1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn

202 341 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của XHH công tác BVMT là nhằm huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội để thực hiện các hoạt động BVMT từ việc ra các quyết định, chính sách tới những hoạt động trực tiếp, cụ

Trang 1

I H C THÁI NGUYÊN

TRƢ N ĐẠI HỌC NÔN LÂM -

TRẦN QUAN TRUN

ĐÁNH IÁ HOẠT ĐỘN CỦA MỘT SỐ

MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA BẢO VỆ MÔI TRƢ N

Ở TỈNH LẠN SƠN

LU N V N THẠC S HOA HỌC MÔI TRƢ N

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

I H C THÁI NGUYÊN

TRƢ N ĐẠI HỌC NÔN LÂM -

TRẦN QUAN TRUN

ĐÁNH IÁ HOẠT ĐỘN CỦA MỘT SỐ

MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA BẢO VỆ MÔI TRƢ N

Trang 3

L I CAM ĐOAN

Tên tôi là Trần Quang Trung, học viên cao học lớp Khoa học môi trường

K21, khoá 2013-2015 Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài “Đánh giá hoạt

động của một số mô hình xã hội hóa BVMT ở tỉnh Lạng Sơn” là công trình của cá

nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, điều tra, khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phan ình Binh Số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2015

TÁC GIẢ

Trần Quang Trung

Trang 4

L I CẢM ƠN

ể hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo -

TS Phan ình Binh - Phó trưởng khoa Quản lý Tài nguyên - Trường ại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài một cách tốt nhất

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Quản lý Sau đại học; các thầy cô khoa Quản lý Tài Nguyên và khoa Môi trường - Trường ại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình tôi thực hiện luận văn

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ UBMT tổ quốc Việt Nam tỉnh Lạng Sơn; Sở Tài nguyên và Môi trường, Quỹ BVMT, Hội nông dân tỉnh Lạng Sơn; UBND các phường: Chi Lăng, ông Kinh, Tam Thanh, Vĩnh Trại và các UBND xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn; UBND xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn đã nhiệt tình giúp

đỡ và cung cấp thông tin, số liệu cần thiết cho tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo và các anh chị công nhân Công ty TNHH Huy Hoàng đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, các anh chị ở Chi cục BVMT, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lạng Sơn, huyện Bắc Sơn đã đóng góp những ý kiến quý báu, giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình làm luận văn

Xin gửi đến gia đình và bạn bè - những người đã luôn sát cánh động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi lời cảm ơn chân thành nhất

Học viên

Trần Quang Trung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM OAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1 TỔN QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan cơ sở lý luận về xã hội hóa hoạt động BVMT 3

1.1.1 Khái niệm xã hội hóa 3

1.1.2 Xã hội hóa hoạt động BVMT 5

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của mô hình cộng đồng tham gia BVMT 6

1.1.3.1 Tăng quyền lực cộng đồng 6

1.1.3.2 Sự công bằng 7

1.1.3.3 Phát huy kiến thức bản địa 7

1.1.3.4 Tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững 8

1.1.4 Các yếu tố hợp thành các mô hình cộng đồng tham gia BVMT 8

1.1.4.1 áp ứng nhu cầu 8

1.1.4.2 Cải thiện và duy trì môi trường 8

1.1.4.3 Tăng quyền lực của cộng đồng 8

1.1.5 Vai trò của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng trong việc xây dựng và phổ biến mô hình cộng đồng tham gia BVMT 9

1.1.5.1 Vai trò của chính quyền các cấp 9

Trang 6

1.1.5.2 Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội 9

1.1.5.3 Vai trò của cộng đồng 11

1.1.6 Phạm vi và lợi ích của mô hình BVMT 11

1.1.6.1 Phạm vi mô hình BVMT 11

1.1.6.2 Lợi ích của mô hình BVMT 12

1.1.7 Nội dung công tác Xã hội hóa BVMT 13

1.2 Cơ sở pháp lý về xã hội hóa hoạt động BVMT 13

1.3 Một số mô hình về xã hội hóa hoạt động BVMT trong đời sống sinh hoạt

đang được áp dụng tại Việt Nam 22

1.3.1 Mô hình xây dựng quy ước, hương ước, cam kết BVMT 22

1.3.2 Mô hình xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường 24

1.3.3 Mô hình cung cấp nước sạch 25

1.3.4 Mô hình sản xuất khí sinh học bằng hầm biogas 26

1.3.5 Các hình thức xã hội hóa BVMT khác 27

1.4 Tổng quan các mô hình xã hội hóa hoạt động BVMT tại tỉnh Lạng Sơn 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 ối tượng và nội dung nghiên cứu 31

2.1.1 ối tượng nghiên cứu 31

2.1.2 Nội dung nghiên cứu 31

2.1.2.1 iều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng môi trường 31

2.1.2.2 ánh giá hoạt động của các mô hình xã hội hóa BVMT ở Lạng Sơn 31

2.1.2.3 ề xuất giải pháp cho công tác xã hội hóa hoạt động BVMT tại Lạng Sơn 31

2.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 31

2.2.1 Phạm vi nghiên cứu 31

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp 32

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 33

2.3.3 Phương pháp phân tích hệ thống 33

Trang 7

2.3.4 Phương pháp đánh giá rủi ro mô hình 34

Chương 3 ẾT QUẢ N HIÊN CỨU VÀ THẢO LU N 37

3.1 iều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Lạng Sơn 37

3.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính 37

3.1.2 iều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 38

3.1.3 iều kiện kinh tế - xã hội 40

3.1.4 Hiện trạng môi trường tỉnh Lạng Sơn 43

3.1.4.1 Môi trường không khí 43

3.1.4.2 Hiện trạng môi trường nước 43

3.1.4.3 Môi trường đất 44

3.1.4.4 Về chất thải rắn 44

3.2 Mô hình xây dựng hương ước, quy ước gắn với BVMT tại thôn ông ằng, xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn 45

3.2.1 Giới thiệu mô hình 45

3.2.2 Triển khai hoạt động 46

3.2.3 Kết quả thực hiện mô hình: 46

3.2.4 ánh giá hiệu quả 47

3.3 Mô hình xử lý chất thải bằng hầm ủ biogas đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn ở xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn 49

3.3.1 Giới thiệu mô hình 49

3.3.2 Triển khai hoạt động 50

3.3.3 Kết quả thực hiện mô hình: 51

3.4 Mô hình phân loại rác tại nguồn 3R - LS 55

3.4.1 Giới thiệu mô hình 56

3.4.2 Triển khai hoạt động 60

3.4.3 Kết quả thực hiện: 61

3.5 ánh giá rủi ro và tính bền vững của 03 mô hình xã hội hóa BVMT tại

Lạng Sơn 64

3.6 ề xuất một số giải pháp cho công tác xã hội hóa hoạt động BVMT tại

Lạng Sơn 73

Trang 8

3.6.1 Hoàn thiện mô hình 73

3.6.1.1 ối với mô hình xây dựng hương ước, quy ước gắn với BVMT tại thôn ông ằng, xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn 74

3.6.1.2 ối với mô hình xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm ủ biogas đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn tại xã Mai Pha 75

3.6.1.3 Mô hình phân loại chất thải tại nguồn 3R -LS 75

3.6.2 Duy trì và nhân rộng mô hình 76

ẾT LU N VÀ IẾN N HỊ 77

1 Kết luận 77

2 Kiến nghị 78

TÀI LIỆU THAM HẢO

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢN

Bảng 2.1 Các thông tin, tài liệu đã thu thập 32

Bảng 2.2 ối tượng điều tra 33

Bảng 2.3 ánh giá rủi ro mô hình 34

Bảng 2.4 Cách xác định rủi ro mô hình 35

Bảng 3.1 Các đơn vị hành chính của tỉnh Lạng Sơn 38

Bảng 3.2 Các thông số đặc trưng trung bình về thời tiết, khí hậu của Lạng Sơn 38

Bảng 3.3 Dân số các huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn 43

Bảng 3.4 Thành phần rác thải tại các điểm tập kết rác trên địa bàn

tỉnh Lạng Sơn 44

Bảng 3.5 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh môi trường theo quy định 46

Bảng 3.6 Các hoạt động triển khai mô hình xây dựng hầm biogas 50

Bảng 3.7 Kết quả triển khai mô hình xử lý rác thải bằng hầm biogas 51

Bảng 3.8 Nhận thức của người dân về mô hình biogas 53

Bảng 3.9 Thông tin khái quát về khu vực các phường thí điểm 57

Bảng 3.10 Khái quát mô hình thí điểm phân loại chất thải tại nguồn 59

Bảng 3.11 Mức độ phát sinh CTR sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn 60

Bảng 3.12 Số lượng điểm thu gom tập kết và các thùng tập kết 61

Bảng 3.13 Hoạt động phân loại, thu gom rác thải 61

Bảng 3.14 Kết quả điều tra phân loại rác tại nguồn 62

Bảng 3.15 Hiệu quả tích cực về môi trường khi thực hiện mô hình 47

Bảng 3.16 ánh giá rủi ro mô hình xây dựng hương ước, quy ước gắn với BVMT tại thôn ông ằng 1, xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn 65

Bảng 3.17 ánh giá rủi ro mô hình xử lý chất thải bằng hầm ủ biogas đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn ở xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn 67

Bảng 3.18 Tổng hợp các tiêu chí đánh giá rủi ro mô hình phân loại chất thải tại nguồn 3R - LS 69

Bảng 3.19 Tổng hợp kết quả đánh giá rủi ro 3 mô hình thí điểm tại Lạng Sơn 71

Trang 11

PLCTTN : Phân loại chất thải tại nguồn

URENCO : Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành

viên môi trường đô thị

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động kinh tế, xã hội dẫn đến vấn đề ô nhiễm môi trường đang là thách thức nghiêm trọng của mọi quốc gia Tại Việt Nam, chất lượng môi trường đô thị bị ô nhiễm suy thoái bởi các hoạt động sản xuất công nghiệp, thói quen sinh hoạt, tiêu dùng không thân thiện với môi trường,

sự gia tăng với tốc độ kinh hoàng các phương tiện giao thông… Chất lượng môi trường nông thôn bị ô nhiễm, suy thoái bởi hoạt động sản xuất và chăn nuôi trong nông nghiệp thiếu bền vững, thói quen, nếp sống sinh hoạt của vùng dân lạc hậu, ý thức BVMT chưa cao Từ trước tới nay, hoạt động BVMT là trách nhiệm của Nhà nước, các đơn vị/doanh nghiệp sở hữu công ã đến lúc nhận thức này cần phải được thay đổi Trách nhiệm BVMT không chỉ còn là của riêng Nhà nước mà còn phải là trách nhiệm của mọi doanh nghiệp, của mọi người dân Xuất phát từ nhận thức đó, trong khoảng mười năm ngần đây, khái niệm xã hội hóa hoạt động BVMT đã xuất hiện, các mô hình xã hội hóa BVMT lần lượt áp dụng và trở nên phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước

Các mô hình xã hội hóa hoạt động BVMT đang được áp dụng tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các hoạt động: xử lý rác thải trong sinh hoạt, trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp… Lạng Sơn cũng là nơi có nhiều mô hình xã hội hóa BVMT trong đó nổi bật nhất là mô hình xã hội hóa BVMT trong đời sống sinh hoạt Các mô hình này đã thu hút được nhiều nguồn lực trong xã hội, đồng thời góp phần tích cực trong việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân, làm cho môi trường ngày càng trong lành, sạch đẹp

Mặc dù đang được triển khai rộng rãi, song các mô hình xã hội hóa chưa được tổng kết, đánh giá một cách toàn diện Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi

chọn đề tài: “Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa BVMT ở tỉnh

Lạng Sơn” nhằm tổng kết, đánh giá hiệu quả hoạt động xã hội hóa BVMT trên địa

bàn tỉnh Lạng Sơn

Trang 13

3 Ý nghĩa đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ thực trạng công tác xã hội hóa BVMT tại Lạng Sơn ề tài đi sâu phân tích nghiên cứu ba mô hình thí điểm đại diện cho khu vực thành thị và nông thôn, từ đó đánh giá hiệu quả các mô hình, phân tích những thành công - những tồn tại, nguyên nhân tồn tại để đề xuất các giải pháp cho công tác xã hội hóa BVMT tại Lạng Sơn trong thời gian tiếp theo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận nhận thức về

xã hội hóa và xã hội hóa trong công tác BVMT, các nội dung của hoạt động xã hội hóa BVMT hiện nay của Việt Nam nói chung và Lạng Sơn nói riêng ồng thời đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy trong các trường đại học, cho các cán bộ quản lý, các nhà hoạch định chính sách quan tâm tới vấn đề quản lý môi trường và tự quản trong cộng đồng dân cư

Trang 14

Chương 1 TỔN QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan cơ sở lý luận về xã hội hóa hoạt động BVMT

1.1.1 Khái niệm xã hội hóa

Khái niệm và XHH hiện nay được dùng với hai nội dung:

Nội dung thứ nhất: Thuật ngữ XHH chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã

hội về vật chất và tinh thần những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó của xã hội mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội, có trách nhiệm quan tâm Nói cách khác, do tầm quan trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề cụ thể đó mà từ chỗ chỉ một nhóm hay một cộng đồng hay một bộ phận của xã hội quan tâm, đến nay càng ngày càng được đông đảo quần chúng quan tâm ó là quá trình XHH các vấn đề, sự kiện xã hội, các hoạt động như XHH giáo dục, XHH y tế….[10]

Nội dung thứ hai: Thuật ngữ XHH được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá

trình chuyển biến từ chỉnh thể sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người [10]

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về XHH căn cứ vào tính chủ động của cá nhân trong quá trình XHH, chúng ta có thể tạm chia các định nghĩa nói trên thành 2 loại như sau:

Loại 1: Ít đề cập đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội Các cá nhân dường như bị khuôn vào các chuẩn mực khuôn mẫu không chống đối lại được Nói cách khác, mỗi cá nhân được xã hội mặc cho một

“chiếc áo văn hóa” phù hợp (theo cách nhìn của xã hội) với từng nơi, từng thời điểm, từng giai đoạn của cuộc sống nhưng cá nhân không có quyền tự chọn mình

Loại 2: Khẳng định tính tích cực, sáng tạo của cá nhân trong quá trình XHH

Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình tạo ra các kinh nghiệm xã hội

Nhưng dù có những khác biệt, song các nhà khoa học đều thống nhất tại một điểm: XHH là một quá trình Tức là, XHH có bắt đầu, có diễn biến và có kết thúc

Trang 15

Neil Smelser (nhà xã hội học Mỹ) đã viết: "XHH là quá trình mà trong đó cá

nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình", để phục vụ tốt cho

việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình [10] Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân trong quá trình XHH chỉ giới hạn trong việc tiếp cận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực Chúng chưa đề cập tới khả năng cá nhân chúng có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực để xã hội học theo Như vậy, dường như cá tính của con người

bị tan biến vào những đặc điểm xã hội mà cá nhân tiếp thu được

Chúng ta thừa nhận một thực tế rằng, trong quá trình tương tác xã hội mỗi con người đều có những điểm mà đối tác của họ có thể học tập Trong lịch sử đã có những nhân cách lớn tạo ra hàng loạt các chuẩn mục, giá trị…được thừa nhận trong một quốc gia, những nhà giáo dục học, những nhà khoa học, những nhà văn hóa nổi tiếng thế giới

Một nhà xã hội học khác của Mỹ Ficher đã xem: "XHH là một quá trình

tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó" [10] Như vậy,

Ficher đã chú ý hơn tới tính tích cực của cá nhân trong quá trình XHH

ịnh nghĩa của nhà khoa học người Nga G.Andreeva đã nêu được cả hai mặt

của quá trình XHH Tác giả cho rằng: "XHH là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân

tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động

và thâm nhập vào mối quan hệ xã hội" [10]

Như vậy, cá nhân trong quá trình XHH không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng của cá nhân để tham gia tái tạo, "tái sản xuất" chúng trong xã hội Mặt thứ nhất của quá trình XHH là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của môi trường tới con người Mặt thứ hai của quá trình này là thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình

Trang 16

1.1.2 Xã hội hóa hoạt động BVMT

Theo tác giả Lê Quỳnh Mai: XHH công tác BVMT được hiểu là việc cho

phép các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, HTX ngoài khu vực kinh tế nhà nước tự do kinh doanh các hoạt động cung cấp dịch vụ BVMT, cùng với quá trình thu hẹp các lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước kéo dài suốt nửa thế kỷ qua Mặt khác, XHH

còn đồng nghĩa với việc người dân và các đối tượng tiếp nhận lợi ích môi trường tăng thêm đóng góp tài chính (thuế, cước phí dịch vụ, thậm chí cả một phần vốn đầu

tư ban đầu ) và chủ động tham gia giám sát rộng rãi, dân chủ hơn để được thụ hưởng các dịch vụ và tiện ích môi trường đa dạng hơn, chất lượng cao hơn, thuận tiện và phù hợp nhu cầu của mình hơn [17]

Theo TS Bùi Tâm Trung: XHH công tác BVMT là việc huy động lực lượng

cộng đồng tham gia vào các hoạt động BVMT, vào các hoạt động quản lý môi trường các cấp, vào việc ra quyết định liên quan đến BVMT của cơ quan nhà nước [17]

Theo TS.Trần Thanh Lâm: XHH công tác BVMT là quá trình chuyển hóa tạo

lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động BVMT trên cơ

sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội phục vụ cho công tác BVMT để đạt được mục tiêu phát triển bền vững [16]

Theo GS Nguyễn Viết Phổ: XHH công tác BVMT là việc huy động sự tham

gia của toàn xã hội vào sự nghiệp BVMT của đất nước Hay nói cách khác, XHH công tác BVMT là phải biến chủ trương BVMT thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi người dân trong xã hội [24]

Các khái niệm về XHH công tác BVMT trên tuy được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng đều có một điểm chung đó là việc huy động sự tham gia của cộng đồng, của toàn xã hội cho công tác BVMT đồng thời biến công tác BVMT trở thành quyền lợi và trách nhiệm của mọi người XHH công tác BVMT là sự kết hợp hài hoà giữa vai trò của nhân dân và sự đầu tư quản lý của nhà nước, kết hợp lợi ích của cộng đồng với các thành phần kinh tế cùng tham gia nhằm chia sẻ gánh nặng

Trang 17

cho ngân sách nhà nước và địa phương Khi cộng đồng tham gia vào công tác

BVMT nhà nước sẽ có thêm nguồn lực để giải quyết các vấn đề ưu tiên khác

Mục đích của XHH công tác BVMT là nhằm huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội để thực hiện các hoạt động BVMT từ việc ra các quyết định, chính sách tới những hoạt động trực tiếp, cụ thể nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường,… hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

XHH công tác BVMT có ý nghĩa rất quan trọng, làm cho mọi thành phần trong xã hội đều thấy được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ, BVMT Từ nhận thức đó tạo nên những chuyển biến trong thói quen, nếp sống, trong công việc hàng ngày theo hướng thân thiện hơn với môi trường, góp phần phát triển bền vững

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của mô hình cộng đồng tham gia BVMT

Như đã đề cập ở trên, hiện nay rất nhiều mô hình XHH BVMT đang được nghiên cứu và áp dụng thí điểm Các mô hình đều dựa vào các yếu tố cơ bản sau:

1.1.3.1 Tăng quyền lực cộng đồng

Tăng quyền lực cộng đồng là sự phát triển sức mạnh của cộng đồng trong xây dựng mô hình BVMT thông qua việc các cơ quan quản lý khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và trao quyền tự chủ cho cộng đồng trong những lĩnh vực cụ thể Tăng cường sự kiểm soát và tiếp cận của cộng đồng trong giải quyết một vấn đề môi trường nào đó như việc sử dụng và quản lý tài nguyên sẽ tạo ra cơ hội tốt hơn cho tích lũy lợi ích kinh tế địa phương Sự tăng cường quyền lực cũng có ý nghĩa là xây dựng nguồn lực và khả năng của cộng đồng để quản lý và giải quyết có hiệu quả những vấn đề môi trường của họ theo cách bền vững nhất [12] Tăng quyền lực

có liên quan đến:

- An toàn trong sử dụng tài nguyên

- Công bằng trong quản lý tài nguyên và triển khai các mô hình

- Quyền lợi tham gia các mô hình - xác định các nhu cầu, thiết kế mô hình, thực thi và đánh giá kết quả cũng như tham gia vào các quyết định khác

Trang 18

- Xây dựng ý thức môi trường tự quản và xây dựng các mô hình tự quản về môi trường tại cộng đồng

- ược giáo dục và huấn luyện về tài nguyên môi trường, kiến thức về xây dựng mô hình

1.1.3.2 Sự công bằng

Công bằng có nghĩa là sự bình đẳng giữa mọi cá nhân và tổ chức đối với những cơ hội có được trong việc xây dựng các mô hình BVMT Mọi người đều có quyền như nhau trong việc tiếp cận thông tin, quyền được hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp, lợi ích vật chất và phi vật chất, lợi ích trước mắt và lâu dài do việc triển khai các mô hình BVMT mang lại

1.1.3.3 Phát huy kiến thức bản địa

Kiến thức truyền thống bản địa có những giá trị nhất định trong việc xây dựng các mô hình BVMT Sở dĩ như vậy vì những kiến thức truyền thống bản địa là những kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã tạo nên và phát triển theo thời gian Kiến thức này rất có giá trị vì là những kiến thức dựa trên kinh nghiệm, thường xuyên được kiểm nghiệm trong suốt một quãng thời gian rất dài, thích hợp với đặc điểm sinh thái, văn hóa, xã hội của từng vùng

Do đã quen và được truyền lại từ lâu đời, đồng thời được sử dụng để khai thác bền vững nguồn tài nguyên tại chỗ nên những kiến thức này rất dễ được người dân hiểu và vận dụng trong đời sống, sinh hoạt thường ngày Khi cộng đồng tham gia bàn bạc, giải quyết công việc cụ thể của một mô hình BVMT nào đó sẽ có cơ hội đưa những kiến thức này ra để xem xét và vận dụng sáng tạo trong những điều kiện hoàn cảnh mới

Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, kiến thức truyền thống, bản địa đang dần bị mai một do không được văn bản hóa, một phần do tiến trình phát triển và do sự gia tăng dân số nhanh chóng ể bảo tồn loại kiến thức này, chúng ta cần phải:

- Nhận thức đúng về giá trị của những kiến thức bản địa trong phát triển

- Phát hiện, phổ biến và lưu truyền kiến thức bản địa đến cộng đồng, nơi có cùng điều kiện sinh thái và đến những cán bộ làm công tác mô hình

Trang 19

- Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ khi áp dụng và phổ biến rộng rãi

- Tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng cải tiến và vận dụng tốt những kiến thức bản địa trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày

1.1.3.4 Tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững

Sự tham gia của cộng đồng trong mô hình BVMT địa phương đòi hỏi cộng đồng nhận thức và tổ chức thực hiện những hoạt động của mình một cách bền vững

và hợp lý về sinh thái Những hoạt động được thực hiện cần phải tính đến ngưỡng chịu đựng của nguồn tài nguyên và hệ sinh thái Sự phát triển bền vững đòi hỏi phải cân nhắc, nghiên cứu trạng thái và bản chất của môi trường tự nhiên trong khi theo đuổi sự phát triển kinh tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của thế hệ tương lai

1.1.4 Các yếu tố hợp thành các mô hình cộng đồng tham gia BVMT

Môi trường và các hoạt động BVMT tự nó đã mang tính xã hội cao, vì vậy XHH công tác BVMT là việc làm cần thiết và phù hợp Không có sự tham gia cộng đồng thì không thể thực hiện tốt sự nghiệp BVMT ể hình thành các mô hình cộng đồng tham gia BVMT cần ba yếu tố cơ bản sau:

1.1.4.1 Đáp ứng nhu cầu

Yếu tố đáp ứng nhu cầu đòi hỏi các cộng đồng phải đủ khả năng duy trì, tạo

ra hoặc thu được các sản phẩm dịch vụ cần thiết cho đời sống, sức khỏe và phúc lợi của họ một cách bền vững

1.1.4.2 Cải thiện và duy trì môi trường

Cải thiện và duy trì môi trường bao gồm cả việc bảo tồn đất đai, tài nguyên nước; sử dụng tài nguyên sinh học, kiểm soát ô nhiễm, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường

1.1.4.3 Tăng quyền lực của cộng đồng

Tăng quyền lực của cộng đồng là tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng và mọi cá nhân tự kiểm soát cuộc sống của mình, kể cả tạo ảnh hưởng đến các quyết định có tác động đến mình

Trang 20

1.1.5 Vai trò của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng trong việc xây dựng và phổ biến mô hình cộng đồng tham gia BVMT

iều kiện cần để cộng đồng tham gia BVMT là xác định và đặt đúng vai trò

và vị trí của cộng đồng trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định iều kiện đủ là cộng đồng phải được hưởng lợi từ việc thực hiện các quyết định đó

ể làm được điều này đòi hỏi những giải pháp tổng thể từ chính quyền các cấp, cộng đồng và các tổ chức xã hội

1.1.5.1 Vai trò của chính quyền các cấp

Chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phổ biến, nhân rộng mô hình BVMT có sự tham gia của cộng đồng

ối với chính quyền trung ương: cần phải quy định bằng pháp luật và đảm bảo sự thực thi về sự tham gia của cộng đồng và mọi thành phần kinh tế vào các hoạt động BVMT, từ việc góp ý chủ trương, chính sách và các biện pháp lớn đến các dự án cụ thể tại địa phương ặc biệt là việc tham khảo ý kiến người dân đối với các dự án có tác động trực tiếp tới môi trường, tới sản xuất và đời sống nhân dân và được quy định như một thủ tục bắt buộc trong quá trình đánh giá tác động môi trường

ối với chính quyền địa phương, nhất là chính quyền cấp xã, nơi trực tiếp thi hành đường lối, chính sách của ảng, pháp luật của nhà nước, có chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị và an ninh quốc phòng theo sự phân cấp và chỉ đạo của chính quyền cấp trên ây là cấp quản lý gần dân nhất, phải hiểu dân nhất, mọi hoạt động của chính quyền cấp xã đều liên quan trực tiếp với nhân dân [26]

1.1.5.2 Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội

Sự nghiệp BVMT là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức, đoàn thể nhân dân trong công tác BVMT là rất cần thiết nhằm tăng cường nhận thức, kỹ năng và chuyển biến trong tư duy, hành động BVMT của các tầng lớp nhân dân Năm 2004,

Trang 21

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành ký kết các nghị quyết liên tịch về việc phối hợp hành động BVMT với các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương oàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam

và liên minh các HTX

Các tổ chức đoàn thể nêu trên giữ vai trò hết sức quan trọng trong công tác BVMT ây là một lực lượng hùng mạnh, có điều kiện để tổ chức tuyên truyền, huy động và hướng dẫn hành động đến mọi người dân tích cực tham gia các hoạt động BVMT i sâu vào từng giới, từng tổ chức và tầng lớp xã hội để huy động lực lượng tham gia BVMT phù hợp với khả năng, điều kiện của mỗi đối tượng

Ngoài ra cần phải kể đến các tổ chức nước ngoài, có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các chương trình XHH Theo luật pháp của một số nước, các tổ chức NGO bao gồm các chủ thể có tư cách pháp nhân, là những tổ chức không thuộc chính phủ như các Viện, các tổ chức tư nhân hay công cộng hoặc các Quỹ… Các NGO đó là những tổ chức phi lợi nhuận, được lập ra hợp pháp và có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước cho đặt trụ sở chính

Viện trợ của NGO được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông qua các chương trình dự án, viện trợ phi dự án (viện trợ bằng tiền hay hiện vật) và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp thiên tai hoặc thảm họa Khác với nguồn viện trợ chính thức, viện trợ NGO là loại viện trợ không hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, có thủ tục nhanh gọn và đơn giản Quy mô tài chính của các dự án thường không lớn (từ vài nghìn đến vài trăm nghìn đô la Mỹ), thời gian thực hiện không dài nhưng thường đáp ứng kịp thời, sát với nhu cầu và phù hợp với khả năng quản lý, sử dụng của những nơi nhận viện trợ Các tổ chức NGO nước ngoài có trụ

sở tại Việt Nam như: Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), quỹ Rosa - Luxemburg, Tổ chức Care, Tổ chức hợp tác kỹ thuật ức (GTZ), tổ chức Oxfam Great Britain,…

Trang 22

về BVMT; Phát hiện và kiên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm luật về BVMT diễn ra tại các địa phương

1.1.6 Phạm vi và lợi ích của mô hình BVMT

Hoạt động BVMT có phạm vi rất rộng, tuy nhiên, cần căn cứ vào các vấn đề môi trường bức xúc ở địa phương và tính khả thi của mô hình để áp dụng mô hình BVMT thí điểm cho phù hợp với điều kiện hiện tại của địa phương đó

1.1.6.1 Phạm vi mô hình BVMT

Mô hình BVMT có thể áp dụng ở mọi cộng đồng kể cả đô thị, nông thôn và doanh nghiệp Nó bao trùm một phạm vi rộng lớn như: trách nhiệm và quyền hạn của nhân dân; giáo dục; cung cấp năng lượng; nhà ở; giao thông vận tải và truyền thông; cải thiện dịch vụ cấp nước và vệ sinh; phát triển công việc ở địa phương; duy trì các dịch vụ hỗ trợ cuộc sống và bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển nông, lâm và công nghiệp bền vững; phục hồi các môi trường bị suy thoái; phòng chống thiên tai; tham gia vào các quyết định, chuẩn bị kế hoạch sử dụng tài nguyên; soạn thảo các chiến lược địa phương về bảo tồn và phát triển bền vững [25]

Trang 23

1.1.6.2 Lợi ích của mô hình BVMT

Đối với cộng đồng

Mô hình BVMT giúp cho việc xây dựng và tăng cường tính tự lực trong cộng đồng Các cộng đồng được giao quyền sẽ hành động trong trách nhiệm của mình, tích cực phát triển mọi khả năng, sự khôn khéo trong việc tổ chức các mô hình, tự điều chỉnh và nhận thầu công việc [25]

Mô hình BVMT có thể tạo cơ hội mới về việc làm, huy động các nguồn lực

và kỹ năng chưa được sử dụng của cộng đồng trong việc thực hiện các sáng kiến và

sự đa dạng về nếp sống Nhiều mô hình BVMT dựa vào cộng đồng không phải đầu

tư nhiều mà hiệu quả lại cao trong việc sử dụng tài nguyên

Trong các cộng đồng đô thị cũng như nông thôn, mô hình BVMT có tác dụng nâng cao trách nhiệm đối với môi trường địa phương Với sự đảm bảo quyền

sở hữu và sử dụng sức mạnh nhân dân có thể tạo lập phương hướng lâu dài và tổ hợp các mục tiêu kinh tế và môi trường để tiến tới phát triển bền vững

Đối với quốc gia

Con người và tài nguyên thiên nhiên được sử dụng tốt hơn iều này giảm sự phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài và các sự hỗ trợ khác Bằng cách sử dụng các hệ thống nông thôn và đô thị hiện có một cách hiệu quả, các mô hình BVMT có thể tăng dự trữ vốn cho nhà nước

Sự tăng cường tính tự lực của cộng đồng từ mô hình BVMT dẫn đến một số lợi ích xã hội, bao gồm giảm các mâu thuẫn xã hội do sự phá vỡ môi trường, thiếu việc làm và không đáp ứng nhu cầu từ cuộc sống; số lớn người dân được lôi cuốn vào quá trình phát triển của các mô hình BVMT; nhiều cơ hội về việc làm ở địa phương và giảm nhu cầu di dân các vùng nông thôn vào các trung tâm đô thị; nhu cầu nhập khẩu sẽ thấp hơn nhờ vào tính tự lực cao

Trong quá trình hoạt động của mô hình BVMT sẽ đảm bảo được những lợi thế về quản lý hành chính, cụ thể là số người tham gia trong các mô hình tự quản sẽ giúp cho việc quản lý hành chính địa phương gọn nhẹ hơn, hiệu quả cao hơn; sự hợp tác liên ngành ở địa phương nhờ đó cũng sẽ tốt hơn

Trang 24

1.1.7 Nội dung công tác Xã hội hóa BVMT

Những nội dung cơ bản của XHH hoạt động BVMT ở Việt Nam hiện nay bao gồm:

- Xác định trách nhiệm các bên;

- Tạo cơ sở pháp lý cho cộng đồng;

- Xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước BVMT;

- Phát triển các phong trào quần chúng BVMT;

- Xây dựng các mô hình BVMT lồng ghép các mô hình kinh tế - xã hội;

- Nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực cho cộng đồng về BVMT;

- Huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần tham gia BVMT;

1.2 Cơ sở pháp lý về xã hội hóa hoạt động BVMT

Nhà nước đang có chủ trương XHH công tác BVMT, nói cách khác là nhà nước và nhân dân cùng BVMT iều này được thể hiện qua rất nhiều chủ trương của ảng, chính sách cũng như pháp luật

(1) Hiến pháp năm ngày 28/11/2013:

iều 50 (Chương III), Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công

bằng xã hội, BVMT, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

iều 62 (Chương III), Hiến pháp năm 2013:

Khoản 1 quy định: “Nhà nước có chính sách BVMT, quản lý, sử dụng hiệu quản, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”

Khoản 2 quy định: “Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động BVMT, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo”

(2) Nghị quyết số 41/NQ- TW ban hành ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị

Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 25

Nghị quyết đã xác định quan điểm “BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người” và “BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy ảng, sự quản lý thống nhất của nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân” Giải pháp được đưa ra là “ ẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT” và “đẩy mạnh XHH hoạt động BVMT: phải tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia BVMT… xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết về BVMT và các mô hình tự quản về môi trường của cộng đồng dân cư; phát triển các phong trào quần chúng tham gia BVMT…”

(3) Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21/1/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh

thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về BVMT trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Chỉ thị yêu cầu chú trọng đẩy mạnh XHH công tác BVMT, có cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia BVMT Xây dựng và phát triển lực lượng tình nguyện viên BVMT Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với BVMT của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Phát triển các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế,

xử lý chất thải và các dịch vụ khác BVMT với sự tham gia của mọi thành phần kinh

tế Hình thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, chứng nhận về BVMT; thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường đủ mạnh để giải quyết các vấn

Trang 26

cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về BVMT Trong các giải pháp thực hiện chiến lược có giải pháp đẩy mạnh XHH công tác BVMT [5]

(5) Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Ban hành theo Quyết định 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/8/2004

Trong 8 nguyên tắc để phát triển bền vững ở Việt Nam, nguyên tắc thứ sáu là: phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn ảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và BVMT

ở địa phương và trên quy mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định

về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước

(6) Quyết định số 34/2005/QĐ -TTg ban hành ngày 22/2/2005 của Thủ Tướng Chính phủ

Ban hành theo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết

41 - NQ/TƯ ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với nhiệm vụ thứ năm là đẩy mạnh XHH hoạt động BVMT Nhiệm vụ này được cụ thể hóa với bốn nội dung chính sau:

Thể chế hóa các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia công tác BVMT, đặc biệt trong quá trình xây dựng, ban hành và thực hiện các quyết định có liên quan đến BVMT

a dạng hóa các loại hình hoạt động BVMT, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện các dịch vụ BVMT; khuyến khích thành lập các tổ chức đánh giá,

tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận về BVMT

Trang 27

Xây dựng phong trào toàn dân BVMT, xây dựng và phát triển các điển hình tiên tiến trong hoạt động BVMT

Chú trọng xây dựng và thực hiện hương ước, quy định, cam kết BVMT; phát triển các mô hình cộng đồng dân cư tự quản trong hoạt động BVMT

(7) Luật BVMT ngày 23/6/2014

Luật BVMT được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 đã cụ thể hóa các chủ trương nêu tại Nghị quyết số 41-NQ/TƯ của Bộ Chính trị và các quy định trong Hiến pháp năm 2013, như:

Khoản 2, iều 21 quy định: Chủ dự án phải tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bới dự án

Khoản 1, iều 83 quy định: Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập đội tự quản về BVMT nơi sinh sống

iều 105: Thực hiện dân chủ cơ sở về BVMT

iều 116: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường để thực hiện các hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh, UBND thông qua hình thức đấu thầu trong lĩnh vực BVM

iều 124: Quy định trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác BVMT

(8) Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT

Nghị quyết đã xác định quan điểm “BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi

tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người” và “BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo

chặt chẽ của các cấp ủy ảng, sự quản lý thống nhất của nhà nước”

(9) Nghị Quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn

đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT;

Trang 28

Để đảm bảo chủ trương BVMT XHH công tác BVMT, nói cách khác là nhà

nước và nhân dân cùng BVMT, nghị quyết đã yêu cầu các tổ chức sau thực hiện các nội dung khắc phục các vấn đề cấp bách của môi trường trong lĩnh vực BVMT

(10) Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và BVMT biển, hải đảo

iều 24 Tham gia của các tổ chức, cá nhân vào quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo:

Nhà nước khuyến khích việc tham gia phản biện xã hội các chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch hành động và dự án về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và BVMT biển, hải đảo; khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho các

dự án để khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT biển, hải đảo theo quy định của pháp luật

Nhà nước có chính sách hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng và phổ biến các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng đối với việc quản lý, khai thác tài nguyên và BVMT vùng bờ, ven biển và hải đảo

(11) Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 1/12/2008 của Chính phủ về quản

lý lưu vực sông, trong đó có sự khuyến khích và tạo điều kiện cho cộng đồng tham

gia vào việc đầu tư, quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước trong lưu vực sông được quy định tại điều 7, điều 17, điều 19, điều 23, điều 25

(12) Nghị định số 57/2008/NĐ-CP ngày 02 tháng 05 năm 2008 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia

và quốc tế, quy định tại iều 4 Cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển Khu bảo

tồn biển; iều 5 Ban quản lý Khu bảo tồn biển có nhiệm vụ phối hợp với cộng đồng dân cư sống bên trong và xung quanh khu bảo tồn đề xuất và tổ chức thực hiện các hoạt động nhằm cải thiện sinh kế

(13) Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 21/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;

(14) Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch BVMT

Trang 29

(15) Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT;

iều 1 của nghị định khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia BVMT Chương VIII Cộng đồng dân cư tham gia BVMT:

iều 50 qui định cộng đồng dân cư có thể lựa chọn tổ chức hoặc cá nhân làm người đại diện cho cộng đồng dân cư thông qua cuộc họp toàn thể hoặc đại diện hộ gia đình trong cộng đồng dân cư Tại iều 54 nêu rõ:

- Nhà nước khuyến khích và có cơ chế chính sách hỗ trợ cộng đồng dân

cư xây dựng và tổ chức thực hiện các mô hình cộng đồng bảo vệ tài nguyên và môi trường, phát triển bền vững, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu

- Cộng đồng dân cư có trách nhiệm tham gia vào việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động, giám sát, đánh giá hiệu quả của chương trình bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia; tham gia quản lý, bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia

- Cộng đồng dân cư có quyền chủ động xây dựng, tổ chức thực hiện các

mô hình bảo vệ tài nguyên và môi trường dựa vào cộng đồng, cùng với các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường tham gia giám sát, kiểm tra việc quản lý các khu bảo tồn thiên

nhiên, vườn quốc gia

(16) Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ Quy định về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực BVMT;

Nghị định này quy định về ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, vốn; miễn, giảm thuế, phí đối với các cơ sở thực hiện xã hội hóa ; trợ giá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm từ các

cơ sở thực hiện xã hội hóa và các ưu đãi, hỗ trợ khác đối với hoạt động và sản phẩm

từ các cơ sở thực hiện xã hội hóa Nghị định quy định danh mục chi tiết các hoạt được đặc biệt hỗ trợ, ưu đãi và danh mục các hoạt động được ưu đãi, hỗ trợ trong lĩnh xã hội hóa

Trang 30

(17) Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động BVMT;

Nghị định này quy định về ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, vốn; miễn, giảm thuế, phí đối với hoạt động BVMT; trợ giá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm từ hoạt động BVMT

và các ưu đãi, hỗ trợ khác đối với hoạt động và sản phẩm từ hoạt động BVMT Nghị định quy định danh mục chi tiết các hoạt được đặc biệt hỗ trợ, ưu đãi và danh mục các hoạt động được ưu đãi, hỗ trợ trong lĩnh vực BVMT

(18) Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ ngày 16/6/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;

Nghị định đã sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 69/2008/N -CP như: Bổ sung điều 5 chính phủ yêu cầu:

- Các bộ ngành trong lĩnh vực xã hội hóa căn cứ vào khả năng tài chính và nhu cầu khuyến khích xã hội hóa thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng một phần hoặc toàn bộ công trình xã hội hóa

- Ưu tiên về giá thuê cơ sở hạ tầng và một phần hay toàn bộ công trình xã hội hóa

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ

sở thực hiên xã hội hóa đầu tư xây dựng các công trình xã hôi hóa theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt

(19) Quyết định 1030/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025";

Theo Quyết định này, Nhà nước sẽ hỗ trợ qua tín dụng nhà nước để phát triển ngành công nghiệp môi trường và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển ngành công nghiệp này Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường được hưởng các chính sách ưu đãi cao nhất về đất đai, vốn, thuế theo quy định của pháp luật

Trang 31

(20) Quyết định số 249/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển dịch vụ môi trường đến năm 2020 do Thủ tướng phê duyệt ngày 10/2/2010;

Theo Quyết định này, Nhà nước cũng có nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển dịch vụ môi trường Theo đó, các tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ môi trường được hưởng các chính sách hỗ trợ về đất đai, vốn; ưu đãi về tín dụng; trợ cấp; miễn giảm thuế, phí ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật

(21) Quyết định 130/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch;

Theo đó, dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch và một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM) Dự án CDM được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự

án, hàng hoá nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất…

(22) Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ

sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;

Tại iều 1 đã nêu ra các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường được hưởng chính sách khuyến khích phát triển xã hội hoá theo quy định của Nghị định số 69/2008/N -CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ

(23) Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủy tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”;

(24) Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến 2020; Quan điểm của nghị định là:

- Chiến lược BVMT là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Chiến lược

phát triển kinh tế-xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước

Trang 32

Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà với phát triển xã hội và BVMT

ầu tư BVMT là đầu tư cho phát triển bền vững

- BVMT là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân

- BVMT phải trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật

đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về BVMT

- BVMT là việc làm thường xuyên, lâu dài Coi phòng ngừa là chính, kết hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện chất lượng môi trường; tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; coi khoa học và công nghệ là công cụ hữu hiệu trong BVMT

- BVMT mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong BVMT và phát triển bền vững

(25) Quyết định số 24/2007/QĐ-UBND ngày 12/3/2007 của UBND tỉnh

Lạng Sơn Quy định về bảo vệ và giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

iều 6 Trách nhiệm của các hộ gia đình, cá nhân: Mọi gia đình, cá nhân sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phải có ý thức, nghĩa vụ, trách nhiệm BVMT, thu gom và chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định Không đổ chất thải rắn, nước thải, chất gây ô nhiễm chưa qua xử lý vào hệ thống thoát nước chung, ra lòng đường, hè phố, ao hồ và các nơi khác; không gây tiếng ôn, bụi, khí thải vượt quá tiêu chuẩn môi trường Tham gia đầy đủ hoạt động vệ sinh môi trường công cộng; nộp đủ và đúng thời hạn các loại phí BVMT theo quy định của pháp luật

Pháp luật nhà nước Việt Nam có những quy định khá đầy đủ để cộng đồng tham gia vào đóng góp ý kiến cho những chương trình, dự án lớn của địa phương Tuy nhiên việc đưa các văn bản đó lại gần cuộc sống thực của người dân thì lại chưa được quan tâm đúng mức Người dân không nắm được quyền và nghĩa vụ hoặc biết về vai trò của người dân ở một số nơi hay trong một số dự án, chương trình chưa được coi trọng Do đó việc đưa các văn bản pháp luật này tới người dân

và doanh nghiệp cần quan tâm và chú trọng nhiều hơn

Trang 33

1.3 Một số mô hình về xã hội hóa hoạt động BVMT trong đời sống sinh hoạt đang được áp dụng tại Việt Nam

Các mô hình xã hội hóa BVMT ở Việt Nam được chia thành 5 loại:

- Mô hình xã hội hóa BVMT trong đời sống sinh hoạt

- Mô hình xã hội hóa BVMT trong nông nghiệp

- Mô hình xã hội hóa BVMT trong công nghiệp

- Xã hội hóa bảo tồn đa dạng sinh học

- Phong trào xã hội hóa BVMT

Trong khuôn khổ luận văn này, với khả năng và thời gian hạn chế, học viên xin giới thiệu các mô hình xã hội hóa BVMT trong đời sống sinh hoạt hiện nay như:

mô hình xây dựng quy ước, hương ước, cam kết BVMT; mô hình xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường; mô hình cung cấp nước sạch

1.3.1 Mô hình xây dựng quy ước, hương ước, cam kết BVMT

Thông thường, một quốc gia chỉ có một nền pháp luật Trong một số trường hợp, bên cạnh pháp luật còn tồn tại hình thức quy định khác gọi là lệ hay luật lệ Việt Nam là một quốc gia trong số đó Hai loại luật pháp này hợp thành một nền pháp luật chung của một quốc gia, không phủ định lẫn nhau mà tác động qua lại lẫn nhau

Loại pháp luật thứ nhất: giống như ở nhiều quốc gia trên thế giới, là loại do nhà nước ban hành Chúng có hiệu lực thi hành trong phạm vi cả nước

Loại luật thứ hai là loại “luật pháp” do cộng đồng dân cư trong các làng xã tự ban hành và có hiệu lực thi hành trong phạm vi “lãnh thổ” của nơi chôn rau, cắt rốn của những tập thể đã sản sinh ra nó Nó mang tính chất là “luật của dân” ở những địa bàn cư trú nhất định Loại “luật” của cộng đồng dân cư trong các làng xã ở Hà Nội cũng như ở nhiều địa phương của Việt Nam có nhiều tên gọi khác như: hương ước; tục lệ (tục lệ làng Phúc Xá); hương tục (hương tục làng Ngọc Hà); khoán ước (khoán ước các làng Nhật Tân - ông Ngạc); Hương Liên; Hương lệ (Hoa Cầu thôn Hương Lệ); Cựu khoán (Mô Trạch - xã Cựu Khóa tỉnh - Hải Dương) [14]

Trang 34

Trong số các tên gọi: hương ước, tục lệ, hương tục, khoán ước, hương liên thì hương ước là tên gọi được dùng nhiều hơn cả Hương ước, quy ước BVMT là một dạng của cam kết của cộng đồng về BVMT, là một trong những công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính tự quản tại cộng đồng dân cư cơ sở Quy ước của thôn, làng, buôn, bản, ấp (sau đây gọi chung là thôn, bản): là những quy tắc

xử sự trong nội bộ cộng đồng và do cộng đồng thoả thuận đa số và tự nguyện thực hiện [23]

Theo thông tư liên tịch số 03 của Bộ Tư pháp - Bộ văn hóa thông tin - Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, ngày 31/3/2000 về:

“Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của các thôn, làng, ấp,

bản, cụm dân cư” và bổ sung như sau: “Hương ước là văn bản quy phạm xã hội,

trong đó quy định các quy tắc xử sự chung, do cộng đồng dân cư cùng thỏa đặt ra

để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện dân chủ, giữ gìn, phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư, góp phần

hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật”

Hương ước mới (Quy ước làng văn hóa) xuất hiện lần đầu tiên ở Hà Bắc, bản hương ước mới đầu tiên biết đến là bản Hương ước của làng Hồi Quan, xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh (1990), sau một thời gian ngắn,việc xây dựng hương ước mới (Quy ước làng văn hóa) đã trở thành phong trào của toàn tỉnh Giai đoạn 1990 - 1993 là giai đoạn phát triển có tính chất tự giác của phong trào xây dựng hương ước mới, đánh dấu bằng sự kiện quan trọng đó là Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương ảng lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6 năm 1993) đã chính thức thừa nhận và khuyến khích các địa phương xây dựng hương ước mới Hương ước mới (Quy ước làng văn hóa) đã có một số kết quả tích cực trong quản lý và xây dựng nông thôn văn hóa, văn minh, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để phát triển nông thôn theo chiều hướng dân chủ [16]

Hương ước có tính lịch sử hình thành và phát triển từ nhiều thế kỷ trước đây Hương ước bao gồm các vấn đề về đất đai, sản xuất nông nghiệp, môi trường,

Trang 35

xã hội, chính trị, thờ cúng và văn hóa [12] Liên quan đến lĩnh vực môi trường, nội dung hương ước quy định các điều rất cụ thể, như: đắp cao mép đường, bờ ruộng, bảo vệ giếng và lấy nước, sử dụng phân bón đúng cách, quét đường, trồng cây… ồng thời, Hương ước có các điều luật để buộc mọi người tuân thủ như: hình phạt thân thể (đánh bằng roi), phạt tiền (sung công) và lao động công ích bắt buộc… Trong làng, việc BVMT được giao cho một số người phụ trách Trách nhiệm thuộc

về lý trưởng, hương lý hoặc già làng hoặc trưởng bản Tất cả những việc này tạo ra một hệ thống thỏa ước công bằng và dân chủ dựa trên tục lệ

Ngày nay, hương ước, quy ước không những góp phần vào việc phát huy thuần phong mĩ tục, đề cao chuẩn mực đạo lý và đạo đức truyền thống của dân tộc

mà còn là công cụ đắc lực trong việc vận động duy trì an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất, khuyến khích học hành, giải quyết các tranh chấp thường ngày của nhân dân, xóa đói giảm nghèo [23]… Một số điển hỉnh như hương ước BVMT tại làng Chiết Bi, Thủy Tân, Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế; An Chấn, Phú Yên; và tại một số làng, xã, buôn, bản ở một số tỉnh như: Bắc Giang, Hà Nội, Lai Châu, Hà Nam, Long An, ắc Lắc, Yên Bái, Hòa Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương,

Việc lập hương ước BVMT thường kế thừa một số nội dung trong các quy ước, quy định về BVMT của chính quyền, một số các quy định của các khu bảo tồn Nếu như ở đồng bằng, vấn đề vệ sinh môi trường được đặt lên hàng đầu thì ở miền núi, tài nguyên rừng và tài nguyên nước có tính quyết định đến đời sống của cộng đồng Do đặc thù như vậy, các cam kết môi trường ở miền núi thường nhấn mạnh nội dung về bảo vệ tài nguyên rừng Thực tế cuộc sống của đồng bào các dân tộc ở miền núi, vùng cao, vùng sâu vùng xa luôn gắn liền với rừng, với nước Vì vậy, tại các địa bàn miền núi, khái niệm “cam kết BVMT” được cụ thể hóa bằng bản “cam kết bảo vệ rừng” hoặc những bản cam kết bảo vệ một số thực thể cụ thể nào đó [12]

1.3.2 Mô hình xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường

Các mô hình này chủ yếu là trong lĩnh vực dịch vụ môi trường như thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải Hiện nay rất nhiều tỉnh, thành đang thực hiện như mô

Trang 36

hình đội thu gom BVMT tại xã Cửa Lò, Nghệ An; mô hình dân cư tham gia xử lý rác thải tại hộ gia đình làng Phú ô, huyện Từ Liêm, mô hình XHH thu gom và vận chuyển rác thải tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội; mô hình HTX vệ sinh môi trường thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, Bắc Ninh… Các mô hình khác như công ty trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng ở Lạng Sơn, công ty tư nhân Nam Thành ở Phan Rang, HTX dịch vụ vệ sinh môi trường ồng Tâm ( ồng ăng, Cao Lộc, Lạng Sơn), Ngô Mây (Bình ịnh), các doanh nghiệp tư nhân tái chế chất thải ở Hải Phòng, Khánh Hoà, Lạng Sơn,… là những mô hình hiệu quả Hình thức tổ chức

hoạt động chủ yếu theo ba dạng:

- Tổ thu gom rác dân lập

- Tổ thu gom HTX

- Công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn/ Doanh nghiệp tư nhân

Tổ thu gom rác dân lập phù hợp với quy mô nhỏ, cần có sự hỗ trợ ban đầu của chính quyền địa phương và có sự quản lý của chính quyền đó HTX thường hoạt động trên địa bàn một phường hoặc một cụm dân cư, làng xã có phạm vi không lớn Công ty cổ phần (hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn) hoạt động theo luật doanh nghiệp, tự tổ chức hoạt động và kinh doanh, thu hút vốn đầu tư từ cộng đồng, dạng này phù hợp với đô thị lớn [28]

1.3.3 Mô hình cung cấp nước sạch

Nước sạch và vệ sinh môi trường đã thực sự trở thành vấn đề cần thiết đối với tất cả người dân Nhiều mô hình về tổ chức quản lý, xây dựng, triển khai các giải pháp khoa học công nghệ, vận hành các công trình cấp nước cũng như vệ sinh môi trường nông thôn như các tổ dịch vụ nước sạch, tổ dịch vụ vệ sinh HTX nông nghiệp, UBND xã, HTX dịch vụ tư nhân, thành lập trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh ở các tỉnh… ặc biệt sự tham gia của cộng đồng vào chương trình nước sạch

vệ sinh nông thôn đã có nhiều tiến bộ vượt bậc Vai trò của người sử dụng và vai trò của người quản lý, đã được nâng cao, phạm vi thu hút sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn ngày càng rộng rãi, từ

Trang 37

việc đề xuất nhu cầu lựa chọn quy mô loại hình, hình thức tham gia vốn đầu tư, giới thiệu người thay mặt cộng đồng để quản lý và điều hành công trình

Mô hình cấp nước cho miền núi: Mô hình này được áp dụng tại một số huyên

miền núi thuộc tỉnh Lào Cai; các huyện Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên, tỉnh Yên Bái; các huyện Tân Lạc, Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Người dân ở đây tự xây lu để tích trữ nước mưa, khi mà việc đào, khoan giếng lấy nước ngầm gặp khó khăn về kinh tế

và địa chất

Mô hình cung cấp nước tập trung, quy mô vừa và nhỏ: mô hình này phù hợp

với vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và các vùng có nguồn nước ngầm sạch ối với loại mô hình này, người ta sử dụng các giếng khoan đã có sẵn, đường kính nhỏ, bơm điện phục vụ cho cụm dân từ 20 -100 hộ Các mô hình này được xây dựng từ nhiều nguồn vốn khác nhau, song đều giao cho UBND Xã quản lý và khai thác Mô hình này được phát triển nhiều ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội và các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Nam ịnh

1.3.4 Mô hình sản xuất khí sinh học bằng hầm biogas

Mô hình này thường áp dụng ở các khu vực nông thôn Cơ sở khoa học của

mô hình này là lượng phân gia súc và phân người có thể phân hủy sinh ra khí sinh

đun nấu, còn dịch thải từ hầm biogas có thể trộn với một lượng lớn mùn rác và phối liệu than bùn đã qua xử lý ban đầu tạo thành phân hữu cơ sinh học

Một gia đình 4 nhân khẩu, nuôi 2 - 4 con lợn, 1 con bò nếu có hầm biogas

mà có đủ phân bón ruộng, nhà cửa sạch sẽ lại không có mùi hôi từ khu vực chăn nuôi Chỉ sau một năm có thể hoàn lại vốn đầu tư và sau đó lãi hàng triệu đồng do

tự sản xuất phân hữu cơ sinh học [4] Mô hình này được áp dụng ở nhiều nơi như huyện an Phượng, Ứng Hòa, Hà Nội; Bình Lục và Kim Bảng, Hà Nam; Vân Hà, Bắc Giang; Nam àn, Nghệ An; Tiền Giang, Bến Tre và nhiều địa phương khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống vùng nông thôn qua việc khai thác các lợi ích kinh tế và phi lợi nhuận của công nghệ sinh học tại hộ gia đình [9]

Trang 38

1.3.5 Các hình thức xã hội hóa BVMT khác

Như đã trình bày ở trên, XHH hoạt động BVMT còn được hiểu (hoặc bao gồm) sự tham gia của một tầng lớp nhân dân trong công cuộc BVMT Vì lẽ đó, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin giới thiệu một số phong trào cộng đồng tham gia BVMT như một hình thức XHH

Phong trào là một dạng hoạt động của một tập thể, một đơn vị, một địa phương, có sự tham gia của quần chúng nhân dân, nhằm giải quyết một mục tiêu, một nội dung cụ thể Phong trào cần có ba yếu tố cơ bản:

Một là: Phải có một tập thể, tập thể ấy là các cơ quan, các doanh nghiệp, các

trường học, các đoàn thể nhân dân và các đơn vị của lực lượng vũ trang

Hai là: Cần có sự tham gia của quần chúng, có thể là toàn dân, có thể là một

đối tượng cụ thể như: thanh niên, thiếu nhi, phụ nữ, nông dân, phụ lão,…

Ba là: Mọi phong trào phải hướng tới mục tiêu cụ thể, giải quyết những

nhiệm vụ cụ thể

Ba yếu tố đó là bắt buộc, không thể thiếu, có tác động lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau làm cho phong trào đi đúng hướng, huy động được đông đảo lực lượng quần chúng tham gia [18]

Một số tổ chức phát động phong trào BVMT tiêu biểu:

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là một tổ chức đoàn thể quần chúng, có tổ chức chặt chẽ từ trung ương tới cơ sở, có đội ngũ làm công tác vận động cộng đồng được trang bị tốt kiến thức và huấn luyện kỹ năng làm việc với quần chúng hội viên Hội phụ nữ các cấp tuyên truyền, vận động, hướng dẫn phụ nữ ở cơ sở mình tham gia BVMT, cải thiện cấp nước và vệ sinh, xây dựng bếp đun cải tiến, hỗ trợ phụ nữ về vốn, kỹ thuật, tạo ra nhiều mô hình BVMT, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng

Các hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ như: tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức về môi trường, các hội thảo, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho đội ngũ tuyên truyền viên Vận động các phong

Trang 39

trào xanh - sạch - đẹp, nước sạch và vệ sinh môi trường ở các khu vực, thu gom chất thải rắn, hỗ trợ xây dựng bếp đun cải tiến tiết kiệm nhiên liệu và phát động phong trào BVMT trọng Hội phụ nữ các cấp

Hội Nông dân Việt Nam

Hội Nông dân Việt Nam đã thể hiện vai trò tích cực trong việc đẩy mạnh và lồng ghép các chương trình, dự án BVMT Nhiều mô hình mô hình BVMT do hội chủ trì đã được xây dựng ở nhiều địa phương Cụ thể là trong thời gian qua, hội Nông dân Việt Nam đã xây dựng các mô hình điểm với trên 3.000 công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho trên 200 thôn, ấp, bản làng; 62% dân cư nông thôn được tiếp cận với nước sạch phục vụ sinh hoạt và trên 50% hộ gia đình nông thôn có 2 -3 công trình hợp vệ sinh, trong đó nổi lên ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Bắc Cạn, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Bình ịnh, ồng Nai, Lâm ồng, An Giang; mua sắm trên 100 xe và chở thùng rác; phát động

và duy trì phong trào thi đua “ sạch làng, tốt ruộng, đẹp quê hương”, “sạch từ ngõ vào nhà”, “ăn sạch, ở sạch, uống sạch”; phối hợp với các cấp hội tiến hành điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả theo chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM); xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tạo sản phẩm vừa có chất lượng, vừa BVMT và đảm bảo sức khỏe cho nhân dân

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, oàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã có nhiều hoạt động nhằm xây dựng và nhân rộng mô hình thanh niên địa phương tham gia BVMT Chẳng hạn như mô hình “làng thanh niên lập nghiệp” Tại các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Hà Tĩnh đã xây dựng thành công 25 “làng thanh niên lập nghiệp” với tổng diện tích 24.000 ha, thu hút 600 hộ, 1.200 lao động trẻ, trồng 2.500 ha rừng ven đường Hồ Chí Minh, xây dựng kinh tế hộ trang trại, tạo sản phẩm hàng hóa, kinh doanh dịch vụ, phát triển văn hóa, du lịch Phong trào

“tình nguyện xanh” ra đời lần đầu tiên vào năm 1997 tại thành phố Huế với sự tham gia của hơn 200 đoàn viên, thanh niên từ 7 phường thuộc thành phố Từ đó phong

Trang 40

trào được nhân rộng ra nhiều địa phương khác, và được các cấp chính quyền ghi nhận là một đối tác tích cực và là tấm gương tiêu biểu cho hoạt động BVMT Ngoài

ra còn các phong trào khác được các cấp đoàn, hội, ội hưởng ứng và thanh thiếu niên, nhi đồng tham gia

Hội Cựu chiến binh

Trong các cộng đồng dân cư, sự có mặt và tham gia của hội Cựu chiến binh giữ vai trò quan trọng để bảo vệ và duy trì môi trường sống trong lành Với tinh thần “anh

bộ đội cụ Hồ”, những cựu chiến binh đang tham gia tích cực trong các hoạt động kinh

tế - xã hội của đất nước, của địa phương và gia đình Bên cạnh đó, họ cũng là những người đi đầu trong việc thực hiện phong trào văn hóa, xã hội của địa phương, như xây dựng gia đình văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội, vệ sinh môi trường… góp phần đem lại môi trường xanh, sạch đẹp cho quê hương, làng xóm, phố phường

1.4 Tổng quan các mô hình xã hội hóa hoạt động BVMT tại tỉnh Lạng Sơn

Những năm qua, Lạng Sơn đã đạt được những thành tựu quan trọng về kinh

tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng đảm bảo, đời sống nhân dân được nâng cao

rõ rệt Ngoài việc trú trọng phát triển kinh tế, Lạng Sơn đã có những chính sách quan tâm tới cộng đồng nhiều hơn như nhà ở cho người thu nhập thấp đã được quy hoạch xây dựng và đi vào hoạt động Báo cáo chính trị trình bày tại ại hội ảng

bộ tỉnh Lạng Sơn đã nêu rõ, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ 2010-2015 là làm tốt công tác BVMT (BVMT) Trong đó tập trung đẩy nhanh đầu

tư xây dựng các trạm xử lý nước thải và tăng cường quản lý hồ nước; xây dựng các chương trình, dự án cải tạo hệ thống sông, mương, cống thoát nước, trạm bơm, hồ điều hòa, đáp ứng tốt yêu cầu tiêu thoát nước và cải tạo môi trường của tỉnh

Nhận thức được tầm quan trọng của cộng đồng trong vấn đề BVMT, lãnh đạo các cấp ủy ảng, chính quyền, đoàn thể từ cấp tỉnh đến các cơ sở đã có nhiều

cố gắng chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện luật BVMT sửa đổi năm 2005, Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương ảng Cộng sản Việt Nam về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ảng bộ các cấp đã thực hiện lời dạy của Bác Hồ hàng năm luôn

Ngày đăng: 24/03/2017, 13:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Đánh giá rủi ro mô hình [25] - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
Bảng 2.3. Đánh giá rủi ro mô hình [25] (Trang 45)
Bảng 3.1. Các đơn vị hành chính của tỉnh Lạng Sơn [7] - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
Bảng 3.1. Các đơn vị hành chính của tỉnh Lạng Sơn [7] (Trang 49)
Hình 3.1. Hoạt động khảo sát, điều tra tại thôn Đông Đằng 1 - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
Hình 3.1. Hoạt động khảo sát, điều tra tại thôn Đông Đằng 1 (Trang 58)
Hình 3.3. Sử dụng nhiên liệu từ hầm biogas cho sinh hoạt hàng ngày - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
Hình 3.3. Sử dụng nhiên liệu từ hầm biogas cho sinh hoạt hàng ngày (Trang 63)
Hình 3.2. Hoạt động xây dựng, lắp đặt hầm biogas hộ   ông Lương Xuân Đán tại thôn Co Măn, xã Mai Pha - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
Hình 3.2. Hoạt động xây dựng, lắp đặt hầm biogas hộ ông Lương Xuân Đán tại thôn Co Măn, xã Mai Pha (Trang 63)
Bảng 3.9. Nhận thức của người dân về mô hình biogas - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
Bảng 3.9. Nhận thức của người dân về mô hình biogas (Trang 64)
Bảng 3.13. Số lƣợng điểm thu gom tập kết và các thùng tập kết [34] - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
Bảng 3.13. Số lƣợng điểm thu gom tập kết và các thùng tập kết [34] (Trang 72)
Hình đáo - Đánh giá hoạt động của một số mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường ở tỉnh lạng sơn
nh đáo (Trang 181)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w