Hệ thống thông tin di động thế hệ 3 3G ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người về các dịch vụ số liệu tốc độ cao như: điện thoại thấy hình, video streaming, hội nghị truyền hình, nhắn
Trang 1NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Xác nhận của giáo viên
Trang 2
MỤC LỤC trang PHẦN I: Giới thiệu về mạng 3G ……… 6
1 Lới nói đầu ……… ……… 6
2 Giới thiệu chung ……… ….7
3 Mạng 3G là gì ……… … 8
4 Lịch sử phát triển của 3G ……… 9
PHẦN II: Tìm hiểu về 3G ……… 14
1 Một số yêu cầu của thông tin di động 3G……… 14
2 Lộ trình phát triển của thông tin di động 3G………… ….15
3 Hệ thống thông tin di động 3G……… 17
3.1 Tiêu trí chung để xây dựng IMT-2000 ……… 18
3.2 Tiêu chuẩn IMT-2000 ……… …….22
3.3 Các tiêu chuẩn công nghệ của hệ thống di động 3G ….33
3.4 Mô hình kiến trúc hệ thống di động 3G……… … 39
3.5 Các loại thiết bị đầu cuối cho 3G……… 53
3.6 Các dịch vụ và ứng dụng trong thông tin di đông thế hệ ba 55
Trang 3PHẦN III: Thông tin di động 3G tại việt nam và hướng phát triển
Mạng 3G……… 57
A Công nghệ 3G nào cho việt nam……… 57
1 Mạng VINAPHONE 3G ……… ….60
2 Mạng VIETTEL 3G ……… 64
3 Mạng MOBIFONE 3G ……… 67
B Hướng phát triển mạng 3G ……… …69
PHẦN IV: Kết luận ……… …….…… 72
Trang 4LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhu cầu trao đổi thông tin là nhu cầu thiết yếu trong xã hội hiện đại Các
hệ thống thông tin di động với khản năng giúp con người trao đổi thông tin mọi lúc, mọi nơi đã phát triển rất nhanh và đang trở thành không thể thiếu được trong xã hội thông tin ngày nay Bắt đầu từ các hệ thống thông tin di động thế hệ đầu tiên ra đời vào năm 1946, các hệ thống thông tin di động số thế hệ 2 (2G) ra đời với mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ dịch vụ thoại và truyền số lệu tốc độ thấp.Trong tương lai, nhu cầu các dịch vụ số liệu sẽ ngày càng tăng và có khản năng vượt quá thông tin thoại Hệ thống thông tin di động thế hệ 3 (3G) ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người về các dịch vụ số liệu tốc độ cao như: điện thoại thấy hình, video streaming, hội nghị truyền hình, nhắn tin đa phương tiện (MMS)…Đến nay các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 (3G) đã được đưa vào khai thác thương mại ở nhiều nước trên thế giới và đang trong quá trình phát triển lên 4G Xuất phát từ định hướng này mà em chọn đề tài nghiên cứu về 3G
Trang 5Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phạm Trung Hiếu đã giúp em hoàn thành đồ án này.
Trang 6PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ MẠNG 3G
1 Lời nói đầu
Ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XX, thông tin di động được coi như
là một thành tựu tiên tiến trong lĩnh vực thông tin viễn thông với đặc điểm các thiết bị đầu cuối có thể truy cập dịch vụ ngay khi đang di động trong phạm vi vùng phủ sóng Thành công của con người trong lĩnh vực thông tin di động không chỉ dừng lại trong việc mở rộng vùng phủ sóng phục vụ thuê bao ở khắp nơi trên toàn thế giới, các nhà cung dịch vụ, các tổ chức nghiên cứu phát triển công nghệ di động đang nỗ lực hướng tới một hệ thống thông tin di động hoàn hảo, các dịch vụ đa dạng, chất lượng dịch vụ cao 3G - Hệ thống thông tin di động thế hệ 3 là cái đích trước mắt mà thế giới đang hướng tới
Từ thập niên 1990, Liên minh Viễn thông Quốc tế đã bắt tay vào việc phát triển một nền tảng chung cho các hệ thống viễn thông di động Kết quả là một sản phẩm được gọi là Thông tin di động toàn cầu 2000 (IMT-2000) IMT-2000 không chỉ là một bộ dịch vụ, nó đáp ứng ước mơ liên lạc từ bất cứ nơi đâu và vào bất cứ lúc nào Để được như vậy, IMT-2000 tạo điều kiện tích hợp các mạng mặt đất và/hoặc vệ tinh Hơn thế nữa, IMT-2000 cũng đề cập đến Internet không dây, hội tụ các mạng cố định và di động, quản lý di động (chuyển vùng), các tính năng đa phương tiện di động, hoạt động xuyên mạng và liên mạng
Các hệ thống thông tin di động thế hệ 2 được xây dựng theo tiêu chuẩn GSM, IS-95, PDC, IS-38 phát triển rất nhanh vào những năm 1990 Trong hơn một tỷ thuê bao điện thoại di động trên thế giới, khoảng 863,6 triệu thuê bao sử dụng công nghệ GSM, 120 triệu dùng CDMA và 290 triệu còn lại dùng FDMA hoặc TDMA Khi chúng ta tiến tới 3G, các hệ thống GSM và CDMA sẽ tiếp tục phát triển trong khi TDMA và FDMA sẽ chìm dần vào quên lãng Con đường GSM sẽ tới là CDMA băng thông rộng (WCDMA) trong khi CDMA sẽ là cdma2000
Trang 7Tại Việt Nam, thị trường di động trong những năm gần đây cũng đang phát triển với tốc độ tương đối nhanh Cùng với hai nhà cung cấp dịch vụ di động lớn nhất là Vinaphone và Mobifone, Công Ty Viễn thông Quân đội (Vietel), S-fone và mới nhất là Công ty cổ phần Viễn thông Hà Nội và Viễn Thông Điện Lực tham gia vào thị trường di động chắc hẳn sẽ tạo ra một sự cạnh tranh lớn giữa các nhà cung cấp dịch vụ, đem lại một sự lựa chọn phong phú cho người sử dụng Vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ di động Việt Nam không chỉ
sử dụng các biện pháp cạnh tranh về giá cả mà còn phải nỗ lực tăng cường số lượng dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ để chiếm lĩnh thị phần trong nước Điều đó có nghĩa rằng hướng tới 3G không phải là một tương lai xa ở Việt Nam Trong số các nhà cung cấp dịch vụ di động ở Việt Nam, ngoài hai nhà cung cấp dịch vụ di động lớn nhất là Vinaphone và Mobifone, còn có Vietel đang áp dụng công nghệ GSM và cung cấp dịch vụ di động cho phần lớn thuê bao di động ở Việt Nam Vì vậy khi tiến lên 3G, chắc chắn hướng áp dụng công nghệ truy nhập vô tuyến WCDMA để xây dựng hệ thống thông tin di động thế
hệ 3
2 Giới thiệu chung
Sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ số liệu mà IP đã đặt ra các yêu mới đối với công nghệ viễn thông di động Thông tin di động thế hệ 2 mặc dù sử dụng công nghệ số nhưng là hệ thống băng hẹp và được xây dựng trên cơ chế chuyển mạch kênh nên không thể đáp ứng được dịch vụ mới này 3G (third-generation) công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba là giai đoạn mới nhất trong sự tiến hóa của ngành viễn thông di động Nếu 1G (the first gerneration) của điện thoại di động là những thiết bị analog, chỉ có khả năng truyền thoại 2G (the second generation) của ĐTDĐ gồm cả hai công năng truyền thoại và dữ liệu giới hạn dựa trên kỹ thuật số Trong bối cảnh đó ITU đã đưa ra đề án tiêu chuẩn hóa hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 với tên gọi IMT – 2000 IMT – 2000
đã mở
Trang 8rộng đáng kể khả năng cung cấp dịch vụ và cho phép sử dụng nhiều phương tiện thông tin Mục đích của IMT – 2000 là đưa ra nhiều khả năng mới nhưng cũng đồng thời đảm bảo sự phát triển liên tục của hệ thống thông tin di động thế
hệ thứ hai (2G) vào những năm 2000 3G mang lại cho người dùng các dịch vụ giá trị gia tăng cao cấp, giúp chúng ta thực hiện truyền thông thoại và dữ liệu (như e-mail và tin nhắn dạng văn bản), download âm thanh và hình ảnh với băng tần cao Các ứng dụng 3G thông dụng gồm hội nghị video di động; chụp và gửi ảnh kỹ thuật số nhờ điện thoại máy ảnh; gửi và nhận e-mail và file đính kèm dung lượng lớn; tải tệp tin video và MP3; thay cho modem để kết nối đến máy tính xách tay hay PDA và nhắn tin dạng chữ với chất lượng cao…
3 mang 3G là gì?
Mạng 3G là: (Third-generation technology) thế hệ thứ ba của chuẩn công nghệ điện thoại di động, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh ) 3G cung cấp cả hai hệ thống
là chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh Hệ thống 3G yêu cầu một mạng truy cập radio hoàn toàn khác so với hệ thống 2G hiện nay Điểm mạnh của công nghệ này so với công nghệ 2G và 2.5G là cho phép truyền, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh chất lượng cao cho cả thuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khác nhau Với công nghệ 3G, các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện, như âm nhạc chất lượng cao; hình ảnh video chất lượng và truyền hình số; Các dịch vụ định vị toàn cầu (GPS); E-mail;video streaming; High-ends games
- Mạng 3G bao gồm 3 tiêu chuẩn chính:
+ Mạng UMTSsử dụng kỹ thuật WCDMAđược chuẩn hóa bởi 3GPP.+ Mạng CDMA2000chuẩn hóa bởi 3GPP2
+ Mạng TD-SCDMA được phát triển ở Trung Quốc
Trang 94 Lịch sử phát triển của 3G
Ngày nay, thông tin liên lạc đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội loài người Cùng với sự đi lên của xã hội, nhu cầu thông tin của con người ngày càng tăng đòi hỏi các hệ thống thông tin liên lạc nói chung, các hệ thống viễn thông nói riêng phải không ngừng phát triển và cải tiến để đáp ứng các nhu cầu đó Thông tin di động là một ứng dụng có nhu cầu lớn nhất và đạt được sự phát triển mạnh mẽ nhất trong những năm gần đây Trước nhu cầu ngày càng tăng của người sử dụng, thông tin di động sẽ phát triển theo xu hướng nào
Để có thể hiểu rõ cũng như có những có cái nhìn chính xác về xu hướng phát triển tiếp theo của thông tin di động, trước hết cần phải nhìn lại lịch sử phát triển của nó từ khi mới ra đời đến nay
Năm 1924, điện thoại vô tuyến di động đầu tiên ra đời nhưng mới chỉ được sử dụng như là phương tiện thông tin giữa các đơn vị cảnh sát ở Mỹ
Đến những năm 1960 hệ thống điện thoại di động đầu tiên sử dụng phương pháp điều tần mới xuất hiện nhưng chúng có dung lượng rất thấp so với hiện nay và ít tiện lợi
Đầu những năm 1980 đánh dấu sự ra đời của các hệ thống di động tổ ong điều tần song công sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo tần số FDMA với chỉ duy nhất phục vụ thoại Nhưng đây mới chỉ là các hệ thống tổ ong tương
tự có nhược điểm là chất lượng thấp, vùng phủ sóng hẹp, dung lượng nhỏ, không có tính bảo mật thông tin và các thiết bị cho người sử dụng rất nặng và đắt tiền Những hệ thống thông tin di động đầu tiên này, nay được gọi là thế hệ thứ nhất (1G) Một số hệ thống trong thế hệ này là:
+ AMPS (Advanced Mobile Phone Service - Dịch vụ điện thoại di động cấp cao): triển khai ở Nhật (1979) và Mỹ (1983), băng tần 800MHz và vẫn còn được sử dụng rỗng rãi ở Mỹ và nhiều phần khác trên thế giới
Trang 10
+ NMT (Nordic Mobile Telephony - Điện thoại di động Bắc Âu) triển khai ở Thuỵ Điển, Nauy, Đan Mạch và Phần Lan từ năm 1981 nhưng nay phần lớn không còn được sử dụng.
+ TACS ( Total Access Communications System – Hệ thống truyền thông truy cập toàn phần) triển khai ở Anh năm 1985 và một số hệ thống TACS-900 vẫn còn được sử dụng ở châu Âu
Vào cuối thập niên 1980, người ta nhận thấy rằng các hệ thống tổ ong tương tự không thể đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng tăng lúc đó Điều này đã dẫn đến sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai (2G) Đây
là các hệ thống di động số sử dụng các công nghệ đòn bẩy để tăng dung lượng (nén thoại, xử lí tín hiệu số), thực thi và mở rộng khái niệm “mạng thông minh”, tăng cường khả năng chống lỗi và thêm một số dịch vụ mới nhưng chỉ giới hạn trong thoại và dữ liệu tốc độ thấp Cho đến thời điểm hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều hệ thống thông tin di động thế hệ 2 nhưng nhìn chung có thể phân thành 2 loại hệ thống Loại thứ nhất ra đời trước là các hệ thống 2G sử dụng công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA Loại thứ hai ra đời muộn hơn vào giữa thập kỷ 1990 sử dụng công nghệ đa truy nhập phân chia theo
mã CDMA, nay gọi là cdmaOne Một số hệ thống trong thế hệ này là:
+ D-AMPS/ TDMA & PDC : hệ thống này sử dụng phương pháp TDMA,
có thể tiến hành 3 cuộc gọi trên một khe thời gian, triển khai năm 1993 (PDC 1994) có định hướng chuyển sang GSM và sau này là W-CDMA Hiện nay PDC
là hệ thống tổ ong nội địa ở Nhật với mạng lưới rộng nhất của NTT DoCoMo
+ IDEN: hệ thống ấy chiếm 59% thuê bao) và châu Á (33%), trở thành một tiêu chuẩn chiếm ưu thế vượt trội trên thế giới.Sau này hệ thống mở rộng đến băng tần 1800 MHz Ở Việt Nam, hệ thống thông tin di động GSM được đưa vào từ năm 1993, hiện nay đang được công ty VMS và GPC khai thác rất
Trang 11hiệu quả Hiện nay trên thế giới 70% thuê bao sử dụng hệ thống này và thực hiện roaming quốc tế trên 140 nước với 400 mạng.
+ North American CDMA (cdmaOne): hệ thống này sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo mã CDMA Vào đầu những năm 70, CDMA được phát triển cho lĩnh vực quân đội vì nó có tính bảo mật cao Đến năm 1989, Qualcom chính thức đưa hệ thống ra thử nghiệm và tuyên bố sẽ nâng cao dung lượng cũng như đơn giản hoá việc quy hoạch mạng Hệ thống này được triển khai đầu tiên là ở Hồng Kông vào năm 1994 nhưng đạt được sự thành công lớn nhất là ở Hàn Quốc (1996) và được Verizon và Sprint sử dụng ở Mỹ
+ CdmaOne - IS-95: Hệ thống CDMA thương mại được thử nghiệm ở Mỹ với tiêu chuẩn nội địa của người Mỹ gọi là IS-95 IS-95 triển khai ở băng tần
800 MHz Ngoài truyền thoại có thể truyền số liệu Phiên bản IS-95A cung cấp tốc độ dữ liệu là 14.4 kbps
Ngoài các hệ thống thông tin di động mặt đất còn có các hệ thống thông tin di động vệ tinh: Global Star và Iridium cũng được đưa vào thương mại trong năm 1998
Mặc dù thông tin di động thế hệ 2 đã đạt được những thành công vượt bậc cả về mặt công nghệ cũng như là thương mại nhưng các hệ thống này vẫn tồn tại một
số nhược điểm sau:
+ Thứ nhất, vẫn xảy ra nghẽn mạng do có hơn 300 triệu thuê bao trên khắp thế giới, do đó cần phải tăng dung lượng hệ thống
+ Thứ hai, do tồn tại nhiều hệ thống di động cũng như nhiều mạng di động nên nó giới hạn phạm vi di động của các thuê bao trên khắp thế giới, do đó cần phải một chuẩn quốc tế
Trang 12+ Thứ ba, các hệ thống này còn cung cấp ít các dịch vụ mà trong đó nhu cầu về các dịch vụ mới nhất là Internet ngày càng tăng với hơn 200 triệu thuê bao, do đó cần phải có thêm nhiều dịch vụ và ứng dụng đa phương tiện mới.
Để giải quyết các hạn chế của các hệ thống thông tin di động thế hệ hai
mà ở phần trên đã đề cập đến, có 2 giải pháp, đó là:
Phát triển từ 2G lên 2,5 G (hay còn gọi là thế hệ hai cộng): với giải pháp này yêu cầu chi phí thấp nhưng ngắn hạn Ví dụ như phát triển từ GSM lên
HSCSD, GPRS, EDGE Một số ưu thế mà thế hệ hai cộng GSM đạt được:
+ Các dịch vụ mạng mới và cải thiện các dịch vụ liên quan đến truyền số liệu như nén số liệu của người sử dụng, số liệu chuyển mạch kênh tốc độ cao, dịch vụ vô tuyến gói đa năng
+ Các công việc liên quan đến dịch vụ thoại như : mã hoá và giải mã tiếng toàn tốc cải tiến, mã hoá và giải mã đa tốc độ thích ứng
+ Các dịch vụ bổ sung như: chuyển hướng cuộc gọi, hiển thị tên chủ gọi, chuyển giao cuộc gọi và các dịch vụ cấm gọi mới
+ Cải thiện liên quan đến dịch vụ bản tin ngắn SMS như móc nối SMS,
mở rộng bảng chữ cái, mở rộng tương tác giữa các SMS
+ Các công việc liên quan đến tính cước như các dịch vụ trả tiền trước, tính cước nóng…
+ Tăng cường công nghệ SIM
+ Dịch vụ mạng thông minh như CAMEL
+ Các cải thiện chung như : chuyển mạng GSM-AMPS, các dịch vụ định
vị tương tác với các hệ thống thông tin vệ tinh và hỗ trợ định tuyến tối ưu
+ Thiết kế một chuẩn mới hoàn toàn 3G: giải pháp này có chi phí cao, dài hạn nhưng lại có một số lượng lớn các dịch vụ tiềm năng mới
Trang 13Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ cũng như của xã hội, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng cả về nhiều mặt, thông tin di động vẫn sẽ tiếp tục phát triển sang một thế hệ mới Hiện nay các hệ thống thông tin di động số đang ở giai đoạn chuyển từ thế hệ 2+ sang thế hệ 3 này sử
dụng công nghệ TDMA về cơ bản vẫn dựa trên thiết kế GSM và cung cấp giao thức đặc biệt cho “Nhấn-để-nói” một cách nhanh chóng Đây là hệ thống độc quyền của Motorola với băng tần 800 MHz
+ DECT and PHS : đây là các hệ thống thông tin di động hạn chế cho mạng nội hạt sử dụng máy cầm tay không dây số Các hệ thống này cơ bản vẫn dựa trên công nghệ TDMA chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại như PBX không dây Với băng tần rộng (các kênh 32 Kbps), thoại và số liệu ISDN chất lượng cao, phục vụ cho các tế bào nhỏ và trong các toà nhà, hệ thống PSH được
sử dụng ở các thành phố có mật độ dân số cao ở Nhật Bản và hiện này mới được triển khai ở Trung Quốc
+ GSM: hệ thống này sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA Hệ thống này ban đầu có tên là “Groupe Special Mobile” về sau đổi thành “Global System for Mobile – Hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM được phát triển từ năm 1982 khi các nước Bắc Âu gửi đề nghị đến CEPT
để quy định một dịch vụ viễn thông chung châu Âu ở băng tần 900 MHz Năm
1991, hệ thống chính thức được thử nghiệm với 8 người sử dụng cho 200Khz và GSM đã đạt được nhiều thành công trên thị trường châu Âu ( hiện nay)
Thông tin di động thế hệ ba sẽ phải là hệ thống thông tin di động cho các dịch vụ di động truyền thông cá nhân đa phương tiện Hộp thư thoại sẽ được thay thế bằng bưu thiếp điện tử được lồng ghép với hình ảnh và các cuộc thoại thông thường trước đây sẽ được bổ sung các hình ảnh để trở thành thoại có hình…VV
Trang 14PHẦN II: TÌM HIỂU VỀ 3G
1 Một số yêu cầu của thông tin di động 3G
+ Mạng phải là băng rộng và có khản năng truyền thông đa phương tiện+ Mạng phải có khản năng cung cấp độ rộng băng tần (dung lượng) theo yêu cầu Ngoài ra cần đảm bao đường truyền vô tuyến không đối xứng chẳng hạn với: tốc độ bit cao ở đường xuống và tốc độ bit thấp ở đường lên hoặc ngược lại
+ Mạng phải cung cấp thời gian truyền dẫn theo yêu cầu Nghĩa là đảm bảo các kêt nối chuyển mạch cho thoại, các dịch vụ video và các khản năng số liệu gói cho các dịch vụ số liệu
+ Chất lượng dịch vụ phải không thua kém chất lượng dịch vụ mạng cố định, nhất là đối với thoại
+ Mạng phải có khả năng sử dụng toàn cầu, nghĩa là bao gồm cả thông tin
vệ tinh
Trang 152 Lộ trình phát triển của thông tin di động 3G
Hình 1.1: Lộ trình phát triển các thế hệ thông tin di động
Một số nét chính của nền tảng công nghệ thông tin di động từ thế hệ một đến thế hệ ba
Trang 16Chủ yếu cho thoại kết hợp với dịch vụ bản tin ngắn
TDMA hoặc CDMA, Số băng hẹp (8-13kbit/s)
Thế hệ trung
gian(2.5G)
GPRS,EDGE,CDMA200-1x
Trước hết là tiếng thoại có đưa thêm các dịch vụ số liệu gói
TDMA(kết hợp nhiều khe hoặc nhiều tần số), CDMA, sử dụng chồng lên phổ tần của thế hệ thứ 2 nếu không sử dụng phổ tần mới, tăng cường truyền số liệu gói cho thế
hệ ba
CDMA, CDMA kết hợp với TDMA, băng rộng (tới 2mbps), sử dụng chồng lấn lên thế hệ haihieenj có nếu không
sử dụng phổ tần mới
3 Hệ thống thông tin di động 3G
Do các tiêu chuẩn chỉ thực hiện được trong phạm vi khu vực nên khái niệm thông tin di động toàn cầu không thực hiện được Bên cạnh đó, sau gần 20
Trang 17năm phát triển, thông tin di động mà phổ biến là GSM đã bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết của nó khi nhu cầu truyền số liệu và các dịch vụ băng rộng ngày càng trở nên cấp thiết.
Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba - 3G ra đời với mục tiêu là hình thành một hệ thống di động duy nhất trên toàn thế giới Khác với các dịch vụ được cung cấp bởi những hệ thống thông tin di động hiện nay chủ yếu là thoại (công nghệ tương tự là đặc trưng của hệ thống 1G, công nghệ số là đặc trưng của 2G), hệ thống 3G nhằm vào các dịch vụ băng rộng như truy cập Internet tốc
độ cao, truyền hình và ảnh chất lượng cao tương đương với mạng hữu tuyến
Chính do sự thành công to lớn trên phạm vi toàn thế giới của GSM, các nhà vận hành mạng viễn thông châu Âu và các nhà sản xuất đã không chú ý đến một hệ thống mới (3G) cho đến tận giữa thập niên 90
Chỉ sau khi ITU đưa ra định hướng về một hệ thống di động mới cần phát triển cho những năm đầu của thế kỷ 21, các nhà hoạt động cụ thể đối với UMTS của ETSI mới được thực thi năm 1995
Hệ thống 3G tương lai sau đó đã được ITU đặt tên là IMT-2000, hệ thống viễn thông quốc tế thế kỷ 21.Thời hạn chót để các tiêu chuẩn khu vực đệ trình các dự thảo kỹ thuật của mình cho IMT-2000 đã được ITU đặt ra là tháng 7 năm 1998
Đến tháng 1 năm 1998, ETSI chọn hai kỹ thuật truyền dẫn vô tuyến cho truy nhập vô tuyến đối với UMTS là UTRA FDD và UTRA TDD, chính là hai
kỹ thuật dùng cho IMT-2000
Một loạt các kỹ thuật truyền dẫn vô truyến mặt đất được đề xuất với ITU vào tháng 1 năm 1998 Trong đó có một số đề xuất về kỹ thuật đa truy nhập vô tuyến theo mã băng rộng của ETSI, TTC/ARIB (Nhật), TTA (Hàn Quốc), ANSI T1(Mỹ) và TIA (Mỹ) có thể phân làm hai nhóm Một nhóm đề xuất đòi hỏi các
Trang 18trạm gốc đồng bộ và được xây dựng trên cơ sở IS-95 2G và đề xuất còn lại không dựa trên cơ sở trạm gốc đồng bộ.
Đến cuối năm 1998, cả hai đề xuất đều được hỗ trợ bởi các tổ chức tiêu chuẩn khu vực gọi là 3GPP và 3GPP2 Mục đích của cả 3GPP và 3GPP2 đều là kết hợp các đề xuất cơ bản và CDMA băng rộng thành một đề xuất duy nhất Đây là hai tiêu chuẩn đươc chấp nhận cho IMT-2000
3.1 Tiêu Chí Chung Để Xây Dựng IMT-2000
IMT-2000 cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ gia tăng và các ứng dụng trên một chuẩn duy nhất cho mạng thông tin di động
- Sử dụng dải tần quy định quốc tế 2GHz như sau: Đuờng lên: 1885 –
2025 MHz; đường xuống: 2110 -2200 MHz IMT-2000 hỗ trợ tốc độ đường truyền cao hơn: tốc độ tối thiểu là 2Mbps cho người dùng văn phòng hoặc đi bộ; 348Kbps khi di chuyển trên xe Trong khi đó, hệ thống viễn thông 2G chỉ có tốc
độ từ 9,6Kbps tới 28,8Kbps
- Là hệ thống thông tin di động toàn cầu cho các loại hình thông tin vô tuyến:
+ Tích hợp các mạng thông tin hữu tuyến và vô tuyến
+ Tương tác cho mọi loại dịch vụ viễn thông từ cố định, di động, thoại, dữ liệu, Internet đến các dịch vụ đa phương tiện
Trang 19- Dễ dàng hỗ trợ các dịch vụ mới xuất hiện.
Môi trường hoạt động của IMT – 2000 được chia thành 4 vùng với tốc độ bit R như sau:
+ Vùng 1: Trong nhà, ô pico, Rb ≤ 2 Mbit/s
+ Vùng 2: thành phố, ô macrô, R b ≤ 384 kbit/s
+ Vùng 2: ngoại ô, ô macrô, Rb ≤ 144 kbit/s
+ Vùng 4: toàn cầu, Rb = 9,6 kbit/s
IMT-2000 có những đặc điểm chính:
3.1.1 Tính linh hoạt:
Với số lượng lớn các vụ sáp nhập và hợp nhất trong ngành công nghiệp điện thoại di động và khả năng đưa dịch vụ ra thị trường ngoài nước, nhà khai thác không muốn phải hỗ trợ giao diện và công nghệ khác Điều này chắc chắn
sẽ cản trở sự phát triển của 3G trên toàn thế giới IMT-2000 hỗ trợ vấn đề này,
bằng cách cung cấp hệ thống có tính linh hoạt cao, có khả năng hỗ trợ hàng loạt các dịch vụ và ứng dụng cao cấp IMT-2000 hợp nhất 5 kỹ thuật (IMT-DS, IMT-MC, TMT-TC, IMT-SC, IMT-FT) về giao tiếp sóng dựa trên ba công nghệ truy cập khác nhau (FDMA - Đa truy cập phân chia theo tần số, TDMA - Đa truy cập phân chia theo thời gian và CDMA - Đa truy cập phân chia theo mã)
Trang 20Dịch vụ gia tăng trên toàn thế giới và phát triển ứng dụng trên tiêu chuẩn duy nhất với 5 kỹ thuật và 3 công nghệ.
3.1.2 Tính kinh tế:
Sự hợp nhất giữa các ngành công nghiệp 3G là bước quan trọng quyết định gia tăng số lượng người dùng và các nhà khai thác
3.1.3 Tính tương thích :
Các dịch vụ trên IMT-2000 có khả năng tương thích với các hệ thống hiện
có Chẳng hạn, mạng 2G chuẩn GSM sẽ tiếp tục tồn tại một thời gian nữa và khả năng tương thích với các hệ thống này phải được đảm bảo hiệu quả và liền mạch qua các bước chuyển
3.1.4 Thiết kế theo modul :
Chiến lược của IMT-2000 là phải có khả năng mở rộng dễ dàng để phát triển số lượng người dùng, vùng phủ sóng, dịch vụ mới với khoản đầu tư ban đầu thấp nhất
Phân loại các dịch vụ của IMT-2000
Trang 21- Dịch vụ âm thanh chất lượng cao(16 – 64 kbit/s)
- Dịch vụ âm thanh AM (32 –64 kbit/s)
- Dịch vụ truyền thanh FM (64 – 384kbit/s)Dịch vụ số liệu - Dịch vụ số liệu tốc độ trung bình (64 – 144 kbit/s)
- Dịch vụ số liệu tốc độ tương đối cao (144 – 2Mbit/s)
- Dịch vụ số liệu tốc độ cao (≥ 2Mbit/s)Dịch vụ đa
phương tiện
- Dịch vụ Video (384kbit/s)
- Dịch vụ hình chuyển động (384kbit/s - 2Mbit/s)
- Dịch vụ hình chuyển động thời gian thực (≥ 2Mbit/s)
đa phương tiện
- Dịch vụ Website đa phương tiện thời gian thực (≥ 2Mbit/s)
3.2 Tiêu chuẩn IMT-2000
Đối với bất kỳ công nghệ nào, điều kiện tiên quyết cho việc phát triển trên phạm vi toàn thế giới là phải xây dựng được một bộ tiêu chuẩn cho công nghệ này và việc tuân thủ theo chuẩn là một yêu cầu bắt buộc đối với nhà cung cấp dịch vụ, nhà khai thác và nhà sản xuất thiết bị
Các chuẩn 3G được ITU khuyến nghị với tên gọi IMT-2000 IMT-2000 được tạo ra nhằm thỏa mãn việc phát triển các tiêu chuẩn cho phép một cơ sở hạ
Trang 22tầng thông tin vô tuyến toàn cầu bao gồm các hệ thống mặt đất và vệ tinh, các truy nhập cố định và di động cho các mạng công cộng cá nhân.
Hệ thống mới này sẽ làm việc ở dải tần 2GHz Nó sẽ cung cấp nhiều loại hình dịch vụ bao gồm các dịch vụ thoại và số liệu tốc độ cao, video và truyền
thanh Tốc độ của thế hệ thứ ba được xác định như sau:
+ 384 Kbps đối với vùng phủ sóng rộng
+ 2 Mbps đối với vùng phủ sóng địa phương
Một số yêu cầu chính về IMT-2000 cho UMTS được ITU đề ra như sau:
- Sử dụng dải tần quy định quốc tế 2 GHz như sau:
+ Đường lên: 1885 – 2025 MHz
+ Đường xuống: 2110 – 2200 MHz
- Là hệ thống thông tin di động toàn cầu cho các loại hình thông tin vô tuyến:
+ Tích hợp các mạng thông tin hữu tuyến và vô tuyến
+ Tương tác cho mọi loại dịch vụ viễn thông
- Cung cấp khả năng truy nhập mạng trong nhiều loại môi trường khác nhau như trong nhà, ngoài trời, trên xe…
+ Đảm bảo chuyển mạng quốc tế
- Chất lượng thoại tương đương mạng hữu tuyến
Trang 23- Dễ dàng hỗ trợ các dịch vụ mới xuất hiện trong tương lai.
Trong hệ thống thông tin di động nói chung và UMTS nói riêng vấn đề truy nhập vô tuyến là rất quan trọng Yêu cầu về hệ thống truy nhập vô tuyến của UMTS dựa trên những yêu cầu về mặt dịch vụ Bảng 1.1 dưới đây tổng kết các yêu cầu đối với khối truy nhập vô tuyến của UMTS như sau:
Các yêu cầu về mặt vô tuyến
- Vùng nông thôn:Tóc độ truyền từ 144kbps tới 384kbps,tốc độ
di chuyển cực đại của thiết bị là 500km/h
- Vùng ngoại ô:Tốc độ truyền từ 384kbps tới 512kbps,tốc độ di chuyển cực đại của thiết bị là 120km/h
- Vùng nội ô:tốc độ truyền thấp nhất là 2Mbps,tốc độ di chuyển cực đại của thiết bị là 10km.h
Trang 24cùng 1 mạngKhối truy nhập vô tuyến UTRA không ngăn chặn khả năng chuyển giao giữa các nhà khai thác mạng cũng như truy nhập mạng
- Có khả năng chuyển giao mềm giữa UMTS và mạng di động thế hệ 2(GSM)
Về khả năng khai thác mạngKhả năng
- Các hệ thống không đồng bộ có thể cùng tồn tại trong môi trường
- Hệ thống có khả năng lắp ráp các trạm gốc mà không cần sự sắp xếp theo thứ tự
Trang 25- Việc lên kế hoạch cho tần số sử dụng trong mạng là không cần thiết.
Về hiệu quả trong trải phổ
- Sử dụng linh hoạt nhiều loại tế bào và các mối quan hệ giữa các tế bào trong cùng một vùng địa lý mà không lãng phí tài nguyên vô tuyến (các tế bào trong nhà, các tế bào phân cấp)
- Có thể cung cấp chi phí cho vùng phủ một cách hợp lý ở vùng nông thôn
Tính đa
dạng của
thiết bị đầu
- Các đầu cuối UMTS xách tay và kích thước card PCM - CIA
có thể khác nhau theo kích thước, trọng lượng, thời gian hoạt
Trang 26cuối động, công suất phát và giá cả.
Các yêu cầu chính ngoài SMGTương thích
Bảo mật Giao diện vô tuyến UMTS tối thiểu cũng có thể đảm bảo mức
bảo vệ như giao diện vô tuyến GSM
- Có thể thực hiện theo nhiều chế độ
Trang 27- Có thể đáp ứng được đồng thời hai loại đầu cuối UMTS/GSM với giá thành hợp lý.
3.2.1 Phân bố tần số cho IMT-2000
Phân bố tần số cho IMT-2000 cho châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ được thể hiện như trong hình sau đây
Hình 1.2: Phân bố tần số cho IMT-2000 ở một số nước
Châu Âu sử dụng hệ thống thế hệ hai là DCS 1800 ở băng tần 1710-1755 cho đường lên và 1805-1850 cho đường xuống Châu Âu và hầu hết các nước châu Á băng tần IMT-2000 là 2x60 Mhz có thể sử dụng cho WCDMA FDD
Trang 28Băng tần sử dụng cho TDD ở châu Âu thay đổi tuỳ theo cho các ứng dụng được cấp giấy phép hay không Các hệ thống FDD sử dụng các băng tần khác nhau cho đường lên và đường xuống còn hệ thống TDD sử dụng cùng tần số cho cả đường lên và đường xuống.
Nhật Bản sử dụng hệ thống thế hệ hai là PDC còn Hàn Quốc sử dụng hệ thống thế hệ hai là IS-95 cho cả khai thác tổ ong lẫn PDS ấn định phổ PCS ở Hàn Quốc khác với ấn định phổ PCS ở Mỹ, vì thế Hàn Quốc có thể sử dụng toàn
bộ phổ tần quy định của IMT-2000 ở Nhật Bản, một phần phổ của IMT-2000 TDD đã sử dụng cho PHS
Mỹ không còn phổ mới cho các hệ thống thông tin di động thế hệ ba Các dịch vụ của thế hệ ba sẽ được thực hiện trên cơ sở thay thế phổ tần của hệ thống thông tin thế hệ ba bằng phổ tần của hệ thống PCS thế hệ hai hiện tại
Trung Quốc phổ tần dành trước cho PCS và WLL sử dụng một phần phổ tần của IMT-2000 Theo quyết định về phân định tần số, có đến 2x60 Mhz được
sử dụng cho W-CDMA ở Trung Quốc
Các nước đã bắt đầu cấp phép cho sử dụng tần số của IMT-2000, đầu tiên
là Phần Lan vào 3/1999
Trang 293.2.2 Mô hình tổng quát cho mạng IMT-2000
Mạng IMT-2000 có mô hình tổng quát như sau
Thiết bị đầu cuối
Thiết bị đầu cuối
Thiết bị đầu cuối
- Phát quảng
bá thông tin truy nhập hệ thống
- Phát và thu
vô tuyến
- Điều khiển truy nhập vô tuyến
MẠNG LÕI
- Điều khiển cuộc gọi
- Điều khiển tài nguyên quy định
- Quản lí dịch vụ
- Quản lí vị trí
- Quản lí nhận thực
Vùng thiết bị đầu
cuối
Vùng mạng truy nhập
Vùng mạng lõi
Các dịch vụ ứng dụngVùng các Dịch Vụ Ứng
Dụng
Trang 30Hình 1.3: Mô hình tổng quát cho mạng IMT-2000
Trong đó, các dạng máy đầu cuối bao gồm:
- Thoại cầm tay; Thoại : 8/16/32 kbit/s
- Cửa số liệu như PCMCIA…( - Truyền số liệu bằng modem thoại cho các tốc độ 1,2 kbit/s ; 2,4 kbit/s; 4,8 kbit/s; 9,6 kbit/s; 19,2 kbit/s ; 28,8 kbit/s - Truyền
số liệu số chuyển mạch kênh cho các tốc độ : 64 kbit/s ;128 kbit/s; đầu cuối video thấp hơn 2 Mbít/s )
- Ảnh tĩnh (đầu cuối cho PSTN)
- Máy ảnh xách tay: được phân loại theo cấp chất lượng
- Đầu cuối giống như máy TV
- Đầu cuối kết hợp TV với máy tính
- TV cầm tay có khả năng thu được MPEG
- Đầu cuối số liệu gói
- PC vở ghi có cửa sổ thông tin cho phép ( Điện thoại thấy hình/ Văn bản hình ảnh truy nhập cơ sở dữ liệu vào)
- Đầu cuối PDA (PDA tốc độ thấp / PDA tốc độ cao hoặc trung bình / PDA kết hợp với sách điện tử bỏ túi)
- Máy nhắn tin hai chiều
- Sách điện tử bỏ túi có khả năng thông tin
Trang 31IMT-SC (Đơn sóng mang)
TDMA Đơn sóng mang
UWC-136EDGE/ERANIMT-FT (Thời gian Tần số)
TDMA Đa sóng mang DECT
Kết nối mạng/vô tuyến
Mạng lõi IS-41 phát triển
và WCDMA (CDMA băng rộng)
- IMT MC ( Multi carriers – Đa sóng mang) : hệ thống này là phiên bản 3G của IS-95 (cdmaOne) được biết đến là cdma2000
- IMT TC ( Time Code – Mã Thời gian): đây là UTRA TDD
- IMT SC ( Single carrier - Đơn sóng mang) : đây là một dạng GSM pha
2+ (EDGE)
- IMT FT ( Frequency Time – Tần số Thời gian) : đây là hệ thống DECT Tổng kết các đề xuất trên ta được sơ đồ sau:
Trang 32Hình 1.4: Các đề xuất đối với mạng truy cập vô tuyến
Hiện nay hai tiêu chuẩn đã được chấp thuận cho IMT-2000 là:
- W-CDMA được xây dựng trên cơ sở cộng tác của châu Âu và Nhật Bản
- CDMA2000 do Mỹ xây dựng
Ngoài ra Trung Quốc phát triển một chuẩn riêng cho họ gọi là TD-S
3.3 Các Tiêu Chuẩn Công Nghệ Của Hệ Thông di Động 3G
Các hệ thống thông tin di động thứ hai gồm: GSM, IS – 136, IS – 95 CDMA và PDC Trong qúa trình thiết kế các hệ thống thông tin di động thế hệ
ba, các hệ thống thế hệ hai đã được các cơ quan tiêu chuẩn hoá của từng vùng xem xét để đưa ra các đề xuất tương thích Khuyến nghị ITU-R M.1457 đưa ra 6 tiêu chuẩn công nghệ cho giao diện truy nhập vô tuyến của thành phần mặt đất của các hệ thống IMT-2000 (tên gọi mạng 3G của ITU), bao gồm:
- IMT-2000 CDMA Direct Spread (trải phổ trực tiếp), thường được biết dưới tên WCDMA
- IMT-2000 CDMA Multi-Carrier (nhiều sóng mang), đây là phiên bản 3G của hệ thống IS-95 (hiện nay gọi là cdmaOne)
Trang 33- IMT-2000 OFDMA TDD WMAN (thường được biết dưới tên WiMAX
di động)
Mỗi tiêu chuẩn trong sáu tiêu chuẩn công nghệ nêu trên đều được các công ty lớn và một số quốc gia có nền công nghiệp điện tử, viễn thông phát triển ủng hộ và ra sức vận động Các tiêu chuẩn này cạnh tranh gay gắt với nhau trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin di động Trong đó chỉ có 3 công nghệ được biết đến nhiều nhất và phát triển thành công là WCDMA, CDMA 2000 1x EV-DO và WiMAX di động
3.3.1 IMT-2000 CDMA Direct Spread:
Công nghệ IMT-2000 CDMA Direct Spread được biết đến nhiều hơn dưới tên gọi thương mại là WCDMA, được chuẩn hoá bởi 3GPP Dựa trên công ghệ WCDMA hiện có hai loại hệ thống là FOMA (do NTT DoCoMo triển khai
ở Nhật) và UMTS (được triển khai đầu tiên ở Châu Âu, sau đó phát triển ra toàn thế giới) UMTS là sự phát triển lên 3G của họ công nghệ GSM (GSM, GPRS & EDGE), là công nghệ duy nhất được các nước châu Âu công nhận cho mạng 3G GSM và UMTS cũng là dòng công nghệ chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường thông tin di động ngày nay (chiếm tới 85,4% theo GSA 8-2007)
Một số đặc điểm chủ yếu của công nghệ WCDMA bao gồm: Mỗi kênh vô tuyến có độ rộng 5 MHz; tương thích ngược với GSM; chip rate 3,84 Mbps; hỗ trợ hoạt động không đồng bộ giữa các cell; truyền nhận đa mã; hỗ trợ điều chỉnh công suất dựa trên tỷ số tín hiệu/tạp âm; có thể áp dụng kỹ thuật anten thông minh để tăng dung lượng mạng và vùng phủ sóng (phiên bản HSPA từ Release 8 trở lên);hỗ trợ nhiều kiểu chuyển giao giữa các cell, bao gồm soft-handoff, softer-handoff và hard-handoff;
UMTS cho phép tốc độ downlink là 0,384 Mbps (full mobility) và với phiên bản nâng cấp lên HSPA Release 6 hiện nay, tốc độ lên tới 14 Mbps
Trang 34(downlink) và 1,4 Mbps (uplink) Dự kiến phiên bản HSPA Release 8 ra mắt vào năm 2009 (thêm tính năng MIMO) thì tốc độ tương ứng sẽ là 42 Mbps & 11,6 Mbps
UMTS hoàn toàn tương thích ngược với GSM Các máy handset UMTS thường hỗ trợ cả hai chế độ GSM và UMTS, do vậy chúng có thể sử dụng với các mạng GSM hiện có Nếu một thuê bao UMTS ra khỏi vùng phủ sóng của mạng UMTS và đi vào vùng phủ sóng GSM thì cuộc gọi của thuê bao đó được
tự động chuyển giao cho mạng GSM
Đặc biệt, trong băng tần 1900-2200 MHz thì WCDMA là công nghệ duy nhất hiện nay đã có thiết bị sẵn sàng, được nhiều nhà cung cấp thiết bị sản xuất
và có thể cung cấp ngay khi có đơn đặt hàng Mặt khác, do quy mô thị trường lớn và là công nghệ đã “trưởng thành” nên WCDMA cũng là một trong những công nghệ có chi phí đầu tư thấp nhất, đem lại hiệu quả cao nhất
Tuy nhiên UMTS cũng có một số nhược điểm Chuyển giao cuộc gọi mới chỉ thực hiện được theo chiều từ UMTS sang GSM mà chưa thực hiện được theo chiều ngược lại Tần số cao hơn mạng GSM900 nên số lượng trạm BTS dày đặc hơn do đó thời gian xây dựng mạng lâu hơn và chi phí cao hơn mạng GSM Để cung cấp được dịch vụ Video-on-demand, các trạm gốc phải đặt cách nhau khoảng 1-1,5km; điều đó có thể thực hiện được ở khu vực đô thị nhưng sẽ là không kinh tế ở khu vực nông thôn
3.3.2 IMT-2000 CDMA Multi-Carrier:
IMT-2000 CDMA Multi-Carrier còn được gọi là IMT-MC hay CDMA2000 là công nghệ phát triển lên 3G từ họ CDMAOne (IS-95) bởi 3GPP2 Đây là công nghệ cạnh tranh trực tiếp với công nghệ WCDMA trên thị trường thông tin di động
Trang 35CDMA2000 có các phiên bản CDMA2000-1x (hay 1xRTT), CDMA2000-3x, CDMA2000 EV-DO, CDMA2000 EV-DV CDMA2000 sử dụng các cặp sóng mang có độ rộng kênh 1,25 MHz Phiên bản đầu tiên CDMA2000 1x (hay IS-2000) sử dụng 1 cặp kênh vô tuyến 1,25 MHz để chuyển tải 128 kênh lưu lượng, cung cấp tốc độ downlink 144 kB/s Mặc dù CDMA2000 1x được công nhận là 3G nhưng nhiều người coi nó là đại diện của mạng 2,5G.
CDMA2000 và CDMA2000 EV-DV sử dụng 3 kênh 1,25 MHz để tăng tốc độ CDMA2000 EV-DV có tốc độ downlink lên đến 3,1 Mbps và uplink là 1,8 Mbps Tuy nhiên cả hai phiên bản này đều không còn được tiếp tục nghiên
cứu, phát triển để thương mại hoá do các nhà khai thác CDMA2000 lớn nhất (như Sprint Nextel và Verizon Wireless) đều đã lựa chọn phiên bản EV-DO Hiện nay chưa có mạng thương mại nào triển khai hai phiên bản này
CDMA2000 EV-DO lại có nhiều revision khác nhau: Rev 0, Rev A, Rev B, Rev C Tiêu chuẩn CDMA2000 EV-DO đầu tiên được gọi là Revision
0 có tốc độ downlink lên đến 2,4 Mbps và uplink là 153 kbps CDMA2000 Rev
A có tốc độ lên đến 3,1 Mbps downlink và 1,8 Mbps uplink Rev B hỗ trợ tốc
độ uplink lên đến 14,7 Mbps (3 kênh sóng mang) Dự kiến đến giữa năm 2009 khi Rev C hay còn gọi là UMB ra đời (sử dụng MIMO và OFDMA) sẽ hỗ trợ tốc độ downlink lên đến 275 Mbps và uplink lên đến 75 MBps Tốc độ này cho phép người ta coi UMB là công nghệ của mạng 4G, sánh ngang với LTE của dòng công nghệ HSPA/WCDMA Cũng giống như HSPDA, các modem từ Rev
A trở lên của CDMA2000 sử dụng chipset của Qualcomm cũng có khả năng xử
lý đồng thời cuộc gọi voice bằng chuyển mạch kênh và truy cập dữ liệu bằng chuyển mạch gói
Hiện nay thiết bị CDMA2000 ở băng tần 1900-2200 MHz trên thế giới mới chỉ có 1 nhà khai thác duy nhất là KDDI của Nhật Bản triển khai CDMA2000 ở băng tần 1900-2200 MHz Thiết bị cho mạng này được KDDI đặt
Trang 36hàng riêng của Toshiba nên không phổ biến trên thị trường Thiết bị CDMA2000 trong băng 1900-2200 MHz có thể sẽ chỉ có sau khi Rev C (hay UMB) được thương mại hoá vào cuối năm 2009, đầu năm 2010
Tuy nhiên thị trường cho công nghệ CDMA2000 vốn đã nhỏ hơn GSM/UMTS nay lại đang suy giảm Tại một số nước, các nhà khai thác CDMA2000 cũng đang chuyển hướng sang HSPA Tại Hàn Quốc, KTF và SK Telecom đã tuyên bố ngừng đầu tư vào mạng CDMA2000 và bắt đầu từ đầu năm nay đã chuyển dần khách hàng sang HSPA Tại Australia, Telstra đã tuyên
bố sẽ thu hẹp và ngừng hoạt động mạng EV-DO và chuyển dần khách hàng sang mạng HSPA
Các nhà sản xuất cũng không còn quan tâm nhiều đến CDMA2000 nữa Nokia
đã tuyên bố rút khỏi việc nghiên cứu phát triển CDMA và chỉ tiếp tục kinh doanh các sản phẩm CDMA ở một số thị trường trọng điểm
3.3.3 IMT-2000 CDMA TDD:
Họ công nghệ CDMA TDD bao gồm TD-CDMA và TD-SCDMA Công nghệ TD-SCDMA do chính phủ Trung Quốc chỉ đạo Học viện Công nghệ Viễn thông Trung Quốc và Công ty Datang nghiên cứu, phát triển với mục tiêu
“không lệ thuộc vào công nghệ Phương Tây” nhằm tránh phải trả một khoản phí bản quyền không nhỏ cho các sáng chế của các công ty Âu-Mỹ đồng thời thúc đẩy ngành công nghiệp điện tử-viễn thông Trung Quốc phát triển Công nghệ TD-SCDMA còn đang được nghiên cứu phát triển và chưa có nước nào ngoài Trung Quốc dự định triển khai
TD-CDMA hay còn gọi là UMTS-TDD sử dụng chung một kênh vô tuyến
5 MHz cho cả đường lên và đường xuống Mỗi khung thời gian rộng 10 ms chia thành 15 time slot Các time slot được phân bổ cho đường lên và đường xuống theo một tỷ lệ cố định Công nghệ truy cập CDMA được sử dụng trong mỗi time slot để ghép kênh các dòng dữ liệu từ các tranceiver khác nhau