1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

54 thuc trang quan ly chat thai ran sinh hoat cua cac do thi o VN

7 416 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 31,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị ở việt nam hjsfhshfdhdhshjhfsjbvjdvjsjvdfjbnjcxvbsrthgfhdhfggbfdgffdbbdgbfdfdgfg đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho quận tân bình tp hcm×

Trang 1

Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt của các đô thị ở Việt Nam và giải pháp

Đi kèm với sự phát triền kinh tê là các vân đê ô nhiêm môi trường, trong đó

có vân đê ô nhiêm do chất thải rắn Chất thải rắn (CTR) gia tăng nhanh chóng về lượng, thành phần ngày càng phức tạp và vân chưa được phân loại tại nguồn, gây khó khăn cho công tác xử lý Mô hình thí điếm áp dụng phân loại CTR tại nguồn còn nhiều bất cập như sau khi người dân phân loại, CTR lại bị đô chung vào cùng một xe vận chuyên; Các đô thị chưa quy hoạch các điếm tập trung CTR và thiêu các trạm trung chuyên CTR; Việc tô chức quản lý CTR còn chông chéo, thiêu thông nhát cả ở cáp Trung ương và địa phương Trước thực trạng đó, tác giả đã đê xuất một sô giải pháp nham tháo gỡ những tình trạng này

Mở đầu

Công cuộc công nghiệp hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, vói sự hình thành và phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng là động lục thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, đi kèm vói sự phát triển kinh tế đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm do CTR

Việc thu gom, vận chuyến, xử lý và tiêu hủy CTR đã và đang trở thành một bài toán khó đối vói các nhà quản lý CTR gia tăng nhanh chóng về lượng, đa dạng

về thành phần và chưa được phân loại tại nguồn, gây khó khăn cho các công tác xử lý

Công tác thu gom, quản lý CTR đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra

1 Tình hình phát sinh CTR đô thị trong những năm gần đây

Tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình lo - 16% mỗi năm, trong đó CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị

Từ kết quả dự báo ở bảng trên thì lượng CTR sinh hoạt đô thị năm 2015 tăng gấp 1,6 lần, năm 2020 tăng 2,37 lần, năm 2025 gấp 3,2 lần so vói năm 2010 CTR gia tăng có nguyên nhân do dân số đô thị tăng (từ 25,5 triệu năm 2009 lên 52 triệu năm 2025) và do bình quân CTR/đầu nguôi tăng (0,95kg/ngưòi/ngày năm 2009 lên

Trang 2

l,6kg/ngưòi/ngày năm 2025) Đây sẽ là áp lục lớn đối với công tác quản lý CTR đô thị trong thòi gian tói

2 Công tác phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải rắn đô thị

3R (Reduce, Reuse, Recycle), hay 3T (Tiết giảm, Tái sử dụng, Tái chế) vói nền tảng cơ bản là hoạt'động phân loại tại nguồn Phân loại CTR tại nguồn có ưu điểm: Giảm được lượng chất thải phải xử lý -> Tiết kiệm được chi phí xử lý; Tiết kiệm tài nguyên do tái chế, tái sử dụng chất thải -> Khai thác ít tài nguyên thiên nhiên -> Giảm tác động đến môi trường

Các thành phố áp dụng thử nghiệm phân loại rác tại nguồn như TP HCM, Hà Nội, Đà Nang đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên, chương trình này vẫn chưa được triển khai rộng rãi vì nhiều lý do như: Chưa đủ nguồn lực tài chính

để mua sắm trang thiết bị, đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực thực hiện; CTR sau khi được người dân tiến hành phân loại tại nguồn lại bị thu gom và đổ lẫn lộn vào xe vận chuyển để mang đến bãi chôn lấp chung; Tỷ lệ người dân tự nguyện tham gia phân loại rác chỉ chiếm khoảng 70%, một số người tham gia cũng thực hiện chưa tốt

Công tác thu gom CTR đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu Tuy tỷ lệ thu gom ở các đô thị tăng

từ 72% năm 2004 lên 80% - 82% năm 2008 và đạt khoảng 83 - 85% năm 2010 nhưng vẫn còn khoảng 15 - 17% CTR đô thị bị thải bỏ bừa bãi gây ô nhiễm môi trường

Quyết định 04/2008/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về quy hoạch xây dựng đưa

ra quy chuẩn về tỉ lệ thu gom: Đô thị đặc biệt và loại ì là 100%, đô thị loại li > 95%, đô thị loại IU - IV > 90%, đô thị loại V > 85% Tính đến nay, tỷ lệ thu gom của phần lớn các đô thị vẫn chưa đạt được Quy chuẩn này

Để giải được bài toán quản lý CTR hiện nay nhất thiết phải xây dựng lộ trình phân loại CTR tại nguồn, đặc biệt là khi triển khai các dự án này, phải tính toán các phương tiện, trang thiết bị thu gom các loại CTR riêng biệt và vạch tuyến thu gom cho từng loại CTR, tránh tình trạng sau khi người dân phân loại rồi các đơn vị thu gom lại đổ vào cùng một xe thu gom lẫn lộn Các tuyến xe thu gom phải tính toán thiết kế sao cho quãng đường đi thu gom là ngắn nhất, số lượng xe cần thu gom ít nhất và tránh dồn vào cùng một tuyến đường gây áp lực giao thông

Hiện nay phương thức thu gom CTR sơ cấp (từ nơi phát sinh đến điểm tập trung CTR) dùng xe đẩy tay 3 bánh đi qua các nhà đang bộc lộ những hạn chế:

Trang 3

*Phương tiện cũ kỹ và lạc hậu, bị dò nước ri rác trong quá trình đẩy xe đi thu gom

*Các xe đẩy tay thường chở quá tải làm cho rác bị roi vãi dọc tuyến đường thu gom

*Người dân chỉ được đổ rác Ì ngày/lần, nhiều khi muốn dọn rác không có chỗ

để đổ nên cứ cho vào túi nilon rồi vút ra đường, gây mất mỹ quan đô thị và ảnh hưởng xấu đến môi trường

Phương thúc thu gom thứ cấp (từ điểm tập trung đến trạm trung chuyển hoặc khu xử lý CTR) hiện thường dùng các xe nén ép có dung tích lớn từ 8 - 15m3, thậm chí đến 20m\ điều này có những hạn chế sau:

*Xe chỉ đi thu gom được trên những đường lớn nên CTR từ các hộ gia đình trong ngõ phải vận chuyển khá xa để ra đường lớn đến điểm tập kết CTR

*Xe chỉ được phép hoạt động trong một số giờ nhất định để không ảnh hưởng đến giao thông đô thị Do đó CTR bị tồn đọng trong đô thị

Giải pháp thu gom sơ cấp là tổ chức thu theo nhóm nhà Ngoài vỉa hè, trước cửa một nhóm nhà sẽ bố trí các thùng đựng rác với dung tích và màu sắc khác nhau Các thùng đựng rác này kích thước vừa phải, có nắp đậy, dán nhãn ký hiệu loại rác được bỏ và phải được dọn thường xuyên, không gây mất cảnh quan và gây mùi khó chịu cần phải tổ chức thu gom nhiều lần trong ngày với các phương tiện nhỏ, phù họp vệ sinh như xe đẩy ba bánh cải tiến (thùng chứa rác chia ngăn đựng các loại rác khác nhau, có nắp cho từng ngăn để khi đổ loại rác nào vào xe nén ép thì khóa nắp các ngăn còn lại) Xe thu gom có gắn động cơ để thu gom nhanh chóng vận chuyển về các xe ép rác nhỏ

Phương án đề xuất thu gom thứ cấp là chuyển sang các loại xe thu gom có kích thuốc nhỏ từ Ì ,5 - 2,5 tân, đi được vào các ngõ và hoạt động thường xuyên trong ngày để không gây tồn lưu CTR trong đô thị Khu vực nào có đường xá rộng thì có thể dùng xe đến 5 tấn để thu gom Các xe này sau đó sẽ tập kết CTR tại các trạm trung chuyển để chuyển sang các xe có dung tích lớn hon đưa CTR đến khu

xử lý Mô hình thu gom là hình thức thu gom bên lề đường: Các hộ gia đình đặt các túi rác đã buộc (tốt nhất là loại túi rác tự hủy) trước cửa nhà theo thòi gian quy định, xe thu gom đến vận chuyển CTR đi luôn Đối vói các đô thị nhỏ hoặc các khu phố chật hẹp, đề xuất thêm hình thúc thu gom theo khối (các gia đình trong ngõ mang CTR ra đầu ngõ có xe thu gom đứng chờ sẵn)

3 Quy hoạch các điểm tập trung CTR, các trạm trung chuyển CTR

Trang 4

Hiện nay, hầu hết các đô thị Việt Nam đều chưa có quy hoạch khu tập trung CTR Các xe đẩy tay thu gom CTR lạc hậu, không có nắp đậy và chất CTR quá tải, được tập trung ngay dưới lòng đường, sau đó chờ xe ô tô nén ép vói tải trọng từ 7 -

lo tấn đến cẩu lên xe và vận chuyển đi xử lý, gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị và ách tắc giao thông

Việc quy hoạch xây dựng cải tạo các khu tập trung CTR đối vói khu đô thị cũ thường phức tạp hơn các khu đô thị mói Giải pháp quy hoạch là:

Đối vói các khu đô thị cũ: Diện tích đất đô thị dành cho việc xây dựng các điểm tập trung CTR và các trạm trung chuyển rất hạn chế Do đó cần hạn chế tối

đa bố trí các điểm tập kết cố định (là những khu đất dành sẵn để bố trí vị trí đặt thùng rác và xe ra vào thu gom), nên thay thế bằng các điểm tập kết di động (là những điểm xe tải nhỏ đứng chờ sẵn) CTR sau khi được các xe đẩy tay cải tiến thu gom tập trung tại điểm cẩu vào một giờ nhất định, được xe nén ép đến thu gom luôn, hạn chế thòi gian rác lưu tại điểm tập trung

Đối vói khu đô thị mói: Thiết kế khu tập trung CTR gồm: diện tích để thùng rác, diện tích đất dành cho giao thông, sân bãi, diện tích cây xanh Nền sân để các thùng rác phải cao ráo, không bị ngập úng; có bố trí vòi nước để tiện cho công tác

vệ sinh và tẩy rửa thùng chứa Khi bố trí các công trình này trong quy hoạch, cần phải lưu ý đến yếu tố mặt bằng thuận tiện cho công việc bốc dỡ, đảm bảo vệ sinh môi trường, có thể có tường bao và cây xanh cách ly vói khu vực xung quanh và phải đảm bảo đủ diện tích tập kết CTR của các điểm thu gom

Một trong những bất cập của các đô thị hiện nay trong công tác thu gom CTR

là thiêu các địa điểm trung chuyển rác Vói các đô thị mói: Nhất thiết phải có quy hoạch cho noi trung chuyển tạm thòi

Yêu cầu đối vói trạm trung chuyển CTR là phải tiếp nhận và vận chuyển hết CTR trong thời gian không quá 48 tiếng; Phải có bãi đỗ xe vệ sinh chuyên dùng, có

hệ thông thu gom nước rác và xử lý sơ bộ; Khoảng cách an toàn môi trường của trạm trung chuyển CTR > 20m; Các trạm có hệ thống nén ép hiện đại để giảm tối

đa thể tích cần vận chuyển

4 Xử lý CTR đô thị

Cơ sở lựa chọn phương pháp xử lý CTR:

+ Thành phần, đặc tính và khôi lượng CTR

+ Điều kiện khí hậu thổ nhưỡng, địa chất công trình, địa chất thủy văn, phong tục tập quán của địa phương

Trang 5

+ Yêu cầu mức độ kỹ thuật, vệ sinh môi trường.

+ Trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cán bộ, công nhân

+ Nhu cầu thị trường về sử dụng các sản phẩm từ việc xử lý CTR

+ Khả năng tài chính của địa phương (vốn đầu tư và chi phí vận hành, duy tu sửa chữa )

a Xử lý bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh

Chôn lấp họp vệ sinh là phương pháp chôn lấp an toàn vói các lóp chống thấm thành và đáy, hệ thông thu gom nước rác, khí rác, lóp đất phủ trung gian và phủ bề mặt, kèm theo việc rắc các chế phẩm sinh học làm tăng quá trình phân hủy rác thải

và giảm mùi

Hiện nay, nhiều đô thị chưa có bãi chôn lấp (BCL) họp vệ sinh và nhà máy xử

lý rác, mà chủ yếu là chôn lấp và đốt tại các BCL không họp vệ sinh Các BCL không được quy hoạch và phân bố nhỏ lẻ Nhiều bãi trước đây nằm cách xa khu dân cư nhưng do đô thị mở rộng nên chúng nằm trong khu vực nội thị, gây ra nhiều vấn đề tiêu cực đến môi trường Toàn quốc hiện có 98 BCL CTR tập trung ở các thành phố lớn đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi họp vệ sinh

Khoảng cách an toàn đối với BCL CTR hỗn họp > Ì OOOm; BCL CTR vô cơ

> lOOm; Nhà máy xử lý CTR (đốt có xử lý khí thải, sản xuất phân hữu cơ) > 500m Cơ sở xử lý phải bố trí ngoài phạm vi đô thị, cuối hướng gió chính, cuối dòng chảy của sông suôi, xung quanh phải trồng dải cây xanh cách ly có chiều rộng > 20m; không được bố trí ở vùng thường xuyên bị ngập nước, vùng cax-tơ, vùng có vết đút gãy kiến tạo

b Công nghệ ủ sinh học

Để tăng khả năng tái sử dụng của CTR thì xử lý rác bằng phương pháp chế biến CTR thành phân bón là một phương pháp cần được phát triển Đặc điểm chung của CTR đô thị ở nước ta là có thành phần hữu cơ cao, sau khi được phân loại rất thích họp để chê biến làm phân bón bằng phương pháp lên men tự nhiên hoặc lên men cưỡng bức Có thể chọn công nghệ phân hủy dùng vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí Tuy nhiên để tiến hành chế biến phân bón từ CTR cần có các biện pháp phân loại CTR từ nguồn, điều đó sẽ đảm bảo chất lượng phân bón được tạo ra

c Phương pháp đốt

Đây là phương pháp xử lý triệt để nhất nhưng cần vốn đầu tư ban đầu lớn nên thường áp dụng để xử lý CTR y tế hoặc các loại CTNH Tuy nhiên, nếu có các điều

Trang 6

kiện thuận lợi như: Đầu tư nước ngoài dưới dạng BÓT, đầu tư vói vốn ODA và gần các nguồn nguyên liệu như than, dầu, khí đốt thì có thể áp dụng phương pháp này

để thu hồi năng lượng dưới dạng điện năng thương phẩm Các loại lò đốt nhỏ đa buồng có nhiệt độ trong buồng đốt thích họp và có hệ thống xử lý khói, bụi, mùi hiện đại cần được đầu tư xây dựng

Công nghệ xử lý CTR tại Việt nam trong thời gian tói cần phải được phát triển theo hướng giảm tối đa lượng rác thải chôn lấp, tăng tỷ lệ tái chế, tái sử dụng Theo Quy chuẩn Xây dựng so 04/2008, tỷ lệ CTR chon lấp không được vượt quá 15% tổng lượng CTR Tất cả các đô thị ở Việt Nam đều chưa đạt được Quy chuẩn này

Tỷ lệ CTR được chôn lấp hiện chiếm khoảng 76 - 82% lượng CTR thu gom được

5 Vấn đề tài chính

Một vấn đề cần quan tâm hiện nay là chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý CTR ngày càng lớn nhưng mức thu phí vệ sinh cho các hộ gia đình quá thấp (trung bình khoảng từ 1.000 - 5.000 đồng/người/tháng), tạo gánh nặng lớn cho ngân sách địa phương Dựa trên các tính toán cơ bản về tổng vốn đầu tư, chi phí vận hành, chi phí quản lý, khấu hao, lạm phát thì mức xử lý rác năm 2011 là 17 - 18USD/tấn, tương đương khoảng 350.000 đồng/tấn (theo Báo cáo Môi trường quốc gia 2011) Mỗi người dân đô thị phát sinh khoảng Ì kg/ngày hay 0,03 tấn/tháng, vậy nếu chỉ tính chi phí xử lý (chưa tính chi phí thu gom, vận chuyển CTR), mỗi người dân phải nộp khoảng 10.500 đồng/tháng Do đó, cần tăng mức thu phí vệ sinh, đặc biệt

có thể tính toán phương án để thu phí theo lượng rác phát sinh thực tế của từng hộ gia đình, nhằm từng bước xóa bao cấp trong lĩnh vực này Đặc biệt, cần có chính sách hỗ trợ đầu tư cho các công nghệ mới để giảm lượng CTR chôn lấp Có như vậy, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt tại các đô thị mói hy vọng được cải thiện theo chiều hướng tốt hơn

Kết luận

Để công tác quản lý CTR đạt hiệu quả, việc quy hoạch quản lý CTR cần phải được triển khai đồng bộ Cần tiến hành thực hiện phân loại CTR tại nguồn, vạch tuyến thu gom riêng từng loại CTR, vận chuyển theo các tuyên lộ trình đã được quy hoạch họp lý; Phải quy hoạch bố trí các điểm tập trung CTR tránh tình trạng thu gom ngay dưới lòng đường; Quy hoạch các trạm trung chuyển CTR cho đô thị; Công nghệ xử lý CTR hướng tới việc thân thiện vói môi trường, vận hành đơn giản

và ít tôn kém, phù họp với điều kiện của Việt Nam và đảm bảo tiêu chí tỷ lệ chôn lấp chỉ còn dưới 15%, tăng cường tỷ lệ tái chế và tái sử dụng CTR Bên cạnh đó,

Trang 7

cần tăng phí vệ sinh của các hộ gia đình nhưng phải minh bạch, công khai các khoản tiền đóng góp này Đặc biệt, cần làm tốt công tác tuyên truyền vận động thông qua chương trình giáo dục ở trường học và các phương tiện thông tin đại chúng để người dân phân loại rác ngay tại nguồn, không vứt rác bừa bãi, tự nguyện đóng góp phí vệ sinh đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ TN&MT, 2011, Báo cáo Môi trường quốc gia 2011 - Chất thải rắn

2. Cù Huy Đấu, Trần Thị Hường, Quản lý CTR đô thị, 2009 - NXB Xây dựng

3. Nghị định sô 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quản lý CTR

4. Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tống hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đen năm 2050

Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về việc ban hành "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vê Quy hoạch Xây dựng

TCMT 04/2013

Ngày đăng: 23/03/2017, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w