Hơn nữa thành phần sữa đầu cũng biến đổi rất nhanh trong vòng 24 giờ; hàm lượng protein từ 18% xuống còn 7%, hàm lượng γ globulin giảm từ 51% xuống còn 27%

Trang 29

Khả năng miễn dịch của lợn phụ thuộc vào số lượng γ globulin mà chúng hấp thu được, nhưng tốc độ hấp thu lại bị khống chế bởi hàm lượng γ globulin trong sữa Do đó cho lợn con bú sữa đầu là việc vô cùng quan trọng để tăng sức đề kháng

Lợn con sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ do chúng chưa ăn được thức ăn và bộ máy tiêu hoá của chúng chưa hoàn thiện, tuy nhiên giai đoạn này cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh Như vậy, ở lợn con nhất là giai đoạn trước 3 tuần tuổi, khả năng tiêu hoá thức ăn còn hạn chế Tuy nhiên, nếu được nuôi dưỡng trong môi trường thích hợp và được cung cấp thức ăn có chất lượng tốt, chế biến hợp lý để tập cho lợn con ăn sớm sẽ cải thiện được những hạn chế này

Các cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non, ruột già Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lit) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp

3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần so với lúc sơ sinh (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Dung tích ruột già của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)

2.3.3 Hiện tượng khủng hoảng sinh lý của lợn con

Lợn con có cường sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 thì cường độ giảm Lợn con có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, khối lượng lợn sau 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần; sau 30 ngày tuổi tăng gấp 6 lần về sau 60 ngày tuổi tăng gấp 14 lần lúc sơ sinh Do có cường sinh trưởng nhanh nên khả năng tích luỹ protein cũng rất nhanh Ở lợn con 20 ngày tuổi, mỗi ngày có thể tích luỹ được 9-14g protein trên

1 kg khối lượng cơ thể Trong khi đó ở lợn lớn mỗi ngày chỉ tích luỹ được 0,3 – 0,5g protein trên 1 kg khối lượng cơ thể Chính vì vậy hiệu quả chuyển hóa thức

ăn ở lợn con cũng tốt hơn lợn lớn, nói cách khác tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng ở lợn con là thấp hơn Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm xuống, trong khi đó khả năng tiêu hoá thức ăn của lợn con lại chưa tốt Điều này sẽ làm giảm hàm lượng hemoglobi trong máu, giảm sức đề kháng của lợn con Đây là giai đoạn khủng hoảng thứ nhất của lợn con, giai đoạn khủng hoảng thứ hai đối với lợn con là giai đoạn bắt đầu cai sữa Đặc biệt là khi cai sữa sớm cho lợn con để nâng cao năng

Trang 30

suất lợn nái về hiệu quả chăn nuôi lợn Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết cai sữa sớm thường gây stress nghiêm trọng cho lợn con, lợn con cai sữa sớm thường ăn

ít, tăng khối lượng thấp hay bị tiêu chảy và tỷ lệ chết cao

Để khắc phục hiện tượng khủng hoảng sinh lý ở lợn con người ta có thể sử dụng đồng thời nhiều biện pháp như tập cho lợn con ăn sớm, chọn nguyên liêu thức ăn có chất lượng cao, công nghệ chế biến thức ăn thích hợp và kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc hợp lý

Tập cho lợn con ăn sớm là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng cho lợn con tập ăn sớm, ăn thêm trong giai đoạn bú sữa sẽ làm tăng khả năng thu nhận thức ăn, tăng tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong giai đoạn cai sữa, đặc biệt khi năng suất sữa của lợn mẹ thấp Tập cho lợn con ăn sớm còn làm giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái, thúc đẩy bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh, sớm hoàn thiện và tạo tiền đề cho giai đoạn sau cai sữa Hoạt tính của các enzym saccaraza, maltaza, trypsin, amilaza tuyến tụy tăng lên đáng kể ở những lợn con được cho ăn thêm thức ăn trong giai đoạn bú sữa

Đối với lợn con cai sữa sớm, khi hệ thống miễn dịch và bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn thiện, cần lựa chọn các loại thức ăn chất lượng cao Protein động vật chất lượng cao như bột cá, giàu protein; bột huyết tương (plasme) giàu kháng thể và axít amin quan trọng, bột whey giàu đường lactose rất tốt cho lợn con tập ăn để cai sữa sớm

Phương pháp chế biến thức ăn thích hợp cũng là một biện pháp quan trọng làm giảm thiểu stress đối với lợn con Sử dụng các phương pháp chế biến để làm tăng tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng có trong thức ăn cũng như tăng mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn của lợn con, sử dụng plasma không những giúp tăng thêm sức đề kháng mà còn kích thích tính thèm ăn của lợn con Sử dụng thức ăn ép viên không những làm tăng tỷ lệ tiêu hoá mà còn hạn chế lượng thức ăn rơi vãi Kích thước viên thức ăn cũng rất quan trọng đối với thức ăn của lợn con Giảm kích thước viên thức ăn từ 2,4mm xuống 2,0mm đã làm tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn con lên 5%

Ngoài các phương pháp trên thì phương pháp cho ăn và việc tạo ra một môi trường sống phù hợp đối với lợn con là vô cùng cần thiết, giúp cho lợn con giảm stress và sinh trưởng tốt Số lượng máng ăn, số bữa ăn trong ngày, chuyển thức ăn từ từ là những yếu tố kỹ thuật cần được lưu ý trong kỹ thuật nuôi dưỡng

Trang 31

lợn con Bên cạnh yếu tố dinh dưỡng thì nhiệt độ, độ ẩm và chế độ chiếu sáng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của lợn con là những vấn đề cần chú ý Những vấn đề này sẽ giúp cho lợn con có môi trường sống tốt để sinh trưởng phát triển tối đa

2.4 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON

2.4.1 Số lượng thức ăn ăn vào và số lần cho ăn trong ngày

Cho ăn với một lượng nhỏ với khoảng cách đều đặn đã nâng cao được năng suất của lợn con Với phương pháp nuôi dưỡng này có thể khắc phục được

2 vấn đề, một là tránh tồn dư lâu thức ăn trong máng, tránh rơi vãi thức ăn, hai là tăng khả năng tiêu hoá hấp thu của lợn con

Sau khi cai sữa lợn con thường bị khủng hoảng, tránh tình trạng đó cần giảm lượng thức ăn hàng ngày

Ngày cai sữa giảm 1/2 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa

Ngày tiếp theo giảm 1/3 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa

Ngày tiếp theo giảm 1/4 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa

Sau đó nếu quan sát thấy lợn không có vấn đề về tiêu hoá cho ăn bình thường như trước ngày cai sữa rồi tăng dần theo nhu cầu của lợn con

Theo Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2004), mức ăn hằng ngày cho lợn con

từ 10 - 45 ngày tuổi như sau:

Bảng 2.9 Mức ăn hàng ngày cho lợn con từ 10 - 45 ngày tuổi

Nguồn: Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2004)

Những lợn con được ăn một bữa trong ngày bị ỉa chảy nhiều hơn so với nhóm lợn được ăn tự do, trái lại những lợn con cho ăn hạn chế năng suất lại khá nhất Sự ăn quá nhiều có thể dẫn đến ứ máu trong dạ dày, ruột Việc cho ăn hạn chế trong thời gian sau cai sữa có hiệu quả rõ rệt đối với việc phòng tránh bệnh

ỉa chảy Số lần cho ăn ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá của lợn: Khi cho lợn ăn

3 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá được 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá được 19,7%

Trang 32

2.4.2 Nhu cầu về năng lượng cho lợn con

Năng lượng là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất Cơ thể cần năng lượng trước hết vào quá trình trao đổi chất Năng lượng cũng cần thiết để tổng hợp lên các mô sinh trưởng mới, protein, mỡ và đường lactose Ngoài ra năng lượng còn được chứa bên trong các kho dự trữ và các sản phẩm phân tiết Năng lượng cũng còn dùng để duy trì thân nhiệt trong môi trường lạnh Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con dựa vào lượng sữa của lợn mẹ cung cấp được và theo khối lượng lợn con qua các tuần tuổi Nói chung ở 2 tuần đầu lợn con hầu như đã được cung cấp đầy đủ năng lượng từ sữa mẹ Từ tuần tuổi thứ 3 cần bổ sung thêm mới đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của lợn con

Để bổ sung năng lượng cho lợn con cần chọn những loại thức ăn có chất lượng cao, dễ tiêu và có hàm lượng xơ thấp (2 – 3%) như bột ngô, gạo, cám gạo loại I (Võ Trọng Hốt và cs., 2000)

Theo NRC (1998), mức năng lượng cần bổ sung cho lợn dựa theo khối lượng lợn con như sau:

Bảng 2.10 Mức năng lượng cho lợn con theo khối lượng cơ thể

Nguồn: NRC.(1998)

Tuy nhiên, trong thực tế nuôi dưỡng lợn con là lợn thịt giai đoạn đang sinh trưởng, chế độ nuôi dưỡng đang được áp dụng phổ biến nhất ở hầu hết các trang trại là cho ăn tự do Với phương thức nuôi dưỡng này, việc tính toán nhu cầu năng lượng tỏ ra không thực tế bởi lẽ khi nuôi bằng chế độ ăn không hạn chế, bản thân con vật có khả năng tự điều chỉnh thức ăn ăn vào để thỏa mãn nhu cầu năng lượng của mình

Theo NRC (1998), để điều chỉnh được lượng thức ăn ăn vào của lợn con và đang sinh trưởng cần lưu ý tới 3 nhóm những nhân tố sau:

Trang 33

Nhóm những nhân tố sinh lý bao gồm: di truyền, điều hòa hormone các yếu tố cảm giác ( vị giác, khứu giác)

Nhóm các yếu tố môi trường: nhiệt độ và ẩm độ môi trường, tốc độ lưu thông không khí, cấu trúc máng ăn, mật độ đàn

Nhóm các yếu tố khẩu phần: sự thiếu và thừa các chất dinh dưỡng, mật độ năng lượng các thức ăn bổ sung khác như kháng sinh, chất kích thích ngon miệng, chế độ cung cấp nước

2.4.3 Nhu cầu về lipit cho lợn con

Lipit thô cũng là 1 trong những chất cần thiết trong khẩu phần ăn của lợn con Nếu thiếu lipit trong khẩu phần con vật sẽ xuất hiện những triệu chứng không bình thường ở da, tốc sinh trưởng giảm, con vật dễ thiếu các vitamin hoà tan trong dầu mỡ như: Vitamin A, D, K… Vì vậy cần bổ sung đủ mỡ, chủ yếu bổ sung bằng dầu thực vật sẽ ngăn ngừa được các hiện tượng trên

Khả năng tiêu hoá lipit của lợn con tăng theo tuổi của chúng Trong 2 tuần đầu sau cai sữa, thì lượng lipit bổ sung nên hạn chế ở mức 2 – 3% khẩu phần là đủ Tính dễ tiêu hoá của lipit có thể tăng từ 69% (trong tuần lễ đầu tiên) lên tới 88% ở

4 tuần sau cai sữa Sau 3 – 4 tuần sau cai sữa tỷ lệ lipit trong khẩu phần ăn có thể tăng lên 4 – 5% Khi bổ sung 5% mỡ lợn và hạt dầu cải vào thức ăn tập cho lơn con bú sữa và cho lợn cai sữa 6 – 8 tuần đã thu được hiệu quả rõ rệt Cần chú ý nếu gluxit và lipit không cân bằng xảy ra các thể xetôn trong quá trình oxy hoá Bình thường xetôn trong máu đạt 1 – 2mg%, nhưng khi dùng mỡ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu thể xetôn tăng 200 – 300mg% gây hiện tượng xetôn huyết, xetôn niệu, cơ thể lợn bị toan huyết, lợn con chết trong trạng thái hôn mê, vì vậy trừ sữa mẹ ra thức ăn bổ sung cần có hàm lượng mỡ chỉ vừa đủ

2.4.4 Nhu cầu về protein và axít amin cho lợn con

Protein là nguyên liệu quan trọng cấu tạo nên tế bào Cơ của lợn chiếm 35 – 40% protein, lợn con có tốc độ phát triển mạnh về hệ cơ, khả năng tích luỹ protein lớn do đó đòi hỏi số lượng và chất lượng protein cao Cần cung cấp 21 -

23 % protein thô trong khẩu phần

Theo Close và Menke (1996), lợn con có tốc độ tăng trưởng trung bình 200g/ngày ở tuần tuổi thứ hai và 350 g/ngày ở tuần tuổi thứ năm Trong hai tuần

lễ đầu các chất dinh dưỡng của lợn con chủ yếu do sữa mẹ cung cấp Từ tuần tuổi thứ ba sữa của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con do đó

Trang 34

cần phải bổ sung thức ăn cho lợn con gọi là thức ăn “Creepfeed” Thức ăn này chứa 20 – 22% protein thô và dễ dàng tiêu hoá đối với lợn con Tỷ lệ tiêu hoá protein của lợn con không chỉ phụ thuộc vào nguồn gốc mà còn phụ thuộc vào tỷ

lệ protein trong thức ăn, hiệu quả sử dụng protein sẽ giảm khi mức protein trong khẩu phần tăng (Zintzen and F.Hoffma et al, 1975)

Trong chăn nuôi, người ta thường xác định nhu cầu protein của vật nuôi theo protein thô và protein tiêu hoá Để nâng cao năng suất chăn nuôi lợn nái, một trong những biện pháp kỹ thuật được ứng dụng trong sản xuất là rút ngắn thời gian cai sữa của lợn con Để có thể cai sữa sớm thành công và đàn lợn con phát triển tốt sau khi cai sữa, cần phải có thức ăn chất lượng tốt và phù hợp với đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con trong giai đoạn này Xác định được tỷ lệ protein và lysine thích hợp trong thức ăn cho lợn con là một vấn đề quan trọng

Để có sự tích luỹ protein thoả mãn thì tất cả axít amin trong thức ăn phải đảm bảo đầy đủ số lượng cũng như chất lượng Sự cân bằng axít amin trong khẩu phần của lợn là rất cần thiết để tổng hợp protein ở các mô Khi thiếu một trong những axít amin cần thiết sẽ dẫn đến thiếu protein của cơ thể NRC (1998) đã đưa ra nhu cầu về năng lượng trao đổi (ME), protein thô và một số axít amin cho lợn con bảng 2.11

Bảng 2.11 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin cho lợn con

Trang 35

Bảng 2.12 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin tổng số

Theo Ủy Ban Dinh Dưỡng động vật (CKB/HA394,2001)

Nghiên cứu của Williams et al (1994) về nhu cầu axít amin cho lợn tính theo Lysine cho biết, nếu lấy Lysine là 100% thì Isoleucine là 54%; Histidine là 32%; Valine là 68%; Tyrosine+Phenylanine là 33%; Leucine là 101%’ Methionine

là 33%; Methionine+Cystine là 57%; Tryptophan là 18%; Threonine là 63%

Lysine là một trong 10 axít amin không thay thế quan trọng bậc nhất

Nó có tác dụng làm tăng tốc sinh trưởng, tăng sức sản xuất thịt Nó còn cần thiết cho sự tổng hợp nucleotit, hồng cầu, cho sự trao đổi bình thường của protein, nếu thiếu nó trong thức ăn thì hoạt động sống và năng suất của động vật bị giảm sút Thiếu Lysine làm giảm năng suất thịt, làm giảm lượng hồng cầu, huyết sắc tố và tốc độ chuyển hoá canxi, photpho gây còi xương, thoái hoá cơ, làm rối loạn hoạt động sinh dục Yêu cầu Lysine trong thức ăn lợn phụ thuộc vào giống, lứa tuổi

và tính năng sản xuất của lợn Khi khẩu phần thiếu hụt Lysine ta có thể bù đắp bằng việc bổ sung vào khẩu phần L-Lysine tổng hợp từ vi sinh vật Việc bổ sung này mang nhiều lợi ích như cân đối được Lysine trong khẩu phần, giảm phần nào protein động vật là các nguyên liệu đắt tiền Tuy nhiên việc bổ sung này cần được hạn chế không nên vượt quá 0,5%

Bởi vì nếu thừa Lysine sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và giảm hiệu quả sử dụng thức ăn Khi thừa Lysine sẽ làm mất mát Arginine dẫn đến mất cân bằng axít amin Tính đối kháng của cặp axít amin Lysine và Arginine cần được chú ý khi bổ sung Lysine

Trang 36

Trong thức ăn của lợn con tập ăn, tỷ lệ lysine thích hợp lại càng quan trọng, đặc biệt là đối với lợn con cai sữa sớm Theo Augenstein et al (1997) tỷ lệ lysine trong thức ăn tập ăn cho lợn con có khối lượng < 5 kg và 5 – 7 kg tương ứng là 1,7 và 1,5%; Steve Dritz (2004) khuyến cáo mức lysine là 1,6 – 1,7% và 1,5 – 1,6%, nhưng theo Feoli et al (2008) lại đưa ra tỷ lệ lysine 1,8%

2.4.5 Nhu cầu về khoáng cho lợn con

Khoáng ngoài chức năng cấu tạo mô cơ thể, khoáng còn tham gia vào nhiều quá trình chuyển hoá của mô cơ thể Trong thành phần cấu tạo của nhiều enzym có mặt các nguyên tố khác nhau Vì thế, thiếu khoáng con vật sẽ bị rối loạn trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản bị ngừng trệ, sức sản xuất giảm

Sữa của lợn mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng hàm lượng các chất khoáng trong sữa mẹ thấp, trong đó các chất khoáng như: Ca, P, Mg, I, Fe, Cu, Zn 2.4.6 Nhu cầu về vitamin cho lợn con

Vitamin tham gia vào hầu hết quá trình trao đổi chất và hoạt động của cơ thể như nó là chất xúc tác sinh học, xúc tiến trong việc tổng hợp, phân giải các chất dinh dưỡng ( trong cơ thể có tới 850 loại men trong đó có khoảng 120 loại

có thành phần của vitamin tham gia) Vitamin còn có trong các tế bào vào cơ thể

và giúp cho lợn con sinh trưởng phát dục cũng như sinh sản bình thường cơ thể lợn thường xuyên nhận được nguồn vitamin từ thức ăn Tuy nhiên đối với đối tượng lợn khác nhau sẽ có nhu cầu vitamin khác nhau Cám gạo có thể dùng làm thức ăn cho tất cả các loại gia súc, gia cầm

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, cho đến nay, các nghiên cứu sử dụng thóc gạo để thay thế một số loại hạt, đặc biệt là thay thế ngô trong các khẩu phần ăn cho lợn chưa được chú ý Tuy nhiên, thóc gạo vẫn được sử dụng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng

- Trong các thí nghiệm nuôi gà broiler nuôi theo phương thức công nghiệp với các mức năng lượng và protein khác nhau, Nguyễn Thị Mai (2001) đã sử dụng 15% gạo xay trong thức ăn cho gà 0 – 2 tuần tuổi; 18,0 – 20,0% cho gà 3 –

5 tuần tuổi và 22 – 24,13% cho gà 6 – 7 tuần tuổi

Trang 37

- Đề tài do các tác giả Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên và Đào Thị Phương (2011) thực hiện nhằm nghiên cứu tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, giảm áp lực nhập khẩu và xây dựng cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật làm thức ăn cho lợn Các tác giả tiến hành thí nghiệm trên 6 lợn đực thiến có khối lượng trung bình 40 kg, nuôi trên các cũi tiêu hóa, thiết kế theo phương pháp ô vuông Latin kép, với 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn

12 ngày để xác định các giá trị năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng trao đổi (ME) của thóc và gạo lật Các nguyên liệu thức ăn chính dùng trong thí nghiệm gồm ngô Sơn La, thóc và gạo lật của giống lúa IR50404 được phân tích thành phần hóa học và hàm lượng các axit amin Kết quả cho thấy, một số thành phần dinh dưỡng cơ bản của gạo lật giống lúa IR50404 như hàm lượng protein thô, một số axit amin thiết yếu (histidin, threonin, methionin, phenylalanin) tương tự ngô Sơn La nhưng hàm lượng của những thành phần này ở thóc giống lúa IR50404 thấp hơn đáng kể Tuy nhiên, thóc giống IR50404 có hàm lượng xơ thô, NDF (chất xơ trung tính) và khoáng tổng số cao hơn đáng kể so với ngô và gạo lật Giá trị DE và ME của gạo lật giống lúa IR50404 được thử nghiệm trên lợn đang sinh trưởng lần lượt là 3.866 và 3.767 kcal/kg VCK (vật chất khô), tương đương ngô (3.882 và 3.779 kcal/kg VCK) Giá trị DE và ME của thóc giống IR50404 được thử nghiệm trên lợn đang sinh trưởng lần lượt là 3.353 và 3.216 kcal/kg VCK, thấp hơn so với ngô và gạo lật từ 13%-15% (nguồn: TC Nông nghiệp và PTNT, tháng 1/2015)

Lã Văn Kính và cs (2015) đã tiến hành xác định tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và giá trị năng lượng trao đổi của thóc và gạo lật làm thức ăn cho gia cầm Thí nghiệm này được tiến hành trên 210 con gà trống Lương phượng đã được cắt bỏ manh tràng có khối lượng trung bình 558 gam/con, được bố trí ngẫu nhiên vào các cũi trao đổi chất với lặp lại 5 lần và 3 khẩu phần Các khẩu phần được sử dụng trong thí nghiệm gồm: (1) Khẩu phần cơ sở; (2) Khẩu phần thí nghiệm thóc: 80% khẩu phần cơ sở và 20% thóc tính theo khối lượng ; (3) khẩu phần thí nghiệm gạo lật: 60% khẩu phần cơ sở và 40 % gạo lật tính theo khối lượng, thời gian thí nghiệm là 7 ngày (4 ngày thích ghi và 3 ngày thu mẫu) để

Trang 38

xác định tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, béo thô, xơ thô, khoáng ; dẫn xuất không chứa ni tơ ; giá trị năng lượng trao đổi của thóc và gạo lật (giống IR50404) Kết quả thí nghiệm cho thấy thóc có tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, béo thô, xơ thô, khoáng và dẫn xuất không chứa ni

tơ l ần lượt là: 72,80; 77,50; 72,31; 64,77; 35,47 60,23 và 83,29% Năng lượng trao đổi biểu kiến và năng lượng trao đổi biểu kiến hiệu chỉnh của 1 kg thóc (88,81% VCK) là 2.876 và 2.570 kcal Gạo lật có tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, béo thô, xơ thô, khoáng và dẫn xuất không chứa ni tơ l ần l ượt là: 74,15; 87,82; 79,63; 79,74; 46,42; 62,54 và 89,96% Năng lượng trao đổi biểu kiến và năng lượng trao đổi biểu kiến hiệu chỉnh 1 kg gạo lật (87,81% VCK)

Trang 39

Bảng 2.14 Thành phần hóa học của thóc và gạo lật (% VCK)

Nguồn: Trần Quốc Việt và cs (2015)

Các số liệu ở bảng 2.14 cho thấy, hàm lượng vật chất khô ở thóc cao hơn

so với gạo lật (89,2% so với 87,8%), nhưng hàm lượng chất hữu có ở gạo lật cao hơn so với thóc (98,45% so với 94,67%) Sở dĩ như vậy là vì tỷ lệ khoáng tổng số của thóc cao hơn khá nhiều so với gạo lật (5,33% so với 1,55%) Không có sự khác biệt nhiều về hàm lượng lipit, nhưng có sự khác biệt khá lớn về hàm lượng protein thô, xơ thô và NDF giữa thóc và gạo lật Hàm lượng protein thô của thóc giống lúa IR50404 là 7,28% tính theo vật chất khô, giá trị này ở gạo lật là 8,91% Không chỉ

có hàm lượng protein thô thấp hơn, mà đặc trưng cơ bản của thóc xét về thành phần hóa học là hàm lượng xơ thô và NDF cao hơn khá nhiều đối với gạo lật (hàm lượng

xơ thô cao gấp 8,3 lần và NDF cao hơn 4,1 lần) Đặc điểm này của thóc cần phải được hết sức lưu ý khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Hiện nay, trên thế giới không

có nhiều cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học của thóc và gạo lật Gần đây, Viện INRA phối hợp với tổ chức CIRAD, hiệp hội chăn nuôi Pháp (AFZ) và tổ chức Nông Lương Quốc tế (FAO) đã tập hợp các kết quả nghiên cứu ở một số nước, công

bố dữ liệu của nhiều loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên trang mạng điện tử “Hệ thống thông tin nguồn thức ăn chăn nuôi” (Animal Feed Resources Information System) (Feedipedia.org) Theo hệ thống này, các thành phần dinh dưỡng cơ bản của thóc và gạo lật dao động trong khoảng tương đối rộng Ở thóc, hàm lượng protein thô dao động từ 5,9% đến 11,8%, xơ thô: từ 8,6% đến 14,8% và NDF từ 15,0% đến 32,2% (tính theo VCK) Các chỉ số tương ứng ở gạo lật: Protein thô: 7,5 -14,3%; xơ thô: 0,30 - 10,5%; NDF: 0,40 - 9,3% Những khác biệt này sỡ dĩ có là do

Ngày đăng: 24/03/2017, 23:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lã Văn Kính, Nguyễn Thị Lệ Hằng và Trần Quốc Việt (2015).Xác định khả năng thay thế ngô bằng thóc trong khẩu phần nuôi gà thịt lông màu. Báo cáo khoa học năm 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định khả năng thay thế ngô bằng thóc trong khẩu phần nuôi gà thịt lông màu
Tác giả: Lã Văn Kính, Nguyễn Thị Lệ Hằng, Trần Quốc Việt
Nhà XB: Báo cáo khoa học năm 2015
Năm: 2015
3. Ninh Thị Len và Lê Văn Huyên (2011). Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “Nghiên cứu nhu cầu năng lượng, Protein và axit amin thiết yếu (Lysine, methionine, threonine và tryptophan) cho các tổ hợp x ngoại nuôi thịt ở Việt Nam, Viện Chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “Nghiên cứu nhu cầu năng lượng, Protein và axit amin thiết yếu (Lysine, methionine, threonine và tryptophan) cho các tổ hợp x ngoại nuôi thịt ở Việt Nam
Tác giả: Ninh Thị Len, Lê Văn Huyên
Nhà XB: Viện Chăn nuôi
Năm: 2011
6. Tôn Thất Sơn, Nguyễn Thị Mai và Nguyễn Thế Tường (2010), “Ảnh hưởng của mức Lysine trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng của lợn con lai (Landrace và Yorkshire) từ 7 – 28 ngày tuổi”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 8(1). tr. 90-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mức Lysine trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng của lợn con lai (Landrace và Yorkshire) từ 7 – 28 ngày tuổi
Tác giả: Tôn Thất Sơn, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thế Tường
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2010
8. Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa và Nguyễn Thị Thúy (2015). Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn.Tạp chí Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn (1). tr 66 – 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa, Nguyễn Thị Thúy
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Năm: 2015
9. Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền (2011). Đề tài “ giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn ”. Viện Chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài “ giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn ”
Tác giả: Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền
Nhà XB: Viện Chăn nuôi, Hà Nội
Năm: 2011
11. Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa và Nguyễn Thị Thúy (2015). Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn. Báo cáo khoa học năm 2013 – 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa, Nguyễn Thị Thúy
Nhà XB: Báo cáo khoa học năm 2013 – 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi
Năm: 2015
12. Trần Quốc Việt và Ninh Thị Len., (2004). Nghiên cứu xác định nhu cầu canxi và phốt pho của vịt giai đoạn đẻ trứng. Báo cáo khoa học Chăn nuôi - Thú y - Phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định nhu cầu canxi và phốt pho của vịt giai đoạn đẻ trứng
Tác giả: Trần Quốc Việt, Ninh Thị Len
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
14. Vũ Duy Giảng (2001). Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc (dùng cho cao học và nghiên cứu sinh). Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. tr. 33 – 39.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc (dùng cho cao học và nghiên cứu sinh)
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
15.Augenstein M. L, L. J Johnston, J. D Hauton and J. E Pettigren (1997). Formulating Farm – Specitic Swine diets, diets, University of minne – Extension. Service USA 16.Close W., and K. H. Menke (1996) Selected topics, Animal Nutrition, Hohenheim,Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: Formulating Farm – Specific Swine diets
Tác giả: M. L. Augenstein, L. J. Johnston, J. D. Hauton, J. E. Pettigren
Nhà XB: University of Minnesota Extension Service
Năm: 1997
18.Feoli C. J., J. H. Hancock and K.C. Behnke (2008), “Effects of Moringa Citrifolia (NONI) and diet complexity on growth performance in weaning pig”, Swine day 2008, Report of Progress 1001, Kansas State University 219-225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of Moringa Citrifolia (NONI) and diet complexity on growth performance in weaning pig
Tác giả: C. J. Feoli, J. H. Hancock, K.C. Behnke
Nhà XB: Kansas State University
Năm: 2008
19.Fernando A G (2005), “Heat treated cereals in post weaning diets”, International Pig Topics, Vol 20 (6) pp. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heat treated cereals in post weaning diets
Tác giả: Fernando A G
Năm: 2005
21. He R. G., Y. L. Wang, L. B. Ma , M. Li and S. X. Zhang (2000). Nutritonal value of early long-grain brown rice in Hubei province: 2. Effect of substitution of brown rice for maize as energy feedstuff on the growth and meat quality of growing-finishing pigs. J. Chinese Cereals and Oils Association, 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutritional value of early long-grain brown rice in Hubei province: 2. Effect of substitution of brown rice for maize as energy feedstuff on the growth and meat quality of growing-finishing pigs
Tác giả: He R. G., Y. L. Wang, L. B. Ma, M. Li, S. X. Zhang
Nhà XB: J. Chinese Cereals and Oils Association
Năm: 2000
25. Leeson, S. and J.D. Summers., (2008). Production and carcass characteristics of the large white turkey. Poult. Sci.Vol 59. pp.1237-1245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Production and carcass characteristics of the large white turkey
Tác giả: S. Leeson, J.D. Summers
Nhà XB: Poult. Sci.
Năm: 2008
26. NRC.National Research coucil(1998)Nutrient Requirements of Swin,10th Revised Edition National Acrdemy Press, Washington- USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutrient Requirements of Swine, 10th Revised Edition
Tác giả: NRC, National Research Council
Nhà XB: National Academy Press
Năm: 1998
27. Li X. L., S. L. Yuan, X.S. Piao, C. H. Lai, J. J. Zang, Y.H. Ding, L. J. Han and In.6. K. Han., (2006): The nutritional value of brown rice and maize for growing pigs. Asian-Aust. J. Anim. Sci. Vol 19 (6). pp. 892-897 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The nutritional value of brown rice and maize for growing pigs
Tác giả: Li X. L., S. L. Yuan, X.S. Piao, C. H. Lai, J. J. Zang, Y.H. Ding, L. J. Han, In.6. K. Han
Nhà XB: Asian-Aust. J. Anim. Sci.
Năm: 2006
28. Li D. F (1996). Swine nutrition. 1st Ed. China Agricultural University Press, Beijing. http://www.cropsforbiofuel.blogspot.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Swine nutrition
Tác giả: Li D. F
Nhà XB: China Agricultural University Press
Năm: 1996
29. Li X.L., S .L. Yuan, X. S. Piao, C. H. Lai, J. J. Zang, Y.H. Ding, L. J. Han and In . K.Han (2006). The nutritional value of brown rice and maize for growing pigs. Asian-Aust. J.Anim. Sci. Vol 19, No. (6). pp. 892-897 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The nutritional value of brown rice and maize for growing pigs
Tác giả: Li X.L., S .L. Yuan, X. S. Piao, C. H. Lai, J. J. Zang, Y.H. Ding, L. J. Han, In . K.Han
Nhà XB: Asian-Aust. J.Anim. Sci.
Năm: 2006
30. Lindemann, M. D., Cornelius, S. G., Kandelgy, S.M., Moser, R. L., Pettigrew, J. E. (1986), “Effect of age, weaning and diet on digestive enzyme levels in the piglet”, Journal of Animal Science 62. pp. 1298-1307 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of age, weaning and diet on digestive enzyme levels in the piglet
Tác giả: Lindemann, M. D., Cornelius, S. G., Kandelgy, S. M., Moser, R. L., Pettigrew, J. E
Nhà XB: Journal of Animal Science
Năm: 1986
31. Piao X. S., Defa Li, In K. Han, Y. Chen, J. H. Lee, D.Y. Wang, J. B. Li, D. F. Zhang, 2002: Evaluation of Chinese brown rice as an alternative energy source in pig diets. Asian-Aust. J.Anim. Sci. Vol 15.( 1). pp.89-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Chinese brown rice as an alternative energy source in pig diets
Tác giả: Piao X. S., Defa Li, In K. Han, Y. Chen, J. H. Lee, D.Y. Wang, J. B. Li, D. F. Zhang
Nhà XB: Asian-Aust. J. Anim. Sci.
Năm: 2002
33. Pluske J. R., and D. J. Hampson (2005). Rice based diets in pigs for protection against intestinal bacterial infections. RIRDC Publication No. 05/143. Rural Ind. Res. Dev. Corp., Kingston ACT, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rice based diets in pigs for protection against intestinal bacterial infections
Tác giả: Pluske J. R., D. J. Hampson
Nhà XB: Rural Ind. Res. Dev. Corp.
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w