ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG, GÂY TRỒNG CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN...2 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ...2 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KỸ THUẬT GÂY TRỒNG BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN
(Dendrocalamus giganteus Munro) TẠI MỘT SỐ
TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KỸ THUẬT GÂY TRỒNG BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN
(Dendrocalamus giganteus Munro) TẠI MỘT SỐ
TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Ngành: Lâm sinh
Mã số: 62 62 02 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Nguyễn Hoàng Nghĩa
2 TS Nguyễn Anh Dũng
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, công trìnhđược thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa và TS.Nguyễn Anh Dũng trong thời gian từ năm 2013 đến 2016 Các số liệu, kết quả nêutrong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác Các thông tin trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng năm 2016
Tác giả luận án
Đặng Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, còn có sự quantâm giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của tập thể thầy giáo hướng dẫn, các thầy cô giáoPhòng Đào tạo trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, các thầy, cô giáo,bạn bè đồng nghiệp Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam; TS Nguyễn Anh Dũng - Trung tâm Khoahọc Lâm nghiệp vùng trung tâm Bắc Bộ - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,những người hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ chotác giả trong quá trình thực hiện luận án
-Tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TS Đặng Kim Vui, Đại học Thái Nguyênngười đã định hướng cho tôi về lĩnh vực nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Nông Lâm, Khoa Lâmnghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên Trung tâm khoa họcLâm nghiệp vùng trung tâm Bắc Bộ - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đặcbiệt ThS Nguyễn Anh Duy và nhân dân các xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnhPhú Thọ, xã Mường Phăng, Nà Tấu, Nà Nhạn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đãgiúp đỡ tác giả trong suốt quá trình điều tra ngoại nghiệp
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sự quan tâm chia sẻ, động viên ủng hộ của giađình, bạn bè cả về mặt tinh thần và vật chất để tác giả có thể hoàn thành luận án,cảm ơn các em sinh viên các khóa K42LN, K43, K44 QLTNR, NLKH đã hỗ trợ tôitrong quá trình nghiên cứu thực địa
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái Nguyên, tháng năm 2017
Tác giả luận án
Đặng Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của luận án 2
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 2
4 Những đóng góp mới của luận án 2
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Những nghiên cứu về tre trúc trên thế giới 2
1.1.1 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ SINH THÁI TRE TRÚC 2
1.1.2 NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG TRE TRÚC 2
1.1.3 NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT GÂY TRỒNG TRE TRÚC 2
1.1.4 NGHIÊN CỨU VỀ CHI LUỒNG (DENDROCALAMUS) VÀ CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN TRÊN THẾ GIỚI 2
1.2 Những nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam 2
1.2.1 NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ SINH THÁI CỦA TRE TRÚC 2
1.2.2 NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG 2
1.2.3 NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT GÂY TRỒNG 2
1.2.4 NGHIÊN CỨU VỀ CHI LUỒNG VÀ CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN Ở VIỆT NAM 2
1.3 Thảo luận chung 2
Trang 61.4 Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu 2
1.4.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 2
1.4.2 TỔNG HỢP MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ TỈNH PHÚ THỌ 2
1.4.3 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VỀ ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA HUYỆN ĐIỆN BIÊN (ĐIỆN BIÊN) VÀ HUYỆN ĐOAN HÙNG (PHÚ THỌ) 2
1.4.4 NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2.1.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
2.1.2 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 2
2.1.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2
2.2 Nội dung nghiên cứu 2
2.3 Phương pháp nghiên cứu 2
2.3.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 2
2.3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ 2
2.3.3 PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 2
2.3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 2
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 2
3.1 Đặc điểm sinh học cây Bương lông điện biên 2
3.1.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI 2
3.1.2 ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH GỐC THÂN NGẦM CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
3.2 Đặc điểm sinh thái cây Bương lông điện biên 2
3.2.1 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU NƠI TRỒNG BƯƠNG LÔNG TẠI 2 TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ PHÚ THỌ 2
3.2.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH NƠI GÂY TRỒNG CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
3.2.3 ĐIỀU KIỆN ĐẤT NƠI GÂY TRỒNG CÂY BƯƠNG LÔNG 2
3.2.4 THÀNH PHẦN THỰC VẬT THÂN GỖ NƠI TRỒNG CÂY BƯƠNG LÔNG 2
Trang 73.2.5 THÀNH PHẦN CÂY BỤI, THẢM TƯƠI 2
3.3 Thực trạng kỹ thuật gây trồng, khai thác, sử dụng và sinh trưởng cây Bương lông điện biên 2
3.3.1 THỰC TRẠNG GÂY TRỒNG CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN 2
3.3.2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
3.3.3 TÌM HIỂU KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
3.3.4 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA SINH TRƯỞNG CỦA BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
3.4 Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết gốc cành và giâm hom thân cây Bương lông điện biên 2
3.4.1 KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT GỐC CÀNH 2
3.4.2 NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM THÂN 2
3.4.3 SẢN XUẤT THỬ NGHIỆM CÂY GIỐNG BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT GỐC CÀNH 2
3.5 Nghiên cứu kĩ thuật trồng và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Bương lông điện biên 2
3.5.1 HIỆN TRẠNG KHU VỰC THÍ NGHIỆM TRỒNG RỪNG TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG (PHÚ THỌ) 2
3.5.2 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
3.5.3 ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
3.5.4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG, GÂY TRỒNG CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN 2
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 2
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
PHỤ BIỂU 2
Trang 9NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Trang
Bảng 1.1 Đặc điểm chủ yếu của khu vực 2 tỉnh Điện Biên và Phú Thọ 2
Bảng 2.1 Thành phần cây gỗ khu vực nghiên cứu 2
Bảng 3.1 Kích thước lóng cây Bương lông điện biên 2
Bảng 3.2 Độ dày vách thân khí sinh của cây Bương lông điên biên 2
Bảng 3.3 Số cành chính trên các cấp kính cành chính tại các địa điểm điều tra năm 2014 2
Bảng 3.4 Kích thước lá của cây Bương lông điện biên (đo năm 2013) 2
Bảng 3.5 Kích thước của mo thân Bương lông điện biên (đo năm 2014) 2
Bảng 3.6 Diễn biến quá trình sinh măng và hình thành thân khí sinh loài cây Bương lông điện biên ở Điện Biên năm 2014 - 2015 2
Bảng 3.7 Sinh trưởng bình quân của 3 vụ măng theo thời gian 2
Bảng 3.8 Đặc điểm mắt ngủ gốc thân ngầm Bương lông điện biên tuổi 3 2
Bảng 3.9 Đặc điểm mắt ngủ của cây mẹ 2
Bảng 3.10 Khả năng ra măng của cây mẹ ở các độ tuổi khác nhau 2
Bảng 3.11 Đặc điểm khí hậu và sinh trưởng của Bương lông điện biên 2
Bảng 3.12 Đặc điểm địa hình và sinh trưởng cây Bương lông điện biên tại huyện Điện Biên (Điện Biên) và huyện Đoan Hùng (Phú Thọ) 2
Bảng 3.13 Đặc tính hóa học và thành phần cơ giới của đất dưới tán cây Bương lông điện biên 2
Bảng 3.14 Tổng hợp thành phần cây gỗ khu vực trồng cây Bương lông điện biên .2
Bảng 3.15 Thành phần cây bụi, thực vật dưới tán rừng Bương lông điện biên 2
Bảng 3.16 Tình hình khai thác và sử dụng cây Bương lông điện biên 2
Bảng 3.17 Kinh nghiệm và các biện pháp kỹ thuật trồng Bương lông điện biên tại huyện Điện Biên 2
Bảng 3.18 Sinh trưởng cây Bương lông điện biên ở các địa điểm nghiên cứu 2
Bảng 3.19 Kết quả phân tích và các dạng phương trình tương quan giữa chiều cao và đường kính của cây Bương lông điện biên 93
Bảng 3.20 Mật độ của cây Bương lông điện biên tại Điện Biên 2
Trang 12Bảng 3.21 Sinh trưởng đường kính và chiều cao cây Bương lông điện biên
theo tuổi tại huyện Điện Biên và huyện Đoan Hùng 2Bảng 3.22 Chất lượng cây Bương lông điện biên tại khu vực nghiên cứu 2Bảng 3.23 Ảnh hưởng của tuổi cành đến kết quả nhân giống cây Bương lông
điện biên bằng phương pháp chiết gốc cành với chất IBA 2Bảng 3.24 Ảnh hưởng của loại chất, nồng độ chất kích thích sinh trưởng đến
khả năng ra rễ của gốc cành chiết loài Bương lông điện biên ở vụXuân (tháng 3/2015) 2Bảng 3.25 Chất lượng rễ trong các công thức thí nghiệm với các loại chất và
nồng độ khác nhau ở vụ Xuân tháng 3 năm 2015 2Bảng 3.26 Kết quả nuôi dưỡng cành sau chiết tại vườn ươm (cành chiết vụ
Xuân) sau 6 tháng 2Bảng 3.27 Ảnh hưởng của loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ đến
khả năng ra rễ của gốc cành chiết Bương lông điện biên ở vụ Thu(tháng 8/2015) 2Bảng 3.28 Chất lượng rễ trong các công thức thí nghiệm với các loại chất
theo các nồng độ khác nhau ở vụ Thu tháng 8 năm 2015 2Bảng 3.29 Kết quả nuôi dưỡng cành sau chiết tại vườn ươm (cành chiết vụ
Thu) sau 6 tháng 2Bảng 3.30 Ảnh hưởng của thời vụ tới các chỉ tiêu nghiên cứu của cành chiết 2Bảng 3.31 Kết quả giâm hom thân Bương lông điện biên năm 2014 ở Phú Thọ 2Bảng 3.32 Kết quả thí nghiệm chiết gốc cành với loại chất IBA nồng độ 1,5%
tháng 3 năm 2016 tại Phú Thọ 2Bảng 3.33 Mô tả hiện trạng khu vực thí nghiệm trồng rừng tại Đoan Hùng 2Bảng 3.34 Một số tính chất hóa học và thành phần cơ giới của đất tại khu vực
xã Chân Mộng huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ 2Bảng 3.35 Tỷ lệ sống và chất lượng của cây Bương lông điện biên tại các
công thức thí nghiệm mật độ trồng sau 21 tháng tại Đoan Hùngtỉnh Phú Thọ 2Bảng 3.36 Sinh trưởng của cây Bương lông điện biên tại các công thức thí
nghiệm mật độ trồng sau 21 tháng 2Bảng 3.37 Tỷ lệ sống và chất lượng cây Bương lông điện biên ở các công
thức bón phân sau 2 năm tại xã Chân Mộng huyện Đoan Hùng tỉnhPhú Thọ 2
Trang 13Bảng 3.38 Sinh trưởng của Bương lông điện biên ở các công thức bón phân và
nguồn giống trồng tại xã Chân Mộng huyện Đoan Hùng (Phú Thọ) 2
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình Trang
Hình 1.1 Bản đồ địa điểm nghiên cứu của đề tài2
Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu 2
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí các công thức chiết cành cây Bương lông điện biên 2
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm với phương pháp giâm hom thân 2
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm công thức mật độ trồng cây Bương lông điện biên 2Hình 2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm các công thức bón phân cho cây 2
Hình 2.6 Bản đồ hệ thống ô tiêu chuẩn điều tra cây Bương Lông điện biên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 2
Hình 3.1 Rễ của cây Bương lông 2
Hình 3.3 Thân khí sinh và bụi cây Bương lông điện biên 2
Hình 3.4 Cây Bương lông điện biên cắt thành các đoạn ở các vị trí chiều cao khác nhau2
Hình 3.5 Độ dày vách thân khí sinh cây Bương lông điện biên tại vị trí 1m3 ở xã Nà Tấu huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên 2
Hình 3.6 Cành cây Bương lông điện biên 2
Hình 3.7 Cành và lá cây Bương lông điện biên 2
Hình 3.8 Mo cây Bương lông điện biên tại xã Chân Mộng 2
Hình 3.9 Hoa cây Bương lông điện biên ( tháng 3 năm 2015) 2
Hình 3.10 Mắt ngủ gốc thân ngầm cây Bương lông điện biên 2
Hình 3.11 Tỉ lệ ra rễ của các công thức thí nghiệm chiết gốc cành 2
Hình 3.12 Tỷ lệ ra rễ của cành chiết ở vụ Xuân tháng 3 năm 2015 2
Hình 3.13 Chiết cành với các loại chất và nồng độ khác nhau vụ Xuân 2
Hình 3.14 Tỷ lệ ra rễ của cành chiết ở vụ Thu tháng 8 năm 2015 2
Hình 3.15 Chất lượng rễ cành chiết (vụ Thu tháng 8 năm 2015) 2
Hình 3.16 Nuôi dưỡng cành chiết tại vườn ươm (vụ Thu tháng 8 năm 2015) 2Hình 3.17 Giâm hom thân Bương lông điện biên 2
Hình 3.18 Tỷ lệ sống và chất lượng của cây trồng ở các công thức mật độ 2
Hình 3.19 Sinh trưởng của cây Bương lông điện biên ở các công thức mật độ 2
Hình 3.20 Bương lông điện biên sau 2 năm trồng tại huyện Đoan Hùng, 2
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae hoặc còn gọi là Gramineae) Các loài tre trúc trên thế giới rất phong phú, đa dạng, có khoảng 1.250
loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu Châu Á có số lượng
và chủng loại tre trúc đặc biệt phong phú với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Raoand Rao 1995, 1999) [88; 92] Trong số các loài tre đã được thống kê, rất nhiều loài cógiá trị kinh tế với nhu cầu sử dụng lớn, như thân cây dùng làm nhà, xây dựng, trang trínội thất, sử dụng trong công nghiệp chế biến các đồ dùng thay thế gỗ thân thiện vớimôi trường Măng tre làm thực phẩm giàu chất sơ được người tiêu dùng ưa chuộng Thế giới có 36,77 triệu ha rừng tre, trong đó diện tích tre của châu Á là 23,6triệu ha (FAO, 2005) [71] Riêng tại Ấn Độ có tổng diện tích rừng tre trúc khoảng9,6 triệu ha, với 136 loài khác nhau Ở các nước Đông Nam Á có diện tích rừng tretrúc tương đối lớn như: ở các nước Myanma, Thái Lan, Philippine và Việt Nam
Các loài tre lớn đều thuộc chi Bambusa và Dendrocalamus phân bố chủ yếu khu
vực châu Á - Thái Bình Dương
Việt Nam được xác định là nằm ở trong vùng trung tâm phân bố của tre trúcnên rất phong phú và đa dạng về loài Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [38] ViệtNam có 216 loài/ phân loài tre nứa thuộc 25 chi và có thể có đến 250 loài NguyễnNgọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) [4] đã xác định tổng diện tích tre các loại,
kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng, kể cả rừng thuần loài và hỗn loài, cả nước cógần 1,5 triệu hecta Trong đó, hơn 1,4 triệu hecta là rừng tự nhiên, bao gồm 800ngàn ha là rừng thuần loài và hơn 600 ngàn hecta là rừng hỗn loài Rừng trồng có
gần 74 ngàn hecta, chủ yếu là trồng các loài như: Luồng (D barbatus), Mai xanh (D latiflorus), tre Bát độ và một số loài tre lấy măng khác (dẫn theo Nguyễn Huy
Sơn và cs, 2013) [44] Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễchế biến nên được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Tre trúc có giá trị rấtlớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là ở nông thôn vàmiền núi Kỹ thuật nhân giống, gây trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tre, trúc
đã và đang được quan tâm nghiên cứu và phát triển Nhiều loài tre, trúc được nhândân gây trồng để phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao độ che phủ, giảm xói mòn,chống sụt lở vùng đầu nguồn, ven sông suối, cung cấp nguyên liệu cho chế biến,
Trang 16thúc đẩy phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Theo thống kê từTổng cục Hải quan, kết thúc năm 2013, kim ngạnh xuất khẩu mây, tre nước ta đạt
230 triệu USD, tăng 8,5% so với năm 2012 Hàng năm, Việt Nam tiêu thụ khoảng
400 - 500 triệu cây tre trúc cho các mục đích khác nhau [51] Đặc biệt, trong giaiđoạn xây dựng nông thôn mới, việc phát triển vùng nguyên liệu tre, trúc theoQuyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chínhphủ cần được quan tâm nghiên cứu theo hướng phát triển bền vững
Loài Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus) là một trong những loài
tre có kích thước lớn, vách thân dày, cứng và bền ở Việt Nam, ít cành nhánh, khảnăng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao Hiện nay loàinày được trồng phân tán trong các vườn hộ một số xã của huyện Điện Biên, tỉnh ĐiệnBiên Là loài cây có vai trò rất quan trọng đến đời sống của các hộ dân sống ở miềnnúi, đặc biệt là các hộ nghèo, như sử dụng vật liệu làm nhà, rào vườn, đan lát thủcông sản xuất mỹ nghệ , đồng thời cung cấp măng dùng làm thực phẩm phục vụ nhucầu thị trường trong nước và xuất khẩu; lại có thể khai thác hàng năm Tuy nhiên,việc kinh doanh cây Bương lông điện biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinhnghiệm của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suấtkhông cao như vốn có của nó Đặc biệt việc phát triển mở rộng diện tích trồng loàinày rất khó khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế về số lượng giống, người dânchưa nắm được kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm homcành nên số lượng giống cung cấp chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình.Hơn nữa người dân địa phương cho rằng chỉ trồng bằng giống gốc mới cho năng suất,trong khi đó nhiều loài tre mọc cụm khác việc nhân giống và trồng bằng giống cành
đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao như: Luồng, Mai xanh, vv
Như vậy, việc gây trồng Bương lông điện biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuậtnhân giống có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng diện rộng; thiếubiện pháp kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật và công nghệ chế biến chưa được quan tâmnghiên cứu Để bảo tồn và phát triển loài cây này cần thiết phải có những nghiêncứu sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học và gây trồng làm cơ sở đề xuất các giảipháp khai thác và phát triển loài cây trên địa bàn Với ý nghĩa đó, việc thực hiện đề
tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng Bương lông điện biên
(Dendrocalamus giganteus Munro) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc” là hết sức
cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn
Trang 172 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
2.1 Mục tiêu tổng quát
Bổ sung một số thông tin mới về đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật gâytrồng làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác phát triển loài Bương lông điệnbiên làm nguyên liệu công nghiệp và thực phẩm ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
4 Những đóng góp mới của luận án
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm sinhhọc, sinh thái cây Bương lông điện biên ở Việt Nam
- Công trình bước đầu nghiên cứu ứng dụng thành công kỹ thuật nhân giống
và gây trồng cây Bương lông điện biên bằng phương pháp chiết gốc cành chét, bổsung và hoàn thiện một số biện pháp kỹ thuật phát triển loài cây tiềm năng nàytrong sản xuất lâm nghiệp
Trang 18Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu về tre trúc trên thế giới
Các loài tre trúc thuộc lớp một lá mầm (Monotyledoneae), bộ Cỏ (Poales), họ Hòa thảo (Poaceae), phân họ tre (Bambusoideae).
1.1.1 Đặc điểm phân bố và sinh thái tre trúc
1.1.1.1 Nghiên cứu về phân bố
Công trình đầu tiên nghiên cứu tre trúc trên thế giới là của Munro (1868), tácgiả đã khái quát một cách tổng quát về họ phụ tre, trúc (Munro, 1868) [82] Sau đó
là ấn phẩm của Gamble (1896) [75] ở Ấn Độ, đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm phân
bố, một số đặc điểm hình thái và sinh thái của 151 loài tre trúc có ở Ấn Độ,Srilanca, Pakistan, Myanma, Malaysia và Indonesia
Tewari (1992) [102] cũng đã công bố, hiện nay trên thế giới có tới 80% rừng tretrúc phân bố ở châu Á, tất cả các rừng nhiệt đới và á nhiệt đới đều có tre trúc xuấthiện Độ cao phân bố của nhiều loài từ sát biển tới 4000 m (so với mực nước biển),song tập trung chủ yếu ở vùng thấp đến đai cao trung bình, tác giả đã xác định đượcvùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng củathế giới Nhìn vào bản đồ phân bố cho thấy trung tâm phân bố tre trúc tập trung chủyếu vào khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc châu Á, trong đó chủ yếu là ở TrungQuốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ vàmột phần nhỏ ở Bắc Mỹ
Theo Rao and Rao (1995; 1999) [88; 92] đã phân loại và hệ thống các loài tretrúc trên thế giới, gồm 1250 loài thuộc 75 chi Các loài này đều phân bố rộng và có
số lượng cây nhiều, song phần lớn đều mọc tự nhiên ở các nước trong vùng ĐôngNam châu Á, trong đó Trung Quốc là nước có nhiều loài tre trúc nhất, có tới 500loài, thuộc 50 chi; Nhật Bản với 230 loài thuộc 13 chi; Ấn Độ có 125 loài, thuộc 23chi; Indonesia có 65 loài, thuộc 10 chi Không gặp được loài nào vốn có nguồngốc tại châu Âu và có rất ít loài cây bản địa ở châu Úc
Dranfield and Widjaja (1995) [70] đã xác định ở Đông Nam Á có khoảng 200
loài tre, thuộc 20 chi; trong đó chi Tre (Bambusa) có nhiều loài nhất, khoảng 37 loài, sau đó đến chi Nứa (Schizostachyum) khoảng 30 loài, chi Luồng (Dendrocalamus) có
khoảng 29 loài và có tới 8 chi tre trúc ở Đông Nam Á chỉ có từ 1 loài đến 2 loài Cácloài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật làtre trúc có mặt ở nhiều điều kiện sống khác nhau
Trang 19FAO (2007) đã đưa ra danh mục 192 loài, cũng như đặc điểm phân bố ở cácđai cao của một số loài tre trúc ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Theo Rao and Rao (1995) [88], nếu xét về diện tích thì châu Á là nơi có diệntích rừng tre trúc lớn nhất, sau đó đến miền Đông châu Phi, riêng châu Âu hầu nhưkhông có rừng tre trúc Ở châu Phi, tuy có diện tích rừng tre trúc phân bố rộng,nhưng số lượng loài lại ít (40 loài) Châu Úc có diện tích rừng tre trúc nhỏ và số loàitre trúc phân bố cũng rất ít (4 loài)
Theo Tewari (2001) [103], Ấn Độ là nước có diện tích tre trúc lớn nhất thế giới,phân bố từ sát mực nước biển lên tới độ cao 3.700 m, sát chân núi Hymalaya Có50% loài tập trung phân bố ở phía Tây Ấn Độ, đa số các loài có thân mọc cụm như:
Tre, Luồng, Le/Mum Trung Quốc là nơi có diện tích rừng tre trúc lớn thứ 2 trên thế
giới chỉ xếp sau Ấn Độ, với số lượng loài tre trúc cũng phong phú nhất thế giới có tới
500 loài thuộc 50 chi Còn Zhu Zhaohua (2000) [111] cho biết ở đảo Hải Nam rất gầnvới Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre trúc, trong đó có 38 loài phân bố tự nhiên,
chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Trúc (Phyllotachys) và Thiama (Sasa); tại tỉnh
Vân Nam có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre trúc đạt tới 331.000 ha.Koichiro Ueda (1965) [28] nhận định ngoài Trung Quốc, Nhật Bản là quốc gia códiện tích tre trúc mọc tương đối lớn, với 237 loài tre trúc khác nhau, chủ yếu là cácloài tre mọc tản, dạng roi
Tóm lại: Trên thế giới, tre trúc đã được các tác giả nghiên cứu từ thế kỉ XIX Các nghiên cứu về tre trúc đều tập trung xác định các khu vực phân bố, thống kê về diện tích, số lượng loài và chi theo các yếu tố khí hậu, địa hình, và đất Đây là cơ
sở dữ liệu phân tích tính đa dạng phân bố của tre trúc ở mỗi vùng khác nhau để so sánh và đánh giá giữa các vùng và các quốc gia
1.1.1.2 Nghiên cứu về sinh thái tre trúc
Sinh học hay sinh vật học là một môn khoa học về sự sống Nó là một nhánhcủa khoa học tự nhiên, tập trung nghiên cứu các thể sống, mối quan hệ giữ chúngvới nhau và môi trường sống Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật( như: cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống ), cách thức các cá thể vàloài tồn tại ( như: nguồn gốc, sự tiến hóa và phân bố của chúng) [113]
Sinh thái học nghiên cứu sự phân bố và sự sống của các sinh vật sống và mốiquan hệ qua lại giữa các sinh vật với nhau và với môi trường sống [66] Môi trường
Trang 20sống của sinh vật bao gồm các yếu tố vô sinh như khí hậu và địa chất cũng như các yếu
tố hữu sinh là các sinh vật sống trong cừng một hệ sinh thái [113]
Khi nghiên cứu những đặc trưng sinh thái của loài Trúc núi đá (Depanostachyum luodianense), Liu Jiming (2009) cho rằng: loài cây này phân bố ở 5 kiểu tiểu sinh
cảnh khác nhau như: mặt đất - mặt đá - rãnh đá - kẽ đá - hốc đá, ở mỗi kiểu này đều
có những đặc trưng sinh thái khác nhau Qua đó thể hiện sự thích ứng của loài vớicác nhân tố môi trường xung quanh trong phạm vi hẹp (tiểu sinh cảnh) hay phạm virộng hơn ở mức độ quần thể, quần xã Trong môi trường "cô lập” kết cấu cành, lá,lóng, đốt của loài có sự thay đổi khi ở các vị trí khác nhau tương ứng với các tiểusinh cảnh khác nhau; ngoài ra kết cấu này còn thay đổi theo tuổi, thực tế là góc phâncành và số cành thứ cấp Đồng thời nghiên cứu của tác giả đưa đến nhận định: quần
xã Trúc núi đá có chức năng giữ nước tốt hơn quần xã cây bụi và cỏ; có tác dụng cảithiện rõ rệt tới lý hóa tính của đất Sự chặt phá tùy tiện của con người là nguyênnhân gây nguy cơ thoái hóa rừng Trúc núi đá (dẫn theo Trần Ngọc Hải, 2012) [21].Dựa vào một số nhân tố như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm Zhou Fangchun(2000) [110] đã xác định vùng phân bố sinh thái của loài Trúc (Phyllostachys pubescens) ở Trung Quốc, qua điều tra thực địa đã xác định được loại đất và đặc
tính của đất nơi có loài phân bố Căn cứ vào độ sâu phân bố của thân ngầm ở cáclớp đất khác nhau, đã lập được bảng phân bố của thân ngầm loài cây này ở 3 vị tríchân, sườn, đỉnh Kết quả cho thấy ở chân đồi độ sâu phân bố của thân ngầm lớnhơn (80 cm), còn ở đỉnh đồi chỉ phát hiện thấy thân ngầm ở độ sâu từ 40 cm trở lên.Khi giới thiệu về tài liệu tre trúc của Đông Nam Á, Dransfield and Widjaja(1995) [70] đã đề cập tới các thông tin về tên khoa học, tên địa phương, phân bố địa
lí của loài, giá trị sử dụng, đặc điểm nhận biết qua hình thái và thông tin vắn tắt về
sinh thái một số loài, như đối với loài Bương (D giganteus) có mọc tự nhiên ở cao
nguyên nhiệt đới ẩm trên độ cao 1.200 m so với mực nước biển, trong khi tại TháiLan đã phát hiện thấy loài này mọc ở rừng Tếch Tuy nhiên, có thể mọc ở rừng thấpnhiệt đới ẩm, có tầng đất dày nhiều mùn
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào xác định được đặc điểm sinh thái đối với một số loài tre trúc Các thông tin đưa ra thường vắn tắt và chưa cụ thể
1.1.2 Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống tre trúc
Trong tự nhiên, tre trúc tự sinh sản bằng hai cách chính là hạt và thân ngầm
Trang 21Các biện pháp nhân giống nhân tạo có phong phú hơn, song vẫn tuân thủ nguyên tắc
là nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính (sinh dưỡng) Ngoài nhân giống bằnghạt và lai giống nhân tạo hoàn toàn phụ thuộc vào chu kỳ ra hoa của loài thì cácbiện pháp nhân giống sinh dưỡng được áp dụng khá phổ biến, đó là nhân giốngbằng thân ngầm truyền thống, bằng gốc cây, nhân giống bằng hom thân, hom cành,chiết cành và nuôi cấy mô (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [38]
Nhân giống tre trúc được nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến như Banik(1979, 1985) [62], [63], Hassan (1977) [78], Swarup and Gambhir (2008) [101],
Nautiyal et al (2008) [83] bằng nhiều phương pháp khác như bằng hạt, chiết, nuôicấy mô, chồi gốc Banik (1979) [61] cho rằng hạt Mạy bông (B tulda) có tỷ lệ nảy
mầm chỉ đạt 24,78% và chỉ có 5% số cây con tồn tại ở vườn ươm Nhân giống bằng
gốc cũng đạt tỷ lệ bằng và cao hơn, chẳng hạn 5% ở Melocanna baccifera, 9% ở Mạy bông, 33% ở loài Le (Oxytenanthera nigrociliata), 40% ở loài Diễn đá (D longivaginus) và 100% ở loài Tre mỡ (B vulgaris) (Hassan 1977) [78]
1.1.2.1 Nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Phương pháp chiết cành cho tỷ lệ ra rễ ở các loài tre vách dày như các loài Tre
mỡ, Lồ ô (B polymorpha) và Bương được áp dụng ở Băng La Đét đạt tỷ lệ 45
-56% (Banik 1985) [63]
Dransfield and Widjaja (1995) [70] đã thử nghiệm chiết cành ở một số nơi
khác không thành công như mong muốn Đối với cây Tre mỡ và Bương (D giganteus) chỉ cho tỷ lệ thành công 10%, trong khi loài Melocanna baccifera không thành công với chiết cành, còn loài Mạnh tông (D asper) cho tỷ lệ thành công 50% Cành chiết của các loài Lồ ô, B longispiculata, Mạy bông, Tre mỡ, Bương (D longispathus), Melocanna baccifera, Nứa (Neohouzeaua dulloa) và Oxytenanthera nigrociliata đã được sử dụng để trồng rừng ở Ấn Độ tỷ lệ thành
công đạt 44 - 76% khi trồng vào tháng 4, 33 - 38% vào tháng 6 và chồi mầm mộttuổi đạt tỷ lệ sống cao hơn cây 2 - 3 tuổi Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
đối với loài Lùng (B longissima) đạt tỷ lệ ra rễ 25% khi không xử lý hoóc môn tăng
trưởng, nhưng tỷ lệ ra rễ tăng lên 54% khi có xử lý với hóc môn tăng trưởng IBA
2000 ppm (Rao and Ramanatha Rao, 2000) [93]
1.1.2.2 Nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp giâm hom cành
Nghiên cứu của Rao and Ramanatha Rao (2000) [93] cho thấy nhân giốngbằng phương pháp giâm hom cành là một phương pháp có thể áp dụng với tính thực
Trang 22tiễn và hiệu quả cao, là phương pháp phổ biến cho các vườn ươm thương mại vớiquy mô lớn Phương pháp này thường được sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tạigốc của các cành ngang Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cành lớn có nhiều khảnăng ra rễ hơn cành nhỏ Khả năng ra rễ của mỗi loài là khác nhau và phụ thuộc vàokích thước của đoạn hom và độ dày vách của lóng Tre vách dày có khả năng ra rễcao hơn vì có khả năng cung cấp nhiều dinh dưỡng cho hom hơn Khi nghiên cứu
nhân giống cho loài Tre mỡ, tác giả chỉ ra rằng hom cành 2 - 3 năm tuổi là vật liệu
tốt nhất để nhân giống, mỗi hom phải có ít nhất một mắt ngủ hoặc đốt cành, cànhđược cắt sát ở cổ, cho vào túi bầu polyetylen có kích thước thích hợp bao gồm hỗnhợp đất trộn lẫn xơ dừa vụn với tỷ lệ 1:5, sau khi giâm hom vào túi bầu, tiến hànhtưới nước thường xuyên, sau 3 - 4 tuần thì hom bắt đầu ra chồi và ra rễ
Trung tâm nghiên cứu Tre Trung Quốc (2001) [67], đã cho thấy nhân giốngTre sử dụng các hom cành to cho tỷ lệ sống cao và đạt 83,75%, nếu sử dụng cànhnhỏ tỷ lệ sống rất thấp, chỉ khoảng 10% Hom cành có thể lấy ở cây 1 năm tuổi, cótrên 2 mắt, đường kính cành khoảng 1cm, chiều dài hom khoảng 30cm và cắt vát ởphần trên với góc 45 độ, để lại 3 - 5 lá trên cành là tốt nhất
Nghiên cứu của Fu Maoyi et al (2000) [74] về giâm hom cành cũng cho thấychọn cành để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1 - 2 năm Kích thước hom dài từ 40 -50cm, có từ 2 đến 3 đốt, khi giâm hom được đặt nghiêng so với luống và lấp đất dày
từ 5 - 6cm Thời vụ giâm hom có thể tiến hành từ tháng 2 đến tháng 9 hàng năm, tốtnhất từ tháng 2 - 3 tỷ lệ sống cao hơn, cành lấy hom có kích cỡ nhỏ thường dễ dàng
xử lý, vận chuyển và chi phí thấp hơn cành lớn Trồng cây hom có sự phát triển tốt
về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao
Hom cành cũng là biện pháp khả quan đối với loài Tre mỡ và Mạnh tông.
Phương pháp này được áp dụng cho loài Mạnh tông ở Thái Lan Các cành chét với
3 đốt được cắt từ các cây 1- 2 năm tuổi, lưu ý giữ các chồi ngủ và mầm rễ thì trồngmới thành công (đối khi xử lý với IAA 100 ppm và nhân trong cát) (dẫn theoNguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [38]
1.1.2.3 Nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp giâm hom thân
Victor Cusack (1997) [104] nghiên cứu sử dụng đoạn thân để giâm hom chothấy tỷ lệ thành công của nhân giống bằng hom thân có sự khác nhau giữa các loàitre và phụ thuộc vào các biện pháp kỹ thuật áp dụng, thời gian nhân giống tốt nhấtthường vào mùa Xuân Chọn những cây mẹ trưởng thành khoảng 2 - 3 năm tuổi, cắt
Trang 23thành các đoạn với chiều dài từ 1,5 - 2 m, cắt bỏ tất cả các cành và lá, có thể để lạicác cành chính ở một số đốt Đoạn hom thân được giâm trong rãnh đất ở độ sâu 15
cm, các cành dài để nhô lên khỏi mặt đất, tưới nước hàng ngày trong tuần đầu, sau
đó trong khoảng 3 tuần tiếp theo mỗi tuần tưới 2 lần, thường xuyên giữ đất đủ ẩm ởnhững tuần kế tiếp Sau 4 tuần từ các mắt của hom thân bắt đầu xuất hiện cành và lámới phát triển, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ sẽ phát triển và tạo thân ngầm vàmăng mới Tác giả đề xuất sử dụng 2 loại hom là hom thân 1 đốt và hom thân 2 đốt.Rao and Ramanatha Rao (2000) [93] nghiên cứu về giâm hom thân cũng chorằng đây là một phương pháp hiệu quả để nhân giống các loài tre có vách dày và
kích thước lớn (đường kích từ 8 – 12 cm) như Tre gai (B blumeana) Chọn những
cây 1 năm tuổi để nhân giống bằng hom thân, có thể cắt đoạn hom có từ 1 đến 2đốt Hom được cắm xuống đất với một góc 45 độ và độ sâu 20 cm Phần đốt đượcđặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên, tưới nước đủ ẩm 2 lần/ngày, sau 2 - 4 tuần chồi mới có thể xuất hiện Nước, thuốc chống nấm và thuốc trừsâu thường xuyên được áp dụng trong 6 - 12 tháng trước khi ra ngôi Tuy nhiên, tácgiả nhận định phương pháp này là không phổ biến vì có chi phí cao và có sự giớihạn trong sử dụng hom thân 1 năm tuổi, vì vậy cần nghiên cứu thêm cách nhângiống khác đối với các loài tre
Khi nghiên cứu nhân giống hom thân 1 đốt, Fu Maoyi et al (2000) [74] cũngcho thấy nên chọn cây mẹ từ 1 - 2 năm tuổi, hạ cây và cắt thành từng khúc, mỗikhúc có từ 1 - 2 lóng Hom được cắt ở phần lóng, cách đốt có mắt về 2 phía từ 6 – 9
cm Khi giâm hom cần phải tủ lên trên luống bằng rơm rạ để giữ ẩm Tưới nước đủ
ẩm hàng ngày Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra rằng các loài tre có vách mỏng nhângiống bằng phương pháp này thường cho tỷ lệ thành công thấp, chỉ đạt khoảng 30%
Vì vậy phương pháp này áp dụng cho các loài tre vách dày thích hợp hơn
Fu Maoyi et al 2000) [74] đưa ra một phương pháp nhân giống bằng cách chặtngọn của những cây tre non đã đạt chiều cao tối đa để kích thích sự phát triển củamắt, khi mắt đủ lớn, ngả cây xuống rãnh rộng và độ sâu từ 10 – 15 cm, phủ câybằng hỗn hợp phân bón và đất dày từ 2 – 3 cm sau đó phủ tiếp một lớp cỏ khô, tướinước thường xuyên để giữ ẩm, kết quả nghiên cứu cho thấy khi cây được ngả từtháng 2 - 3, măng sẽ mọc từ tháng 4 - 5 và rễ sẽ phát triển vào tháng 7 - 8, sau 1năm cây đạt chiều cao khoảng 120 cm và có thể đem trồng, phương pháp này được
Trang 24khuyến cáo áp dụng cho các loài tre có vách dày trung bình Ngoài ra, ông cũng đềcập thêm phương pháp nhân giống hom thân 2 đốt, trong phương pháp này việc lựachọn cây mẹ, lựa chọn số đốt để làm hom, cách cắt hom cũng tương tự như phươngpháp nhân giống hom thân 1 đốt, chỉ khác là mỗi hom sẽ bao gồm 2 đốt và được vùitrong đất với 2 mắt về bên trái và bên phải, nhân giống với hom 2 đốt có thể cho tỷ
lệ sống của cây cao hơn so với loại hom 1 đốt, nhưng thấp hơn so với toàn bộ cây.Trong nhân giống phục vụ sản xuất, có thể sẽ không sử dụng đoạn cắt đơn hoặc 2đốt vì hệ số nhân giống thấp
Theo Nautiyal et al (2008) [83] sử dụng hoóc môn IBA và NAA khi giâm
hom thân (mỗi hom 1 lóng, gồm 2 đốt) đạt tỷ lệ ra rễ 80% ở loài B arundinacea
và 70% ở D strictus.
1.1.2.4 Nghiên cứu nhân giống bằng thân ngầm (giống gốc)
Về nghiên cứu nhân giống gốc trong trồng tre đã được một số tác giả đánh giá
là có tỷ lệ thành công cao Tuy nhiên cũng có nhiều hạn chế như chi phí cao, sốlượng giống hạn chế Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu của Zhou Fang Chun (2000) [110] chỉ ra rằng sử dụng giống gốc
thích hợp cho các loài thuộc các chi Tre, Luồng, Vầu (Sinobambusa) gốc được
chọn từ những cây mẹ khỏe mạnh, từ 2 - 3 năm tuổi, không sâu bệnh
Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) [104] cho thấy nhân giống bằng homgốc có thể đạt tỷ lệ sống 100% Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng cho những loài tre cókích thước nhỏ Trong phương pháp này, gốc được đào bao gồm rễ và phần đấtxung quanh, mỗi gốc có từ 3 - 4 mắt, phần trên của thân khí sinh để lại từ 3 - 4 đốt.Nghiên cứu của Rao and Ramanatha Rao (1999) [92] cũng cho thấy nhângiống tre sử dụng giống gốc 1 năm tuổi là tốt nhất, vì gốc có khả năng ra rễ mạnhnhất, phương pháp này thành công ở các loài tre vách dày, thời gian trồng tốt nhất làvào mùa mưa, tác giả cũng cho thấy có khoảng 3 - 7 mắt to của gốc cây mẹ 1 nămtuổi có xu hướng sinh măng đồng thời, nhưng chỉ 1 hoặc 2 mắt mọc hoàn chỉnh, đây
là một hạn chế của phương pháp trồng thân củ, ngoài ra phương pháp này có chi phícao và hệ số nhân giống thấp
1.1.2.5 Nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô
Các nhà khoa học Ấn Độ (Rao et al., 1985, 1990) [90; 91] đã thử nghiệm tạo phôi
xôma cho một số loài như D strictus, Mạy sang (D membranaceus), Là ngà Nam Bộ
Trang 25(B bambos), D arundinacea, Tầm vông (Thyrsostachy siamensis) Hạt của loài D strictus nuôi trên môi trường thích hợp có chứa 2,4 - D đã hình thành mô sẹo và phôi
xôma đã xuất hiện trong vòng 2 tuần Sau 4 tuần phôi phát triển thành cây con và khicấy vào đất, chúng đạt tỷ lệ sống tới 50% còn một số loài khác có thể đạt tới 90%.Các nghiên cứu ở Thái Lan, Ấn Độ, Hoa Kỳ,v.v đã thành công trong việcdùng hạt, đoạn thân để tạo chồi thành công cho hàng chục loài tre trúc Theo thôngbáo của Pranon (1991), tới năm 1991 ở Thái Lan đã nhân giống thành công bằngnuôi cấy mô cho 55 loài trong tổng số 67 loài tre trúc thử nghiệm Công nghệ nàycho phép nhân nhanh loài Mạnh tông với công suất 1 triệu cây mỗi năm (dẫn từNguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [37]
Kết quả nghiên cứu của Rungnagar Pattanavibool (1998) [95] cho rằng 2 loài tre
gồm Mạy sang và Luồng thái lan (D brandisii) tại Thái Lan cho thấy cây con sau 4
tháng nuôi cấy mô đã đủ tiêu chuẩn cấy ra môi trường ngoài và sinh trưởng tốt trongvườn ươm Nghiên cứu cũng cho thấy nhiều loài tre được phát triển bằng phươngpháp nuôi cấy mô sau khi trồng từ 4 - 6 năm không có sự bất thường nào xảy ra.Trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc (2008) [68] đã đưa ra một số loại môitrường và mô cấy thường được sử dụng là: Phần mô cắt có chứa 1 chồi nách đượcđặt trong môi trường bao gồm muối khoáng cơ bản MS, vitamin bổ sung với đườngmía saccarozơ 88 Ám, 6 g thạch trắng/lít, NAA (2,7; 5,4 hoặc 10,8 Ám), và BA (2,2;4,4; 8,8;22,0 hoặc 44 Ám) Phần mô lá (1 cm2) từ măng non dưới đất được đặt trongmôi trường MS bổ sung 2,4 - dichlorophenoxyacetic acid (2,4D) (0,45; 13,5; 27,0;40,5 hoặc 81,1Ám) và NAA (2,7 hoặc 5,4 Ám) Phần mô phân sinh đỉnh cắt từ măng(0,1cm) sử dụng môi trường MS +2,4 D (0,45; 2,3; 4,5 hoặc 9,0) + NAA (0,54; 2,7hoặc 5,4) hoặc thay NAA bằng BA (2,2 hoặc 4,4 mm) với nước dừa (10%, 20%).Phần cụm hoa non gồm hoa mới kích thước nhỏ hơn 0,1 cm được nuôi trong tối vàsáng trên môi trường MS + 2,4 D (11, 3; 22,5; hoặc 45,0 Ám) + NAA (5,4 Ám).Phần hạt non với môi trường MS + BA (0,44; 1,1; 2,2; 4,4 hoặc 8,8) + NAA (2,7hoặc 5,4) + 2,4D (0,45; 2,3; 4,5; 9,0; 13,5 hoặc 27)
Có 607 ha rừng tre của 9 loài D strictus, Mạnh tông, Hốc (D hamiltonii), Là ngà nam bộ, B nutans, Lồ ô (B balcoa), Nứa mọc tản (Pseudostachyum), Guadua angustifolia, được trồng bằng giống nuôi cấy mô Điều này rất có lợi ích về mặt
kinh tế và có thể trồng rừng qui mô lớn Công nghệ này đạt chất lượng tốt có thểtriển khai trồng rừng trên toàn Ấn Độ (Swarup R and Gambhir, 2008) [101]
Trang 261.1.2.6 Nghiên cứu nhân giống bằng hạt
Theo Banik (1994) [64] khó khăn lớn nhất cuả biện pháp nhân giống bằng hạt
là phần lớn các loài tre trúc lâu năm mới ra hoa, có khi ra hoa nhưng hạt lại cho tỷ
lệ nảy mầm thấp, không thể giữ lâu ngày Thông thường hạt tre chỉ bảo quản được
trong vòng 2 tháng, chẳng hạn hạt của loài Melocanna baccifera nếu bảo quản trong
cát khô ở điều kiện nhiệt độ bình thường chỉ được 60 ngày Ramyarangsi (1990)[89] đã đưa ra hạt một số loài Tre có thể bảo quản được tới 2 năm trong điều kiệnlạnh, chẳng hạn hạt của cây Tầm vông duy trì sức sống tới 27 tháng nếu được bảoquản ở độ ẩm hạt thấp (6 -10%) và nhiệt độ thấp (- 5 oC và 2 - 4 oC)
Nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [68] chothấy hạt tre phải để ở trạng thái khô nhất định, nhưng mức độ khô phụ thuộc vàotừng loài, độ ẩm phần lớn được giữ ở giới hạn từ 5 - 12%, hạt được đóng trong túivải hoặc túi đay và bảo quản lạnh, khô và ở nơi thoáng gió Lưu trữ hạt không quánửa năm, trong trường hợp cần lưu trữ lâu hơn, có thể bảo quản ở điều kiện lạnh vớinhiệt độ từ 0 – 5 oC, ở điều kiện này khả năng nảy mầm của hạt giống có thể duy trìđược trên 1 năm Xử lý hạt theo cách rửa bằng nước sạch sau đó tiệt trùng bằng chấttím 0,3% trong 2 - 3 giờ sau đó rửa lại lần nữa, hạt sau khi xử lý có thể đem gieongay Sau khi hạt nảy mầm 10 - 15 ngày, tưới phân đạm với nồng độ từ 0,2 - 0,3%
Như vậy, trên thế giới các phương pháp nhân giống tre trúc bằng chiết cành, hom thân, hom gốc, giống gốc, nuôi cây mô tế bào
đã được nghiên cứu khá phổ biến Ngoài ra, phương pháp nhân giống bằng hạt cũng đã có một số nghiên cứu ở Trung Quốc Trong các phương pháp nhân giống các tác giả đã xác định đối với loài tre
có kích thước lớn, vách dày tỷ lệ sống cao hơn các loài tre có kích thước nhỏ Đây là cơ sở để lựa chọn các phương pháp nhân giống đối với các loài tre trúc ở Việt Nam.
1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng tre trúc
1.1.3.1 Nghiên cứu về điều kiện đất đai
Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996) [73] đã xác định những nhân tố ảnh hưởngđến quá trình sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh của tre trúc là:
độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây lànhững nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng
Trang 27năng suất măng và thân khí sinh
Khi lựa chọn các loài tre trồng công nghiệp, Yang Yuming et al (2000) [108]
đã sử dụng những tiêu chí về sinh thái và năng suất để lựa chọn như: đất tốt sẽ chosản lượng cao, cây to đẻ nhiều măng, giá trị sử dụng lớn Đất nghèo, xấu, đồi trọcbạc màu tre vẫn sống được, nhưng sản lượng thấp
Rao and Ramanatha Rao (1999) [92] đã xác định được một số nhân tố sinh tháiảnh hưởng tới năng suất, chất lượng rừng trồng tre trúc như: Loại đất, hàm lượngmùn trong đất, lượng mưa, số ngày mưa trong năm của 19 loài tre trúc của TrungQuốc Đất thích hợp để gây trồng tre thường là đất thoát nước tốt, đất cát, đất sét phacát và có nhiều dinh dưỡng, địa hình bằng phẳng hoặc có độ dốc thấp Đất thường cómàu vàng, nâu vàng hoặc màu đỏ vàng, đất tầng sâu Tại Băng la đét, một số loài tređược trồng trên đất có độ pH từ 6 - 8, hoặc đất đồi có độ pH từ 4,5 - 5,5
1.1.3.2 Nghiên cứu về mật độ trồng tre trúc
Theo tài liệu của Prosea (1995)[87] đối với Điềm trúc, mật độ là 400 và 625bụi/ha Dai Qihui (1998) [69] cho rằng mật độ trồng với các loài Dendrocalamus có
đường kính thân cây nhỏ hơn 6 cm là 1.660 bụi/ha, đối với những loài có đườngkính thân cây to hơn thì mật độ trồng khoảng 830 bụi/ha (3 m x 4 m) hoặc 625
bụi/ha (4 m x 4 m) Với một số loài cây to như Bương (D giganteus) cự li giữa các
bụi là 10 m x 10 m (tương đương 100 bụi/ha) hoặc loài Hốc thì cự li giữa các bụi là
7 m x 7 m (tương đương 205 bụi/ha)
Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) [67] đã thí nghiệm trồng tre
Bát độ (D latiflorus) và Lục trúc (D oldhamii) cho thấy mật độ trồng tốt nhất là từ
600 - 700 bụi/ha bằng giống hom cành với kích thước hố 60 x 50 x 40 cm
1.1.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến năng suất chất lượng rừng tre trúc
Suwannapinunt and Thaiutsa (1988) [100] khi nghiên cứu ảnh hưởng của phânbón đến sinh trưởng và năng suất của các loài tre ở Thái Lan cho rằng: sử dụng hỗn
hợp phân NPK 15-15-15 có hiệu quả rõ rệt đến năng suất của các loài Tầm vông, Mạnh tông, D strictus và Bambusa sp Bón 100 kg NPK/ha sẽ đủ để tăng năng suất
và bón 200 kg NPK/ha là thích hợp Prosea (1995) [87] lại cho rằng bón 20 - 25 kgphân hữu cơ cho mỗi khóm trước mùa sinh trưởng, phân hóa học bón 4 lần mỗinăm, mỗi lần bón cho 1 ha là 80 kg NPK theo tỷ lệ 40:10:30 và 0,65 Si
Khi nghiên cứu bón phân cho tre trúc, Victor Cusack (1997) [104] đã đề cập đến
Trang 28biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phảibón một cách hợp lý tuỳ thuộc vào từng loài cụ thể Với loài Mạnh tông hàng nămbón 300 kg phân NPK (15:15:15)/ha kết hợp khoảng 40 - 60 kg rơm hoặc cỏ khô đểphủ và 0,65 kg silic dioxyt/ha Với loài Mai xanh bón 40 kg NPK (40:30:10)/ha vàbón 4 lần trong năm kết hợp 0,65 kg silic dioxyt/ha/năm và 20 - 25 kg phân composttrước mùa sinh trưởng Tác giả cho rằng do tre là một loài rễ nông, nên bón phân mộtlượng nhỏ hơn nhưng bón nhiều lần trong năm sẽ tốt hơn Ở Indonesia sau khai thácmăng, nông dân thường pha trộn một lượng lớn phân bón cùng với phân hữu cơ phủgốc, bón theo rãnh đào xung quanh bụi khoảng 2 m Cách bón này cắt đứt một phần
rễ và sẽ kích thích rễ phát triển trực tiếp vào rãnh có phân bón
Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) [67] đã thí nghiệm với loài treMai xanh và Lục trúc cho thấy phân bón làm tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí
và nước lưu thông tốt hơn, kích thích sinh măng ra sớm hơn, sản lượng măng và thân
khí sinh tăng cao hơn Điều này cho thấy việc bón phân cho rừng Dendrocalamus là
rất cần thiết nhằm kinh doanh rừng bền vững và có năng suất cao
Nghiên cứu của Jha and Lalnunmawia (2004) [79] về trồng xen giữa các loài cây
Hốc, Diễn đá trong các công thức thí nghiệm về bón phân đã cho thấy sản lượng của các
loài trong các thí nghiệm bón phân cao hơn rõ rệt so với công thức không bón phân
Alipon et al (2009) [61] khi nghiên cứu xử lý lâm sinh cho rừng Tre gai vàMạnh tông 9 và 11 tuổi cho rằng tiến hành làm sạch gốc phủ chất hữu cơ, bón phân
và duy trì 4 cây 1 tuổi + 4 cây 2 tuổi + 4 cây 3 tuổi + 4 cây 4 tuổi/bụi (4-4-4-4, tổng
số 16 cây/bụi) ở rừng Tre gai sẽ cho sản lượng thân khí sinh ổn định và chất lượngcao nhất Còn đối với rừng Mạnh tông sẽ đạt điều này khi được bón phân nhưngkhông phủ gốc và duy trì 6 cây 1 tuổi + 6 cây 2 tuổi/bụi
Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về tre trúc trên thế giới cho thấy, các loài tre trúc được kinh doanh chỉ cho năng suất, chất lượng cao khi có tác động bởi một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp Các biện pháp thâm canh chủ yếu là: bón phân, mật độ trồng, điều chỉnh số lượng cây để lại cho mỗi bụi với mỗi thế hệ, cho từng loài cụ thể Ngoài ra, điều kiện khí hậu như lượng mưa, nhiệt độ, điều kiện thổ nhưỡng cũng là những nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh trưởng, phát triển của rừng tre trúc và được chọn làm những tiêu chí khi lựa chọn biện pháp thâm canh Kết quả nghiên cứu tre trúc của nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, đặc biệt đối với những loài tre trúc có quan hệ thân thuộc với những loài tre trúc có ở Việt Nam.
Trang 291.1.4 Nghiên cứu về chi Luồng (Dendrocalamus) và cây Bương lông điện biên trên thế giới
1.1.4.1 Nghiên cứu về chi Luồng (Dendrocalamus) trên thế giới
Trên thế giới chi Luồng (Dendrocalamus) có khoảng 60 loài (Ohrnberger,
(1999) [85], Yi et al, (2008) [109], Guo et al, (2010) [76], phân bố rộng rãi ở cácvùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, từ Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc,Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia đến Papua New Guinea(Stapleton, (1994) [98], Dransfied and Widjaja, (1995) [70], Ohrnberger (1999) [85],Seethalakshmi and Kumar (1998) [96], Li and Stapleton (2006) [80] Riêng miềnNam Trung Quốc có 37 loài (Guo, 2010) [76] Phân bố ở độ cao từ vài chục mét đến
1700 m so với mực nước biển, trong điều kiện đất ẩm, chủ yếu sống ở trong rừng,dọc ven suối và trong rừng thứ sinh nghèo (Ohnberger, 1999) [85]
Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng các loài cây thuộc chi Dendrocalamus
được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó chủ yếu là các công trình nghiêncứu về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng Có thể tóm tắt theocác vấn đề sau:
- Về chọn giống, nhân giống
Chi Dendrocalamus có thể thực hiện nhân giống bằng phương pháp hữu
tính hoặc sinh dưỡng nhưng chủ yếu là bằng phương pháp nhân giống sinhdưỡng Tại Kenya, Bernard Kingomo (2007) [65] đã đề cập đến nhân giống bằngcách dùng thân và gốc để tạo cây con Nếu dùng hom thân, lấy thân cây có độtuổi từ 2 - 3 năm, cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt để làm hom, đục lỗ cách các mắt
từ 5 – 7 cm, sau đó vùi trong đất trộn cát sâu 6 – 10 cm theo hướng nằm ngang,sau đó dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục để kích thích ra
rễ Nếu dùng gốc để trồng, chọn cây từ 1 - 2 năm tuổi, đào sâu 30 - 60 cm và cắttoàn bộ gốc mang đi trồng ngay
Tại Thái Lan và Ấn Độ, việc nhân giống bằng hạt đã được thực hiện cho các
loài cây như Luồng thái lan, Mạy sang, D strictus và Dendrocalamus sp (Bernard,
2007) [65], (Dai Qihui, 1998) [69] Tuy nhiên, do cây con được tạo bằng hạt khôngđạt được những ưu điểm vượt trội so với cây con được tạo bằng thân, gốc hoặccành Do vậy, đến nay phần lớn cây con của các loài tre Luồng đều được tạo bằngphương pháp nhân giống sinh dưỡng
- Về điều kiện lập địa trồng rừng
Trang 30Theo tác giả Dai Qihui (1998) [69] đã khuyến nghị nên chọn nơi có độ dày tầng
đất cao, đất còn tốt, ẩm và thoát nước tốt để trồng các cây thuộc chi Dendrocalamus.
Trồng ở các thung lũng, dọc ven sông, suối và cũng có thể trồng ở chân và sườn đồicây sinh trưởng tốt Nếu trồng nơi đất khô xấu vẫn có thể sống nhưng măng và thâncây sẽ nhỏ, không mang lại hiệu quả kinh tế Đây có thể coi là kinh nghiệm có ý nghĩaquan trọng trong việc chọn lập địa phù hợp để kinh doanh rừng Bương lông theohướng bền vững
+ Về kỹ thuật trồng, Dai Qihui (1998) [69] cho biết dù cây con Dendrocalamusđược tạo hạt hay từ hom, trước khi trồng nên cắt ngọn chỉ để lại 2 - 3 đốt Đối vớicây con được tạo từ hạt thì đặt cây con ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủ lên gốccây 3 - 4 cm Với cây con là hom gốc, đặt cây ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủđất cách cổ rễ 10 cm
+ Về kỹ thuật bón phân, Dai Qihui (1998) [69] cho rằng: đối với cây
Dendrocalamus trồng lấy măng, để sản xuất 100 kg măng tươi, cây cần 500 – 700 g
Nitơ, 100 - 150 g Phốt pho và 200 - 250 g Kali từ đất Như vậy, nếu muốn thu hoạch15.000 kg măng tươi trên ha mỗi năm cần bổ sung từ 75 – 100 kg nitơ, 15 - 22,5 kgphốt pho và 37,5 kg kali Nếu không dùng các loại phân hóa học nêu trên, có thể bón37.500 kg phân chuồng cho 1ha hàng năm cũng có thể bổ sung lượng dinh dưỡng cầnthiết trên Việc bón phân chia làm nhiều lần trong năm Theo Fu Maoyi, XiaoJianghua(1996) [73] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinhtrưởng và phát triển của thân khí sinh gồm: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúcrừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâmkhi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh Nghiêncứu về chu trình dinh dưỡng trong rừng Tre là ngà nam bộ các tác giả Shanmughaveland Fracis (1997) [97] cho rằng lượng dinh dưỡng trong cây đứng gia tăng theo tuổicủa cây, vì vậy lượng dinh dưỡng trả lại cho đất không đủ so với lượng dinh dưỡng
mà cây đã lấy đi Điều này cho thấy việc bón phân cho rừng Dendrocalamus là rất
cần thiết nhằm kinh doanh rừng bền vững và có năng suất cao
Như vậy, trên thế giới đã có những kết quả nghiên cứu đặc điểm phân bố, kỹ thuật nhân giống và gây trồng một số loài cây thuộc chi Luồng Kết quả nhân giống sinh dưỡng chủ yếu để sản xuất cây con với số lượng lớn; trồng tre trúc ở những nơi đất thích
Trang 31hợp nhằm tận dụng tốt không gian dinh dưỡng, nâng cao sức sản xuất của rừng, tăng tính bền vững; ứng dụng các biện pháp bón phân thích hợp để cân bằng dinh dưỡng trong đất nhằm nâng cao sức sản xuất và ổn định trong suốt chu kỳ kinh doanh Các kết quả này là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Bương lông điện biên tại một số tỉnh miền núi phía Bắc.
1.1.4.2 Nghiên cứu về cây Bương lông điện biên trên thế giới
Loài Dendrocalamus giganteus Munro được công bố năm 1868 (Munro, 1868)
[82], đây là một trong hai loài tre lớn nhất của chi Dendrocalamus cũng như các loài
tre của thế giới
Theo Widjaja (1995) [105] nguồn gốc của loài D giganteus chưa biết chính
xác, nhưng có thể là ở miền Nam Myanma (Tenasserim) và phía Tây Bắc Thái Lan
Ở bán đảo Malaysia loài này đã được trồng rải rác ở Penang Hills, nhưng không biết
có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo D giganteus đã được trồng ở nhiều khu vườn
thực vật, như ở Indonesia (khoảng năm 1910), Philippines (những năm 1990), ĐôngDương, Madagascar (ở bên ngoài khu vườn thực vật) Contu (2013) [115] nhận địnhloài này được tìm thấy ở Sri Lanka, Ấn Độ, Bangladesh và các nước Đông Nam Ánhư Indonesia, Myanmar và Thái Lan
Widjaja (1995) [105], Guadua (2010) [116] và CCU (2014) [114] đã mô tả loài
D giganteus mọc thành bụi dày, gốc dính liền, là loại Bương lông Thân cây thẳng
và tròn, cao từ 25 - 30 m, đường kính bình quân từ 18 - 30 cm, thành dày lên tới 2,5
cm, thân cây được phủ một lớp sáp trắng khi cây còn non, mịn màng, từ màu trắngđến xám xanh; lóng dài 25 - 55 cm; các đốt dưới mang rễ khí Những cây 1 nămtuổi thân có màu xanh thẫm phủ lớp phấn trắng dễ nhận biết, với lớp mo đính kèmkhông áp chặt có màu nâu ở mặt vỏ trên các đốt Năm thứ hai, tất cả các lớp mo đãrụng, màu tro xám vẫn còn, thân cây xanh nhưng nhuốm màu vàng gần các đốt, đặcbiệt là ở nửa dưới, phấn trắng ít hơn (50%) trong năm đầu tiên Cành nhánh pháttriển từ các đốt ở vị trí 1/2 cây trở lên, gồm một nhánh chính và một số nhánh nhỏ ởhai bên Bương lông mọc tự nhiên ở vùng cao nguyên nhiệt đới ẩm, độ cao > 1200
m so với mực nước biển, phát triển tốt ở vùng đất thấp nhiệt đới trên đất giàu phù
sa Ở miền Bắc Thái Lan, cây được tìm thấy trong các khu rừng tự nhiên với gỗ
Tếch D giganteus ra hoa không thường xuyên, chu kỳ thay đổi theo tùy điều kiện
Trang 32phát triển; khoảng thời gian ra hoa 29, 40 và 43 năm một lần Hoa mọc thành chùm,gồm 4 - 6 hoa nhỏ Quả thóc hình thuôn dài 7 - 8 mm, có lông ở trên.
Bương lông thường được nhân giống bằng thân cây và nhánh cành Có thểđược nhân giống bằng hạt, nhưng khó khăn Trong một diện tích trồng 8 ha tạiMyanma, mỗi ha được trồng 40 - 50 bụi Với 50 bụi trên một ha, năng suất hàngnăm có thể đạt được 200 thân khí sinh và thu hoạch được 200 măng Không thấy cósâu bệnh hoặc bệnh nghiêm trọng có thể tấn công cây Tuy nhiên bệnh chổi xể cũng
có thể xảy ra với Bương lông nhưng không gây ra nhiều thiệt hại Mùa sinh trưởngcủa loài cây này bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 và tăng trưởng chậm về ban ngày,nhanh hơn về ban đêm (Osmaston, 1918) [86]
Widjaja, 1995 [105]; Guadua, 2010 [116] và Contu, (2013) [115]) đã xác định
D giganteus được sử dụng cho nhiều mục đích như việc xây dựng, cột buồm
thuyền, nhà tre, ống nước, đồ nội thất, sản xuất giấy Đặc biệt, sử dụng cho sảnxuất gỗ ép từ tre, đó là vật liệu lý tưởng để trang trí nội thất như tường, trần nhà, sànnhà, cửa, kệ, vv Măng có thể ăn được, nhưng măng không được tiêu thụ rộng rãi.Bương lông có thể được trồng để bảo vệ đất chống xói mòn Là một trong nhữngloài tre lớn nhất, có giá trị cao Tại Thái Lan, mo tre lớn được sử dụng để làm nón
Tóm lại, trên thế giới đã có những kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng, sử dụng và giá trị sử dụng của loài cây Bương lông điện biên (D giganteus) Tuy nhiên , đây mới chỉ là nghiên cứu bước đầu, do vậy kết quả có thể còn nhiều vấn
đề phải bàn luận, có kết luận chính xác và đầy đủ hơn cần phải có thời gian và những tìm hiểu sâu, rộng hơn.
1.2 Những nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm phân bố và sinh thái của tre trúc
Ở Việt Nam, tre trúc là nguồn vật liệu quan trọng thứ 2 sau gỗ, được gây trồngrộng rãi trên toàn lãnh thổ và có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội củangười dân Tre trúc là nguyên liệu tạo ra hàng trăm loại mặt hàng tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu có giá trị Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỉ XX, nguồn tàinguyên từ tre trúc ở nước ta đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
1.2.1.1 Về phân bố tre trúc
Theo Thái Văn Trừng (1978) [53]; Nguyễn Tử Ưởng (2001) [60]; NguyễnNgọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) [4] tre nứa phân bố rộng từ vùng nhiệt đới, ánhiệt đới đến ôn đới, từ 51 độvĩ Bắc đến 47độvĩ độ Nam Việt Nam là một trongnhững trung tâm phân bố tre nứa trên thế giới do có điều kiện tự nhiên thuận lợi,
Trang 33như chế độ nhiệt, ẩm và thổ nhưỡng Tuy nhiên, diện tích, trữ lượng và thành phầnloài có khác nhau giữa các vùng trong nước; những vùng có diện tích và trữ lượngnhiều là: Đông Nam Bộ Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, và Tây Bắc (theodiện tích).
Theo Nguyễn Tử Ưởng (2001) [60]; Nguyễn Ngọc Bình và cs (2007) [4], ViệtNam có 1.489.068 ha, chiếm 4,53% diện tích toàn quốc với tổng trữ lượng là8.400.767.000 cây
Vũ Văn Dũng (1978) [13] đã xác định ở miền Bắc Việt Nam (1973 - 1975) có
10 chi, 48 loài, 4 dạng, 2 thứ, trong đó vùng Đông Bắc có tới 36 loài thuộc 9 chi.Phạm Hoàng Hộ (1999) [23] đã giới thiệu 23 chi, 121 loài tre trúc, nhưng có một sốloài chưa có mô tả, các loài khác có mô tả song chưa đủ các thông tin cần thiết để
có thể nhận biết chúng ngoài thực địa
Các nghiên cứu gần đây của một số nhóm nghiên cứu như: Nguyễn Tử Ưởng
và Nguyễn Đình Hưng (1995) [59]; Nguyễn Hoàng Nghĩa và cs (2004) [39] chothấy Việt Nam có trên 133 loài tre thuộc 24 chi, trong đó rất nhiều loài tre có giá trị
sử dụng và có giá trị kinh tế cao cần được nghiên cứu để phát triển Lê Viết Lâm và
cs (2005) [30] đã công bố 113 loài tre trúc và đã đề xuất 40 loài tre thông dụng, vớicác thông tin về phân loại, gây trồng, giá trị kinh tế và triển vọng, qua đó đã làm nổibật những loài tre trúc cần ưu tiên phát triển, tuy nhiên giá trị của tài liệu vẫn chủyếu là về phân loại
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [38] ở Việt Nam có 216 loài/phân loài trenứa thuộc 25 chi và có thể đến 250 loài
Trong một công trình nghiên cứu khác, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến(2007) [40] đã đưa ra danh sách về các loài tre trúc có ở Việt Nam, trong đó có 194 loàitre trúc thuộc 26 chi, có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa cótên hoặc có các loài/phân loài mới Việc xác định rõ đâu là loài hoặc phân loài là mộtcông việc rất khó khăn Quá trình khảo sát đã phát hiện một số chi được coi là mới đối
với nước ta là chi Giang (Maclurochloa), chi tre quả thịt, Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có ngoại hình giống loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995) [106].Một số chi có nhiều loài là chi Tre có 55 loài, chi Luồng có 21 loài, chi Le có 16 loài,
chi Nứa có 14 loài và chi Vầu đắng có 11 loài Công trình nghiên cứu của Nguyễn
Hoàng Nghĩa có thể được coi là tài liệu đầy đủ từ trước đến nay đã liệt kê số lượng chi,loài tre trúc với nhiều thông tin có ý nghĩa như phân bố, đặc tính hình thái, sinh thái,công dụng và có giá trị như một cẩm nang để tra cứu, đặc biệt là nhận dạng loài tre
Trang 34Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) [4] cho rằng từ độ cao ngang mặtbiển đến vùng núi cao của Việt Nam như Hoàng Liên, Tây Côn Lĩnh, Ngọc Lĩnh…đều có phân bố tự nhiên của các loài tre trúc Nhưng về mặt phân bố của tre trúc cóthể chia làm 2 đai độ cao rõ rệt: Ở đai độ cao trên 700 - 800 m hầu hết là các loài tre
có thân ngầm mọc tản, tiêu biểu cho khí hậu á nhiệt đới như các chi: Sặt
(Arundinaria), Vầu, Trúc, Trúc vuông (Chimonobambusa)… Còn đai độ cao dưới
700 - 800 m hầu hết là các loài tre mọc cụm tiêu biểu cho khí hậu nhiệt đới thuộc cácchi như: Tre, Luồng… Cá biệt có những loài tre mọc cụm phân bố ở độ cao 1.000 m
như Bương lớn (D aff giganteus), hoặc loài tre mọc tản phân bố xuống độ cao 400
-500 m như Vầu đắng (Indosasa angustata)
Theo nghiên cứu của Lê Viết Lâm và cs (2005) [30] tre phân bố ở hầu hết cácvùng và độ cao khác nhau của Việt Nam, các loài tre trúc phân bố theo vùng sinh tháithể hiện rất rõ Nhiều loài tre trúc là các loài đặc hữu hoặc đặc trưng của từng vùng
như: vùng Tây Bắc có Mạy sang, Mạy bông, Mạy bói (B burmanica), Mạy púa cai na (D pachystachys)… Vùng Đông Bắc có Vầu đắng, Trúc sào (Ph edulis), Trúc cần câu (Ph sulphurea)… Vùng Trung tâm có Giang, Diễn trứng (D parvigemniferus), Diễn
đá (D longgivaginus), Lộc ngộc (B bicorniculata), Tre Là ngà (B sinospinosa)… Vùng Bắc Trung Bộ có: Lùng (B longissima), Mạy cần (Thyrostachys oliveri), Luồng (D barbatus) Vùng Nam Trung Bộ có Lồ ô Trung Bộ (B balcooa), Tre quả thịt (Melocalamus sp nov)… Vùng Tây Nguyên có Le, Lồ ô (B procea), Le cỏ (Vietnammosasa pusilla) Vùng Đông Nam Bộ có: Lồ ô, Mum (Gigantochloa Multifloscenla) Vùng Tây Nam Bộ có Tre mỡ, Tre gai.
1.2.1.2 Nghiên cứu về sinh thái tre trúc
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến rừng, Phùng NgọcLan (1986) [29] và Thái Văn Trừng (1978) [53] đều thống nhất cho rằng mỗi vùngđịa lí khác nhau có một tổ hợp các nhân tố sinh thái khác nhau sẽ có một kiểu rừngđặc trưng và tạo nên một cảnh quan địa lý riêng biệt, đó chính là đặc trưng sinh thái.Kết quả nghiên cứu của Lê Viết Lâm và cs (2005) [30], cho thấy hầu hết các loàitre là cây ưa sáng và ẩm nên khi trồng cần chọn nơi đất sâu, dày, ven sông suối Ngoài
ra, một số loài tre cũng chịu được khô hạn như các loài tre ở vùng Tây Bắc Việt Nam,như Mạy sang, Mạy bông Những loài tre không chịu được khô hạn khi gặp điều kiệnkhô hạn, kích thước của chúng giảm đi rất nhiều Một số loài tre ưa các điều kiện đặc
biệt của môi trường như loài Trúc dây (Ampelocalamus sp.) chỉ mọc trên vùng núi đá
vôi Một số loài tre có thể chịu ngập khá lâu như: Tre gai, Tre là ngà và Lộc ngộc thái
Trang 35lan (B bicomiculata) Tre gai được trồng rộng rãi trên phạm vi cả nước
Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) [5] tre trúc là loài cây có thânngầm (thân sống dưới mặt đất) thường phát triển bò dài trong đất, phát triển thànhmạng lưới, hay chỉ phát triển thành một số đốt ngắn ở gốc cây Ở các đốt thân ngầmthường có nhiều rễ và chồi ngủ Chồi ngủ sẽ mọc lên thành cây tre, trúc (thân khí sinh)trên mặt đất và phát triển thành thân ngầm mới Thân ngầm tre trúc có 3 dạng: (1) Thânngầm mọc cụm (Sympodial) loại thân ngầm rất ngắn có rễ và chồi; chồi mọc thànhthân ngầm mới và cây tre trên mặt đất Các chồi ở thân ngầm chỉ có một số phát triểnthành măng, sau trở thành tre, còn các chồi khác vẫn ở trạng thái ngủ, đến năm sau, các
chồi đó bình thường teo lại Các chi tre trúc có thân ngầm mọc cụm: Bambusa, Sinocalamus, Dendrocalamus (2) Chồi ở cuống thân phát triển thành thân ngầm, bò
lan dài trong đất Thân ngầm này thường gọi là “roi tre" Trên các đốt của roi tre mangnhiều chồi, có chồi phát triển thành măng và cũng có chồi phát triển thành "roi tre"mới Các thân ngầm mọc rải sau này phát triển thành mặng lưới đan thành lớp trongđất, mọc cách nhau đều đặn: 60 - 80 cm hoặc 80 - 100 cm Thâm ngầm mọc rải có 2dạng: thân ngầm mọc rải đơn và thân ngầm mọc rải phức tạp Thân ngầm mọc rải gồm
có các loài tre trúc phổ biến như: Vầu, Trúc sào, Trúc cần câu, Sặt thuộc các chi
Indosasa, Phylostachys, Chimonobambusa (3) Thân ngầm kiểu hỗn hợp là một kiểu
thân ngầm mọc hỗn hợp cả loại mọc cụm và mọc rải đơn Phần nhiều chồi ở thân ngầmroi tre sẽ phát triển thành các cây tre trúc đơn độc nhưng có một số chồi phát triển theokiểu mọc cụm Nó thường gặp ở các loài trong chi vầu
Trần Văn Mão và Trần Ngọc Hải (2006) [35] đã mô tả hình thái các loài tre thânngầm như kiểu mọc cụm, mọc tản và kiểu mọc hỗn hợp; cấu tạo thân khí sinh, sốlượng cành và cách phân cành; các bộ phận và hình thái lá quang hợp, mo nang và hoaNguyễn Huy Sơn và cs (2013) [44] đã khái quát đặc điểm sinh thái của loàiBương mốc thích hợp với khí hậu mưa mùa, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùakhô, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 – 24 oC, lượng mưa trung bình hằng năm
từ 1.500 mm trở lên Phân bố ở độ cao từ 80 - 800 m so với mực nước biển, nhưngthích hợp nhất là từ 80 - 300 m Độ dốc từ 10 – 20 độ Có thể trồng Bương mốc trênnhiều loại đất khác nhau, độ dày tầng đất từ 50 cm trở lên, nhưng tốt nhất là đất cótầng từ trung bình đến dày (≥ 70 cm), phát triển trên các loại đá mẹ phiến mica,phiến sét, sa thạch, đá vôi, hay đất dốc tụ và bồi tụ giàu mùn ở ven khe cạn hay vensuối, đất tơi xốp, ẩm thường xuyên và thoát nước tốt
1.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống
Trang 36Ở Việt Nam, nghiên cứu kỹ thuật chọn giống và nhân giống các loài tre trúc đã
có một số kết quả nhất định
1.2.2.1 Nghiên cứu nhân giống vô tính bằng phương pháp chiết cành
Lê Quang Liên (2001, 2004) [33; 34] đã nhân giống thành công cây Luồngbằng phương pháp chiết các cành chét trên thân khí sinh dưới một năm tuổi, đã ra láđầy đủ Đây là biện pháp cho phép các cành không có rễ khí sinh cũng ra rễ bằngcách cắt đứt 2/3 tiết diện của cành, chỉ để 4 đốt sát thân cây, phần đầu cành được cắt
bỏ Cành chiết được bọc bằng hỗn hợp chủ yếu là đất bùn và rơm rạ, ngoài đượcbọc bằng nilon giữ ẩm, tỷ lệ ra rễ đạt tới 97,5% Có thể chiết cành quanh năm songtốt nhất là vào các tháng 1 - 3 và 7 - 9 Sau khi chiết cần cắt và giâm cành chiếttrong vườn ươm từ 4 đến 6 tháng mới đem trồng
Lê Văn Thành (2013) [47] cũng đã giống Bương mốc bằng phương pháp chiếtcành cho tỉ lệ ra rễ khá cao Kết quả nhân giống cho thấy chiết cành Bương mốc 1tuổi sử dụng chất IBA 1.500 ppm cho tỉ lệ ra rễ cao nhất và đạt tới 100% (có thểdùng chất NAA và IAA nồng độ 2.000 ppm) Ngoài ra giâm hom cành Bương mốc
1 tuổi, sử dụng chất IBA 2000 ppm cũng cho tỉ lệ ra rễ cao và chất lượng rễ tốt hơn
so với IAA và NAA
1.2.2.2 Nghiên cứu nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom cành
Các nghiên cứu của Hoàng Vĩnh Tường (1977) [57] giai đoạn những năm 1970của Viện Lâm nghiệp cho thấy cây Luồng được xử lý bằng chất kích thích cho câyhom ra rễ với tỷ lệ cao (90%), có thể áp dụng vào trồng rừng Luồng và đã được BộLâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn) ban hành quy trình.Hạn chế của phương pháp này là trên mỗi cây chỉ có 3 - 4 cành mang rễ khí sinhnên khó áp dụng cho nhân giống diện rộng
Ngô Quang Đê, Lê Xuân Trường (2011) [16] cho biết với một số loài tre nhưDiễn, Luồng, Lộc ngộc, Tre gai có thể ươm bằng hom gốc cành Chọn cây mẹ 2tuổi, cây phát triển bình thường, hoặc cây cụt ngọn (do gió bão) có cành phát triển
to mập Chọn các cành bánh tẻ để lấy hom, với hom cắt dài 30 – 40 cm (có khoảng
2 - 3 đốt), cắt sát thân và tỉa bỏ các nhánh rồi đem ngâm vào dung dịch kích thích ra
rễ sau đem ươm Đặc điểm của hom gốc cành là việc lấy hom ít ảnh hưởng đến sinhtrưởng của cây mẹ và không ảnh hưởng đến giá trị sử dụng của cây mẹ
Nguyễn Huy Sơn và cs (2013) [44] đã giới thiệu 8 loài tre trúc được nhân giốngbằng phương pháp giâm hom cành gồm: Bương mốc, Luồng, Mai xanh, Mạnh tông,
Trang 37Mạy bói, Mạy lay, Tầm vông, Tre đũa Đối với cây Bương mốc chọn hom gốc cành từnhững cây mẹ to, cao, khỏe mạnh không cụt ngọn, còn non đang ở giai đoạn 8 thángđến 1 năm tuổi; trên thân cây mẹ chọn những cành chính có đường kính ≥ 1,5 cm, cànhlàm hom càng gần phía gốc càng tốt Giâm hom cành bằng cách cắt phần đùi gà sát vớithân cây mẹ, cắt bớt phần non chỉ để lại 3 - 4 lóng gần gốc cành, đồng thời có ít nhất 2mắt còn tươi, có khả năng nảy chồi Tạo hom xong, nhúng hom đùi gà vào dung dịchkích thích ra rễ IBA, nồng độ 2.000 ppm, sau đó giâm hom đùi gà vào bầu đất đã đóngsẵn trong vườn ươm Vỏ bầu sử dụng túi polyetylen cỡ 14 x 20 cm hoặc 15 x 22 cm,đục 4 - 6 lỗ xung quanh hoặc cắt 2 góc phía dưới để thoát nước Hỗn hợp ruột bầu gồm90% đất tầng A kết hợp với 9% phân chuồng hoai và 1% supe lân Lâm Thao Sau 50ngày giâm hom, tỷ lệ ra rễ có thể đạt ≥ 75% Khi hom ra măng trên các đốt của cành
và những măng đó ra lá non thì đạt tiêu chuẩn xuất vườn và có thể đem trồng Thời vụgiâm hom cành tốt nhất là vụ Xuân hoặc Xuân - Hè, trồng rừng với loại giống cây từhom cành cho tỷ lệ sống có thể đạt 95 - 100%
1.2.2.3 Nghiên cứu nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom thân ngầm
Dương Mộng Hùng (2004) [25] khi nghiên cứu “Nhân giống Trúc sào (Phyllostachys edulis (Carr.) Houz De Lehaie) bằng phương pháp giâm hom thân ngầm tại tỉnh Cao Bằng” đã sử dụng các loại chất điều hòa sinh trưởng là ABT1,
NAA, 2,4 - D, Atonik, IBA với các nồng độ khác nhau, kết quả cho thấy các chấtđiều hòa sinh trưởng có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ hình thành cây măng và câyhom Tỉ lệ hình thành cây hom có xử lý Atonik 25 ppm đạt 57,2% là cao nhất, cácchất khác cho tỷ lệ từ 35,2% đến 42,9%
Đây là biện pháp thông dụng đối với các loài tre mọc tản, đặc biệt là các loàithuộc chi Trúc như Trúc sào, Trúc cần câu, Trúc đen, Trúc hóa long, Trúc đá, Trúcquân tử v.v Các đoạn thân ngầm dài từ 30 cm đến 80 cm được cắt rời khỏi cây mẹ
và đem đi trồng Thông thường ở nước ta, các loài trúc được trồng ngay trước vàsau Tết âm lịch, để đầu Xuân chúng có khả năng nảy chồi, hạn chế của biện phápnày là không thể có được số lượng lớn thân ngầm phục vụ trồng rừng quy mô lớnnên nhiều năm nay đã vẫn là khó khăn lớn đối với loài Trúc sào ở tỉnh Cao Bằng(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [38]
Nguyễn Huy Sơn và cs (2013) [44] đã giới thiệu cách tạo giống hom thân gốc
cho các loài: Mai xanh, Trúc sào, Bương mốc, Lục trúc và Luồng Với loài cây
Mai xanh tạo giống hom thân gốc hay còn gọi là củ, là phần còn lại của măng sau
Trang 38khi khai thác phần trên làm thực phẩm từ 8 - 12 tháng tuổi, các thân ngầm này đều
có ít nhất 1 cành đã ra đủ lá, được tách ra từ gốc cây mẹ ở vị trí thân ngầm, có một
ít rễ, đường kính đầu trên củ ≥ 6 cm, trọng lượng ≥ 0,6 kg, mỗi bên có ít nhất 2 chồingủ còn tươi, có một cành sống dài từ 20 - 25 cm Kỹ thuật tách hom thân gốc cũngtương tự như hom gốc, khi tách củ ra khỏi gốc cây mẹ chú ý không làm dập nát, nứt
vỡ, hom củ cần được trồng ngay, nếu chưa trồng cần phải giâm vào nơi râm mát vàtưới nước đủ ẩm thường xuyên Đối loài cây Bương mốc nhân giống bằng hom thângốc phải chọn những cây Bương mốc trong các bụi có những cây mẹ khỏe mạnh,không cụt ngọn, không sâu bệnh, cây còn non từ 1 - 1,5 tuổi Hom thân ngầm gốc
có thể giâm trong vườn khi thấy mắt trên thân khí sinh bắt đầu nảy chồi thì đemtrồng Thời vụ tạo giống gốc và trồng vào vụ Xuân là tốt nhất, hoặc vụ Xuân - Hècũng cho tỷ lệ sống cao, tuyệt đối không tạo giống vào vụ Thu - Đông Với việc sửdụng giống gốc tỷ lệ sống của rừng trồng có thể đạt 90%
1.2.2.4 Nghiên cứu nhân giống bằng nuôi cấy mô
Vũ Ngọc Phượng và cs (2002) [43] đã đưa ra kết luận có thể nhân giốnginvitro tre Mạnh tông và tre tàu theo các bước: 1) Tạo chồi từ hạt tốt trên môitrường MS có BA 3 mg/l va Kinetin 1 mg/l; 2) Nhân chồi tốt trên môi trường MS
có BA 2 mg/l và Kinetin 1mg/l; 3) Chồi, cây con ra rễ và sinh trưởng thành câyhoàn chỉnh tốt trên môi trường có nồng độ khoáng KS giảm 1/2 và có IBA 10 mg/l;4) Hệ số nhân giống được ước tính 312 cây bầu đất/ năm/ 1 hạt tre ban đầu
Lê Văn Hòa và cs (2012) [22] đã nghiên cứu "Sự tạo phôi soma và tái sinh chồi Tre rồng (Dendrocalamus giganteus Wall ex Munro) từ nuôi cấy lớp mỏng tế bào", kết quả cho thấy: nuôi cấy lớp mỏng tế bào của thân chồi non invitro trên môi trường
MS bổ sung NAA 2 mg/l kết hợp với 2,4 D 7 mg/l cho hiệu quả tạo mô sẹo cao(81,34%) và mô sẹo cứng chắc cao nhất (64,77%) sau 8 tuần nuôi cấy; Môi trườngthích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển mô sẹo là môi trường MS + NAA 2 mg/lkết hợp với 2,4D - 7 mg/l; Sự tạo phôi soma (và tái sinh chồi cây Tre rồng) từ môsẹo trên môi trường MS bổ sung TDZ 0,01 mg/l đạt được 33,33% vào thời điểm 3tuần sau khi cấy, các chồi trong môi trưởng này sinh trưởng và phát triển tốt
1.2.2.5 Nghiên cứu nhân giống bằng hữu tính
Khi khảo sát Sặt ba vì (Chimonocalamus baviensis) trên đỉnh Vua (Vườn quốc
gia Ba Vì) Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [38] cho thấy sau mùa ra hoa kết hạt, câysặt con tái sinh thành từng đám dày dưới tán rừng tự nhiên Tre quả thịt ở Bảo Lộc
Trang 39(Lâm Đồng) cũng tái sinh ngay dưới gốc cây mẹ sau mùa ra hoa và đậu quả.
Khi nghiên cứu về cây Bương, Phạm Văn Điển và cs.(2009) [18] đã cho rằng
không gặp cây Bương (Sinocalamus flagellifer Munro) ra hoa hàng loạt, chỉ gặp cây
ra hoa ở từng bụi hoặc từng cây riêng lẻ sau đó bị chết, đồng thời chưa thấy có hạt
Tóm lại, các nghiên cứu trên đây là cơ sở để đề tài lựa chọn phương thức và phương pháp nhân giống phù hợp nhằm giảm giá thành, nâng cao hiệu quả trồng rừng, phát triển vùng trồng Bương lông điện biên làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản, thực phẩm phục vụ nhu cầu xã hội, đặc biệt trong giai đoạn 2015
- 2020 và những năm tiếp theo.
1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng, khai thác tre đã được quan tâm nghiên cứukhá sớm ở Việt Nam, từ những năm 60 của thế kỷ 20
Phạm Quang Độ (1963) [17]; Hồng Minh (1963) [36] đã giới thiệu sơ lược về đặcđiểm hình thái, sinh thái, kỹ thuật chọn giống, gây trồng, chăm sóc và bảo vệ cho 12loài tre trúc ở miền Bắc Việt Nam Một số công trình của Lê Quang Liên và cs (1990)[31]; Ngô Quang Đê (1994) [15] đã hướng dẫn kỹ thuật gây trồng 3 loài: Luồng, Mạysang và Vầu đắng bao gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và
sử dụng Các tác giả Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) [26]
đã giới thiệu kỹ thuật trồng 2 loài là Trúc sào và Vầu đắng, trong đó đề cập đến điềukiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành quy phạm kỹthuật trồng và khai thác Luồng (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 21-2000) [6]; Tiêu chuẩnngành 04 TCN 69 - 2004 "Quy phạm kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác măng tre
Điềm trúc (D latiflorus) theo Quyết định số 51/2004/QĐ-BNN ngày 19/10/2004 [7];Tiêu chuẩn 04 TCN146: 2006 [9] về quy trình kỹ thuật trồng trúc sào Phạm VănĐiển và cs (2009) [18] giới thiệu kỹ thuật gây trồng cây Bương (Sinocalamus flagellifero) và cây Vầu đắng Trần Ngọc Hải (2012) [21], Nguyễn Huy Sơn và cs.(2013) [44] đã giới thiệu chung về tre trúc, kỹ thuật trồng cho 11 loài tre trúc Hầu hếtcác tài liệu trên đã cung cấp khá nhiều nội dung về kỹ thuật gây trồng như: điều kiệngây trồng, kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ cho những loài tre trúc thông dụng, có giátrị ở nước ta, trong đó đề cập nhiều đến các biện pháp thâm canh tăng năng suất rừngtrồng tre trúc bằng bón phân, hệ thống kỹ thuật chăm sóc và khai thác
1.2.3.1 Nghiên cứu về điều kiện đất đai
Trang 40Lê Nguyên Kế (1963) [27] khi nghiên cứu về những yêu cầu của đất trồng, giống,mật độ trồng tre, đã đưa ra kết luận: đất trồng phải có tầng đất dầy, không úng ngập, dễthoát nước, giống trồng phải tốt, chọn cây không dưới 8 tháng đến 1,5 năm tuổi HoàngXuân Tý (1972) [58] khi nghiên cứu về đất trồng tre thuần loài đã cho biết, trồng treDiễn và Tre gai thuần loài làm cho tính chất vật lý của đất bị thoái hóa nhanh chóng,giảm hàm lượng mùn, đạm, lân và kali Do vậy khuyến cáo không nên trồng rừng tretrúc thuần loài, mà phải trồng xen với cây gỗ để đảm bảo độ phì của đất.
Phạm Văn Điển và cs (2009) [18] khi nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng cây
Bương (Sinocalamus flagelliter) đã cho biết cây Bương ưa đất bằng phẳng, ven chân núi,
dọc theo sông suối, quanh làng bản, thường được trồng trên đất feralit mùn trên núi đấtgiàu mùn, hơi ẩm, tơi xốp hoặc hơi chặt, có kết cấu hạt hoặc viên, thành phần cơ giới thịtnhẹ, đá lẫn trung bình Đặc biệt phát triển tốt ở các loại đất có nguồn gốc đá vôi
Nguyễn Huy Sơn và cs.(2013) [44] cho rằng có thể trồng Bương mốc trênnhiều loại đất khác nhau, độ dày tầng đất từ 50 cm trở lên, nhưng tốt nhất là đất pháttriển trên các loại đá phiến sét, sa thạch, đá vôi hay đất dốc tụ và bồi tụ, giàu mùn ởven sông suối, đất tơi xốp, ẩm và thoát nước tốt
Tóm lại: Ở Việt Nam, các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng đã xác định được loại đất thích hợp đối với một số loài tre trúc như Luồng, Diễn, Tre gai, Bương mốc, Bương Đối với lĩnh vực trồng thâm canh tre trúc đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh.
1.2.3.2 Nghiên cứu về mật độ trồng tre trúc
Kết quả nghiên cứu về mật độ trồng tre trúc trong một số tài liệu chưa có sựthống nhất như: Ngô Quang Đê, (1994) [15] chọn mật độ trồng các loài mọc cụmnhư Luồng, Diễn nếu đất bằng và trồng thuần loài có thể trồng mật độ trồng 500 -
670 bụi/ha; nếu trồng hỗn loài thì chỉ nên 200 - 400 bụi/ha (cự ly 5 x 10 m hoặc 4 x
6 m); Anh Tùng (1999) [56] cho rằng đối với Điềm trúc mật độ 400 - 500 bụi/ha,còn Lục trúc chọn mật độ 500 - 625 bụi/ha; Đỗ Văn Bản (2005) [ lại cho rằng mật
độ trồng Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao là 400 - 625 bụi/ha
Đối với loài Bương mốc theo Nguyễn Huy Sơn và cs (2013) [44] cho rằng tùythuộc vào đặc điểm địa hình cụ thể nơi trồng rừng, có thể áp dụng một trong những