Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ (LA tiến sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN DUY CƯỜNG
VAI TRÒ CỦA CÁI BI TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN DUY CƯỜNG
VAI TRÒ CỦA CÁI BI TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Mỹ học
Mã số: 62 22 03 07
Người hướng dẫn khoa học 1: GS TS Nguyễn Văn Huyên
2 TS Lương Thu Hiền
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Nguyễn Văn Huyên và TS Lương Thu Hiền
Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Duy Cường
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
1.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2 CÁI BI VÀ GIÁO DỤC THẨM MỸ BẰNG CÁI BI 25
2.1 Lý luận về cái bi 25
2.2 Lý luận về giáo dục thẩm mỹ 37
2.3 Giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi 46
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ GIÁO DỤC THẨM MỸ CỦA CÁI BI TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT 66
3.1 Tính đặc thù của tiếp nhận văn học nghệ thuật trong việc xác định giá trị giáo dục thẩm mỹ của tác phẩm 66
3.2 Vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật với sự hình thành và phát triển ý thức thẩm mỹ 71
3.3 Vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật với sự phát triển các năng lực
thẩm mỹ 92
CHƯƠNG 4 NÂNG CAO VAI TRÒ GIÁO DỤC THẨM MỸ CỦA CÁI BI TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 107
4.1 Thực trạng vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật với giáo dục thẩm mỹ ở nước ta 107
4.2 Giải pháp nâng cao vai trò giáo dục thẩm mỹ của cái bi trong văn học nghệ thuật ở nước ta hiện nay 138
KẾT LUẬN 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thế giới đương đại, cùng với sự phát triển và tiến bộ, xã hội cũng đang diễn ra biết bao quan hệ hết sức phức tạp, trong đó có những mâu thuẫn, những xung đột mang đầy bản chất của cái bi Đó là những xung đột sắc tộc, tôn giáo; những mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới trong các cộng đồng, các thế hệ và trong rất nhiều mối quan hệ xã hội khác Những mâu thuẫn đó được thể hiện dưới hình thức những cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái đúng và cái sai, cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu Việt Nam đang xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh của một thế giới đa cực và trong quá trình hội nhập sôi động, vừa thuận lợi vừa phức tạp, tiềm ẩn rất nhiều xung đột bi kịch Thực tiễn này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có mỹ học
Mỹ học với tư cách là khoa học nghiên cứu về các quan hệ thẩm mỹ giữa con người với thiên nhiên, con người với con người và con người với cuộc sống; nó không chỉ tự đặt cho mình nhiệm vụ lý giải sự vận động lạc quan của thế giới khi giải thích các hiện tượng tốt đẹp, cao cả và anh hùng mà còn nghiên cứu những đau thương và bi thảm, những góc khuất đầy éo le của những số phận bất hạnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỹ học ở nước ta hiện nay là nghiên cứu sự tác động của đời sống nghệ thuật đối với tư tưởng và tình cảm của nhân dân, trong đó có nghệ thuật bi kịch
Với tư cách là một hình thái của cái đẹp; cái bi, đặc biệt là cái bi trong nghệ thuật tác động độc đáo đến sự hình thành và phát triển nhân cách nói chung, ý thức thẩm mỹ và năng lực thẩm mỹ nói riêng của con người thông qua các hình tượng Cái bi, đặc biệt là các hình tượng bi kịch trong văn học nghệ thuật đã trở thành một nội dung, một phương thức quan trọng của giáo dục thẩm mỹ Nghiên cứu vai trò của cái bi trong đời sống xã hội và phát huy vai trò của nó trong giáo dục thẩm mỹ là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa thời sự mà còn có ý nghĩa nhân văn lâu dài Vai trò của cái bi trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta trong những năm
Trang 6trước đổi mới do rất nhiều nguyên nhân khác nhau mà cách nhìn, quan điểm, cách đánh giá chưa thật khoa học, thậm chí còn giải thích sai lầm Xã hội Việt Nam đã đạt những bước phát triển vượt bậc Đời sống tinh thần và vật chất đã được cải thiện Nhu cầu giáo dục và phát triển đời sống thẩm mỹ của nhân dân đã được nâng cao Trong điều kiện kinh tế - xã hội và con người, nhất là sự phát triển của đời sống thẩm mỹ và nghệ thuật mới đó, chúng ta phải nhìn nhận lại không chỉ mục tiêu, chiến lược giáo dục nói chung mà cả mục tiêu và chiến lược giáo dục thẩm mỹ để phát triển toàn diện con người Các cấp lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là giới lý luận, giới khoa học và giáo dục cần có nhận thức đúng về vai trò của giáo dục thẩm mỹ, từ đó đổi mới quan niệm về vị trí, vai trò của nghệ thuật, trong đó có cái bi đối với giáo dục con người Vì vậy, trong Văn kiện các Đại hội Đảng gần đây, Đảng ta luôn luôn khẳng định và đề ra cho nền giáo dục phải quan tâm phát triển đời sống thẩm mỹ cho nhân dân, phải dùng nhiều hình thức giáo dục khác nhau để nâng cao mỹ cảm cho con người Việt Nam, đặc biệt là thanh thiếu niên Thực hiện quan điểm của Đảng, thời gian qua, việc giáo dục thẩm mỹ ở các nhà trường, học viện và xã hội đã được đẩy mạnh, góp phần phát triển con người toàn diện Tuy nhiên, trong lĩnh vực này cũng còn nhiều hạn chế và bất cập Bất cập cả từ nhận thức, quan điểm cho đến nội dung và phương thức giáo dục thẩm mỹ Bất cập cả trong loại hình và cách thức giáo dục thẩm mỹ Từ những
vấn đề đặt ra rất bức thiết nêu trên, Nghiên cứu sinh chọn vấn đề Vai trò của cái bi
trong giáo dục thẩm mỹ làm đề tài luận án, mong đóng góp phần nào vào giáo dục,
phát triển thẩm mỹ cho con người Việt Nam hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Mục đích: Trên cơ sở lý luận về cái bi và giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi,
luận án phân tích, làm rõ vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật với việc hình thành và phát triển các yếu tố thẩm mỹ của chủ thể được giáo dục thông qua giáo dục thẩm mỹ; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật đối với giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay
Trang 7- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nêu trên, Luận án thực hiện các nhiệm vụ
chủ yếu sau:
+ Làm rõ những vấn đề lý luận chung về cái bi và giáo dục thẩm mỹ bằng cái
bi, trong đó, phân tích rõ những khái niệm công cụ và những nội dung chủ yếu của
lý luận giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi, trọng tâm là giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi trong văn học nghệ thuật;
+ Trên cơ sở lý thuyết tiếp nhận, luận án phân tích, làm rõ vai trò của giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi trong văn học nghệ thuật đối với sự phát triển các yếu tố thẩm mỹ cấu thành chủ thể thẩm mỹ, chủ yếu là sự hình thành và phát triển các yếu tố thuộc ý thức thẩm mỹ và các năng lực thẩm mỹ;
+ Nghiên cứu nội dung và giải pháp nâng cao vai trò giáo dục thẩm mỹ của cái bi trong văn học nghệ thuật ở nước ta hiện nay thông qua thực trạng giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi trong văn học nghệ thuật và qua việc đề xuất các giải pháp
cụ thể
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giáo dục và phát triển con người; nhất là nguyên lý của Mỹ học Mác – Lênin, các quan điểm của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của văn học nghệ thuật đối với giáo dục và phát triển con người Ngoài ra, luận án còn dựa trên một số quan điểm của mỹ học ngoài mácxít và thành tựu của lý luận văn học, đặc biệt là lý thuyết tiếp nhận nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ luận án đặt ra Luận án có kế thừa một số thành tựu của các công trình nghiên cứu liên quan đã công bố của các tác giả đi trước
- Về phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận của nghiên cứu luận án là
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp lịch sử và lôgic được luận án sử dụng như một phương pháp xuyên suốt của quá trình phân tích, giải quyết các nhiệm vụ mà luận án đặt ra
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở các quan điểm về cái bi và
Trang 8vai trò giáo dục thẩm mỹ của cái bi trong văn học nghệ thuật, dùng các thao tác phân tích, tổng hợp thành hệ thống để làm sáng tỏ vấn đề một cách toàn diện nhất
- Phương pháp so sánh và khái quát hóa: Trên cơ sở của sự giống nhau và khác nhau giữa các quan điểm và vai trò tác động của cái bi, các tác phẩm bi kịch; luận án khái quát những đóng góp về bản chất và các quan điểm thẩm mỹ của cái
bi trong nghệ thuật đối với sự phát triển các yếu tố thẩm mỹ
- Phương pháp liên ngành: Giáo dục thẩm mỹ, bản thân nó là một khoa học liên ngành Mỹ học - Nghệ thuật học – Giáo dục học… Luận án kết hợp các thành tựu và các phương pháp của các ngành khoa học để đạt được mục đích đề ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phạm trù mỹ học cái bi và vai trò giáo dục thẩm mỹ của cái bi trong văn học nghệ thuật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, phạm vi của luận án sẽ đề cập tới lý luận về cái bi và giáo dục thẩm mỹ cũng như cái bi trong đời sống và cái bi trong nghệ thuật Trong nghệ thuật, cái bi được biểu hiện ở tất cả các loại hình nghệ thuật như: Văn chương, Điêu khắc, Hội họa, Âm nhạc, Điện ảnh, Sân khấu… Trong các loại hình nghệ thuật, văn chương giữ vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các loại hình nghệ thuật Bởi ngôn ngữ của văn chương làm cơ sở biểu hiện cho nhiều loại hình nghệ thuật (làm kịch bản sân khấu, điện ảnh; phần lời cho âm nhạc, vũ điệu; lời bình cho việc đánh giá các tác phẩm nghệ thuật khác) Vì vậy, trong phạm vi của luận
án, tác giả tập trung nghiên cứu cái bi trong văn học nghệ thuật (theo cách phân
loại của Việt Nam) và vai trò của nó đến các cung bậc của ý thức thẩm mỹ (tình cảm, nhu cầu, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ) và năng lực thẩm mỹ của con người Tác giả đi sâu nghiên cứu vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật Việt Nam từ năm 1975 trở lại đây
5 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa và phân tích sâu sắc thêm lý luận về bản chất thẩm mỹ của cái
Trang 9bi, nghệ thuật phản ánh cái bi và đặc trưng của giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi theo
quan điểm mỹ học mácxít
- Làm rõ vai trò đặc thù của cái bi trong văn học nghệ thuật đối với giáo dục
thẩm mỹ thông qua các khả năng tiềm ẩn và tác động đặc thù của nó đối với sự phát triển ý thức thẩm mỹ chủ yếu của chủ thể: tình cảm, nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ; góp phần phát triển các năng lực thẩm mỹ, làm hình thành năng lực hành
vi, hành động cao đẹp của con người, củng cố các quan điểm mỹ học mácxít
- Khái quát thực trạng về vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật đối với việc giáo dục thẩm mỹ, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính hệ thống, khả thi nhằm nâng cao vai trò của cái bi trong văn học nghệ thuật đối với việc giáo dục, phát triển ý thức thẩm mỹ, năng lực thẩm mỹ của con người Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giáo dục thẩm
mỹ, về cái bi, vai trò của cái bi nói chung và cái bi trong văn học nghệ thuật nói riêng trong giáo dục thẩm mỹ, cụ thể là cơ chế và khả năng tác động đặc thù, gợi
mở, phát triển các cung bậc của ý thức thẩm mỹ và một số năng lực của các chủ thể thẩm mỹ
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy môn mỹ học nói chung, giáo dục thẩm mỹ nói riêng ở các trường đại học; gợi mở cho hoạt động thực tiễn công tác giáo dục, xây dựng và phát triển con người, nhất là giáo dục và phát triển thế giới tinh thần, thế giới thẩm
mỹ của con người Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
án gồm 4 chương với 10 tiết
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về cái bi
Trên phương diện lý luận, cái bi đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu mỹ học,
nghệ thuật học trong và ngoài nước Trong suốt lịch sử nghiên cứu, mỹ học đã diễn
ra 4 khuynh hướng: (1) khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan; (2) khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan; (3) khuynh hướng của chủ nghĩa duy vật; (4) khuynh hướng duy vật biện chứng Trong đó, quan niệm về bản chất thẩm mỹ của cái bi thông qua các công trình của các nhà mỹ học đại diện cho các khuynh hướng khác nhau chiếm một vị trí vô cùng quan trọng
Trong thời cổ đại, mở đầu cho khuynh hướng mỹ học duy tâm khách quan là Platôn (427- 347), một học giả uyên bác, nhà mỹ học lớn của thời cổ đại và nhân
loại Học thuyết mỹ học của Platôn được trình bày trong các cuốn: Phèđre do Trịnh Xuân Ngạn dịch được Nhà xuất bản Sài Gòn ấn hành năm 1961 và Nhà nước lý
tưởng do Trần Thái Đỉnh dịch, được Nhà xuất bản Sài Gòn ấn hành 1963
Platôn nghiên cứu mỹ học gắn với tư tưởng triết học cơ bản là ý niệm Ý
niệm là tính thứ nhất, các hiện tượng tự nhiên là tính thứ hai Theo ông, một sự vật
sở dĩ đẹp được bởi vì trong thế giới ý niệm tồn tại vẻ đẹp Trong các tác phẩm của mình, Platôn có khuynh hướng cho rằng, bi kịch là loại hình cao cấp nhất của thi ca Tuy nhiên, khi bàn đến bản chất của cái bi trong nghệ thuật, ông lại mang nặng tính chất phân biệt giai cấp Platôn chưa phân biệt rạch ròi khái niệm bi kịch với tư cách là cái bi trong nghệ thuật
Trong các quan niệm của mình, Platôn cũng đã có những ý kiến về sự tác động cảm xúc của cái bi và cái hài Ông đã nêu lên tác hại của nghệ thuật miêu tả cuộc sống nói chung và không ngừng chỉ trích việc sáng tạo cũng như trình diễn các vở bi kịch, hài kịch và đòi đuổi các nhà nghệ thuật ấy ra khỏi nhà nước lý tưởng của mình
Tiêu biểu cho khuynh hướng mỹ học duy tâm khách quan này phải kể đến Hêghen Trong toàn bộ hệ thống lý thuyết về bản chất thẩm mỹ của cái bi, lý thuyết của Hêghen có một hướng tiếp cận rất đặc biệt Trước hết, ông nghiên cứu bản chất
Trang 11của cái bi từ những xung đột gắn liền với sự sai lầm và đau khổ Trong tất cả các tác phẩm triết học cơ bản của mình từ Hiện tượng học tinh thần đến Mỹ học, ông đều
bắt đầu nghiên cứu những xung đột và những mâu thuẫn quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của con người khi nghiên cứu về cái bi
Hêghen gọi cái bi là trạng huống của thế giới và bi kịch trong quan niệm của
Hêghen là “mặt trăng của nghệ thuật”, là “ngôn ngữ cao cấp” và thâu tóm trong nó toàn bộ các loại hình nghệ thuật Ông đã bàn tới nội dung xã hội, đồng thời đặt ra một cách thấu đáo vấn đề điều kiện nảy sinh xung đột bi kịch và sự xuất hiện của cái bi trong đời sống xã hội Vấn đề bản chất của cái bi trong quan điểm của Hêghen gắn với vấn đề tính bất tử của con người về mặt xã hội Bi kịch phản ánh sự chưa hoàn thiện
về đạo đức và đề xuất một đạo đức hoàn thiện
Khác với các tư tưởng về cái bi của Platôn, mỹ học duy vật của nhà bách khoa thư Aristốt đã trình bày mối quan hệ giữa cái bi trong cuộc sống và cái bi trong nghệ thuật thông qua học thuyết bắt chước Trong cuốn thứ tám của tác phẩm
Chính trị học (Politique), trong Nghệ thuật thi ca (Poétique), ở phần Tu từ học
(Rhétorique)… Aristốt đã xây dựng hệ thống lý thuyết bi kịch cho toàn bộ sự phát triển các quan điểm duy vật về cái bi sau này
Trong các công trình của mình, ông đã chống lại quan niệm của Platôn về cái
bi và khởi xướng xây dựng lý luận bi kịch trên nền tảng của học thuyết bắt chước
Aristốt đề xuất nguyên lý về đối tượng, hành động, lỗi lầm bi kịch Thành
quả quan trọng nhất của Aristốt là đã vận dụng lý thuyết katharsis (thanh lọc) vào
giải quyết vấn đề cái bi của tư duy triết học Hy Lạp cổ đại mà chính Platôn đã đề xuất Sau khi đã nghiên cứu những tư tưởng của Platôn về nông nghiệp katharsis sự nghèo đói, y tế katharsis sức khỏe, Tu từ học katharsis ngôn luận… Aristốt chứng minh bi kịch katharsis nỗi lo sợ tạo nên sự thanh cao Ông đã căn cứ vào thực tiễn sáng tác bi kịch từ Hômer đến thời đại của ông để đề ra những nguyên lý quan trọng của sự thanh lọc đạo đức qua bi kịch
Dựa vào những nguyên lý duy vật nhân bản, nhà mỹ học Nga Tsécnưsépxki
trong cuốn Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực (Nhà xuất bản Văn
hóa Nghệ thuật ấn hành năm 1962) lại cho rằng: bi kịch không chỉ phản ánh tri thức
về đời sống, về lịch sử và về triết học mà còn gắn với tình cảm, về cái chết, về sự đau thương Cái bi tồn tại khách quan, cái bi không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ
Trang 12mâu thuẫn, cái bi không hẳn do sự phiến diện, do các hành động không toàn diện
mà nảy sinh Phê phán lý thuyết mang tính chất duy tâm, tư biện của Hêghen về cái
bi, đứng trên lập trường duy vật (duy vật nhân bản) về tính khách quan của cái bi, Tsécnưsépxki đã tách cái bi khỏi cái đẹp, cái cao cả, cái hài và coi chúng là những giá trị hoàn toàn độc lập và tách rời nhau Với Tsécnưsépxki thì bản chất của cái bi
là đau khổ, là cái khủng khiếp, là cái chết của một số phận con người
Khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan gắn liền với các tên tuổi như
Nietzsche, Kalr Jasper và Adrian Poole Nietzsche với công trình Sự ra đời của bi kịch
(1872) được coi là triết gia đã mở ra con đường đánh giá đúng vai trò của các ý niệm trong bi kịch Theo ông, bi kịch không phải là sự tán dương mà như sự khiển trách, trừng phạt và phê phán Với Nietzsche, đau đớn là một hệ quả của lực sống, và với tư cách ấy, nó phải được chào đón hơn là than khóc
Nói đến các công trình nghiên cứu về cái bi không thể không nhắc tới Bàn
về cái bi của Kalr Jasper do Bùi Văn Nam Sơn dịch năm 2011 Tác giả của công
trình này đã chú ý rất nhiều tới các đối tượng bi kịch trong thi ca, về bầu không khí
bi đát, về đấu tranh và va chạm, về cái cá biệt và cái phổ biến, về sự sống và cái chết, về sự xung đột giữa những nguyên tắc khác nhau về cuộc sống trong lịch sử, xung đột giữa con người với thần linh, về thắng và bại, về tội lỗi bi kịch… Karl Jaspers nói rằng, khi nào con người đưa hết khả năng của mình ra để giải quyết một vấn đề căng thẳng và biết mình sẽ chết thì xuất hiện tình huống bi kịch Triết học của Jaspers khi nghiên cứu về cái bi đã trình bày các vấn đề: vì cái gì mà con người lại mang hết khả năng của mình ra để thực hiện một công việc nào đó khi anh ta biết rằng mình sẽ chết Vì cái gì mà một người cam chịu đựng, trong khi anh ta biết chắc chắn là mình sẽ chết? Trong tình huống ấy, bản thân con người đã ý thức được thân phận phải chết của mình có thể đảm đương cái gì, đối diện với những hiện thực nào
và trong những tình huống nào thì anh ta sẽ từ bỏ sự tồn tại của mình Dựa trên lý thuyết hiện sinh về cái phi lý, học thuyết về cái bi của Kalr Jasper khái quát vấn đề
số phận của con người sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ II
Adrian Poole – Giáo sư môn Ngữ văn Anh và Văn học so sánh tại Đại học Cambridge đã dành nhiều sự quan tâm đến cái bi trong thế giới hiện đại Trong các
cuốn sách của mình mà tiêu biểu là cuốn Bi kịch – dẫn nhập ngắn, Poole đã nêu lên
những suy nghĩ của mình về vai trò của bi kịch trong đời sống và lý giải tại sao các
Trang 13chính trị gia, các triết gia như Platôn lại có thái độ thù nghịch với bi kịch đến vậy Ông cho rằng, Bi kịch là một từ cao quý Chúng ta dùng từ này để mang lại cho bạo
lực, tai ương, nỗi thống khổ và sự mất mát cái kích thước phẩm giá và giá trị
C Mác và Ph Ăngghen không để lại một tác phẩm mỹ học nào riêng biệt Các tư tưởng mỹ học của các ông đều gắn liền với ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác để giải quyết những vấn đề quan trọng của hoạt động vật chất và tinh thần của
xã hội Các tư tưởng mỹ học của các ông được trình bày sâu sắc trong các công
trình như: Hệ tư tưởng Đức, Gia đình thần thánh, Nguồn gốc của gia đình, của chế
độ tư hữu và của nhà nước, Chống Đuyrinh, Tư bản và nhiều tác phẩm khác, thí dụ
như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị hoặc những thư từ C Mác và Ph Ăngghen đã gửi cho bạn bè và gửi cho nhau
khi các ông đánh giá thẩm mỹ của nhiều nền văn học nghệ thuật trên thế giới
Bản chất thẩm mỹ của cái bi được Mác và Ăngghen gắn với cái đẹp, cái hài, cái cao cả, chỉ ra các hình thái biểu biện của cái bi trong đời sống và trong nghệ
thuật Bàn về vở bi kịch Phranxơ Phôn Xíchkingghen của Látxan, Mác và Ăngghen
đã thể hiện quan niệm về bản chất của bi kịch lịch sử và chỉ ra xung đột nằm ở đòi
hỏi tất yếu của lịch sử và việc không đủ khả năng thực tế để thực hiện đòi hỏi đó
Công trình Các phạm trù mỹ học cơ bản, Iu Bôrép do Hoàng Xuân Nhị dịch
được lưu hành trong các trường Đại học từ năm 1974 do Nhà xuất bản Trường Đại học Tổng hợp ấn hành Trước quan niệm sai lầm của chủ nghĩa hiện sinh về cái bi, Bôrép
đã luận giải hoàn toàn hợp lý sự tồn tại của phạm trù này trong cuộc sống và trong nghệ thuật Đồng thời, ông đã bàn nhiều về các biểu hiện và sự tác động đến tình cảm thẩm mỹ của cái bi Theo ông, cái bi được phản ánh vào văn học phương Tây hiện đại khi đưa ra các nhận xét về sự tiêu cực, xa đọa và bi quan của con người
Đến những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, ở Liên Xô xuất hiện nhiều công trình:
Mỹ học Mác – Lênin và việc giáo dục bộ đội của Ax Milôviđốp và B Xaphrônốp;
Mỹ học Mác – Lênin là một khoa học của P S Tơrôphimốp, Mỹ học – khoa học diệu
kỳ của B A Erengroxx, Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người của M B
Khraptrenco; Mỹ học cơ bản và nâng cao của M F Ốpxiannhicốp… Những công
trình này đã được dịch ra tiếng Việt và đều bàn về nguồn gốc, bản chất của cái bi, những đặc điểm thẩm mỹ của nó trong các loại hình nghệ thuật như kịch, múa, ca kịch, âm nhạc, hội họa, điện ảnh… Rất nhiều chương trong các cuốn sách này phân
Trang 14tích bản chất thẩm mỹ của cái bi thông qua những quan điểm và các khuynh hướng
mỹ học khác nhau, đồng thời nêu lên quan điểm mácxít về quá trình phản ánh cái bi, các đặc điểm về xung đột, đấu tranh, hạnh phúc, nỗi thống khổ và các chủ đề về tự
do, về giải phóng, về chủ nghĩa anh hùng và vấn đề bi kịch lạc quan
Mười năm sau, tính từ khi công trình Các phạm trù mỹ học của Iu Bôrép ra đời, năm 1984, Mỹ học – khoa học diệu kỳ của B A Erengroxx (Phạm Văn Bích dịch, Nhà
xuất bản Văn hóa) phát hành đã làm phong phú thêm những tài liệu nghiên cứu về mỹ học vốn đã ít ỏi ở Việt Nam Trong ấn phẩm này, tác giả đã coi phạm trù cái bi là một trong các phạm trù mỹ học cơ bản Ông nhận định: “Các phạm trù mỹ học là cái đẹp và cái cao cả, cái bi và cái hài, cái xấu, cái thấp hèn… Bao trùm nhất trong số các phạm trù mỹ học – đó là phạm trù cái đẹp (…) Chiếm vị trí lớn trong sự đồng hóa thực tại về mặt thẩm mỹ còn các phạm trù cái bi và cái hài Bởi lẽ không thể tìm hiểu tất cả các phạm trù mỹ học (mà chúng lại có nhiều), nên chúng ta chỉ dừng lại ở những phạm trù
cơ bản này” [47; tr 61]
Cũng trong năm 1984, Nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác – Lênin đã phát hành
công trình Nguyên Lý mỹ học Mác – Lênin của tác giả Iu A Lukin, V C
Xcacherơsicốp, Hoài Lam dịch Đây là công trình nghiên cứu mỹ học nghiêng nhiều về phương diện nghệ thuật Đi từ cảm xúc thẩm mỹ, các tác giả đã chỉ ra bản chất của cái
bi trên cơ sở xung đột, tính cách, hành động của con người Tác phẩm ra đời đã gần 40 năm, trong bối cảnh nước Nga Xô viết đang có nhiều biến động, chính vì thế, tính lịch
sử thể hiện rất đậm nét khi các tác giả đề cập nhiều đến những giá trị tích cực của cái bi trong đời sống con người
Công trình Mỹ học cơ bản và nâng cao của Ốpxiannhicốp chủ biên do Phạm
Văn Bích dịch, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2001 là một cuốn sách giáo khoa đồ sộ, trong đó, cái bi là một nội dung phản ánh ở phần thứ nhất Ở công trình này, tác giả đã đề cập các vấn đề cơ bản của mỹ học như đối tượng, nhiệm vụ của mỹ học; đặc trưng, bản chất của nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật
và các khách thể thẩm mỹ như cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài Tác giả đưa ra định nghĩa về tính xung đột của bi kịch với tư cách là tính chất nền tảng, cơ bản khi nghiên cứu cái bi trong mỹ học
Ở các nước phương Đông từ cổ đại đến cận đại, trước khi có sự giao lưu văn hóa Đông – Tây, vấn đề có cái bi hay không trong mỹ học phương Đông không được
Trang 15giới chuyên môn nghiên cứu Chứng minh cho điều đó, phải kể đến Vương Quốc
Duy Trong cuốn Hồng lâu mộng bình luận, ông viết: “Người Trung Quốc không có
bi kịch đích thực” Nghiên cứu hai cuốn Tâm lý học bi kịch và Khoảng cách giữa
cuộc đời và bi kịch của Chu Quang Tiềm, Vương Quốc Duy nói: Tiểu thuyết Trung
Quốc đều là những tác phẩm hạnh phúc, khởi đầu thì “bi” kết thúc thì hoan, khởi đầu thì ly tán, kết thúc thì đoàn tụ, khởi đầu là đau khổ kết thúc thì hanh thông, vì thế ông cho rằng, Trung Quốc không có bi kịch thực sự Đây là quan niệm đầu tiên và có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu bi kịch Trung Quốc
Mỹ học Trung Quốc khi nghiên cứu về bản chất của cái bi phải kể đến công
trình đầy công phu Đại cương lịch sử mỹ học Trung Quốc của Diệp Lang với 25
chương, trong đó ông đã dành một chương để nghiên cứu tới quan niệm về bản chất cái bi của nhà mỹ học lớn Trung Quốc - Vương Quốc Duy Công trình đã lý giải và khái quát những đóng góp mới trong quan niệm về cái bi của mỹ học phương Đông nói chung và của Vương Quốc Duy nói riêng so với mỹ học phương Tây
Ở Việt Nam, nghiên cứu về cái bi đã được một số học giả quan tâm Bài viết
Mỹ học của Phật giáo của tác giả Hoàng Thiệu Khang đăng tải trên web của Hội
Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã coi Đức Phật là nhà mỹ học của thể nghiệm thẩm
mỹ thông qua một chủ thể mang biện chứng thẩm mỹ nội tại Theo ông, mỹ học Phật giáo là một hệ thống nằm trong hệ thống lớn Nó không lý giải các bản thể thẩm mỹ mà cảm nhận, thể nghiệm các quan hệ thẩm mỹ nhân sinh Đức Phật thấy Khổ đế, Tập đế, tức cái Bi Trong cảm nhận “biện chứng sa đọa nội tại” của tầng lớp thống trị, Đức Phật đã cảm nhận được cái lẽ bề khổ của con người Nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn biển cả Phật giáo đã trình bày phạm trù cái bi như là một cấu trúc mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa con người với hoàn cảnh và mâu thuẫn nội tại trong một cá thể người chưa giác ngộ Niết bàn là giải pháp tuyệt đối cho bi kịch ấy
Vào những thập niên 80 – 90 thế kỷ trước, nhiều công trình mỹ học đã ra
đời Tác giả Lê Ngọc Trà có cuốn Mỹ học đại cương; tác giả Đỗ Huy có các cuốn
Mỹ học – Khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Đạo đức học – Mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật, Mỹ học Mác – Lênin, Mấy vấn đề của mỹ học hiện nay… Tác
giả Nguyễn Văn Huyên chủ biên cuốn Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người
Việt Nam trong thế kỷ mới, Giáo trình Mỹ học Mác – Lênin; tác giả Đỗ Văn Khang
có các cuốn Giáo trình Mỹ học Mác – Lênin, Giáo trình lịch sử mỹ học… Nguyễn
Trang 16Văn Trung với Những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác – Lênin (1990); Hoài Lam với Giáo trình mỹ học (1991); Vũ Minh Tâm với Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ, Mỹ
học Mác – Lênin (1998); Đào Duy Thanh với Mỹ học đại cương (2002); Vĩnh
Quang Lê với Mỹ học Mác – Lênin (2003)…
Cuốn Mỹ học với tư cách một khoa học (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm
1996) gồm 16 chương, tác giả Đỗ Huy trình bày cái bi ở chương 5 Ông đã nghiên cứu cái bi là một hiện tượng thẩm mỹ đặc biệt chỉ tồn tại trong xã hội loài người và trong con người xã hội Ông đã phân tích quan điểm của nhiều nhà mỹ học về cái bi
và khẳng định bản chất thẩm mỹ của cái bi gắn với cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng,
có nội dung xã hội tích cực trong cuộc đấu tranh với cái xấu, cái ác, bị thất bại tạm thời tạo nên sự đồng khổ rộng lớn, được tôn vinh trong các chủ thể xã hội tiên tiến
Trong cuốn Giáo trình mỹ học Mác – Lênin (Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2010), tác giả Đỗ Văn Khang cho rằng, mỹ học là khoa học về đời sống thẩm
mỹ trong đó cũng bao gồm chủ thể thẩm mỹ - khách thể thẩm mỹ và nghệ thuật Cái
bi là một phạm trù rất quan trọng, những xung đột của nó mang ý nghĩa xã hội, lịch
sử, đạo đức, tâm lý… một cách sâu rộng Nó liên quan đến lẽ sống và tình đời rộng lớn của con người
Trong cuốn Giáo trình lịch sử mỹ học (Nhà xuất bản Giáo dục, 2010), tác giả
Đỗ Văn Khang cho rằng, cái bi với tư cách là một phạm trù mỹ học cơ bản đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử mỹ học Tác giả đặc biệt quan tâm tới quan điểm về cái
bi của Aristốt, Sếchpia, Schelling, Hêghen và Tsécnưsépxki… và cho rằng, lý luận về cái bi của họ có ý nghĩa to lớn trong lý luận mỹ học cũng như thực tiễn sáng tạo, trình diễn và thưởng thức nghệ thuật Công trình là một tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu vấn đề cái bi ở các trường đại học ở nước ta
Cuốn Giáo trình mỹ học đại cương (Dùng cho sinh viên, học viên cao học,
nghiên cứu sinh chuyên ngành mỹ học), được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành vào năm 2004 đã nghiên cứu đến toàn bộ hệ thống mỹ học theo quan điểm mácxít Tác giả Nguyễn Văn Huyên và Đỗ Huy cho rằng, cái bi là một phạm trù mỹ học cơ bản, là một trạng huống của thế giới và mang nội dung xã hội sâu sắc Cuốn sách đã có đóng góp rất lớn khi khái quát những quan điểm về cái bi trong lịch sử mỹ học, từ đó khẳng định cách tiếp cận cái bi của mỹ học Mác – Lênin là cách tiếp cận khoa học trên cơ sở tiếp thu và sáng tạo các quan điểm của các nhà lý luận đi trước
Trang 17Nghiên cứu cái bi trong cuộc sống và cái bi trong nghệ thuật cũng đã được
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Aristốt trong tác phẩm Nghệ
thuật thi ca đã bàn đến các khía cạnh của nghệ thuật bi kịch như nhân vật bi kịch,
tội lỗi bi kịch, tình huống bi kịch, cái chết của nhân vật bi kịch… trong đó nhấn mạnh học thuyết thanh lọc trong cảm xúc bi kịch Quan niệm về cái bi và bi kịch gắn liền với thanh lọc của ông đã đặt nền móng cho các nghiên cứu về sau
Cuốn Bi kịch cổ đại Hy lạp của tác giả Hoàng Hữu Đản do Nhà xuất bản Giáo
dục ấn hành vào năm 1962 đã giúp người đọc hiểu được một cách sâu sắc và hệ thống nội dung của các tác phẩm bi kịch của các triết gia thời kỳ cổ đại Dịch giả đã giới thiệu và phân tích khá kỹ về cả nội dung lẫn nghệ thuật của bi kịch Hy lạp với ba tác giả nổi tiếng là Étsin, Sôphốc, Ơripít Đây là những tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu sự ra đời và giá trị của cái bi trong các tác phẩm bi kịch với độc giả
Bên cạnh đó, tác giả Tôn Gia Ngân có tác phẩm Bi kịch cổ điển Pháp (Nhà
xuất bản Văn hóa, 1978) cũng đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người Việt Nam hơn khi đã giới thiệu đến người đọc hàng loạt các tác phẩm bi kịch nổi tiếng thời kỳ cổ điển Pháp trên phương diện thi pháp thể loại
Trong Nghệ thuật kịch Hămbua, Lessing đã cho rằng: “Xét về mặt hài kịch,
người ta nghĩ rằng cái cười vui đối với những trò hề và những cái cười chê đối với những tội ác đáng cười, đã làm cho con người ngấy rồi, chi bằng đổi lại một chút, trong hài kịch cũng có thể khóc vài tiếng, để từ trong những hành vi đạo đức thầm lặng tìm được một niềm vui cao thượng” Ông quan niệm, “còn xét về mặt bi kịch, thì trước đây cho rằng chỉ có nhà vua và các nhân vật thượng đẳng mới khơi gợi được niềm bi ai và lo sợ cho chúng ta Người ta cũng cảm thấy như vậy là không hợp lý, do đó mới tìm đến một số nhân vật trong giai tầng trung lưu, để cho họ mang giày cao gót của các vai bi kịch, mà trước đây, mục đích duy nhất của điều đó
là để miêu tả những nhân vật này thật đáng buồn cười” [105; tr 564]
Cuốn Bi kịch – dẫn nhập ngắn của Adrian Poole (Đinh Hồng Phúc dịch, Nhà
xuất bản Tri thức xuất bản năm 2013) đi sâu giải quyết nhiều vấn đề phức tạp của cái bi trong nghệ thuật như: một số ý niệm đang biến chuyển về số mệnh, về cái ngẫu nhiên Poole quan niệm rằng, bi kịch, với tư cách là hình thức nghệ thuật sống động, thuộc về quá khứ, thuộc về những thời đại khi người nghệ sĩ và khán giả cùng chia sẻ những niềm tin tôn giáo, kể cả những niềm tin về ý nghĩa của nỗi đau và sự
Trang 18trừng phạt Ông đã gợi ý rằng, bi kịch là một nghệ thuật có liên quan cụ thể đến việc
ta muốn chôn đi quá khứ và những nguy cơ không làm được điều đó, vì thế bi kịch quan tâm tới những hoài niệm, đến những mẫu nước đôi của người anh hùng và về
sự trách tội, trách nhiệm, về lỗi lầm bi kịch Poole đã đặt vấn đề về tấn hài kịch trong bi kịch, nhất là về vai trò của tiếng cười khinh bỉ, đối với tất cả những khán giả và độc giả của nó, để từ đó khơi dậy những khát vọng công bằng và chân lý phức tạp mà tác phẩm nghệ thuật đã gợi ra nơi khán giả
Khi nghiên cứu về cái bi, các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm đến sự biểu hiện của nó trong đời sống và trong nghệ thuật Cái bi trong đời sống được tập trung khai thác số phận con người Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 Số phận những con người đau khổ, đặc biệt là những người nông dân thực sự là những bi kịch của một dân tộc luôn yêu chuộng hòa bình nhưng phải sống kiếp nô lệ dưới chế độ thực dân phong kiến
Chiến tranh đã đi qua nhưng những bi kịch, những số phận vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống hiện tại Rất nhiều công trình đã khai thác về mảng hiện thực chất chứa nỗi đau này của lịch sử dân tộc Vấn đề này đã được thể hiện trong các tiểu
luận: Lên án tội ác chiến tranh đế quốc Mỹ ở Việt Nam: Nhân dịp kỷ niệm 20 năm
tòa án quốc tế của Phạm Thành Vinh, Nguyễn Văn Lưu, Đinh Gia Trinh (1968), Chất độc da cam tại Việt Nam – tội ác hôm qua, thảm kịch hôm nay của Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia (2009), Dioxin – Nỗi đau nhân loại, lương tri và hành động
của Lê Hải Triều chủ biên năm 2005… Những nỗi đau đó luôn hiện hữu trong cuộc sống hôm nay Những chết chóc, mất mát, hy sinh, những thảm họa chất độc da cam… luôn khắc ghi một dân tộc Việt Nam giàu sức sống, mãnh liệt yêu hòa bình
và nhắc nhở nhân loại hãy hành động để không một nơi nào trên trái đất này phải
chịu những nỗi đau như vậy nữa
Cũng trong thời gian này, trên lĩnh vực nghệ thuật, vấn đề có hay không cái
bi vẫn đang được tranh luận sôi nổi không chỉ trong văn chương với tư cách là một thể loại mà còn trong tất cả các thể loại nghệ thuật khác Tư tưởng đó được thể hiện
trong các tiểu luận: Một góc nhìn nghiêng về cái bi trong ca khúc cách mạng (tác
giả Nguyễn Đăng Nghị đăng tài trên http://vnmusic.com.vn ngày 19/07/2011),
Tượng đài Sơn Mỹ: Bàn về cái bi và cái hài trong chèo cổ (tác giả Trần Trí Trắc
đăng trên http://hoinhacsi.com.vn ngày 21/01/2013)… Rất nhiều bài viết từ các góc
Trang 19nhìn khác nhau về cái bi trong các loại hình văn chương, hội họa, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh trên cơ sở của văn hóa dân tộc và thực sự đây là những đóng góp làm phong phú bức tranh toàn cảnh về nền nghệ thuật dân tộc
Nhà nghiên cứu, soạn giả Mịch Quang có công trình Khơi nguồn mỹ học dân
tộc với tiền đề “muốn thấy hết cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc ta, phải dựa
trên “tiêu chuẩn của ta” Tiêu chuẩn ấy là gì? Đó là nền mỹ học ẩn chứa trong thực tiễn truyền thống nghệ thuật dân gian, dân tộc” Với tiền đề này, tác giả đã đề cập đến mối quan hệ giữa các phạm trù mỹ học trong những hình thức nghệ thuật đặc sắc của dân tộc Đó là mối quan hệ giữa cái bi với cái hài và cái anh hùng Tác giả cho rằng, nếu tuồng là nền sân khấu tiêu biểu cho cái bi – hùng thì chèo lại là loại hình tiêu biểu cho cái bi – hài
Nghiên cứu về thể loại bi kịch trong văn chương của dân tộc, tác giả Phạm
Thị Chiên với luận án tiến sĩ văn học Bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại đã
dựa trên cơ sở của thi pháp học của thể loại bi kịch để đi sâu nghiên cứu về nhân vật
bi kịch, xung đột bi kịch và đặc biệt tác giả đã có đóng góp mới khi nghiên cứu những đặc trưng của nền văn học Việt Nam khi du nhập một thể loại khó đọc, khó viết của nền nghệ thuật thế giới – thể loại bi kịch Đây chính là một cơ sở lý luận quan trọng cho tác giả của luận án có một cái nhìn bao quát hơn về nghệ thuật bi kịch của dân tộc
Những vấn đề bi kịch trong lịch sử dân tộc khi trải qua hai cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước vĩ đại cũng đã được đề cập một cách nghiêm túc Tác giả Nguyễn
Hà với bài Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975
đã đem đến cho người đọc một cái nhìn bao quát trong hầu hết các tiểu thuyết viết
về chiến tranh thời kỳ này Đó chính là cảm hứng bi kịch Sau chiến tranh, sau những chiến thắng, những niềm vui của cả dân tộc thì những sự mất mát, đau thương đã được nền nghệ thuật của chúng ta phản ánh một cách chân thực, sống động Tuy nhiên, với văn hóa của dân tộc và cảm hứng của thời đại, cái bi xuất hiện trong các tác phẩm nghệ thuật của chúng ta vẫn luôn mang hơi thở bi tráng, bi hùng Bên cạnh nỗi đau, mất mát con người vẫn luôn lạc quan, vẫn luôn vững niềm tin ở
ngày mai tươi sáng Bên cạnh đó là hàng loạt các bài viết như Vài suy nghĩ về phản
ánh sự thật trong chiến tranh của tác giả Hoàng Ngọc Hiến, Báo Văn Nghệ số
15/1991, Sự thật chiến tranh và những tác phẩm viết về chiến tranh của tác giả Nam
Trang 20Hà, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 7/1991, Người lính sau hòa bình trong tiểu
thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới của tác giả Nguyễn Hương Giang, Tạp chí Văn
nghệ Quân đội số 4/2004…
Năm 2014, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc
gia Hà Nội đã tổ chức một hội thảo khoa học mang tên Kịch Nợ non sông với những
vấn đề của bi kịch lịch sử khi đề cập, suy tư về bi kịch của người trí thức qua tác
phẩm Nợ non sông của tác giả Phạm Quang Long Tại hội thảo, các nhà nghiên cứu
và các nhà văn trong các bài viết Nợ non sông – Bi kịch thời sự của tác giả Nguyễn Hùng Vỹ, Nợ non sông – Một sự phá cách về thể tài kịch lịch sử của Phạm Quang
Long của tác giả Trần Hinh, Vở chèo đương đại Quan lớn về làng của tác giả Hà
Thu… đã nêu những ý kiến khái quát trong cách tiếp cận về cảm hứng bi kịch của nghệ thuật dân tộc trước và sau giải phóng; bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phân tích sâu và đưa ra nhận định về những tác phẩm tiêu biểu Điều này, thực sự cần thiết cho sự định hướng sáng tác, thưởng thức và đánh giá các tác phẩm nghệ thuật phản ánh cái bi Chúng có tác động mạnh mẽ trong giáo dục thẩm mỹ của xã hội ta hiện nay
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và xây dựng con người mới Vì vậy, nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và ở nước ta
Các thành tựu nghiên cứu ở nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt, tiêu biểu phải kể đến các công trình:
Nguyên lý mỹ học Mác – Lênin của Iu A Lukin và V C Xcacherơsiccốp đã
nghiên cứu bản chất của giáo dục thẩm mỹ, coi giáo dục thẩm mỹ là một phương diện quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nhân cách con người, khẳng định vai trò to lớn của nghệ thuật đối với việc giáo dục thẩm mỹ
Cuốn Tâm lý văn nghệ của Chu Quang Tiềm, Nhà xuất bản Thành phố Hồ
Chí Minh, năm 1991, tuy không phải là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục thẩm mỹ nhưng đã nghiên cứu công phu về mỹ học và nghệ thuật học từ góc độ tâm lý học Nghiên cứu giáo dục thẩm mỹ như là quá trình hình thành thẩm
mỹ, công trình đã cung cấp cơ sở lý luận cho hoạt động giáo dục thẩm mỹ khi hướng dẫn hoạt động sáng tạo và hoạt động thưởng thức đối với chủ thể thẩm mỹ
Trang 21Công trình Bốn bài giảng mỹ học của Lý Trạch Hậu do Trần Đình Sử và Lê
Tẩm dịch, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành năm 2002 là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mỹ học, về cái đẹp và nghệ thuật dưới góc độ triết học và tâm lý học Tác giả đã đi sâu vào vấn đề mỹ cảm và chỉ ra quá trình thẩm mỹ, kết cấu thẩm mỹ, các hình thái thẩm mỹ và khẳng định giáo dục thẩm mỹ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng tình cảm thẩm mỹ ở con người Tác giả cũng đã chỉ
ra ba giai đoạn của hoạt động mỹ cảm: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực hiện và giai đoạn thành quả Trong các giai đoạn này, tác giả đã phân tích về đặc điểm, vai trò, vị trí của các thành tố như cảm xúc, tình cảm, ý thức thẩm mỹ, thái độ thẩm mỹ, tri giác thẩm mỹ… trong việc đạt đến thành quả của chủ thể thẩm mỹ Sự phân tích
về mỹ cảm của chủ thể thẩm mỹ là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu cơ chế tác động tâm lý của giáo dục thẩm mỹ bằng nghệ thuật nói chung và cái bi nói riêng
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước về giáo dục thẩm mỹ là rất
đa dạng và phong phú, trong đó cần nói tới các công trình sau:
Trong các cuốn Giáo trình mỹ học Mác – Lênin và Giáo trình mỹ học đại cương
(1985), hai tác giả Đỗ Văn Khang và Đỗ Huy đã trình bày hệ thống về chủ thể thẩm
mỹ, khách thể thẩm mỹ, quan hệ thẩm mỹ và các hình thức giáo dục thẩm mỹ, trong đó
có hình thức giáo dục nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ bằng nghệ thuật
Cuốn Giáo dục thẩm mỹ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Đỗ
Huy (Nhà xuất bản Thông tin lý luận, năm 1987) đi sâu vào những nhiệm vụ cấp bách của mỹ học trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tập trung nghiên cứu về bản chất của giáo dục thẩm mỹ và vai trò của nó trong việc xây dựng con người mới Theo tác giả, thành tố quan trọng hàng đầu của mọi nền văn hóa thẩm mỹ chính là chủ thể thẩm mỹ Vì vậy, cần phải xây dựng tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu, lý tưởng, ý thức thẩm mỹ, quan điểm mỹ học đúng đắn để nó trở thành động lực phát triển nền văn hóa thẩm mỹ của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ
Để cho mỗi người hiểu được thế nào là đẹp chân chính, để đạt được sự toàn thiện, toàn mỹ trong cuộc sống của mình, thì hơn lúc nào hết “giáo dục thẩm mỹ phải trở thành nhiệm vụ quan trọng trong hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa” [68; tr 29]
Trong thời đại hiện nay, cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu, giữa cái cũ
và cái mới, giữa tiến bộ và phản tiến bộ, giữa tiên tiến và lạc hậu diễn ra rất gay gắt Giáo dục thẩm mỹ dựa trên lập trường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải
Trang 22đứng trên “lập trường của cái đẹp, cái tốt để chống lại cái lạc hậu, cái xấu xa” [68; tr 41] Giáo dục thẩm mỹ là một sự nghiệp lớn Nó góp phần tích cực vào việc hình thành con người mới, có lòng yêu nước nồng nàn, có tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, có tình cảm sâu sắc với cuộc sống, với truyền thống tốt đẹp Giáo dục thẩm mỹ chính là sức mạnh hướng mỗi người đến cái đẹp, gạt bỏ cái xấu, hình thành những tình cảm cao quý, vun đắp tình yêu và hạnh phúc
Những vấn đề tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thầm mỹ và các hình thức, biện pháp để giáo dục thẩm mỹ cũng là nội dung quan trọng của cuốn sách
Cuốn Mấy vấn đề Đạo đức và Thẩm mỹ trong thời kỳ quá độ ở nước ta (Viện
Triết học, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, năm 1983) là một công trình chuyên khảo tập hợp các bài tham luận của những nhà nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp tiếp cận giáo dục thẩm mỹ, bản chất của giáo dục thẩm mỹ, những hình thức
cơ bản của giáo dục thẩm mỹ Có thể nói đến một số tham luận sau:
Sự phân xuất và sự liên kết của Mỹ học trong nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ
của Ban Mỹ học – Viện Triết học đã cho rằng, nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ gắn với sự phân xuất và liên kết của mỹ học Mác – Lênin trong quá trình xây dựng những con người mới của chủ nghĩa xã hội Chính sự xuất hiện của mỹ học kỹ thuật
và mỹ học sư phạm đã làm cho nhiệm vụ giáo dục thị hiếu, lý tưởng, tình cảm và nghệ thuật ở nước ta được phong phú hơn nhiều Giáo dục thẩm mỹ phải phát triển đồng đều cả cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong con người
Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng nhu cầu thẩm mỹ của tác giả Hồng
Mai chỉ ra rằng, mục đích của giáo dục thẩm mỹ là hình thành và phát triển các năng lực thẩm mỹ (bao gồm năng lực cảm thụ và sáng tạo thẩm mỹ), hay nói cách khác, hình thành lý tưởng thẩm mỹ tiên tiến cho con người Giáo dục thẩm mỹ phải được thực hiện không chỉ thống nhất với toàn bộ hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa (giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóa, giáo dục thể lực…), mà còn phải được tiến hành thông qua hoạt động thực tiễn và bằng hoạt động của con người Chính trong quá trình hoạt động thẩm mỹ, hệ thống các hình mẫu, lý tưởng thẩm mỹ được nảy sinh, bồi đắp, hoàn thiện và sau đó lại điều chỉnh chính những hoạt động tiếp theo của con người Giáo dục thẩm mỹ có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng các nhu cầu thẩm mỹ của con người
Một số bài khác của các tác giả: Lâm Vinh với tiêu đề “Đạo đức và thẩm mỹ
Trang 23từ phạm trù khoa học đến hoạt động thực tiễn”, Nguyễn Ngọc Dũng với“Vai trò của giáo dục thẩm mỹ qua môi trường lao động”, Văn Thu Hà với “Vai trò của mỹ học Mác – Lênin trong sự nghiệp giáo dục thẩm mỹ của chúng ta”, Đỗ Huy với tiêu
đề “Giáo dục thẩm mỹ và sự hình thành các năng lực sáng tạo” nghiên cứu các
năng khiếu trở thành tài năng và thiên tài thông qua giáo dục thẩm mỹ… Các bài viết đều cho rằng: “giáo dục thẩm mỹ vừa là mặt hợp thành hữu cơ của mọi quá trình giáo dục như giáo dục đạo đức (cái tốt cũng là cái đẹp), giáo dục chính trị - tư tưởng và khoa học – kỹ thuật (cái đúng cũng đẹp)… vừa là bộ phận hợp thành hữu
cơ của giáo dục tổng hợp và còn là hệ thống giáo dục tương đối độc lập” [169; tr 193] Các tác giả nhấn mạnh, cần đưa mỹ học Mác – Lênin vào hệ thống giáo dục thẩm mỹ với tính cách một hình thức giáo dục thẩm mỹ không thể thiếu được Trong công trình này, các tác giá Tạ Văn Thành, Hà Huy Bính đã nghiên cứu các cách tiếp cận khác nhau về giáo dục thẩm mỹ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta
Giáo trình mỹ học đại cương của tác giả Nguyễn Văn Huyên chủ biên xuất
bản năm 2004 cũng đã khái quát quá trình hình thành và phát triển khoa học mỹ học; về phạm vi, kết cấu của mỹ học; về chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ, nghệ thuật; các tác giả khẳng định giáo dục thẩm mỹ là nhu cầu tất yếu của sự phát triển con người Giáo dục thẩm mỹ là loại giáo dục có hiệu quả rất lớn đối với sự phát triển con người toàn diện Thế giới thẩm mỹ, đặc biệt là thế giới nghệ thuật với bản chất, đặc trưng về thiên hướng toàn vẹn của nó sẽ tác động và làm phát triển toàn diện, hài hòa các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và tài năng của con người bên cạnh sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khác Giáo dục thẩm mỹ có vai trò nâng cao tri thức thẩm
mỹ, hoạt động thẩm mỹ, các hiện tượng thẩm mỹ khách quan và nghệ thuật
Trên cơ sở triết học, mỹ học, văn hóa học, nghệ thuật học, các công trình
Đưa cái đẹp vào cuộc sống của Nguyễn Như Thiết (1986); Quan hệ giữa cái thẩm
mỹ và cái đạo đức trong cuộc sống và trong nghệ thuật của Nguyễn Văn Phúc
(1997); Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện
nay (luận án tiến sĩ) của Trần Ngọc Tắng (2001); Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ của tác giả Trần Túy (2005)… đã làm rõ đặc trưng, nội dung, vai trò
của giáo dục thẩm mỹ, mối quan hệ biện chứng giữa việc giáo dục thẩm mỹ với giáo dục đạo đức và khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục thẩm mỹ đối với
Trang 24việc xây dựng, phát triển năng lực sáng tạo và thưởng thức của chủ thể thẩm mỹ Tác giả Trần Túy cho rằng: “Để xây dựng được một con người phát triển hài hòa cả trí, đức, thể, mỹ, riêng giáo dục thẩm mỹ không đáp ứng được đầy đủ nhiệm vụ này,
nó cần có sự tham gia của các ngành khoa học khác Nhưng giáo dục thẩm mỹ có một vai trò hết sức đặc biệt, không thể thay thế, bởi vì bản chất của giáo dục thẩm
mỹ là xây dựng một năng lực thẩm mỹ luôn hướng về cái đúng, cái tốt, cái đẹp mà thưởng thức, đánh giá và sáng tạo” [165; tr.165]
Cuốn Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ của Trần Túy nghiên
cứu chuyên sâu về bản chất của giáo dục thẩm mỹ, quan điểm toàn diện trong giáo dục thẩm mỹ, các hình thức và biện pháp giáo dục thẩm mỹ trong và ngoài nghệ thuật Cuốn sách cũng nghiên cứu các khả năng tiềm ẩn của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật trong phát triển nhân cách con người Việt Nam Phần quan trọng, cuốn sách đã nghiên cứu cơ chế tác động của nghệ thuật trong giáo dục thẩm
mỹ về mặt thẩm mỹ, về mặt tâm lý, về đạo đức, về ý thức hệ
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi
Ngay từ thời cổ đại, Platôn trong tác phẩm Nhà nước lý tưởng đã nêu quan
niệm về ý niệm trong nghệ thuật, về sáng tạo nghệ thuật, về chức năng của nghệ thuật Theo ông, nghệ thuật bắt chước các sự vật cảm tính mà vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của Ý niệm, cho nên tác phẩm nghệ thuật chỉ là cái bóng của cái bóng, là bản sao của bản sao, nghệ thuật là hình ảnh qua lại hai lần chiết quang Cũng theo quan điểm đó, ông cho rằng, bi kịch kích động tình cảm là phản lại lý trí và ý chí,
nó làm cho sự xúc động thái quá chống lại những người thống trị Nếu làm cho người thống trị không thống trị được kẻ bị trị là vô chính trị Hài kịch trong tương quan với bi kịch thường châm biếm, tố cáo và chế nhạo những người ở đẳng cấp cao Nó tạo ra cái vô lý để mà khoan khoái
Quan niệm về nghệ thuật nói chung và bi kịch nói riêng của Platôn mang nặng tính chất duy tâm khách quan Bởi nó thừa nhận một cái đẹp bản thể, vĩnh hằng có tính tinh thần và bác bỏ vai trò giáo dục thẩm mỹ của hài kịch cũng như của bi kịch Ông cho rằng, bi kịch là một thứ nguy hiểm Có sự thù nghịch giữa triết gia và kịch tác gia bi kịch Bi kịch hoài nghi về các ý niệm lớn mà triết gia đề cao Cái mà triết học trừu tượng hóa thì bi kịch lại cụ thể hóa Như vậy, Platôn đã đánh giá thấp vai trò giáo dục của bi kịch và coi đó là một thể loại phỉ báng thần thánh: “Thần đã làm
Trang 25gì thì đều tốt và công bằng… Không cho phép các nhà thơ miêu tả khi thần trừng phạt gây nên bi kịch, sự đau khổ” [dẫn theo 75; tr 75]
Ngược lại với Platôn - người thầy của mình, Aristốt kịch liệt phản đối quan niệm của Platôn về nghệ thuật nói chung và đưa ra học thuyết Katharsis của bi kịch
Trong cuốn Nghệ thuật thi ca, vận dụng học thuyết Katharsis của tư duy Hy lạp cổ
đại vào bi kịch, ông đã viết “Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp” Bi kịch là một thể loại cao quý của thi ca, nó làm trong sạch hóa tâm hồn con người qua cách khêu gợi sự xót thương và niềm sợ hãi vì sự khủng khiếp
Đến Gôrasi (63 - 8 TCN) tác giả của luận văn cũng mang tên Thi pháp đã
cho rằng, nhiệm vụ đầu tiên của bi kịch là nhằm giáo huấn đạo đức Điều đó không
có nghĩa là bản thân bi kịch phải có tính đạo đức và không thể chứa đựng những gì
đi lệch khỏi đạo đức Bi kịch phải tạo ra hiệu ứng bi kịch cho con người, gieo vào
họ nỗi lo sợ thông qua việc diễn tả nỗi đau khổ và sự bất hạnh
Iu Bôrép, trong công trình Những phạm trù mỹ học cơ bản đã bàn đến giá trị
thẩm mỹ tích cực của cái bi trong đời sống và trong nghệ thuật Những luận điểm của tác giả đã thực sự có giá trị khi tác giả đi sâu vào nghiên cứu những sự tác động của cái bi tới các năng lực của chủ thể thẩm mỹ
Trong cuốn Bi kịch – dẫn nhập ngắn của Adrian Poole do Nhà xuất bản Tri
thức ấn hành năm 2013 đã bàn về vai trò giáo dục to lớn của bi kịch Ông quan niệm: “Bi kịch góp phần khá lớn trong việc tạo ra những tiếng kèn xung trận, dù những gì mà chúng khích lệ thường gây kinh hoàng - tiếng kèn của số mệnh hay thậm chí là tiếng kèn ngày tận thế Chúng ta, những người chưa đi hết số mệnh của mình, bị bỏ lại để kinh ngạc trước Antigone và Ajax của Sophocles, trước Brutus và Coriolanus của Shakespeare, trước Hedda Gabler của Ibsen và Yerma của Lorca, trước quyết định đầy máu mà họ đã bám chặt lấy cho lẽ phải của họ, điều mà họ mang trong trái tim họ Các tác phẩm bi kịch luôn đặt ra câu hỏi về những điều mà người ta sẵn sàng chết vì chúng Như Hamlet đã ngạc nhiên trước Fortinbras và hai vạn sinh linh của ông ta, những người được thổi cháy bùng lên bởi những tiếng kèn xung trận trên chiến trường và cùng lao vào cái chết, “vì một ảo tưởng và một trò đùa của danh vọng” [142; tr 117 – 118]
Trong hầu hết các giáo trình mỹ học và chuyên khảo về mỹ học mácxít
Trang 26trong và ngoài nước đều đề cập đến giáo dục thẩm mỹ của cái bi Tuy nhiên, với
tính chất giáo trình và các tài liệu viết chung về mỹ học như Mỹ học Mác – Lênin và
việc giáo dục bộ đội của Ax Milôviđốp và B Xaphrônốp; Mỹ học cơ bản và nâng cao của Ốpxiannhicốp; Mỹ học Mác – Lênin là một khoa học của P S Tơrôphimốp,
Mỹ học – khoa học diệu kỳ của B A Erengroxx… thì vấn đề vai trò giáo dục thẩm
mỹ của cái bi mới chỉ được đề cập một cách chung chung với dung lượng rất nhỏ,
nó chưa được tách ra thành bộ phận cụ thể, độc lập
Cuốn Mỹ học – khoa học diệu kỳ của B A Erengroxx đã đề cập đến giá trị to lớn
của cái bi trong cuộc kháng chiến chống lại giai cấp tư sản và coi cái bi là tiền đề cho sự
ra đời của cái anh hùng nhằm giải phóng bản thân và xã hội Ông nói: “Cùng với cách mạng, bi kịch chuyển sang giai đoạn mới của mình – giai đoạn anh hùng – cách mạng Cuộc đấu tranh của cái mới chống lại cái cũ, cuộc đấu tranh của nhân dân nhằm giải phóng mình, chống áp bức không tránh khỏi những xung đột bi kịch (…) Cuộc đấu tranh vì thắng lợi của cái mới, cái tiến bộ thường đòi hỏi phải có những hành động làm nhân vật hi sinh Trong tình huống này, cái bi trở thành cái anh hùng” [47; tr 109]
Trong các công trình của các tác giả trong nước, vấn đề giáo dục thẩm mỹ của cái bi cũng chỉ được trình bày một cách rải rác ở các giáo trình và đặc biệt là
các công trình về giáo dục thẩm mỹ như Giáo dục thẩm mỹ - Mấy vấn đề lý luận và
thực tiễn của tác giả Đỗ Huy, Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới ở Việt Nam của tác giả Lê Anh Trà, Công chúng và đánh giá tác phẩm nghệ thuật của tác
giả Hồng Mai, Cấu trúc của hình tượng nghệ thuật và sự gợi mở của nó đối với các
tiềm năng sáng tạo của tác giả Nguyễn Văn Huyên…
Lê Ngọc Trà trong bài Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực (Tạp chí Văn
nghệ Quân đội số 20 năm 1988) khẳng định những tình cảm tích cực của cái bi trong nghệ thuật chân chính Theo tác giả, lúc xem phim, đọc sách mà buồn và khóc
là lúc người ta trong sáng, cao thượng Cứ thế, nghệ thuật chân chính mỗi lần làm rơi nước mắt con người lại làm cho họ trở nên trong sách hơn, hoàn thiện hơn Tác giả cũng cho rằng, trong văn chương hình như nỗi đau, nước mắt sẽ còn mãi với thời gian hơn là niềm hân hoan và những câu chúc tụng Văn học, khi phản ánh cái
bi trong cuộc sống, sẽ còn mãi với thời gian không chỉ vì bức tranh hiện thực về số phận con người mà đó còn là ký ức về bộ mặt tinh thần của xã hội, là bằng chứng về bản lĩnh và nhân cách của con người cầm bút
Trang 27Tác giả Phạm Mai Chiên, khi nghiên cứu vai trò của bi kịch trong việc giáo
dục thẩm mỹ thông qua việc khảo sát bốn tác phẩm: Kim tiền của Vi Huyền Đắc,
Yêu Ly của Lưu Quang Thuận, Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, Hồn Trương
Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ trong bài Vấn đề tẩy rửa trong thể loại bi kịch
(đăng tải trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An bản điện tử số ra ngày 02/01/2013) đã nhận định: “Vấn đề thanh lọc là vấn đề gây tranh cãi nhất từ trước đến nay” Tác giả đưa
ra những kết luận sau: “Vấn đề thanh lọc liên quan đến hai đối tượng của bi kịch Thứ nhất, đó là sự tác động của bi kịch đối với khán giả Hiệu ứng tâm lý của bi kịch: nó gây sợ hãi và xót thương Hành động bi kịch phải dẫn đến sự thanh lọc (katharsis) những cảm xúc ấy Sự thanh lọc này đạt được bằng và nhờ sự giác ngộ cái lẽ sâu kín của những khổ đau bất hạnh đã đến với các nhân vật kịch Thứ hai, sự thanh lọc đối với nhân vật bi kịch Thanh lọc là một yếu tố trong cấu trúc tác phẩm, cùng với những yếu tố khác như lỗi lầm, nỗi đau khổ, sự nhận biết và trừng phạt Nhân vật bi kịch, để thực hiện được sự thanh lọc, tất yếu phải trải qua quá trình nhận biết tội lỗi của mình gây hậu quả ghê gớm và tự trừng phạt chính mình để chuộc tội Nói cách khác, khi nhân vật bi kịch nhận biết lỗi lầm và tự trừng phạt, lúc
đó diễn ra quá trình thanh lọc” [18]
Nghiên cứu các tác phẩm bi kịch trên, tác giả Phạm Mai Chiên cho rằng, bi kịch Việt Nam là biểu hiện khác nhau của những nỗi đau điển hình trong cuộc sống
cá nhân và cao hơn nữa là những nỗi đau có tính dân tộc và nhân loại Đối diện với kết cục của những nhân vật bi kịch, kết cục trả giá cho những lỗi lầm mà đỉnh cao là cái chết, người xem nhận ra mình trong đó
Có thể khái quát, do thực tiễn của cuộc đấu tranh dân tộc, do những vấn đề phức tạp của thời đại và cả nhận thức chưa thật đúng đắn, khoa học về bản chất cái
bi của một bộ phận không nhỏ những nhà chỉ đạo và sáng tạo nghệ thuật ở nước ta
mà từ đó đã đánh giá chưa đúng vai trò của cái bi trong sự tác động của nó tới đời sống của con người, tới đời sống xã hội trong thời gian qua Việc nghiên cứu vai trò giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi cần được quan tâm thỏa đáng hơn trong xã hội ta hiện nay nhằm phát huy sức mạnh của phạm trù cái bi trong việc khẳng định cái đẹp, đấu tranh không khoan nhượng với cái sai, cái xấu, cái ác đang hằng ngày phá hoại cuộc sống bình yên trong xã hội
Trang 281.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu ở trên cho thấy, vấn đề bản chất thẩm mỹ của cái bi, vấn đề giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi đã được đặt ra nghiên cứu trong suốt chiều dài lịch sử triết học, mỹ học, nghệ thuật học, tâm lý học; trong
đó có tính chất vừa phổ quát vừa chuyên sâu của các học giả trong nước và ngoài nước Một số công trình đã nghiên cứu, lý giải sâu về cái bi hoặc nghiên cứu, lý giải sâu về bản chất, đặc trưng, vai trò của giáo dục thẩm mỹ Tuy nhiên, vấn đề cái bi chứa đựng tiềm năng giáo dục thẩm mỹ to lớn và sự tác động đặc thù của nó đối với thế giới tinh thần nói chung, đời sống thẩm mỹ của con người nói riêng đến nay hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức và hệ thống; có công trình đi sâu vào từng khía cạnh, chưa có tính tổng thể Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án này, nghiên cứu sinh sẽ tập trung nghiên cứu để làm sáng rõ các nội dung chính sau:
- Những vấn đề lý luận về cái bi và giáo dục thẩm mỹ nói chung; bản chất, đặc điểm và khả năng tác động đặc thù và hiệu quả của giáo dục thẩm mỹ bằng phạm trù cái bi trong văn học nghệ thuật
- Lý giải một cách hệ thống vai trò quan trọng và đặc thù của cái bi trong văn học nghệ thuật đối với việc giáo dục thẩm mỹ làm phát triển chủ thể thẩm mỹ
về phẩm chất thẩm mỹ bao gồm tình cảm, nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ và nâng cao các năng lực thẩm mỹ như nhận thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ, hướng đến xây dựng con người mới phát triển toàn diện và hài hòa Chân – Thiện – Mỹ;
- Khái quát thực trạng giáo dục thẩm mỹ bằng cái bi trong đời sống văn học nghệ thuật ở nước ta hiện nay, nhằm xác định mặt được và mặt chưa được trong sự giáo dục đó; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thẩm
mỹ bằng cái bi ở nước ta hiện nay
Nghiên cứu, chứng minh một cách thuyết phục các nội dung và cách thức giáo dục nêu trên, đưa các nội dung và phương thức giáo dục đó vào giáo dục thẩm
mỹ trong giáo dục ở nước ta hiện nay nhằm góp phần giải tỏa những xung đột trong
xã hội nói chung, định hướng và giáo dục phát triển đời sống thẩm mỹ của con người nói riêng ở Việt Nam hiện nay
Trang 29“bi lụy” dẫn đến “cái chết” – đó là những hiện tượng thường có trong cuộc sống mỗi con người, nhiều khi người ta cũng gọi đó là những “bi kịch” của cá nhân, của xã hội…
Tuy nhiên, khái niệm “bi kịch” này không mang nghĩa “bi kịch” trong lý luận thẩm mỹ, trong khái niệm của mỹ học Cái chết trong đời sống bình thường là cái bi theo nghĩa thất vọng, tuyệt vọng, đau buồn của từng cá nhân; cái chết sinh học, cái bi sinh học trong xã hội nó không mang tính thẩm mỹ Cái bi trong nghĩa thẩm mỹ phải là cái chết biểu hiện sự thất bại của một cá nhân nào đó có tính đại diện cho một lợi ích xã hội, của người anh hùng đấu tranh chống lại cái ác, chỉ hướng cho cộng đồng chiến đấu, hi sinh cho lý tưởng cao đẹp của cộng đồng, của dân tộc, bảo vệ và chỉ hướng cho tiến bộ, cho tương lai tốt đẹp… Cái chết này gieo vào lòng người tiến bộ tình cảm, xúc cảm cao quý, trân trọng, tôn vinh như là hình mẫu lý tưởng của tập thể Cái chết này chính là cái đẹp bị thất thế, bị thất bại nhưng
là thất bại tạm thời, thất bại để chiến thắng: “có cái chết hóa thành bất tử” (Tố Hữu viết về anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi)
Trên phương diện mỹ học, thuật ngữ bi kịch được các nhà mỹ học mácxít nhìn nhận từ hai phương diện Thứ nhất, các nhà mỹ học này thường sử dụng thuật
ngữ bi kịch trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa thiện và ác, giữa đẹp và xấu, mà cuối cùng là sự thất bại tạm thời của cái đẹp, cái cao cả, sự thắng thế tạm thời của cái ác, cái xấu Còn nhiều nhà mỹ học thuộc các khuynh hướng khác họ không theo lý
thuyết này Thứ hai, bi kịch là một loại hình chuyên viết cho sân khấu và các loại hình
Trang 30nghệ thuật như văn chương, âm nhạc, nhảy múa, điện ảnh… phản ánh các chủ đề, mâu thuẫn, các tình huống đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện với cái ác, cái cao cả với cái thấp hèn nhưng cái đẹp, cái tốt, cái cao cả gặp nguy hiểm và rơi vào thất bại
Trong quá trình phấn đấu để đạt tới thành công và hạnh phúc, loài người xây dựng nên thế giới vật chất và thế giới tinh thần và cùng với chúng là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Cái bi cũng được phản ánh trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, trong đời sống và trong nghệ thuật Khái niệm cái bi trong mỹ học được dùng để chỉ cả cái bi trong cuộc sống và cái bi được phản ánh trong nghệ thuật Mỹ học thường dùng khái niệm “cái bi” trong đời sống và cái bi được phản ánh trong nghệ thuật Các loại hình nghệ thuật đều có thể phản ánh cái bi trong cuộc sống bằng các hình tượng thông qua các quá trình điển hình hóa, lúc đó tác phẩm nghệ thuật có nội dung bi kịch
Mỹ học mácxít xem xét bản chất thẩm mỹ của cái bi chủ yếu trên ba phương diện: phương diện lý luận của cái bi, phương diện cái bi trong đời sống và phương diện cái bi trong nghệ thuật Trong mỹ học mácxít, cái bi thường diễn ra trong cuộc đấu tranh không cân sức giữa cái thiện và cái ác, cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái phản tiến bộ trong tình huống cái ác, cái cũ, cái phản tiến bộ còn mạnh hơn cái thiện, cái mới, cái tiến bộ Đó là sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và bất
tử về tinh thần bằng nỗi đau và cái chết của nhân vật chính diện Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mỹ phức hợp bao hàm cả nỗi xót đau, niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Cái bi thường đi liền với nỗi đau và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chết chưa phải là cái bi Nỗi đau, cái chết chỉ trở thành cái bi khi chúng hướng tới mục đích và lý tưởng chân chính của con người và do đó, nó khẳng định sự bất
tử về mặt tinh thần của con người
Cơ sở khách quan của cái bi là những hiện tượng mâu thuẫn giữa con người
và tự nhiên, giữa các lực lượng đối kháng trong xã hội và mâu thuẫn gay gắt trong bản thân cá nhân mỗi con người tham gia vào các mâu thuẫn đó Đó là cuộc đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng của những con người đại diện cho lý tưởng tiến bộ và hành động vì sự phát triển của xã hội với các thế lực đang cản trở hoặc phá hoại lý tưởng Trong cuộc xung đột, những con người đại diện cho lý tưởng, chính nghĩa đã trực tiếp bị thất bại, bị đau khổ tột cùng hoặc thậm chí hy sinh chính
Trang 31là dấu hiệu của mâu thuẫn lịch sử - xã hội chưa được giải quyết và là kết quả có tính chất bi thảm của cuộc đấu tranh
Cơ sở chủ quan của cái bi chính là một phức hợp của nhiều yếu tố và sắc thái khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, thuộc nhận thức thẩm mỹ; do đó giá trị thẩm mỹ trong cái bi trở nên sâu sắc và phong phú Đó là sự hòa hợp của nhiều yếu tố tình cảm thẩm mỹ mâu thuẫn nhau: đó là sự thương xót, đồng cảm và sự sợ hãi; đó cũng là lòng cảm phục, sự quý trọng với sự khinh miệt, sự căm ghét; đó cũng là niềm tin, niềm tự hào
và sự hứng khởi trước ý chí và sức mạnh bất khuất của con người
Cái bi thường gắn với sự thương xót, sự ảm đảm, sự bất hạnh, do đó, nhiều người đã đồng nhất cái bi với tư cách là một phạm trù mỹ học với sự bi quan, bi đát
và cái chết Cần phải nói rằng, bản chất thẩm mỹ của cái bi không đồng nhất với bi quan bởi bi quan là một tình cảm chán nản, tuyệt vọng, không tin tưởng ở cuộc đời tốt đẹp và tương lai tươi sáng
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Cái bi (Tragique) là phạm trù mỹ học phản
ánh một hiện tượng có tính quy luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh không cân sức giữa cái thiện và cái ác, cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái phản động trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái trước Đó là sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và bất tử về tinh thần bằng nỗi đau và cái chết của nhân vật chính diện Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mỹ phức hợp bao hàm cả nỗi xót đau, niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Cái bi thường đi liền với nỗi đau và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chết chưa phải
là cái bi Chúng chỉ trở thành cái bi khi hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con người ” [55; tr 37]
Cái bi bao gồm cả cái chết nhưng không phải cái chết nào cũng mang bản chất thẩm mỹ của cái bi Có cái chết sinh học thông thường, có cái chết của cái xấu, cái ác và có cái chết của cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng Cái chết của bọn cướp nước và bọn bán nước không thể tạo nên tình cảm của cái bi trong nhân dân ta vì đó
là cái chết của cái xấu, cái ác Cái chết của mẹ con Cám, của Lý Thông, của Tú bà,
Mã Giám Sinh không phải là cái chết mang bản chất bi kịch Cái chết như vậy không để lại một ấn tượng nuối tiếc nào trong tâm trí loài người Nếu có chăng, chúng chỉ có dấu hiệu của hài kịch Sự mất đi của chúng sẽ làm cho nhân loại thêm
Trang 32đẹp đẽ và sạch sẽ hơn mà thôi Cái chết thuộc phạm trù cái bi chỉ xảy ra trong cuộc đấu tranh gay gắt, một mất một còn, giữa cái đẹp với cái xấu, cái tiến bộ và cái lỗi thời, phản động, giữa cái thiện và cái ác, trong đó cái đẹp bị thất bại tạm thời Cái chết như vậy mang bản chất cái bi bởi vì nó luôn có sức mạnh khẳng định sự bất tử
và sức sống của cái đẹp, cái anh hùng, thôi thúc con người vươn lên đấu tranh cho
lý tưởng xã hội tiên tiến Cái bi phải được nảy sinh trong cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các lực lượng đối lập, trong đó do các điều kiện cần thiết chưa chín muồi nên cái đẹp, cái thiện, cái tiến bộ phải tạm thời chịu sự thất bại, hy sinh như một sự ngẫu nhiên
Cái chết có thể trở thành cái bi khi nó phải mang trong mình tính chất xã hội rộng lớn biểu hiện như một sự ngẫu nhiên nhưng phải là sự ngẫu nhiên do quy luật khách quan của lịch sử quy định, là một hình thức biểu hiện tính tất yếu của lịch sử Cái chết ngẫu nhiên đó phải nói lên được những vấn đề quan trọng đối với cuộc sống xã hội Nếu không có tinh thần này thì cái chết chỉ là sự tổn thương riêng tư không có ý nghĩa xã hội tích cực và rộng lớn Cái chết phải có khả năng làm rung động lòng người, thức tỉnh lương tâm, cổ vũ ước mơ và thôi thúc những tình cảm lành mạnh, cao cả
Cái bi với tư cách một phạm trù mỹ học chính là sự thất bại, là cái chết tạm thời của cái đẹp mang tính chất xã hội rộng lớn gây nên sự đau thương cho con người tiên tiến Nó biểu hiện sự xung đột gay gắt của những khát vọng chân chính, những tài năng tốt đẹp, những phẩm chất cao quý trước một hoàn cảnh mà nó chưa vượt qua được Nó luôn mang tính chất tích cực, nó day dứt lòng người, nó buộc con người phải suy nghĩ không ngừng về các vấn đề rộng lớn của đời sống xã hội, thôi thúc đấu tranh để tiến tới mở một con đường mới cho lịch sử Chính cái bi có tác dụng tích cực lớn lao trong giáo dục thẩm mỹ cho nên Aristốt đã đề xuất tác dụng thanh lọc tâm hồn con người của bi kịch
Cái bi là một hiện tượng thẩm mỹ gắn liền với sự đau thương, đồng thời nó cũng khêu gợi niềm hứng thú, tự hào Bản chất thẩm mỹ bi kịch của cái chết không phải là sự tổn thất, sự mất mát vĩnh viễn, bi quan, bi lụy, bi đát mà nó đặt ra vấn đề cho cuộc sống, nó kêu gọi cuộc sống tiêu diệt các yếu tố xấu, nêu gương những hiện tượng đại diện cho cái đẹp, cái cao cả, anh hùng Cái bi luôn ẩn chứa tinh thần nhân
Trang 33đạo, nhân văn và giá trị bất tử của cái đẹp đằng sau những sự đau thương, mất mát
Vì vậy, cái khủng khiếp, cái đê tiện không thể có bản chất của cái bi vì sự thất bại của chúng không gợi cảm hứng về cái đẹp Cái bi vừa tạo cảm giác đau thương vừa có sức mạnh thanh lọc tâm hồn con người tức là sức mạnh giáo dục đạo đức – tinh thần
Có thể nói, theo mỹ học mácxít, bản chất thẩm mỹ của cái bi là những xung đột xã hội, xung đột cá nhân, xung đột lịch sử, mà sự xung đột đó dẫn đến kết cục
là cái chết, song đây không phải là cái chết thông thường mà là cái chết của cái đẹp trong tình huống nó chưa vượt qua được cái xấu, cái ác Tính thẩm mỹ của cái chết chính là ý nghĩa xã hội, tạo ra sự đồng cảm, đồng khổ, thậm chí là sự tự hào đối với cộng đồng, cái chết gắn với sự bất tử của lý tưởng tốt đẹp của loài người, đặt ra những vấn đề mà xã hội phải tiếp tục giải quyết Chỉ có những xung đột xã hội, xung đột lịch sử và những cái chết được hiểu như sự mất mát, tiêu vong, hy sinh có tính chất xã hội rộng lớn, được xã hội tôn vinh, ca ngợi, noi gương vì lý tưởng cao đẹp là cái tất yếu trở thành hiện thực thông qua đấu tranh xã hội của con người mới
là cái bi đúng nghĩa thẩm mỹ Nếu cá nhân tự cắt đứt mình ra khỏi mối quan hệ xã hội, cái chết đó ít có tính bi kịch Cái chết mang bản chất thẩm mỹ đều gắn với sự đồng cảm, nỗi thống khổ của xã hội Cái chết có tính bất tử là bản chất thực sự của cái bi theo quan điểm của mỹ học mácxít
Như vậy, cái bi là một phạm trù cơ bản của mỹ học, phản ánh giá trị thẩm
mỹ của con người đại diện cho cái đẹp, cái tốt, cái cao cả trong cuộc đấu tranh cho những mục đích, lý tưởng cao đẹp bị thất bại tạm thời trước những lực lượng đối lập, tạo nên sự đồng cảm thẩm mỹ, có ý nghĩa bất tử đối với chủ thể thẩm mỹ
Giá trị thẩm mỹ của cái bi có ý nghĩa đặc biệt tích cực: “thanh lọc tâm hồn con người” Nó thanh lọc để hình thành những con người có đủ khả năng vượt qua mọi trở ngại trong bản thân mình và hành động chống lại cái xấu, cái ác, cái thấp hèn, sẵn sàng đón nhận mọi mất mát hi sinh vì sự tiến bộ của loài người Cái bi chân chính khi thể hiện những con người cao cả, anh hùng đau khổ hoặc hi sinh vì những lý tưởng giải phóng con người bao giờ cũng chỉ ra cái lôgic giải quyết những mâu thuẫn xã hội và sự toàn thắng của chính nghĩa Tất cả các yếu tố trên đã tác động trở lại thế giới bên trong của bản thân chủ thể, hướng chủ thể tới sự tự ý thức,
tự phát triển theo chuẩn mực của lý tưởng xã hội - thẩm mỹ tiên tiến nhất
Trang 34Đời sống thẩm mỹ là một thế giới thống nhất, vì vậy, các phạm trù thẩm mỹ không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh tích cực thế giới thẩm mỹ đa dạng, tinh tế của con người Về phạm trù cái bi, nó có mối liên hệ chặt chẽ với các phạm trù như cái đẹp, cái cao cả, cái hài tạo thành các cặp phạm trù phản ánh bộ đôi khách thể thẩm mỹ như bi – hùng, bi – hài
Cái bi – hùng thể hiện mối quan hệ giữa cái bi và cái cao cả hay cái anh
hùng Đây là phạm trù thẩm mỹ thể hiện tính chất bi thương nhưng lại mang âm hưởng hùng tráng tạo nên tình cảm vừa xót thương vừa tự hào, khâm phục Đó chính là sự thất bại, sự hy sinh của cái cao cả, cái anh hùng tạo nên sự đồng cảm thẩm mỹ mãnh liệt, tôn vinh phẩm giá và sự cao quý của con người trong quá trình đấu tranh với tự nhiên và xã hội
Cái bi – hài thể hiện mối quan hệ giữa cái bi và cái hài Cái hài là một phạm
trù mỹ học dùng để nhận thức và đánh giá về một loại hiện tượng của đời sống, đó là những cái xấu núp bóng cái đẹp, tự nhận mình là đẹp Khi mâu thuẫn này bị phát hiện đột ngột sẽ tạo nên tiếng cười tích cực có ý nghĩa phê phán, phủ định cái xấu nhân danh cái đẹp Vì vậy, cái bi – hài là một phạm trù thẩm mỹ thể hiện sự đan xen, tác động qua lại giữa nụ cười và nước mắt, giữa niềm vui và nỗi buồn Cái bi – hài góp phần thể hiện sâu sắc cái nhìn và thái độ của con người với hiện thực đa chiều Trong cái bi có mầm mống của cái hài, trong cái hài có dấu hiệu của cái bi và nhiều khi cái hài chỉ là bề nổi còn cái bi lại ở tầng sâu Trong sự tác động qua lại, cái bi sẽ làm tăng thêm chiều sâu cho cái hài, cái hài làm cái bi hiện lên với nhiều mảng màu được tiếp nhận một cách nhẹ nhàng và thấm thía Ngay cả trong những cảnh tượng đau khổ nhất vẫn hàm chứa những tiếng cười mỉa mai, đả kích, lên án những cái xấu xa, đê tiện Bởi, “trong mỗi sự hài hước đều có nụ cười và nỗi đau” [47; tr 91] Trong các tác phẩm nghệ thuật châm biếm sâu sắc luôn ẩn chứa những giọt nước mắt đằng sau những nụ cười về những thói hư, tật xấu, những lầm lạc của con người
Trong lịch sử phát triển của xã hội, các hình thức xung đột xảy ra muôn hình muôn vẻ Cũng vì thế mà cái bi cũng có nhiều diện mạo khác nhau Có cái bi hùng,
có cái bi tráng, có cái bi hài; có cái bi xuất hiện trong cuộc đấu tranh giữa đạo đức
cũ và đạo đức mới Lý thuyết xung đột bao trùm khả năng hợp lý để nhìn vào những cái bi mà loài người từng trải qua Những chiều hướng của xã hội hiện nay đang đặt
Trang 35ra những khả năng mới nhằm giải phóng con người Các lý luận về bi kịch lạc quan,
bi hùng, bi tráng ngày càng phản ánh phong phú hiện thực sôi động của đời sống
2.1.2 Cái bi trong cuộc sống và cái bi trong nghệ thuật
Trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta, các nhà trường cũng như các cá nhân tự giáo dục hay giáo dục lại không chỉ quan tâm đến hệ thống lý thuyết về mỹ học, mà còn nghiên cứu, tìm hiểu và tương tác bởi bản chất thẩm mỹ của cái bi trong đời sống cũng như trong nghệ thuật Nghiên cứu vai trò của cái bi trong nhận thức, đánh giá và sáng tạo của con người, mỹ học coi phạm trù cái bi tồn tại bao gồm nhiều hình thức trong cuộc sống và trong nghệ thuật Chúng có những biểu hiện
chung và các hình thức tồn tại đặc thù
2.1.2.1 Cái bi trong cuộc sống
Một hiện tượng xã hội được coi là mang bản chất của cái bi trước hết phải có
ý nghĩa đối với sự phát triển và sự tiến bộ của con người và xã hội Sự tổn thất của
nó có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, đến mục tiêu và lý tưởng của nhiều người, của cộng đồng, thậm chí cả xã hội Chính vì vậy, hiện tượng xã hội đó mới trở thành một hiện tượng thẩm mỹ, nó nằm trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, nó phải là cái đẹp hoặc cái cao cả Khi hiện tượng thẩm mỹ này mất đi,
nó sẽ gây nên tình cảm thẩm mỹ trong các chủ thể xã hội như sự luyến tiếc, sự khâm phục và tự hào Cái bi trong cuộc sống tồn tại dưới nhiều tình huống:
khi đó là sự thất bại tạm thời của cái đẹp, cái cao cả Trong xã hội, không phải nỗi
thống khổ nào, sự khủng khiếp nào cũng có thể coi là bi kịch, cũng có số phận của cái bi Trước hết, tình huống bi kịch xảy ra trong cái chết, nỗi thống khổ của cái đẹp và cái cao cả, cái mà Ăngghen gọi là tất yếu mà họ phải được hưởng hạnh phúc, nhưng trong thực tế họ đã bị thất bại Trong cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác của những con người này vì mục đích chung của xã hội, của nhiều người vì
sự hoàn thiện xã hội, nhưng họ đã bị các thế lực đối nghịch hãm hại và tiêu diệt Sự thất bại của họ là nỗi thương tiếc của nhiều người và kêu gọi mọi người tiếp tục sự nghiệp đấu tranh cho cái đẹp chống lại cái xấu Những con người như vậy thường
là những anh hùng dân tộc, những chiến sĩ cách mạng có lý tưởng ngời sáng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Những con người ấy cũng có thể là những nhà
Trang 36khoa học xả thân vì khoa học, đấu tranh chống lại sự ngu dốt ngự trị trong xã hội Mác từng phát biểu, sự ngu dốt là một sức mạnh ma quỷ… và chúng tôi e rằng nó
sẽ còn là nguyên nhân của nhiều bi kịch khác nữa
là tình huống thất bại của cái mới Theo nguyên lý về tính tất yếu, đáng lẽ cái mới
phải chiến thắng nhưng vì nó đã xuất hiện quá sớm nên chưa đủ điều kiện để thắng lợi Cái mới còn non yếu, chưa cắm rễ sâu vào đời sống xã hội Tất nhiên, không phải mọi cái mới đều có số phận bi kịch, nhưng rõ ràng khả năng cái mới lâm vào tình trạng bi kịch, nghĩa là nó chưa thể thắng nổi cái cũ, là phổ biến trong đời sống
xã hội
Có cái mới ngay từ khi ra đời đã lập tức chiến thắng Sức mạnh của nó rất to lớn, nó có thể phủ định hoàn toàn cái xấu và cái cũ Cái mới như vậy là một tất yếu lịch sử và từng được thực hiện trong tất yếu lịch sử Trong một điều kiện lịch sử nào đó, có cái hoàn toàn mới bị thất bại, do chưa có được những điều kiện lịch sử chín muồi để chiếm lấy vị trí thống trị, phát triển và chiến thắng Nhưng cũng có những cái mới là cái xấu và nó không thể mang bản chất thẩm mỹ của cái bi kịch được bởi nó là nguyên nhân của nhiều bi kịch và bởi vì cái chết của nó không gây nên sự xúc động thẩm mỹ, đồng cảm và đồng khổ nào của nhân loại Chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt đã từng nhân danh cái mới nhưng đó là những lực lượng ác quỷ mới Sự thất bại của chúng không phải là bi kịch và không ai thương tiếc sự thất bại ấy của chúng Chỉ có cái mới thất bại tạm thời, những tư tưởng mới, lối sống mới, tập quán mới, cuộc cách mạng mới chưa thắng nổi cái cũ thì mới mang những yếu tố bi kịch
huống thất bại của cái cũ Có bi kịch của cái đẹp, cái mới, cái cao cả, cái anh hùng
và đồng thời cũng có cả bi kịch của cái cũ Có 3 tiêu chí cơ bản làm nên bi kịch của cái cũ:1) Cái cũ chưa phải đã mất hết vai trò trong lịch sử, chưa hoàn toàn xấu xa, phản động 2) Bản thân cái cũ vẫn còn tin vào tính chất hợp lí của nó 3) Những con người đứng ở phía chế độ cũ không phải là sự lầm lạc có tính chất cá nhân, mà
là sự lầm lạc có tính chất lịch sử toàn thể Chính vì vậy, cái chết của nó là bi kịch Như vậy, bi kịch ở đây không phải bi kịch do xung đột giữa cái mới và cái
Trang 37cũ, mà là bi kịch của chính cái cũ, bi kịch của những người chưa nhận ra tính tất yếu của quá trình đang chết dần của cái cũ đã đem hết sức lực ra bảo vệ nó nên không tránh khỏi thất bại thảm thương và tiêu vong oan uổng
Bi kịch của một giai cấp cũ có thể xảy ra trong trường hợp nó phải đấu tranh chống lại cái mới nảy sinh, tiến bộ hơn nó về mặt khách quan, nhưng bản thân nó chưa hoàn toàn cũ, chưa cạn kiệt năng lượng nội tại, chưa tỏ ra hoàn toàn lỗi thời
Bi kịch của cái cũ có thể xảy ra khi nó nhận thức cái cũ của mình, mong muốn đến với cái mới, nhưng chưa kịp đến với cái mới ấy, nó có thể không đủ sức để đến với cái mới, hay không theo cái mới đến cùng Cái cũ có ý nghĩa của cái bi khi nó vẫn mang trong mình sứ mệnh của lịch sử mới
Trong cuộc sống, nhân vật bi kịch phải là người đại diện cho cái tốt, cái đẹp, cho cái hùng, cái tiến bộ rơi vào tình huống bất hạnh Bi kịch chân chính chỉ thuộc về những nỗi đau lớn của con người có lý tưởng Những con người không có cuộc sống cao đẹp trong xã hội không thể là nhân vật của bi kịch, bởi cái bi đánh dấu sự mất mát, tổn thất của cá nhân không gì bù đắp được đối với sự đồng khổ của con người
Như vậy, cái bi trong cuộc sống luôn gắn liền với sự thất bại của cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng, cái mang những yếu tố mới nhưng chưa đủ năng lực chiến thắng và đã bị cái cũ tiêu diệt Cái bi cũng gắn với số phận của cái cũ nhưng chưa hết
cũ, không muốn mình cũ nhưng không đủ năng lực vươn tới cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng Từ đó, cái bi tạo thành các yếu tố bất tử có giá trị xã hội lớn lao, tạo nên sự đồng cảm xã hội, làm thúc đẩy cuộc sống đi lên Cái bi trong cuộc sống có sứ mệnh phát hiện ra những mâu thuẫn tạm thời không giải quyết được và đặt ra trước nhân loại vấn đề số phận con người cần phải giải quyết
2.1.2.2 Cái bi trong nghệ thuật
Cái bi trong cuộc sống kết tinh và thăng hoa trong nghệ thuật Nghệ thuật là
hình thái cao nhất của sự phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ giữa con người với hiện thực, vì thế, cái bi cũng được biểu hiện trong nghệ thuật với tính chất tập trung điển hình nhất Cái bi có mặt trong hầu hết các thể loại nghệ thuật, đặc biệt là trong văn chương, trong nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, âm nhạc Trong nghệ thuật, đằng sau những bi kịch mà nó phản ánh bao giờ cũng hiện ra bức tranh xã hội rộng lớn Nhìn toàn cục, cái bi trong những sáng tạo nghệ thuật phản ánh sâu sắc các vấn đề đặt ra
Trang 38trong đời sống Vẻ đẹp của cỏi bi trong nghệ thuật là những vẻ đẹp nhõn văn mà con người đó rỳt ra từ kinh nghiệm cay đắng của cuộc sống Ở cỏi bi trong nghệ thuật, tất
cả những gỡ nhất thời, mong manh, vụn vặt đều bị gạt bỏ, chỉ cũn đọng lại những khỏt vọng mónh liệt nhất, chõn thực nhất nhưng cũng trớ tuệ nhất Cỏi bi bao trựm một phạm vi rộng lớn những hiện tượng của cuộc sống, nhận thức của con người Nội dung diễn tả của nú thể hiện cảm hứng sỏng tạo của tất cả cỏc loại hỡnh nghệ thuật
Cỏi bi đ-ợc thể hiện trong các loại hình cơ bản: Kịch nói hay kịch thơ; hội hoạ hay điêu khắc, âm nhạc hay điện ảnh… Các loại hình nghệ thuật này đều có khả năng phản ánh bản chất của cái bi trong cuộc sống và được gọi chung là cỏi bi trong
nghệ thuật Tuy nhiờn, một hỡnh thức nghệ thuật xuất hiện sớm và rộng rói khi phản
ỏnh cỏi bi trong đời sống chớnh là văn chương Văn chương này thể hiện ở trong
cỏc sỏng tỏc kịch bản từ thời Hy Lạp cổ đại, trong cả thần thoại mà điển hỡnh là Iliỏt
và ễđysờ của Hụmốre
Văn chương phản ỏnh cỏi bi như Prụmờtờ bị xiềng, như Mờđờ, như Ăngtigụn đều
cú nội dung miờu ta sự xung đột giữa cỏi mới và cỏi cũ, giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cỏi thiện và cỏi ỏc trong xó hội Số phận cỏc nhõn vật chớnh diện đều kết thỳc bi thảm, thường là bằng cỏi chết tạo nờn cảm xỳc, ấn tượng, xút thương cho khỏn giả Từ những
bi kịch cú tớnh chất là bi kịch gia đỡnh, huyết thống đó mở rộng phạm vi tới những vấn đề
cú ý nghĩa xó hội, đề cập tới số phận của con người trong bi kịch chung của đất nước, dõn tộc và nhõn loại Ở Việt Nam, cỏc tỏc phẩm bi kịch nổi tiếng của thế giới đó được
giới thiệu và dàn dựng trờn sõn khấu như ễtenlụ, Rụmờụ và Juliet, Vua Lia, Hămlet, Âm
mưu và tỡnh yờu, Những tờn cướp, Lụi Vũ, Giụng tố… Ngoài kịch bản văn chương được
thể hiện bằng nghệ thuật, sõn khấu tuồng, chốo, cải lương truyền thống của Việt Nam cũng dàn dựng từ cỏc kịch bản mang nội dung bi kịch hay cũn gọi là mang yếu tố cỏi bi
như: Quan Âm Thị Kớnh, Xuý Võn giả dại, Đời cụ Lựu, Tụ Ánh Nguyệt…
Aristốt và Zanđơla Tel đó cho rằng, bi kịch là loại hỡnh lộng lẫy nhất, đẹp nhất
và hoàn thiện nhất của thi ca Phạm vi đối tượng chõn chớnh của bi kịch chớnh là sự miờu tả cỏi chết, cỏi tai họa đầy nước mắt của cỏc nhõn vật cao cả, là bước hoạn nạn của số phận, là chiến tranh, là thảm họa, đúi khỏt, bị khốn khổ Túm lại, bi kịch chớnh
là nước mắt, nỗi bất hạnh và mục tiờu duy nhất của nú chớnh là làm rung động, khờu gợi những cảm xỳc sõu xa nhất của con người
Trang 39Cái bi trong nghệ thuật gắn liền với các phương thức phản ánh cuộc sống, gắn với thời đại, gắn với phong cách, thủ pháp và những loại hình, loại thể nghệ thuật
Ở thời kỳ cổ đại, nghệ thuật bi kịch thường miêu tả số phận của con người Biểu hiện của nó chính là con người trong tình huống đấu tranh với lực lượng siêu nhiên ngoại tại, cảm giác được sự lớn mạnh, không thể chiến thắng được của lực lượng ngoại tại, cảm giác được sự yếu đuối nhỏ bé của lực lượng tự thân
Thời kỳ này, bi kịch thể hiện đó là những khát vọng giải phóng ước mơ cháy bỏng của những con người muốn thoát khỏi lưới trời lồng lộng đang bủa vây lấy cuộc sống của họ Các tác phẩm nghệ thuật đã thể hiện được sức mạnh/sức sống của những giá trị thẩm mỹ trong các thần thoại không chỉ của Hy Lạp mà của toàn nhân loại lãnh lấy trách nhiệm nâng con người lên, cổ vũ cho con người chiến đấu để thoát khỏi ngàn vạn mắt lưới của tự nhiên trói buộc mình, vươn lên làm chủ mọi sức mạnh của tự nhiên Sau đó, con người đã tự lựa chọn lấy cơ chế xã hội mẫu hệ để sinh thành và phát triển trong bầu sữa nóng của những bà mẹ Cái
xã hội mẫu hệ bao la nhưng rồi quá chật chội, con người đã tìm cách thay đổi một
cơ chế sống sang xã hội phụ hệ Khát vọng này đã được Étxin ghi lại trong vở bi
kịch Ôresti nổi tiếng Cái bi trong tác phẩm này đánh dấu cuộc chiến đấu của con
người chuyển từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ thông qua sự đau thương dằn vặt đầy máu và nước mắt giữa con trai và người mẹ, giữa những cuộc ngoại tình
và khát vọng hạnh phúc
Bi kịch thời kỳ trung cổ mang màu sắc tôn giáo, phục vụ cho hệ thống giáo lý
nhà thờ công giáo gắn với truyền thuyết phạm tội của ông bà Ađam và Êva Cho nên, bi kịch phương Tây thời trung cổ không mỹ hoá vẻ đẹp con người, mà chỉ mỹ hoá thảm cảnh của con người, nó ca ngợi sự đau thương của con người bằng triết lý
mỹ học giả dối, ích kỷ phục vụ tôn giáo
Bi kịch thời kỳ phục hưng là một bước tiến quan trọng vì nó đặt ra vấn đề
nhân sinh một cách trực tiếp Mâu thuẫn bi kịch thời kỳ này phản ánh mâu thuẫn của bước quá độ từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tư bản Nó xây dựng được những mâu thuẫn điển hình giữa một bên với tính cách là những người khổng lồ muốn xoá bỏ cái cũ, muốn giải phóng con người nhất là cá nhân con người ra khỏi xiềng xích của thần quyền tôn giáo với một bên muốn giữ lại những gì của cái cũ
Trang 40Bi kịch thời kỳ này gắn liền với tên tuổi của Sếchpia trong các tác phẩm nổi
tiếng: Hămlét, Ôtenlô, Rômêô và Jiuliet…
Bi kịch thời kỳ này còn phản ánh những mâu thuẫn sâu sắc giữa lý tưởng nhân văn, hướng về tự do muốn giải phóng con người với thực tại là con người đang rơi vào sự trói buộc không chỉ của xiềng xích cũ, mà còn xiềng xích mới đang hình thành với những khát vọng, ham muốn tình dục, tiền bạc của chủ nghĩa cá nhân mang tính phổ biến
Bi kịch của thời kỳ khai sáng đã hướng vào những vấn đề cơ bản của cuộc
sống nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột của xã hội phong kiến đầy rẫy
những phong tục, tập quán lạc hậu Những tên cướp biển, Âm mưu và tình yêu của Sinle, Phaoxtơ của Gớt là những tác phẩm bi kịch bất hủ của nhân loại Điểm nổi bật
nhất của tính cách các nhân vật trong bi kịch thời kỳ này là sự nồng nhiệt của những khát vọng, sự đam mê, căm giận, kiêu hãnh, đau đớn, hy vọng, tuyệt vọng của tình yêu, của tuổi trẻ Triết lý sống của nó là tự do, thoát khỏi xiềng xích phong kiến
Bi kịch của phương Tây hiện đại dựa trên triết lý bi đát (chủ yếu là triết học –
mỹ học hiện sinh), để hình thành quan niệm về sự thỏa hiệp đau thương không tránh khỏi của con người với thực tại nghiệt ngã và bạo tàn Chính vì thế, nghệ thuật phương Tây hiện đại dựng lên những con người bị tha hoá như: con người vỡ mộng, con người nhỏ bé
Bi kịch lạc quan xuất hiện chủ yếu trong nghệ thuật xã hội chủ nghĩa, nó ra đời
ở thời kỳ đấu tranh giành và giữ chính quyền cách mạng Những nhân vật bi kịch lạc quan chiến đấu vì một mục đích cao cả, mang tính hiện thực, với nhận thức rõ ràng Họ đón nhận sự hy sinh một cách anh dũng, tự nguyện Sự hy sinh đó không uổng phí; nó khơi dậy niềm tin vào con người, vào tương lai, nó đoàn kết mọi người, lôi cuốn họ vào cuộc đấu tranh chung vì những khát vọng cao đẹp của con người
Diện mạo cái bi trong nghệ thuật ở những thời đại khác nhau từ thời kỳ cổ đại Hy Lạp đến thời kỳ hậu hiện đại biểu hiện rất phong phú, đa dạng Nhưng cho
dù bản chất thẩm mỹ của cái bi trong nghệ thuật thời Hy Lạp cổ đại có khác với bản chất thẩm mỹ của cái bi trong nghệ thuật thời Trung cổ, Phục hưng, Cổ điển, Khai sáng, chủ nghĩa cổ điển Đức hay những nền văn nghệ hiện đại, hậu hiện đại, thì bản chất của nó vẫn là cuộc chiến đấu giữa cái đẹp và cái xấu, cái đúng và cái sai, cái