1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tiểu luận môn quản trị ngân hàng thương mại

19 411 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 98,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn cảnh kinh tế thế giới năm 2016 đang chịu tác động rất to lớn của vấn đề “ Brexit” .Vấn đề Brexit hiện nay đang là vấn đề nóng trên toàn cầu, không những ảnh hưởng tới những nước có liên quan, ảnh hưởng đến sự ra đi hay ở lại của Liên Hiệp Vương Quốc Anh hay ảnh hưởng đến chính chủ quyền của liên minh Châu Âu mà quyết định này còn ảnh hưởng đến những nước trên thế giới trong đó có các thành viên của ASEAN và điều đó có nghĩa là không ngoại lệ cả đất nước của chúng ta, Việt Nam.Nó tác động đến mọi mặt kinh tế xã hội, tác động đến mọi ngành nghề từ xăng dầu, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp đến xuất nhập khẩu giữa Việt Nam – liên minh Châu Âu EU, Việt Nam – Vương quốc Anh .Vậy đâu là định hướng giải pháp cho Việt Nam trước những tác động lớn của Brexit để giúp cho nền kinh tế của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng kinh tế ổn định, phát triển kinh tế xã hội. Xuất phát từ thực trạng của vấn đề Brexit tôi chọn đề tài “:BREXIT NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM.”

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Phương Anh

Ngày sinh: 28/12/1995

Lớp: ĐHTN 7A3

Mã sv: 13108100347

ĐỀ TÀI

RÀO CẢN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG

TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RÀO CẢN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)

1.1.CƠ SỞ VÀ MỤC TIÊU CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN KHI MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RÀO CẢN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG TRONG AEC

CHƯƠNG 2: MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC RÀO CẢN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG

CÓ KỸ NĂNG CỦA VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

2.1 TÌNH HÌNH DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

2.2 PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI RÀO CẢN

2.3 ĐÁNH GIÁ

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG CỦA VIỆT NAM

3.1 ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG CỦA VIỆT NAM 3.2 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KĨ NĂNG CỦA VIỆT NAM TRONG AEC

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

ASEAN là một khu vực kinh tế năng động và đa dạng với mức tăng trưởng kinh

tế đáng kể trong những thập kỷ gần đây, nhưng bên cạnh đó ASEAN lại phải đối mặt với sự gia tăng lớn về chênh lệch trình độ phát triển giữa các quốc gia Cuối năm

2015, Cộng đồng ASEAN sẽ được thành lập với ba trụ côt chính là Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng an ninh- chính trị ASEAN( APSC) và Cộng đồng văn hóa- xã hội ASEAN (ASCC) Mục tiêu của ASEAN trong tương lai sẽ phát triển ASEAN trở thành một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều hơn, nghèo đói và phân hóa kinh tế - xã hội được giảm thiểu

Trải qua hơn 40 năm, mặc dù ASEAN đã đạt được những thành tựu quan trọng trong kinh tế- chính trị-xã hội nhưng ở một số nước, tình trạng nghèo đói vẫn còn tồn tại và tăng trưởng kinh tế kéo theo sự bất bình đẳng về thu nhập và cơ hội việc làm giữa các nước, còn rất nhiều người lao động mắc kẹt với những công việc kém chất lượng, không phát huy được tối đa năng lực Khoảng 179 triệu người lao động (chiếm 3/5 tổng số lao động khu vực ASEAN) thuộc diện dễ bị tổn thương và 92 triệu người

có thu nhập quá thấp nên chưa thể thoát khỏi đói nghèo Những vấn đề này của thị trường lao động càng trở nên trầm trọng hơn do các cam kết về tiêu chuẩn lao động và bảo trợ xã hội còn hạn chế Một thị trường chung về lao động tạo cơ hội cho lao động

có kỹ năng trong khu vực ASEAN tìm kiếm các công việc phù hợp, có khả năng phát triển các cơ hội nghề nghiệp, đem lại nguồn thu nhập xứng đáng cùng nhiều quyền lợi khác

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RÀO CẢN DI

CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)

1.1 Cơ sở và mục tiêu của cộng đồng Kinh tế ASEAN khi mở cửa thị

trường lao động

Trang 4

Đến cuối năm 2015, AEC được thành lập hướng đến tự do hóa thị trường lao động trong một số ngành nghề và lao động có kỹ năng Những lao động có kỹ năng là lao động có chất lượng cao (các chuyên gia, thợ lành nghề), trong đó có lao động được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt

là tiếng Anh sẽ được tự do di chuyển trong AEC

1.1.1 Cơ sở của tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN

Di chuyển tự do lao động có kỹ năng trong ASEAN không tự phát mà do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, tạo cơ sở để AEC thành lập một khu vực di chuyển tự

do lao động Những yếu tố đó bắt nguồn từ sự chênh lệch về tiền lương, cơ hội việc làm, các nhân tố chính sách dành cho lao động giữa các nước tạo nên lực đẩy di chuyển lao động

Sự mất cân bằng trong tiền lương và cơ hội việc làm giữa các nước phát triển trong khu vực với các nước còn lại thúc đẩy cho người lao động có xu hướng di chuyển tư nước kém phát triển hơn sang các nước láng giềng phát triển hơn Tuy vậy, vẫn có dòng lao động di chuyển từ các nước phát triển hơn sang các nước kém phát triển do nhu cầu phát triển thị trường của các công ty, tập đoàn đa quốc gia trong ASEAN

Các chính sách của các nước đối với xuất và nhập lao động ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của lao động khi di chuyển đến nước khác làm việc Hiện nay phần lớn các nước trong ASEAN không có chính sách chủ động về sự di cư ra nước ngoài đối với lao động có kỹ năng, ngoại trừ Philipines Trong khi đó chỉ có Singapore và Malaysia là có các chính sách thu hút nhân tài nước ngoài, đặc biệt là cộng đồng người Do Thái, họ coi nhân tài chính là gốc rễ của sự phát triển Malaysia đang ngày càng tăng cường luồng nhập cư nhân tài, coi đây là một phần của chiến lược tái cấu trúc nền kinh tế Hiện nay, hầu như dòng di chuyển lao động có kỹ năng chủ yếu hướng đến các nước phát triển như Mỹ- Canada, Anh, Úc – New Zealand, cho thấy sự không hài lòng của người lao động về các chính sách việc làm và chất lượng giáo dục trong nước Trong khi đó tại các nước ASEAN khác như Indonesia, Campuchia, Lào, Việt Nam, dòng di cư lại không mạnh mẽ, bị hạn chế bởi các quy tắc luật pháp chặt chẽ, nguồn nhân lực vẫn còn thiếu nhiều kỹ năng, đặc biệt là tiếng An Myanmar tuy

có lao động thành thạo tiếng Anh hơn nhưng lại bị hạn chế do thể chế chính trị còn chưa thực sự mở cửa với thị trường thế giới

Mặt khác, các nước ASEAN là thành viên của WTO kí cam kết theo GATs và FTAs với điều khoản tự do dịch vụ và đầu tư có thể tạo điều kiện cho sự di chuyển của các cá nhân Nhờ đó việc thành lâp một thị trường lao động tự do trong khu vực ASEAN không chỉ là do nhu cầu từ sự phát triển kinh tế mà còn là nghĩa vụ của họ đối với các cam kết trong WTO

1.1.2 Mục đích di chuyển lao động có kỹ năng

Di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC đem lại rất nhiều lợi ích cho các quốc gia thành viên

Di chuyển tự do lao động có kỹ năng thuận tiện cho các nước thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài trong ASEAN, bằng việc cho phép các doanh nhân và chuyên gia tới làm việc tại các doanh nghiệp FDI Việc có thể đưa các nhân lực chất lượng cao tới quản lý và điều hành doanh nghiệp góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của các doanh

Trang 5

nghiệp, điều đó giúp các quốc gia hấp dẫn được nhiều nguồn đầu tư cả trong và ngoài khối

Tự do lao động có kỹ năng sẽ bù đắp sự thiếu hụt kỹ năng trong ngắn hạn ở - Brunei, Cambodia, Laos, Malaysia, Singapore, Vietnam Sự thiếu nhân lực về y tế, điều dưỡng, kiểm toán và công nghệ thông tin ở Brunei; kĩ sư, công nghệ thông tin, thống kê ở Cambodia; Y tế, nha khoa, kiểm toán và công nghệ thông tin ở Indonesia;

y tế và nha khoa ở Lào; Y tế, nha khoa và công nghệ thông tin ở Malaysia; lao động kĩ thuật và khoa học gia ở Philippines; và các kĩ năng chuyên gia phổ biến ở Singapore

và Việt Nam

Hiện nay, sự phát triển của các dịch vụ sức khỏe và giáo dục vượt qua biên giới các quốc gia, việc sử dụng các chuyên gia nước ngoài trình độ cao là xu hướng tất yếu, mở rộng sự hợp tác của các ngành dịch vụ giữa các quốc gia Sự công nhận và thừa nhận chứng chỉ chuyên môn trong nước là chính sách mang yếu tố quyết định đến việc di chuyển của các chuyên gia nước ngoài vào các lĩnh vực này

1.2 Những vấn đề chung về rào cản di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC

1.2.1 Khái niệm rào cản

AEC được thành lập giúp mở rộng cánh cửa hội nhập, đẩy mạnh việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn cũng như lao động có kỹ năng giữa các quốc gia trong khu vực Tuy nhiên, mở cửa thị trường, đẩy mạnh lưu thông giữa các quốc gia không có nghĩa là hàng hóa, lao động, vốn… được di chuyển ồ ạt vào và ra các nước, tự do hóa

di chuyển lao động có kỹ năng sẽ phải đặt dưới sự kiểm soát của Chính phủ các quốc gia thành viên của ASEAN nói chung và AEC nói riêng Lao động di chuyển trong khu vực ASEAN sẽ gặp phải các rào cản tự nhiên như rào cản văn hóa hay rào cản kĩ thuật từ chính sách của các quốc gia đối với lao động nhập cư hay sự khác biệt về trình độ của lao động giữa các quốc gia

Rào cản được hiểu là tất cả những gì gây trở ngại, khó khăn cho lao động tìm kiếm cơ hội việc làm tại các quốc gia khác, gây nên áp lực cản trở quá trình di chuyển lao động quốc tế

1.2.2.Các loại rào cản di chuyển

Trước khi thành lập AEC, giữa các nước trong khối vẫn có sự di chuyển lao động Tuy nhiên dòng di chuyển lao động vẫn còn hạn chế, có sự chênh lệch lớn giữa các quốc gia, chứng tỏ đã tồn tại những rào cản không nhỏ trong di chuyển lao động giữa các nước

Biểu đồ 1.1 : Di chuyển lao động nội khối của ASEAN, 2015

Trang 6

Tuy rằng AEC ra đời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho lao động các nước tự do di chuyển, nhưng những khó khăn mà người lao động gặp phải vẫn còn nhiều

1.2.2.1. Rào cản về pháp luật

Rào cản về pháp luật là rào cản khó vượt qua nhất đối với di chuyển lao động Các yếu tố như ý chí chính trị sẽ tạo ra tác động mạnh mẽ đến các chính sách luật pháp của mỗi nước về lao động

ASEAN là một khối không đồng nhất về hệ thống chính trị, tổn tại 2 thể chế chính trị khác nhau đó là các nước cộng hòa như Indonesia, Philipines và Singapore hay các nước theo chủ nghĩa cộng sản là Lào và Việt Nam, các nước quân chủ lập hiến như Brunei, Campuchia, Malaysia, Thái Lan và chính thể quân sự cai quản tại Myanmar Sự khác nhau về thể chế giữa các nước trong ASEAN là cơ sở tạo ra sự khác biệt về pháp luật của các nước Vì vậy các bộ luật lao động của các nước có các quy định khác nhau đối với lao động đến từ nước ngoài

Thứ nhất, quyền nhập cư, chính sách thị thực, chính sách di cư ra nước ngoài của nước sở tại, chính sách tuyển dụng và những ưu tiên của chủ sở hữu lao động ở khu vực tư nhân có thể lấn át và hạn chế những thay đổi đối với di chuyển lao động mà AEC có thể mang lại Một số quốc gia có thể đưa ra chính sách rất mở cửa, chỉ đưa ra một số quy định về di chuyển lao động, một số lại đưa ra rất nhiều yêu cầu cho lao động mới chấp nhận cấp visa

Thứ hai, các vấn đề đảm bảo quyền lao động di cư, đối xử bình đẳng về quyền

an sinh xã hội ở mỗi quốc gia cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định di cư của người lao động Hiện tại, các nước trong khối ASEAN kết một số Công ước quốc tế về đảm bảo quyền lợi cho lao động di cư như Công ước di cư vì việc làm (1979), Công ước lao động di cư (1975), Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả các lao động di cư và các thành viên gia đình của họ (1990), Công ước bình đẳng về đối xử (Bồi thường tai nạn- 1925), Công ước bình đẳng về đối xử (an sinh xã hội – 1982), công ước duy trì quyền an sinh xã hội (1982)

Trang 7

Bảng 1.1 Các công ước được phê chuẩn về lao động di cư

Tuy nhiên mới chỉ có một số nước Gửi lao động thông qua các Công ước quốc tế này như Philipines, Campuchia hay Indonesia Các nước là điểm đến của lao động như Singapore, Thái Lan hay Malaysia hầu như chỉ thông qua một hoặc hai công ước quốc tế.Đây chính là một điểm bất lợi cho lao động di chuyển đến các nước này khi đòi hỏi quyền lợi cho chính mình

1.2.2.2. Rào cản về chuyên môn

Trong tất cả các trở ngại dành cho lao động kĩ năng di chuyển, rào cản về chuyên môn là rào cản lớn nhất Giữa các nước ASEAN hiện tại đang có sự chênh lệch lớn về trình độ lao động, điều đó đã tạo ra rào cản di chuyển lao động giữa các nước kém phát triển hơn vào các nước phát triển của khu vực

Với 8 ngành nghề được tự do di chuyển vào năm 2015, dựa trên các MRA và ARQF, các nước trong Cộng đồng AEC sẽ đặt ra tiêu chuẩn cho lao động từng ngành

để có thể có khả năng lao động tại các nước thành viên Tiêu chuẩn này sẽ là thách thức rất lớn đối với lao động thuộc nhóm nước lao động có trình độ thấp hơn như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, Philippines hay Indonesia Đến nay, MRA đã được hoàn thiện cho tám ngành nghề: kỹ sư (được ký vào tháng 12/2005); y tá (tháng 12/2006); kiến trúc, và các bằng cấp khảo sát (tháng 11/2007); những người hành nghề y tế, nha khoa, và dịch vụ kế toán (tháng 2/2009); và những người hành nghề du lịch (tháng 11/2012) Tuy nhiên, mỗi MRA lại khác nhau trong cách tiếp cận

Do trình độ phát triển không đồng đều, nên hiện nay, lao động có tay nghề và kỹ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Singapore, Malaysia và

Trang 8

Thái Lan Còn lại, hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng

1.2.2.3 Rào cản văn hóa

Khi nói đến văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị sáng tạo về tinh thần và vật chất, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn ở mỗi con người Văn hoá góp phần trực tiếp tạo nên bản sắc của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác

Đông Nam Á quy tụ hầu hết các tôn giáo lớn của thế giới Phật giáo có mặt ở

hầu hết các nơi ở Đông Nam Á lục địa, đạo Hồi có mặt ở các nước biển đảo như

Brunei, Indonesia và Malaysia ngay từ thế kỷ XIII Thể kỉ XVI, thực dân Tây Ban

Nha đưa thiên chúa giáo vào Philippines Tuy đa dạng về tôn giáo nhưng hiện nay các tôn giáo này không có sự xung đột, chỉ đơn thuần là sự khác biệt về tín ngưỡng do đặc điểm của mỗi tôn giáo Các quốc gia rất tôn trọng tự do tôn giáo, vì vậy người lao

động di chuyển đến nước khác sẽ vẫn được tôn sùng tôn giáo của chính mình

CHƯƠNG 2: MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC RÀO CẢN DI

CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG CỦA VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

2.1 Tình hình di chuyển lao động Việt Nam trong cộng đồng Kinh tế ASEAN.

2.1.1 Đánh giá tương quan trình độ lao động Việt Nam với một số nước

thành viên

Hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN giúp thị trường lao động trong ASEAN sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành viên Cũng theo dự báo của ILO, khi tham gia AEC, số việc làm của Việt Nam sẽ tăng lên 14,5% vào năm

2025

Khi tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Việt Nam có những lợi thế nhất

định, nhưng đồng thời có những hạn chế, những thách thức không nhỏ Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động trẻ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến giữa năm 2015, quy mô lực lượng lao động từ

15 tuổi trở lên ở Việt Nam là 53,8 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao

động là 47,52 triệu người

Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 47,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng 20,8%; khu vực dịch vụ là 32,1% Chất lượng lao động cũng đã từng bước được nâng lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 30% lên 40% trong vòng

10 năm trở lại đây (theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 30% Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Lực lượng lao động kỹ thuật của

Việt Nam đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí

Trang 9

công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài

Về mặt kỹ năng, hầu hết các nước ASEAN đều có tỷ lệ biết chữ cao trong dân số thuộc độ tuổi lao động Tuy nhiên,tỷ lệ tuyển sinh vào các chương trình giáo dục đào tạo kỹ thuật nghề TVET vẫn chưa đủ trong khi giáo dục đại học tăng đang là một

thách thức Việt Nam là nước có các chỉ số phát triển giáo dục và kỹ năng khá cao, tỉ

lệ người biết chữ trên 15 tuổi là 93,4%, đứng thứ 4 trong khu vực, tỉ lệ đào tạo đại học

là 24,6% đứng thứ 5 trong khu vực Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đang

thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Theo năng suất lao động, Lào, Campuchia, Việt Nam được xếp thuộc nhóm thấp ở châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng Năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan

Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của trị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác Trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Nam chưa cao nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập Những hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, do vậy, tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp, đạt khoảng 30% Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập Khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưa qua đào tạo Chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp, là một trong những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển

Tỷ lệ lao động qua đào tạo, có chuyên môn kĩ thuật thấp, bên cạnh đó, người lao động dù đã qua đào tạo vẫn không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, khả năng làm việc độc lập, xử lí tình huống còn hạn chế, chưa thích ứng được với những thay đổi công nghệ

Tỉ lệ lao động chưa có chuyên môn kĩ thuật chiếm tới 54,4% năm 2015, tỷ lệ lao động trung học chuyên nghiệp trở lên chỉ chiếm 12,1% Tuy nhiên tốc độ tăng lao

động có chuyên môn kĩ thuật trong giai đoạn 5 năm trở lại đây từ 2010-2015 tăng

nhanh, đạt 8,1%/năm Đây là dấu hiệu tích cực cho lao động Việt Nam để đón nhận cơ hội việc làm đa dạng, phong phú khi AEC được thành lập

Cơ cấu lực lượng lao động (%)

Tốc độ tăng giai đoạn 2010 – 2015 (%/năm)

2015 2014

2013 2012

2010

2.6

100,0 100,0

100,0 100,0

100,0 Tổng số

-1.4 54,4

58 65,3 74,7

82,9 Không có chuyên môn kỹ

thuật

Trang 10

8.1 45,5

42 34,7 25,3

17,1

Có chuyên môn kĩ thuật

8.1 33,4

28,8 23,2

15,1 7,8

Lao động qua đào tạo nghề

(chính thức và phi chính thức)

2.9 3,7

5,1 5,2

4,7 4,6

Trung học chuyên nghiệp

7.9 8,4

8,1 6,3

5,5 4,7

Cao đẳng, đại học trở lên

Bảng 2.2 Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật

Nguồn: ILSSA (2015) Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp là do công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân lực và nhu cầu của người học, chưa theo kịp sự chuyển biến của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề

2.1.2 Tình hình di chuyển lao động Việt Nam trong ASEAN

Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương đưa người Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài, nhằm nâng cao năng lực người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển đất nước

Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam là quốc gia có số người đi làm việc tại nước ngoài ngày càng tăng Hiện có khoảng 500.000 người Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Hàng năm có khoảng 70.000 - 80.000 người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Trước đây, hầu hết lao động di cư là nam giới Trong những năm gần đây, theo số liệu thống kê, phụ nữ

chiếm khoảng 30-35% tổng số lao động di cư Đồng thời với việc đẩy mạnh hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài luôn là ưu tiên của chính phủ Việt Nam

Mặc dù số lượng lao động đi làm việc tại nước ngoài tăng nhưng nói chung họ đều là những lao động có kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng Thị trường lao động

mà Việt Nam hướng đến là các nước phát triển như các Nhà nước Ả Rập vùng vịnh, Đông Á, Châu Âu và Bắc Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và tỉ

lệ lao đông Việt Nam làm việc tại các nước trong ASEAN là rất thấp Trong khi từ năm 1990, trong tổng số kiều dân ở nước ngoài của các nước Myanmar, Lào,

Campuchia, lao động di cư trong ASEAN từ mỗi quốc gia này đã tăng khoảng 40% Tuy nhiên, với Việt Nam, di cư lao động trong ASEAN vào năm 1990 chỉ chiếm 7% trong tổng số kiều dân ở nước ngoài và con số này còn tiếp tục giảm sau đó; những nước là đích đến chủ yếu của họ lại là các Nhà nước Ả Rập vùng vịnh, Đông Á, Châu

Âu, và Bắc Mỹ

Theo báo cáo của Bộ Lao động và Thương Binh Xã hội thì trong năm 2015, có 150.000 lao động Việt Nam làm việc tại các nước ASEAN, khoảng 100.000 lao động

ở Malaysia, phần còn lại chủ yếu ở Singapore và Brunei Ngoài ra còn có nhiều người lao động nhập cư khong có giấy tờ tại Campuchia

AEC bao gồm 10 quốc gia với dân số hơn 620 triệu người trong đó có 300 triệu người tham gia lực lượng lao động Việt Nam có số lao động chiếm tỉ trọng cao thứ ba

Ngày đăng: 24/03/2017, 23:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các công ước được phê chuẩn về lao động di cư - tiểu luận môn quản trị ngân hàng thương mại
Bảng 1.1. Các công ước được phê chuẩn về lao động di cư (Trang 7)
Bảng 2.2. Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật - tiểu luận môn quản trị ngân hàng thương mại
Bảng 2.2. Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w