1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)

142 386 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

MÃ SỐ: B2014 – TN03- 07

Chủ nhiệm đề tài: TS.Vũ Minh Tuyên

Thái Nguyên, 12/2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

MÃ SỐ: B2014 – TN03- 07

Xác nhận của cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài

TS Vũ Minh Tuyên

Thái Nguyên, 12/2016

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

TT Họ và tên Đơn vị công tác và lĩnh vực

Chủ nhiệm đề tài

2 TS Ngô Giang Nam Phòng QLKH - QHQT,

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

Thư ký đề tài

3 TS Ngô Thị Lan Anh Triết học, Khoa Giáo dục

chính trị, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

Tổ chức hội thảo, nghiên cứu thu thập tài liệu, viết chuyên

đề, bản thảo

4 TS Nguyễn Thị Khương Triết học, Khoa Giáo dục

chính trị, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

Xử lý tài liệu, tham gia viết chuyên đề, hội thảo

5 ThS Nguyễn Thị Mão Kinh tế chính trị, Khoa Giáo

dục chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Xử lý tài liệu, tham gia viết chuyên đề, hội thảo

6 ThS Vũ Thúy Hằng Triết học, Khoa Giáo dục

chính trị, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

Thu thập tư liệu, xử

lý thông tin, viết chuyên đề, tổ chức hội thảo

7 PGS.TS Đàm Thị Uyên Lịch sử Việt Nam, Đại học

Thái Nguyên

Cung cấp tư liệu, thẩm định đê tài, viết chuyên đề, hội thảo

Trang 4

DANH SÁCH ĐƠN VỊ PHỐI HỢP

Tên đơn vị trong và ngoài

PGS TS Hà Thị Thu Thủy

Viện Tôn giáo, Viện Khoa

học Xã hội Nhân văn

Cung cấp và phân tích tư liệu

PGS TS Trần Văn Phòng

Khoa Triết - Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội

Cung cấp và phân tích tư liệu

PGS TS Trần Đăng Sinh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên 3

4.1 Cách tiếp cận 3

4.2 Phương pháp nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 QUÁ TR NH DU NH P, PHÁT TRI N CỦA PH T GIÁO TRONG CỘNG Đ NG CÁC D N TỘC THI U S V NG Đ NG B C VI T NAM 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 5

1.2 Khái lược về sự hình thành và quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Việt Nam 13

1.3 Sức lan t a và đặc điểm của Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c 21

Kết luận chương 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PH T GIÁO TRONG ĐỜI S NG CÁC D N TỘC THI U S V NG Đ NG B C VI T NAM 38

2.1 Thực trạng Phật giáo trong đời sống chính trị các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam 38

2.2 Thực trạng Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng, phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam 48

Trang 6

2.3 Thực trạng Phật giáo trong đời sống đạo đức các dân tộc thiểu số v ng

Đông B c Việt Nam 65

2.4 Thực trạng Phật giáo trong đời sống văn hóa, nghệ thuật các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam 73

2.5 Tác dụng trực tiếp của Giáo hội Phật giáo các t nh Đông B c Việt Nam đến hoạt động Phật giáo của nhân dân v ng Đông B c 79

2.6 Sức đề kháng của Phật giáo đối với các tôn giáo khác ở v ng Đông B c Việt Nam 85

Kết luận chương 2 89

CHƯƠNG 3 MỘT S GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ MẶT TIÊU CỰC CỦA PH T GIÁO TRONG ĐỜI S NG CÁC D N TỘC THI U S V NG Đ NG B C VI T NAM 90

3.1 Tôn trọng, bảo vệ và quản lý tốt hoạt động của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam 90

3.2 Giải pháp kh c phục những hạn chế của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam 99

Kết luận chương 3 110

KẾT LU N VÀ KHUYẾN NGHỊ 111

1 Kết luận chung 111

2 Khuyến nghị 112

DANH MỤC TÀI LI U THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 120

Trang 8

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt

Nam

- Mã số: B2014 - TN03 - 07

- Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Minh Tuyên

- Tổ chức chủ trì: Đại học Thái Nguyên

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2016

2 Mục tiêu:

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở làm sáng t quá trình du nhập, phát triển và đặc điểm của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c, phân tích thực trạng Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số ở các t nh miền núi Đông B c, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật

giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam hiện nay

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm sáng t quá trình du nhập, phát triển và đặc điểm của Phật giáo trong

cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c dân tộc Tày, N ng, Dao, Sán Dìu

- Phân tích làm sáng t thực trạng Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu

số ở các t nh miền núi Đông B c Việt Nam

- Đề xuất đƣợc các giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào thiểu

số v ng Đông B c

3 Tính mới và sáng tạo:

- Làm sáng t đƣợc quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo trong đời

sống cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam

Trang 9

trong đời sống chính trị, tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hóa nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam

- Đưa ra được hệ thống giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào thiểu số v ng Đông B c

4 Kết quả nghiên cứu:

- Khái quát về sự hình thành, quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Việt Nam nói chung và Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c nói riêng, ch ra được những đặc điểm cơ bản của Phật giáo v ng miền núi Đông

B c Việt Nam

- Phân tích thực trạng Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông

B c Việt Nam ở các lĩnh vực như: đời sống chính trị, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật Từ đó, thấy được vai trò quan trọng của Giáo hội Phật giáo các t nh Đông B c Việt Nam trong việc tổ chức các hoạt động Phật giáo cho nhân dân địa phương Đồng thời, khẳng định được sức đề kháng của Phật giáo đối với các tôn giáo khác ở v ng Đông B c Việt Nam

- Đề xuất được hai nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam

5 Sản phẩm:

5.1 Bài báo khoa học

[1] Vũ Minh Tuyên 2015 , "Đạo làm người trong nhân sinh quan Phật giáo", Kỷ

yếu hội thảo quốc gia "Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam", Nxb Lý luận chính

trị, Hà Nội, tr 182 - 188

[2] Đàm Thị Uyên, Ngô Thị Lan Anh 2014 , "Tín ngưỡng, tôn giáo của người Dao

ở Cao Bằng", Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 02 (128), tr 108 - 115

[3] Ngô Thị Lan Anh 2015 , "Ảnh hưởng triết lý Phật giáo đến văn hóa tinh thần

của người Việt Nam", Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, 133

(03), tr 37 - 43

Trang 10

các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam", Tạp chí Khoa học và Công nghệ

Đại học Thái Nguyên, 6 (166), năm 2017, tr 50 - 58

5.2 Sách chuyên khảo

[5] Vũ Minh Tuyên, Ngô Thị Lan Anh 2016 , Phật giáo trong cộng đồng các dân

tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên

5.3 Sản phẩm đào tạo

[6] Đỗ Thị Hương 2014 , Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần

đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội

6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu:

- Phương thức chuyển giao:

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các trường Đại học, Cao đẳng, các cơ sở nghiên cứu về Phật giáo của các t nh Đông B c Việt Nam

Trang 11

1 General information:

- Project title: Buddhist in the life of ethnic minorities Northeast Vietnam

- Code number: B2014 - TN03 - 07

- Coordinator: Dr Vũ Minh Tuyên

- Implementing institution: Thai Nguyen University

- Duration: from 01/2014 to 12/2016

2 Objectives:

2.1 The general objective

On the basis of clarifying the process of importation, development and characteristics of the Buddhist in the community of minorities Northeast, analyze the situation of Buddhism in the life of ethnic minorities in mountainous provinces Northeast, which proposed solutions that promote positive values and limited negative side of Buddhism in the life of ethnic minorities Northeast Vietnam today

2.2 Specific objectives

- Clarifying the process of importation, development and characteristics of the Buddhist in the community of ethnic minorities Northeast (Tay, Nung, Dao and San Diu)

- Analysis clarify the status of Buddhism in the life of ethnic minorities in the mountainous provinces Northeast Vietnam

- Propose solutions to promote positive values and limit the negative side of Buddhism in the life of ethnic minorities Northeast to contribute the preservation and promotion of the traditional cultural values of ethnic minorities in the Northeast

3 Creativeness and innovativeness:

- Clarifying the process of importation and development of Buddhism in the community life of ethnic minorities Northeastern Vietnam

- To appreciate the reality of affecting and the Buddhism’s changes in political life, beliefs, customs, ethics, art and culture of the community of ethnic minorities Northeastern Vietnam

Trang 12

side of Buddhism in the life of ethnic minorities Northeast to contribute the preservation and promotion of the traditional cultural values of ethnic minorities in the Northeast

4 Research results:

- Overview on the formation, the process was introduced, development of Buddhism in Vietnam in general and Buddhism in the community of ethnic minorities Northeast in particular, indicate the basic characteristics of the Buddhism

in the mountainous areas of Northeast Vietnam

- Analysis of the actual situation in the life of the Buddhist minorities in Northeast Vietnam fields such as politics, religion, customs, traditions, ethics, culture and art From there, considering the important role of the Buddhist Association Northeast provinces Vietnam in the organization of Buddhist activities for the local people Simultaneously, confirmed the resistance of Buddhism to other religions in Northeastern Vietnam

- Proposed two basic groups solutions to promote positive values and limit the negative side of Buddhism in the life of minorities Northeast Vietnam

5 Products:

5.1 Journal articles

[1] Vu Minh Tuyen (2015), "Human behaviour in the Buddhist worldview,"

Proceedings of the National Workshop "Human behaviour in Vietnam’s culture",

Publishing House political theory, Hanoi, pp 182 - 188

[2] Dam Thi Uyen, Ngo Thi Lan Anh (2014), "Belief and religion of the Dao in

Cao Bang", Journal of Religious Studies, 02 (128), pp 108 - 115

[3] Ngo Thi Lan Anh (2015), "Influence Buddhist philosophy to the spirit of the

culture of Vietnam", Journal of Science and Technology Thai Nguyen University,

133 (03), pp 37 - 43

[4] Vu Minh Tuyen, Ngo Thi Lan Anh (2017), "Buddhism in the moral life of

ethnic minorities Northeast Vietnam", Journal of Science and Technology Thai

Nguyen University, 06 (166), pp 50 - 58

5.2 Monographs books

Trang 13

ethnic minorities Northeastern Vietnam, Thai Nguyen University Publishing house 5.3 Educating product

[6] Do Thi Huong (2014), The influence of Buddhism on the spiritual life of ethnic

minority Thai Nguyen province today, master's thesis in philosophy, Hanoi

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo vào Việt Nam từ khoảng những năm đầu công nguyên và trở thành một trong những tôn giáo lớn ở nước ta Phật giáo đi vào đời sống của người Việt Nam như là một yếu tố không thể b qua khi nhận định về các vấn đề lịch sử, tư tưởng, văn hoá, văn minh, đạo đức của dân tộc C ng với đạo Khổng, đạo Lão, Phật giáo đã mang lại những bản s c văn hoá độc đáo, làm đa dạng hơn nền văn hoá Việt Nam Trong bài xã luận của tạp chí Phật giáo Việt Nam đã viết: Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam thật đã sẵn có mầm mống tinh thần Phật giáo Hèn gì mà Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần hai ngàn năm nay, bao giờ cũng theo nhau như bóng với hình trong cuộc sống, sinh hoạt toàn cầu Đã là viên đá nền tảng cho văn hóa dân tộc, cố nhiên Phật giáo Việt Nam vĩnh viễn phải là một yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện

C ng với những biến đổi mạnh mẽ của đời sống xã hội, từ sự tác động của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Phật giáo ở nước ta hiện nay đang có xu hướng phục hồi và phát triển Đây là một

hệ quả tất yếu vì Phật giáo có năng lực nội sinh thích ứng mạnh mẽ trước các điều kiện hiện thực đang biến đổi Trải qua quá trình du nhập, phát triển c ng với sự thăng trầm của lịch sử dân tộc, qua quá trình Việt hoá, Phật giáo đã trở thành một

bộ phận không thể tách rời trong di sản văn hóa Việt Nam Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Phật giáo đã để lại những dấu ấn sâu s c trong đời sống tâm linh, văn hóa, đạo đức của con người Việt Nam, đồng thời còn có những đóng góp đáng kể vào

công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Trong số các tôn giáo ảnh hưởng tới đời sống các dân tộc v ng Đông B c Việt Nam, Phật giáo là tôn giáo có sự ảnh hưởng nhiều hơn cả Chính những giáo lý từ

bi, hỷ, xả, hướng con người tới cái thiện, xa rời cái ác, sống nhân văn, đạo đức đã làm cho Phật giáo trở nên có sức hấp dẫn lớn đối với các dân tộc v ng Đông B c Hình ảnh ông Bụt, ông Pựt, Pụt Luông, Dàng… đã đi vào đời sống các dân tộc thiểu

số Do những yếu tố lịch sử và địa lý quy định, hình ảnh Phật Thích Ca ở Ấn Độ khi vào Việt Nam hòa nhập với tín ngưỡng dân gian bản địa đã có sự chuyển hóa thành “ông Bụt” "ông Dàng" “Hình ảnh ông Bụt” trở nên quen thuộc đối với người dân các t nh v ng núi Đông B c đặc biệt là ở các dân tộc Tày, N ng, Dao…

Họ coi Bụt như là đấng sáng thế, là nơi gửi g m niềm tin, ước vọng của con người, cũng như là điểm tựa tinh thần mỗi khi họ gặp khó khăn, mất mát, bế t c trong cuộc sống Điều này cho thấy sự tiếp biến văn hóa của Phật giáo trong đời sống các dân

Trang 15

tộc nơi đây Chính bởi lẽ đó mà các dân tộc thiểu số v ng Đông B c đã thừa nhận Phật giáo như một tôn giáo bản địa, hơn thế nữa Phật giáo còn tạo ra sức mạnh đề kháng với các tôn giáo khác

Với vị trí địa lý quan trọng, nằm giáp ranh biên giới Trung Quốc với hệ thống các cửa khẩu Hữu Nghị Quan, Tân Thanh, Thanh Thủy, Móng Cái, Tà L ng… c ng

hệ thống giao thông thuận lợi các tuyến quốc lộ 1A, 1B, quốc lộ 2, quốc lộ, 34A, 4B, … là điều kiện tốt để các t nh miền núi Đông B c mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với nước láng giềng Trung Quốc Vì thế, Phật giáo còn có những đóng góp quan trọng trong việc giúp các dân tộc thiểu số v ng Đông B c bảo

vệ vững ch c v ng biên cương của Tổ quốc

Bởi vậy, việc nghiên cứu Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c là một vấn đề cấp thiết không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn, nhằm đánh giá đúng hơn về quá trình tiếp nhận và biến đổi của Phật giáo ở Việt Nam nói chung và ở các t nh miền núi Đông B c nói riêng

Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:

Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam

2 Mục tiêu đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở làm sáng t quá trình du nhập, phát triển và đặc điểm của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c, phân tích thực trạng Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số ở các t nh miền núi Đông B c, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật

giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam hiện nay

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm sáng t quá trình du nhập, phát triển và đặc điểm của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c dân tộc Tày, N ng, Dao, Sán Dìu

- Phân tích làm sáng t thực trạng Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu

số ở các t nh miền núi Đông B c Việt Nam

- Đề xuất được các giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào thiểu

số v ng Đông B c

Trang 16

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, những tác động của các triết lý, nghi lễ Phật giáo đến đời sống của nhân dân Việt Nam

- Về phạm vi nghiên cứu: Quá trình du nhập, phát triển và ảnh hưởng của các triết lý, nghi lễ Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam bao gồm các t nh: Quảng Ninh, Thái Nguyên, B c Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, B c Kạn, Hà Giang ở các lĩnh vực chính trị, tín ngưỡng, phong tục, lối sống, đâọ đức, văn hóa nghệ thuật Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo và những tác động của nó đến đời sống các dân tộc thiểu số v ng miền núi biên giới phía B c là: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh Tuy nhiên, các dân tộc thiểu ở v ng Đông B c bao gồm rất nhiều các dân tộc khác nhau, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi đi sâu vòa nghiên cứu 4 dân tộc thiểu số chủ yếu ở đây là: Tày, N ng, Dao và Sán dìu

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên

4.1 Cách tiếp cận

- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng

- Dựa trên các nguồn tư liệu về lịch sử du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam và trong cộng đồng các dân tộc thiểu số

- Dựa trên các nguồn tư liệu, các kiến giải của các nhà nghiên cứu tôn giáo học, dân tộc học, sử học, văn hóa học Việt Nam về quá trình du nhập, lan t a của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c

- Dựa trên việc khảo sát thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số như: Tày, N ng, Dao… ở các lĩnh vực chính trị, văn hóa, đạo đức, phong tục, tập quán… của cộng tác viên tại các t nh thuộc v ng miền núi Đông B c nước ta Kết hợp với số liệu và tư liệu cung cấp từ các Phòng Tôn giáo của t nh, huyện để có căn cứ sát thực hơn giúp việc đánh giá của đề tài về quá

Trang 17

trình du nhập, phát triển và sự lan t a của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số một cách toàn diện, có hệ thống

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên ngành như triết học, sử học, văn hóa học, xã hội học, dân tộc học, c ng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra

- Các phương pháp khác: sử dụng toán thống kê để xử lí, mô tả, phân tích, giải thích các kết quả thu được nhằm làm tăng độ tin cậy của số liệu định lượng và định tính

Trang 18

CHƯƠNG 1

QUÁ TR NH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Nghiên cứu các công trình nước ngoài về Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới và có ảnh hưởng không nh tới đời sống văn hóa, đạo đức của con người trong quá khứ, cũng như hiện tại Trong quá trình phát triển, du nhập vào các quốc gia, Phật giáo đã có sự lan t a trong đời sống đồng bào các dân tộc góp phần tạo nên những giá trị văn hóa, đạo đức mang đậm

tính nhân văn Cho đến nay, có rất nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài

nước nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về quá trình hình thành, phát triển và

du nhập Phật giáo vào Việt Nam, nhưng có rất ít công trình nghiên cứu về sự du nhập và phát triển của Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số Gần như chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về Phật giáo trong

cộng đồng các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam

Dưới đây, chúng tôi xin khái quát một số các công trình có liên quan tới vấn

đề nghiên cứu:

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu bàn về Phật giáo và quá trình du nhập, lan tỏa của Phật giáo ở Việt Nam

Tác giả Lâm Thế Mẫn, trong tác phẩm Tinh thần và nét đặc sắc của Phật giáo

1996 cho rằng, Phật giáo có nhiều nét đặc s c như: Phật là người không phải là một vị thần linh, Phật là bình đẳng, Phật không phải sinh ra đã biết, Phật giáo không bài xích tôn giáo khác, Phật giáo là từ bi, Phật giáo là tích cực và lạc quan Khi

bàn về vấn đề “Phật giáo không chỉ bàn suông về giáo lý huyền diệu”, tác giả đã

nhấn mạnh đến vai trò to lớn của các giáo lý nhà Phật trong quá trình du nhập vào các quốc gia, nó không ch góp phần làm sâu s c hơn đời sống đạo đức nhân văn của các dân tộc, mà nó còn góp công sức vào công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, phát huy ý thức tự lực tự cường, lòng tự tôn dân tộc, yêu chuộng hòa mình, một xã hội đại đồng, thịnh vượng Vì thế mà, Phật giáo đã bám rễ và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, được nhân dân chấp nhận như một thứ tôn giáo bản địa, và tạo một

vị trí quan trọng trong lịch sử của mỗi dân tộc Theo cách lý giải của tác giả, Phật giáo với tư tưởng từ bi, hỷ xả… nó ph hợp với quần chúng nhân dân và vì vậy

Trang 19

nhân dân ở nhiều quốc gia, nhất các ở Phương Đông trở nên ưa chuộng Đạo Phật, coi Đạo Phật như một tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc mình

"Tinh hoa triết học Phật giáo", Junjro Takakusu, Tuệ sỹ dịch 2008 , tác phẩm

đã khái quát về Phật giáo Ấn Độ và sự du nhập của Phật giáo ở các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam … Trong đó, tác giả tập trung lý giải về vai trò của Phật giáo trong quá trình du nhập tại các quốc gia này Các nguyên lý trong

Phật giáo như duyên khởi, tất định, bất định, tương đối, như thực, viên dung, giải

thoát cứu cánh… đã có những ảnh hưởng lớn tới đời sống nhân dân các nước, bên

cạnh việc tu tập, những giáo lý của Phật giáo đã góp phần hình thành nên một nền văn hóa mang tính nhân văn với các tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn…

"Phật giáo và cuộc sống" của Hòa thượng Ấn Thuận, người dịch Thích Hạnh

Bình 2007 , tác phẩm là sự đánh giá và nhìn nhận của nhà sư Ấn Thuận với những đóng góp to lớn của Phật giáo trong đời sống xã hội Trong đó, nhà sư đã dành rất nhiều trang để nói về giá trị của Phật giáo với khía cạnh là con đường dẫn đến hòa bình cho nhân loại Những tư tưởng về sự bình đẳng, bác ái, những nguyên nhân dẫn đến sự bất hòa, không bình đẳng đều được nhà sư c t nghĩa từ góc nhìn của Đức Phật Ngoài ra, nhà sư cũng phân tích và ch ra các giá trị của triết lý Phật giáo

có sự ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống đạo đức của con người Những giáo lý nhà Phật đã hướng con người tới việc xây dựng một xã hội nhân văn hơn và đây là cơ sở làm cho Phật giáo được nhân dân nhiều quốc gia đón nhận và thực hành theo, trong

đó có Việt Nam

"Sự giác ngộ của Đức Phật", Tom Lowenstein, người dịch Lê Việt Liên

2009 , tác phẩm cũng đã trình bày nội dung về triết lý Phật giáo, những ảnh hưởng của Phật giáo tới đời sống nhân dân các nước có sự xuất hiện của Phật giáo Khi tóm t t quá trình ra đời của Phật giáo từ gốc Ấn Độ, sự phát triển các tông phái Phật giáo qua các quốc gia khác nhau, sự chiếm lĩnh của Phật giáo đối với đời sống nhân dân các dân tộc mà tôn giáo này du nhập tới, tác giả Tom Lowenstein có phân tích các giáo lý nhà Phật như thuyết “Vô ngã”, luật “Nhân quả” và những ảnh hưởng của nó trực tiếp đến các hoạt động con người Việc truyền nhập của Phật giáo ở Châu Á đã đóng góp không nh vào công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, nền hòa bình, độc lập của mỗi dân tộc Đồng thời, nó còn có sự ảnh hưởng tới tư duy, lối sống của nhiều người dân ở các quốc gia Hình ảnh các ngôi ch a, việc thực hiện các nghi lễ thờ cúng, thực hành các giáo lý nhà Phật cho thấy Phật giáo có sự ảnh hưởng lớn trong đời sống nhân dân các quốc gia có sự hiện diện của Phật giáo Tác

Trang 20

giả nhận định: rất nhiều phật tử thấy rằng quá trình thực hành của họ đã giúp họ

mở lòng ra với thế giới một cách sinh động, tin tưởng và trực tiếp [92, tr 2].

Tác phẩm Làm thế nào cứu vãn phong hóa xã hội của Pháp sư Tịnh Không

Thích Giác Thiện dịch, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2003 là một tập hợp những lời đối thoại và giải đáp của ông với những người quan tâm tới đời sống xã hội và Phật giáo Khi lý giải về các vấn đề của đời sống, ông cũng khẳng định những giá trị tích cực của Phật giáo đang tác động mạnh tới nhiều người dân trong suy nghĩ và hành động của họ Trong các triết lý của nhà Phật, Pháp sư có khẳng định: "Bảo tồn Tâm tốt, thấy rõ, buông b , tự tại, t y duyên, niệm Phật Đây chính là làm việc tốt, nói lời tốt, sống tốt, làm người tốt Bốn cái tốt của chúng ta thật đầy đủ Bốn cái tốt không phải là một khẩu hiệu trống rỗng, nó thật cụ thể, rất thực tế, xác thật ch c

ch n trên phương diện sinh hoạt, trên mặt công tác Ch c ch n trên toàn xã hội, chúng ta hy vọng xã hội sẽ hòa vui tốt đẹp Tiêu trừ hết thảy thói quen tội lỗi, có thể đạt được sự cộng tồn, cộng vinh, hợp tác giúp đỡ nhau, đây là một mục tiêu lý tưởng [60, tr 160]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về Phật giáo, đã khái quát được quá trình ra đời, phát triển và những tác động của các giáo

lý nhà Phật đến đời sống xã hội, trong đó có sự tác động không nh tới ý thức dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, ước vọng về một nền hòa bình, xây dựng một nền đạo đức nhân văn, một lối sống vị tha, thanh tịnh, trong sạch Song, chưa có tác phẩm nào đi sâu và phân tích làm nổi bật những tác động của Phật giáo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên đây là những gợi mở về nội dung khoa học và hướng nghiên cứu để tác giả có thể kế thừa và vận dụng làm sáng t các mục tiêu, nhiệm vụ mà đề tài nêu ra

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo các dân tộc thiểu số Việt Nam

Trước 1945, nghiên cứu về các dân tộc thiểu số thuộc ưu thế của các nhà dân tộc học, xã hội học người Pháp, nhờ sự hỗ trợ bởi những phương pháp nghiên cứu

mới được du nhập từ Châu u Tiêu biểu như: Parke E.H với “The Muong

Language” (“Ngôn ngữ Mường”) (1891); P.K Benedct với “Thai, Kadai và

Indonesiens", (“Những tộc người nói ngôn ngữ Thái, Kađai và Inđônêxia”) (1944);

CuisinerJ với “Le Muong Geographic humaine et Sociologie” “Địa nhân văn – xã

hội dân tộc Mường” 1948 … Các nghiên cứu này đã đề cập đến phong tục, tập

Trang 21

quán, ngôn ngữ, đặc điểm nhân chủng của một số tộc người thiểu số ở Việt Nam

trong đó có bàn tới đời sống tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số ở nước ta

Sau năm 1975, xuất phát từ những mục đích và động cơ khác nhau, nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được mở rộng, đặc biệt miền núi phía B c và Tây Nguyên Đáng chú ý là công trình của Donovan

D., Rambo T.A, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên: "Những xu hướng phát triển

ở vùng núi phía Bắc Việt Nam" (1997 Hoặc một số tên tuổi người Mỹ, Nhật và Hà

Lan như Gerald Hickey Mỹ với một loạt nghiên cứu: “Sons of the Mountains

Ethnohistory of the Vietnamese Central Higlands to 1954” “Những đứa con của núi rừng Lịch sử tộc người ở Tây Nguyên Việt Nam cho đến năm 1954” 1982 ;

“Free in the Forest Ethnohistory of the Vietnamese Central Highland 1954 – 1976” “Tự do trong rừng Lịch sử tộc người ở Tây Nguyên Việt Nam 1954 – 1976”)

1982 ; “Shatted World Adaptation and Survival among Vietnam’s Highland

Peoples during the Vietnam War” “Một thế giới bị chia c t Thích ứng và sinh tồn

của các tộc người cao nguyên trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam” 1993 … Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đều ít nhiều đề cập tới những tác động và ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Song, thực chất vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào khái quát về quá trình thâm nhập và biến đổi của Phật giáo trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung và của các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam nói riêng

1.1.2 Nghiên cứu các công trình trong nước về quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam và những tác động của nó trong đời sống các dân tộc thiểu

số nói chung, các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam nói riêng

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu về quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo Việt Nam

Phật giáo từ khi được truyền bá vào Việt Nam đã nhanh chóng được nhân dân Việt Nam đón nhận và coi như tôn giáo bản địa Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống nhân dân

Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu như: Việt Nam Phật giáo sử luận

của Nguyễn Lang 2000 được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những công trình nghiên cứu nghiêm ch nh về Phật giáo Việt Nam Trong tác phẩm này, Nguyễn Lang đã “tìm ra được một kết cấu hợp lý cho bức tranh sống thực của lịch

sử Phật giáo Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX” [62, tr.11] Với cách tiếp cận theo chiều dài lịch sử, tác giả đã ch ra nhiều nét đặc trưng của Phật giáo Việt Nam

Trang 22

Ở một góc độ nhất định, tác giả đã ch ra được những tác động của Phật giáo tới đời sống nhân dân Việt Nam, hình thành lên đội ngũ đông đảo các nhà sư Việt Nam, việc truyền bá của họ đã làm cho Phật giáo ăn sâu và bám rễ vững ch c trên mảnh đất nơi đây

Các tác phẩm như: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1988) do Nguyễn Tài Thư

chủ biên đã trình bày lịch sử hình thành Phật giáo Việt Nam, qua đó khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo này đối với đời sống của người dân Việt Nam Theo các tác giả, nhiều người Việt Nam đã tự nguyện đến với Phật giáo, d ng những giáo lý của nhà Phật như từ bi, h xả, luân hồi, nghiệp báo làm nguyên t c sống cho mình

Ở tác phẩm Lịch sử đạo Phật Việt Nam 2009 , tác giả Nguyễn Duy Hinh đã khái

quát được lịch sử phát triển và ch ra những nét cơ bản của Phật giáo Việt Nam

Thích Minh Tuệ trong Lược sử Phật giáo Việt Nam 1993 , sau khi khái quát về lịch

sử ra đời, phát triển Phật giáo và sự truyền bá của Phật giáo vào Việt Nam từ khi du nhập đến năm 1945, đã phân tích khái quát tư tưởng của các nhân vật Phật giáo lớn của Việt Nam và những ảnh hưởng của các tư tưởng đó đối với đời sống người dân Việt Nam

Bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát 2006 được nhiều người

khẳng định là công trình nghiên cứu sâu s c lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thời kỳ Trần Thánh Tông Tác phẩm đã tái hiện rõ nét các mốc thời gian, niên đại của Phật giáo Việt Nam qua các triều đại và nêu bật những tư tưởng Phật giáo cơ bản của từng thời kỳ Trong đó, tác phẩm cũng

đề cập tới vị trí, vai trò của các danh tăng Việt Nam với tinh thần ý thức về một nền độc lập dân tộc, có những hành động mang tính nhập thế trong việc tham gia vào các hoạt động nhằm giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, an lạc

Tác giả B i Biên Hòa, trong tác phẩm Đạo Phật và thế gian (1998 , đã phác

họa chân dung Đức Phật c ng hệ thống giáo lý của nhà Phật, tư tưởng của các vị Phật và các vị Bồ tát Tác giả đã ch ra vai trò của Phật giáo với đời sống con người, những tư tưởng vị tha của nhà Phật đang được nhiều người đón nhận và thực hành

nó Ở tác phẩm Phật giáo với văn hóa Việt Nam 1999 , tác giả Nguyễn Đăng Duy

đề cập đến sự giao thoa và đóng góp của Phật giáo với nền văn hóa Việt Nam

Trong tác phẩm Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam 2006 , tác giả Mai Thanh

Hải cũng đã ch ra quá trình phát triển và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam…

Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu xoay quanh các nội dung về quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo, những ảnh hưởng của nó đối với lịch sử

Trang 23

phát triển của dân tộc Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội, đạo đức Ở mỗi công trình đều ít nhiều, cung cấp cho tác giả những tư liệu quan trọng để tác giả lựa chọn, nghiên cứu và sáng t nội dung cần triển khai của đề tài

Như ở tác phẩm Triết lý trong văn hoá Phương Đông 2004 , tác giả Nguyễn H ng

Hậu đã trình bày về triết lý văn hoá của người phương Đông, trong đó nhấn mạnh nhiều tới triết lý của Phật giáo và những ảnh hưởng của nó tới tư duy người Việt Trong đó có ý thức về tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc, quyền bình đẳng tự do, khát vọng về một cuộc sống nhân ái, mang tính nhân văn sâu s c Điều này cũng đã ảnh hưởng khá mạnh mẽ tới đời sống một bộ phận đông đảo người dân Việt Nam

"Mấy vấn đề về Phật giáo trong lịch sử Việt Nam", Nguyễn Đức Sự, Lê Tâm

Đ c 2010 , tác phẩm bao gồm tuyển tập những bài viết của hai tác giả bàn về các nội dung giáo lý, quá trình tồn tại, phát triển Phật giáo Việt Nam Trong những năm gần đây, một số công trình khác cũng đề cập tới các chiều khác nhau liên quan đến

vai trò, vị trí và ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống nhân dân như: Đông

phương triết học cương yếu của Lý Minh Tuấn 2005 , Tây Du Ký qua cách nhìn của người học Phật (2008), Triết lý nhà Phật, Lịch sử nhà Phật của Đoàn Trung

Còn (2009), Cơ duyên tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam hiện nay của Vũ Minh Tuyên (2010), Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn

hoá tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu Tuấn 1997 ; Thích Mãn Giác 2007 , Đạo đức học Phương Đông; Nguyễn Duy Hinh 1999 , Tư tưởng Phật giáo Việt Nam

Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, khái quát những hoạt động chung của các

tôn giáo trong đó có Phật giáo Như "Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam ", Ban Tôn giáo Chính Phủ 2006 ; Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt

Nam của tác giả Đặng Nghiêm Vạn 2007 ; Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Đức Lữ 2008 ; Một số tôn giáo ở Việt Nam,

Nguyễn Thanh Xuân 2005 ; Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam: Lý luận

và thực tiễn 2005 của tác giả Đỗ Quang Hưng, … Nhìn chung các công trình

nghiên cứu này đều đã đề cập tới tình hình hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam, trong đó Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn mà sự ảnh hưởng của nó khá sâu đậm trong đời sống nhân dân Việt Nam

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và những ảnh

hưởng của Phật giáo đến đời sống các dân tộc thiểu số Việt Nam

Nghiên cứu về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và dân tộc v ng Đông B c

Trang 24

nói riêng có nhiều các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Như Pụt

Tày, Viện Khoa học xã hội Việt Nam 1992 , là tác phẩm của tập thể các tác giả bàn

về một hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống thường ngày của dân tộc Tày ở Việt Nam đó là Pụt Các tác giả đã ch ra được nhiều đặc điểm độc đáo của Pụt trong tín ngưỡng, văn hóa của người Tày Sự xuất hiện của nó chứng t người Tày ở nước ta chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của Phật giáo nhưng đã được Việt hóa, vì thế nó trở nên gần gũi với đời sống của người dân

Tín ngưỡng dân gian Tày - Lịch sử và hiện tại của Hoàng Ngọc La và Hoàng

Hoa Toàn 1999 , trong đó các tác giả cũng đã trình bày và phân tích ch ra những nét chung và riêng ở các tín ngưỡng dân gian của người Tày Rõ ràng trong tín ngưỡng của người Tày rất nhiều các nghi lễ, tục lệ chịu sự ảnh hưởng của các tôn giáo ngoại lai trong đó có ít nhiều có sự pha trộn của các tín ngưỡng Phật giáo

Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc của Hoàng Quyết, Tuấn Dũng

(1994), Văn hóa truyền thống Tày, Nùng 1993 của tác giả Hoàng Quyết, Ma

Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn cũng đã bàn khá kỹ lưỡng về văn hóa của các dân tộc Tày, N ng ở v ng miền núi phía B c Việt Nam Trong các tác phẩm này, các tác giả cũng ch ra những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo

đã ảnh hưởng không nh tới văn hóa của các dân tộc Tày, N ng Phật giáo là một trong số những tôn giáo có nhiều ảnh hưởng tới các tập tục của nhân dân Các nghi

lễ trong tang ma, hay các lễ cầu tự của người Tày, N ng hay xuất hiện các nhân vật làm Then, hình ảnh Pựt hay Bụt thường được nh c đến trong nghi lễ… Đây chính là biểu hiện sự giao thoa của Phật giáo với các tín ngưỡng dân gian trong đời sống của các dân tộc Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian của Lê Như Hoa 2001 , tác phẩm đã giới thiệu và phân

tích những đặc điểm của tín ngưỡng Việt Nam, đi sâu vào tín ngưỡng của một số các dân tộc thiểu số như tín ngưỡng và ý thức cộng đồng của người Dao; tự thiêu xác và tín ngưỡng về mường trời của người Thái đen Mường Lò; một số suy nghĩ

về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh của người H mông ở Việt Nam… Các nội dung mà tác giả nêu ra đã lý giải khá sâu s c về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, những ảnh hưởng của nó tới đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc nơi đây Tuy nhiên, các khía cạnh mà tác giả nêu ra

d có đề cập tới tính đan xen của các tôn giáo trong quá trình tác động tới đời sống các dân tộc thiểu số nhưng chưa đi sâu vào một lĩnh vực ảnh hưởng của tôn giáo nào đó

Trang 25

Do vậy, trong đề tài này, chúng tôi sẽ kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những nghiên cứu đi trước của tác giả Lê Như Hoa để làm sâu s c hơn về sự tác động của Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam

"Tín ngưỡng tôn giáo và xã hội dân gian", tác giả Nguyễn Hồng Dương và

Ph ng Đạt Văn chủ biên 2009 Tác phẩm là sự tổng hợp của nhiều bài viết đánh giá về các khía cạnh khác nhau của tín ngưỡng và các tôn giáo hiện đang có mặt ở Việt Nam c ng tác động tới đời sống nhân dân Trong đó, Phật giáo được đánh giá

là một trong những tôn giáo có ảnh hưởng sâu s c tới đời sống nhân dân và đồng bào các dân tộc thiểu số

"Tâm linh Việt Nam" của tác giả Nguyễn Duy Hinh 2007 ; Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, Trần Đăng Sinh 2002 ; Tín ngưỡng trong cư trú của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Đàm Thị Uyên 2006 ; Tục thờ cúng trong đời sống tâm linh của ngư dân đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Đàm Thị Uyên 2009 ; Văn hóa dân tộc Nùng ở Cao Bằng, Đàm Thị Uyên 2010 ; Phong tục và tín ngưỡng tôn giáo người Tày ở Cao Bằng, Đàm Thị Uyên 2012 … Các công trình này đã được

các tác giả bàn khá kỹ về đời sống tín ngưỡng trong dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc thiểu số ở nước ta Sự ảnh hưởng từ các tôn giáo đến tín ngưỡng, niềm tin của nhân dân khá mạnh, trong đó Phật giáo là tôn giáo có sức lan t a mạnh mẽ nhất trong đời sống nhân dân Việt Nam Đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong văn hóa tín ngưỡng của họ có sự giao thoa của nhiều tôn giáo khác nhau, song Phật giáo vẫn là tôn giáo mà ở các dân tộc thiểu số v ng miền núi phía B c Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm

Ngoài ra, trong những năm gần đây, một số công trình khác cũng đề cập tới các chiều kích khác nhau liên quan đến sự ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống

xã hội như: Đông phương triết học cương yếu của Lý Minh Tuấn Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005 , Văn hóa đạo đức của Hà Thúc Minh Nhà xuất bản Thành phố

Hồ Chí Minh, 2005 , Tây Du Ký qua cách nhìn của người học Phật Nhà xuất bản Tôn giáo, 2008), Triết lý nhà Phật của Đoàn Trung Còn Nhà xuất bản Tôn giáo, tái bản 2009 , Cơ duyên tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam hiện nay của Vũ Minh Tuyên Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2010 , Ảnh hưởng của tư

tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu

Tuấn Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1997 ,

Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay của Trần Đăng Sinh Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002),

Trang 26

Ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam và sự biến đ i của nó trong quá trình đ i mới hiện nay của Mai Thị Dung

Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 , Ảnh

hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay

của Tạ Chí Hồng Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh, 2004), Đạo đức Phật giáo và những ảnh hưởng của nó đến đạo đức con

người Việt Nam của Đặng Thị Lan Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004 ,v.v…

Tóm lại, các tác giả trong nước, ở nhiều góc độ khác nhau, đã nêu và phân tích quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Việt Nam và những ảnh hưởng của nó đến đời sống nhân dân Song, cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào của các tác giả trong nước bàn đầy đủ và sâu s c về vấn đề Phật giáo trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số v ng Đông B c Việt Nam

1.2 Khái lược về sự hình thành và quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo

ở Việt Nam

1.2.1 Sự hình thành, phát triển của Phật giáo

Phật giáo được hình thành từ Ấn Độ, người sáng lập ra nó là Thích Ca Mâu

Ni Sự ra đời của Phật Giáo b t nguồn từ tình trạng văn hóa, xã hội của Ấn Độ cổ Cách 2500 năm trước đây, xã hội Ấn Độ được xem là một trong những xã hội có chế độ chính trị- xã hội bất công Trong xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng cấp chính: + Balamôn: gồm những tăng lữ, những người giữ quyền thống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái

+ Sát - đế - ly: là hàng vua chúa quý phái n m quyền hành thống trị xã hội + Vệ - xá: là những hàng thương gia, chủ điền đảm đương về kinh tế trong nông nghiệp, dân tự do

+ Thủ - đà - la: là hạng hạ tiện, nô lệ chịu cảnh khổ sai suốt đời cho những giai cấp trên

Ngoài bốn đẳng cấp trên, xã hội Ấn Độ còn có một hạng người hà tiện nhất đó

là giống Pa-ri-a, giống dân tộc mọi rợ, sống ngoài lề xã hội và bị các giai cấp trên đối xử như thú vật

Theo luật Bàlamôn, ch ba đẳng cấp trên c ng có quyền đọc kinh, học đạo; còn hai đẳng cấp dưới ch làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên mà thôi Trong xã hội Ấn

Trang 27

Độ bấy giờ, giữa các đẳng cấp đối lập nhau về lợi ích luôn mâu thuẫn và th địch với nhau, giữa người và người tình yêu thương mất dần

Về phương diện triết học, tôn giáo, tư tưởng, trong xã hội Ấn Độ bấy giờ cũng diễn ra một cảnh tượng hỗn tạp Về tín ngưỡng tôn giáo, người thờ thần lửa, kẻ thờ thần sông, thần gió, thần núi, thần mặt trời Về triết học, hình thành các quan niệm khác nhau về vai trò và sức mạnh của Brahma đối với đời sống con người

Tóm lại, dưới sự thống trị của đạo Bàlamôn, xã hội Ấn Độ thời đó tồn tại đầy rẫy những bất công, trái ngang Nhân dân Ấn Độ bấy giờ, khao khát tình yêu thương, sự bình đẳng giữa con người với nhau

Trong hoàn cảnh ấy, Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện để cứu vớt cõi đời khổ đau Phật giáo được hình thành và phát triển trở thành một tôn giáo độc lập

Thích Ca Mâu Ni là thái tử con vua Tịnh Phạn, vua của một nước ở xứ B c Ấn

Độ, tên thật là Tất Đạt Đa Siddharta lấy họ Thích Ca theo tục lệ Ấn Độ lấy họ

mẹ Từ nh , thái tử đã bộc lộ sự thông minh và tính đức độ Mặc d , vua cha hết lòng hướng thái tử theo con đường triều chính, song với lòng thương người vô hạn, không thể ngồi yên để nhìn thấy sự rên siết, khổ đau của cõi đời, thái tử đã luôn nghĩ đến con đường cứu khổ cho dân chúng

Năm hai mươi chín tuổi Ngài xuất gia, đi tu hành Sau nhiều năm tu hành khổ hạnh, Ngài đã tới ngồi thiền dưới gốc cây Bồ đề Tất-bat-đa và 49 ngày sau Ngài đạt chính quả thành Phật, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni Cakya Muni)

Sau khi đ c đạo, suốt 49 năm Đức Phật chu du kh p cả các lưu vực sông Hằng, đem đạo vô thường của Ngài giáo hoá chúng sinh, không phân biệt già trẻ, giàu nghèo, nam nữ, màu da…

Nhờ lòng từ bi, đức hi sinh rộng lớn, những bài giảng của Đức Phật đã hoá độ

vô số quần sinh, thoát vòng mê mờ, khổ não

Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, Ngài Mahacadiếp Mahakasypa thay mặt tăng chúng, triệu tập hội nghị Phật giáo với khoảng 500 đệ tử của Phật, để tụng đọc những giáo lý của Đức Phật Hội nghị này, được mệnh danh là “Kỳ kết tập thứ nhất” của Phật giáo

“Kỳ kết tập thứ hai” đã chia làm hai phái rõ rệt, một phái họp ở Vajji và một phái họp ở Vaixaly

“Kỳ kết tập thứ ba” và “Kỳ kết tập thứ tư” đã họp bàn và kết tập các tác phẩm kinh điển của Phật giáo và đề ra các giáo luật của Phật giáo

Trang 28

Kinh điển của Phật giáo được viết bằng hai thứ văn bản, Phạn và Pali Những

v ng nào theo kinh điển Pali thì gọi là Nam Phương Phật giáo Còn những v ng nào theo kinh điển chữ Phạn được gọi là B c Phương Phật giáo Nam Phương và B c Phương Phật giáo đều thờ chung đấng giáo chủ là Phật Thích Ca Mâu Ni Tuy nhiên, do đặc điểm đời sống của nhân dân mỗi v ng khác nhau nên phương pháp tu hành và truyền giảng giáo lý giữa Nam Phương Phật giáo và B c Phương Phật giáo

có những điểm khác nhau Từ đó, hình thành nên phái Tiểu Thừa Nam Phương Phật giáo và Đại Thừa B c Phương Phật giáo

Tiểu Thừa hay Đại thừa được ví như những cỗ xe đưa chúng sinh đến nơi thanh tịnh, giải thoát Nếu Tiểu Thừa như cỗ xe nh ch chở được một ít người thì Đại Thừa như cỗ xe lớn chở được nhiều người

Tuy công năng của Tiểu Thừa và Đại Thừa ít nhiều khác nhau; Tam Tạng của Tiểu Thừa và Đại Thừa cũng có điểm khác nhau nhưng cả hai phái đều tôn trọng những tư tưởng cơ bản của Phật Thích Ca về thế giới quan và nhân sinh quan

Kinh điển của Phật giáo gồm: Kinh Tạng, Luật Tạng, Luận Tạng Kinh sách Phật giáo được viết bằng hai thứ tiếng: tiếng Pali ngôn ngữ bình dân, giản dị , tiếng Phạn ngôn ngữ trí thức, mẹo luật chặt chẽ, tế nhị Tuy nhiên d viết bằng thứ tiếng nào, d thuộc môn phái nào thì giáo lý của nhà Phật vẫn nằm trong ba bộ kinh nói trên

Kinh Tạng bao gồm những bài thuyết giảng mà đức Phật d ng để răn dạy trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, dành cho cả hai giới xuất gia và cư sĩ

Luật Tạng nói về giới luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các Tỳ khưu nam và các Tỳ khưu ni nữ Luật Tạng mô tả các nghi lễ sám hối dành cho các tăng sĩ và nêu ra lí do mà Đức Phật đặt ra các giới luật

Luận Tạng là luận bàn, chú giải của các học giả, cao tăng sau này bàn về kinh, luật của Phật

Các giáo lý của Đức Phật được thâu tóm trong học thuyết “Tứ diệu Đế” chữ Phạn là Ariya Sâccni “Tứ diệu Đế” là bốn sự thật ch c ch n, quý báu, hoàn toàn nhất, không có giáo lý ngoại đạo nào sánh kịp Bốn sự thật mà Phật nêu ra Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế đã giúp người tu hành đi từ tăm tối đến v ng sáng, giác ngộ thành chính quả

Vì “Tứ diệu Đế” là một trong những giáo lý quan trọng của Phật giáo, cho nên các Phật tử muốn thành chính quả phải học và thực hành pháp “Tứ diệu Đế” “Tứ

Trang 29

diệu Đế” là bốn chân lý có giá trị bất biến, có thể áp dụng cho mọi người và mọi thời Trong đó, Khổ đế và Tập đế thuộc về thế gian, Diệt đế và Đạo đế có khả năng đưa con người ra kh i thế gian đau khổ

Tóm lại, Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới hiện nay Nó

ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ VI trước công nguyên Đây không ch là một tôn giáo mà còn là một trường phái triết học không chính thống ở Ấn Độ Sau khi hình thành, phát triển, những giáo lý của Phật giáo đã ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam

1.2.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm, theo sử sách ghi chép cũng như các lập luận khoa học của các học giả nghiên cứu đều cho rằng, Phật giáo được truyền vào Việt Nam khoảng những năm đầu công nguyên qua đường biển và đường bộ

Đường biển hay còn được gọi là con đường Hồ Tiêu, nó xuất phát từ các cảng

v ng Nam Ấn qua Srilanka, Indonesia, Việt Nam… Các thương nhân Ấn Độ đã lợi dụng luồng gió thổi định kì vào hai lần trong năm ph hợp với hai m a mưa n ng ở khu vực Đông Nam Á, để đưa thuyền tới buôn bán ở khu vực này Trong các chuyến đi đó, các thương nhân thường mời theo các thuyền buôn của mình một hoặc hai vị tăng để cầu nguyện may m n cho chuyến đi Nhờ đó, mà các vị tăng đã đến truyền bá đạo ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Năm 203, Sĩ Nhiếp đã xin Ngô Tôn Quyền đổi tên nước ta Giao Ch thành Giao Châu, vì Việt Nam là nơi có

vị thế địa lý thuận lợi, nơi giao lưu, gặp gỡ của các nền văn hoá Giao Châu có trung tâm Luy Lâu Thuận Thành - B c Ninh là nơi các thương nhân ngh chân, giao lưu,

vì thế các vị cao tăng có điều kiện truyền bá Phật giáo trên đất Việt Nam Trong

“Lĩnh Nam Chính Quái” đã nêu ra truyện “Tiên Dung - Chử Đồng Tử” để chứng t Phật giáo đã có mặt ở Việt Nam từ thời vua H ng Vương thứ ba

Theo lời pháp sư Đàm Thiên 542 - 607 khi đối thoại với Tuỳ Cao Đế: "Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc Ấn Độ Khi Phật pháp mới tới Giang Đông chưa đầy đủ thì ở thủ phủ Luy Lâu của Giao Châu đã có tới 20 ngôi ch a, độ được hơn 500 vị tăng già và dịch được 15 cuốn kinh rồi Như vậy là vì Phật giáo được truyền vào Giao Châu trước khi được truyền đến Trung Quốc" [83, tr 37]

Căn cứ vào sử liệu và dựa vào các điều kiện thiên nhiên, địa lý, cư dân… có thể nhận định rằng Phật giáo vào Việt Nam trực tiếp qua đường biển theo bước chân của các thương nhân và tăng sư Ấn Độ, không thông qua Trung Hoa

Trang 30

Một số sử sách còn cho rằng, Phật giáo được truyền vào Việt Nam bằng đường bộ hay còn được gọi là con đường tơ lụa nối liền Đông Tây Điểm khởi đầu

từ Đông B c Ấn Độ sang Trung Á, tới bằng phương tiện lạc đà Các thương nhân và tăng sĩ đã qua v ng Tây Tạng, theo triền sông Mê Kông, sông Hồng, sông Đà vào Việt Nam Theo con đường này, các vị tăng sư đã có mặt ở Việt Nam để truyền bá Đạo Phật

Điều này khẳng định hơn nữa, việc Phật giáo được truyền vào Việt Nam trực tiếp từ Ấn Độ, không thông qua Trung Hoa Sử gia Nguyễn Lang cũng cho rằng:

“Nhiều dữ kiện khiến chúng ta nghĩ trung tâm Luy Lâu được thành lập sớm nhất và trung tâm này đã làm bàn đạp cho sự thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương” [62, tr.21]

Lịch sử Trung Quốc cũng đã ghi nhận: Vào năm đầu công nguyên trong khi ở miền Nam Trung Quốc chưa biết đến Phật giáo, thì ở Luy Lâu Thuận Thành - B c Ninh đã có một trung tâm Phật giáo phát triển khá phồn thịnh Điều này cho thấy, ngay khi Phật giáo có mặt ở Việt Nam đã nhanh chóng phát triển và có sức ảnh hưởng không nh trong đời sống nhân dân

Từ khi Phật giáo vào Việt Nam, kết hợp với văn hoá, tín ngưỡng dân gian nhanh chóng được nhân dân thừa nhận, đi theo Phật giáo phát triển ngay từ thế k thứ II, III với trung tâm Phật giáo lớn nhất là Luy Lâu ở Thuận Thành - B c Ninh với nhiều vị tăng nổi tiếng Trong Kinh Phật Việt Nam có ghi nhận một số vị cao tăng Trung Hoa đã tôn xưng một số thiền sư Việt Nam là bồ tát, như thiền sư Pháp Hiền được gọi là Quốc sư Đến thế k thứ VI, Việt Nam đã trở thành một quốc độ Phật giáo hưng thịnh Thời kỳ này, Lý Nam Đế đã cho xây dựng nhiều ch a chiền lớn trên kh p đất nước, và ch a lớn nhất được đặt tên là ch a Khai Quốc

Vào thế k VI, một số tông phái Phật giáo từ Trung Hoa truyền vào Việt Nam như Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông, đã làm cho diện mạo Phật giáo Việt Nam có những biến đổi mới, phong phú hơn Từ Buddha được dịch từ tiếng Phạn ra

là Phật Từ Phật đã được thay thế cho chữ Bụt trong quan niệm của người Việt Nam trước đây và được sử dụng rộng rãi trong Phật giáo Việt Nam

Phái Thiền Tông do Bồ Đề Đạt Ma đã sáng lập ra Thiền hay còn gọi là tĩnh

lự, chủ trương tập trung trí tuệ để tìm ra chân lý Thiền Tông vào Việt Nam với bốn dòng thiền :

Trang 31

Dòng thiền tu thứ nhất, do nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi lập ra ng là người Ấn

Độ qua Trung Quốc rồi đến Việt Nam vào năm 580, tu tại ch a Pháp Vân ch a

Dâu thuộc huyện Thuận Thành - B c Ninh Dòng thiền này truyền được 19 đời

Dòng thiền tu thứ hai, do Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc lập ra năm 820,

tu tại ch a Kiến Sơn Ph Đổng - Gia Lâm - Hà Nội Dòng thiền này được truyền

đến 17 đời

Dòng thiền thứ ba, do Thảo Đường, người Trung Quốc vốn là t binh bị b t

tại Chiêm Thành và được vua Lý Thánh Tông giải phóng kh i kiếp t đầy cho mở đạo tại ch a Khai Quốc năm 1069 Dòng thiền này truyền được 6 đời

Dòng thiền tu thứ tư, do vua Trần Nhân Tông 1258 - 1368), dưới sự hướng

dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử Đông Triều, Quảng Ninh , thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó, và lập nên Thiền phái Trúc Lâm

Thiền Tông Việt Nam đề cao cái “Tâm” “Phật ở trong tâm” “Tâm” là Niết bàn, hay Phật Trần Nhân Tông viết:

“Nơi mình có ngọc, tìm đâu nữa

Trước cảnh vô tâm, ấy đạo Thiền”

Phái Tịnh Độ Tông là tông phái chủ trương dựa trên tha lực của Phật A Di

Đà Tha lực này rất quan trọng đối với con người Trong Tịnh Độ Tông tồn tại một cõi Phật, được gọi là Thế giới Cực Lạc do Đức Phật làm giáo chủ Việc tu hành được mở rộng như đi thăm ch a, tụng danh Phật A Di Đà Nhờ đó mà Tịnh Độ Tông là tông phái phổ biến kh p Việt Nam Mặc d vậy, nhưng Tịnh Độ Tông ở Việt Nam không thành một tông phái

Phái Mật Tông là tông phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí để

nhanh chóng đạt được giác ngộ Mật Tông vào Việt Nam không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hoà nhập vào tín ngưỡng dân gian với những truyền thống hầu đồng, pháp thuật, yểm b a, trị tà ma, chữa bệnh…

Các tông phái Phật giáo trên đã có những ảnh hưởng nhất định tới đời sống của người Việt Nam

Từ thế k X đến thế k XII, thời kì Lý - Trần, Phật giáo ở Việt Nam phát triển cực thịnh Nhưng đến đời Lê, Phật giáo suy giảm, do vua Lê lấy Nho giáo làm chủ đạo Sang thế k XVII, Phật giáo lại được chấn hưng Đặc biệt từ thế k XX, Phật giáo đã không ngừng phát triển ở Việt Nam Vào những năm 30, các Hội Phật giáo

Trang 32

ở Nam Kì, Trung Kì, B c Kì lần lượt ra đời Trải qua những biến cố của đất nước, Phật giáo Việt Nam vẫn phát triển lớn mạnh và là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam, có số lượng các tín đồ đông nhất cả nước

Theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tính đến năm 2016, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có số lượng 89 thành viên Hội đồng Chứng minh, 199 Ủy viên Hội đồng Trị sự và 66 Ủy viên dự khuyết Hệ thống Giáo hội gồm 13 Ban, Viện Trung ương hoạt động chuyên ngành như Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hướng dẫn phật tử, Hoằng pháp, Nghi lễ, Văn hóa, Kinh tế Tài chính, Phật giáo Quốc tế, Từ thiện xã hội, Pháp chế, Kiểm soát, Thông tin truyền thông, Viện Nghiên cứu Phật học Hệ thống tổ chức Giáo hội thống nhất từ Trung ương đến các địa phương Hiện nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập được Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp t nh tại 63 t nh, thành phố trong cả nước; kiện toàn và nâng tầm hệ thống quản lý hành chính Phật giáo cấp quận, huyện, thị, thành phố thuộc t nh Giáo hội đang quản lý 8 Hội Phật tử Việt Nam ở nước ngoài Các Hội Phật tử này đều hoạt động theo Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Số lượng tín đồ phật tử xuất gia trên toàn quốc tính đến năm 2016 với số lượng 49.493 Tăng Ni, số người thường xuyên đến ch a và tham gia các Phật sự, số người chịu ảnh hưởng của Phật giáo lên đến vài chục triệu người Theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì hiện nay số ch a, tự viện là 17.376 và có hàng chục triệu tín đồ phật tử tu học thường xuyên tại các cơ sở tự viện, số lượng này tăng lên hàng năm qua các khóa truyền thụ Tam quy Ngũ giới ở hần hết các địa phương, nhất là các t nh mới thành lập ở các v ng Tây B c và Tây Nguyên, c ng với hơn 50 triệu những người yêu mến Phật giáo trong cả nước

Cả nước có 4 Học viện Phật giáo: tại Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ Đến nay, các Học viện đã đào tạo được gần 7000 Tăng Ni tốt nghiệp cử nhân Phật học và đang đào tạo trên 2000 Tăng Ni sinh Hệ Cao đẳng chuyên khoa Phật học có 8 lớp, đã đào tạo hơn 2000 Tăng Ni sinh tốt nghiệp trình độ cao đẳng và đang đào tạo hơn 1000 Tăng ni sinh Cả nước có 31 trường Trung cấp Phật học Việt Nam, đã đào tạo gần 10.000 Tăng Ni sinh tốt nghiệp trung cấp Phật học, đang đào tạo gần 5.000 Tăng Ni sinh Hầu hết các t nh đều mở lớp Sơ cấp Phật học Để nâng cao trình độ Phật pháp, Giáo hội cũng đã gửi 476 Tang Ni sinh đi du học nước ngoài như: Ấn Độ, v ng lãnh thổ Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Myanma, Thái Lan… Đến nay có khoảng 115 Tăng Ni đã tốt nghiệp trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ trở về nước phục vụ công tác của Giáo hội Đây là nguồn nhân lực của hệ thống đào tạo giáo dục Tăng Ni của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trang 33

Với đội ngũ giảng viên h ng hậu, có trình độ ngang bằng các trường Đại học trong nước và Quốc tế, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được Nhà nước cho phép đào tạo

hệ cao học Thạc sĩ, Tiến sĩ Phật học tại Học viện Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh

Điều này cho thấy trình độ của các Tăng Ni ở Việt Nam đã và đang được được nâng lên rõ rệt, nó góp phần quan trọng vào việc tổ chức hoạt động của Phật giáo diễn ra theo đúng hướng ch đạo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng không

xa dời Phật Pháp Đây cũng là lí do để Phật giáo ở Việt Nam không ngừng phát triển và có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam trên mọi miền đất nước

Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập được Viện nghiên cứu Phật học tại thành phố Hồ chí Minh và Phân Viện nghiên cứu tại thủ đô Hà Nội Đặc biệt là, hội đồng phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam cũng đã được thành lập Tính đến nay, hội đồng đã phiên dịch ấn hành 30 tập kinh được dịch từ chữ Hán và chữ Pali, đây là một thành quả đáng kể của Phật giáo Việt Nam Vì đây

là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, phật tử có được bộ đại tạng kinh bằng tiếng Việt Ban Giáo dục Tăng Ni cũng đã biên soạn giáo trình và bộ sách giáo khoa "Phật học căn bản" để phục vụ công tác đào tạo tại các trường Trung cấp Phật học trong cả nước

Phật giáo vào Việt Nam không còn là Phật giáo thuần khiết, ban đầu mà nó được hoà trộn với các tín ngưỡng truyền thống dân gian và với các tôn giáo khác tạo nên những nét riêng biệt của Phật giáo Việt Nam Với phương châm: "Hoằng pháp

vi gia vụ, lợi sinh vi bản hoài", Ban Hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

đã hoạt động rất sôi nổi, hiệu quả trong việc tổ chức các hoạt động Hoằng pháp góp phần truyền bá giáo pháp Đức Phật đến mọi tầng lớp đồng bào phật tử, tăng trưởng đạo tâm, phát huy chính tín, tạo nguồn an lạc, giải thoát ổn định trong cuộc sống và

sự tu tập theo chính pháp của người phật tử tại gia

Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã đăng cai và tổ chức thành công hai lần Đại lễ Vesak Liên hiệp Quốc vào năm 2008 và 2014 tại Việt Nam, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế và khu vực về đất nước Việt Nam, văn hóa dân tộc, văn hóa Phật giáo Việt Nam, một Giáo hội Phật giáo Việt Nam duy nhất đại diện cho Tăng Ni, phật tử Việt Nam trong và ngoài nước

Bên cạnh đó, hàng năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại các t nh, thành phố đều có các hoạt động như: tổ chức Đại lễ cầu siêu quốc gia tưởng niệm anh linh các

Trang 34

anh h ng liệt sĩ tại các nghĩa trang quốc gia; đặt vòng hoa tưởng niệm các anh h ng liệt sĩ nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 tại các nghĩa trang của t nh, thành phố; kết hợp với Ủy ban an toàn giao thông quốc gia các t nh, thành phố tổ chức Đại lễ cầu siêu cho các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông…

Các hoạt động từ thiện và sự nghiệp chăm lo an sinh xã hội cũng đã được Giáo hội ch đạo Tăng Ni, phật tử và các ch a, tự viện, các thành viên thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời Công tác từ thiện tập trung vào các hoạt động của các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi, người già cô đơn, người tàn tật với 50 cơ sở Giáo hội hiện cũng có trên 150 Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng chẩn trị Y học Dân tộc, một phòng khám Đa khoa đang hoạt động có hiệu quả, khám và phát thuốc miễn phí cho hàng chục lượt bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Giáo hội còn tham gia đúng lúc và kịp thời cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt, tham gia tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo, chăm sóc các đối tượng có công với đất nước; phát quà từ thiện, xây cầu, làm đường, xây nhà tình nghĩa, phát xe lăn, hiến máu nhân đạo, ủng hộ các chiến sĩ nơi hải đảo xa xôi ở Trường Sa… Những việc làm thiết thực này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã và đang góp phần không nh trong công cuộc dựng xây và phát triển đất nước Việt Nam, làm cho Phật giáo trở thành một trong những tôn giáo có sức ảnh hưởng lớn nhất đến đời sống của nhân dân nước ta hiện nay

Tóm lại, Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu công nguyên thông qua con đường buôn bán của các thương nhân Ấn Độ Sau khi vào Việt Nam, Phật giáo đã hoà nhập với phong tục, tín ngưỡng dân tộc tạo nên những đặc điểm riêng có của Phật giáo Việt Nam như: tính tổng hợp, tính hài hoà âm dương, tính linh hoạt, tinh thần nhập thế

Những triết lý của Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm tới đời sống nhân dân Việt Nam, tới lịch sử dân tộc Việt Nam Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam vốn đã sẵn có mầm mống tinh thần Phật giáo Bởi vậy mà Phật giáo với dân tộc Việt Nam trong gần hai ngàn năm nay, bao giờ cũng theo nhau như hình với bóng trong cuộc sống sinh hoạt toàn cầu Điều này đã khẳng định vai trò to lớn của Phật giáo đối với dân tộc Việt Nam trong lịch sử phát triển của mình

1.3 Sức lan t a và đ c điểm của Phật giáo trong đời sống các d n tộc thiểu số

v ng Đông Bắc

1.3.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên

Trang 35

V ng Đông B c là v ng lãnh thổ ở hướng B c v ng đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam Gọi là Đông B c để phân biệt với vùng Tây B c, còn thực chất nó ở vào phía B c và Đông B c của Hà Nội, rộng hơn vùng Việt B c Về phạm vi hành chính, v ng Đông B c bao tr m các t nh sau đây: Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, B c Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, B c Giang và Quảng Ninh Ranh giới địa lý phía Tây của v ng Đông B c còn chưa rõ ràng Chủ yếu do chưa có sự nhất trí giữa các nhà địa lý học Việt Nam về ranh giới giữa v ng Tây

B c và v ng Đông B c nên là sông Hồng, hay nên là dãy núi Hoàng Liên Sơn

V ng Đông B c được giới hạn về phía B c và Đông bởi đường biên giới Việt - Trung Phía Đông Nam trông ra vịnh B c Bộ Phía Nam giới hạn bởi dãy núi Tam Đảo và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng

Đây là v ng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất Phần phía Tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam Những đ nh núi cao của v ng Đông B c đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Li Ti

Phần phía B c sát biên giới Việt - Trung là các cao nguyên sơn nguyên lần lượt từ Tây sang Đông gồm: cao nguyên B c Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000 - 1200 m Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu Cũng có một số nơi là đồng bằng nh hẹp, đó là Thất khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng

Phía Đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Ngâm, Ngân Sơn - Yên Lạc, B c Sơn, Đông Triều Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng Các dãy núi vòng cung này hầu như đều chụm đầu về Tam Đảo, vào m a Đông có gió B c thổi mạnh, rất lạnh, còn m a hè mát mẻ, do đó

v ng này có đặc khí hậu ôn đới V ng núi ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thể

có lúc nhiệt độ xuống dưới 0ºC và có băng giá, đôi khi có tuyết rơi Các v ng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió Nhà thơ Tố Hữu trong bài "Phá đường" từng nh c đến cái rét ở đây: "Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế"

V ng Đông B c Bộ là v ng giàu tài nguyên khoáng sản ở nước ta Các khoáng sản chính là than, s t, thiếc, chì - kẽm, đồng, apatit, pyrit, đá vôi và sét làm xi măng,

Trang 36

gạch ngói, gạch chịu lửa … Tuy nhiên, việc khai thác đa số các m đòi h i phải có

phương tiện hiện đại và chi phí cao

+ Than: các m Uông Bí, Đèo Nai, Cọc Sáu Quảng Ninh

+ Thiếc và bôxit: Cao Bằng

và để xuất khẩu Trong v ng có nhà máy nhiệt điện Uông Bí và Uông Bí mở rộng Quảng Ninh tổng công suất 450 MW, Cao Ngạn Thái Nguyên 116 MW, Na Dương Lạng Sơn 110 MW

Ở Đông B c có nhiều m kim loại, đáng kể hơn là thiếc và bôxit Cao Bằng , Kẽm – chì Chợ Đồn - B c Kạn , thiếc ở T nh Túc Cao Bằng Mỗi năm v ng sản xuất khoảng 1.000 tấn thiếc

Các t nh Đông B c còn là nơi có ưu thế về các loại tài nguyên có thể tái sinh như rừng cây, động, thực vật, nước… Điều kiện đất đai màu mỡ, đa dạng về chủng loại đất đ , đất feralit đ - vàng giúp cho các t nh trong v ng trồng và phát triển cây công nghiệp như cây chè, dược liệu, chăn thả gia súc, gia cầm đem lại nguồn lợi kinh tế cho các hộ gia đình và địa phương

Vị trí địa lí đa dạng và phức tạp c ng với những ưu đãi của thiên nhiên đã tạo

ra cho con người v ng Đông B c những nét đặc trưng về đời sống sinh hoạt vật chất

và tinh thần Vì thế, tín ngưỡng, tôn giáo cũng có điều kiện để phát sinh, phát triển ảnh hưởng không nh tới đời sống của nhân dân trong v ng Trong các tôn giáo, Phật giáo đã và đang có sức ảnh hưởng sâu đậm tới một bộ nhân dân các t nh thuộc vùng Đông B c Bộ, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.2 Đặc điểm chính trị - xã hội

V ng Đông B c có vị trí địa lí khá thuận lợi Nằm giáp ranh với biên giới Trung Quốc với hệ thống các cửa khẩu Thanh Thủy, Móng Cái, Tà L ng, Tân Thanh c ng hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện các tuyến quốc lộ 1A, 1B,

Trang 37

4A, 4B, quốc lộ 2, 3… là những điều kiện tốt cho các t nh miền núi Đông B c mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với nhau và với nước láng giềng Trung Quốc

Do địa hình chủ yếu là đồi núi, vì thế các t nh v ng núi Đông B c đã đầu tư phát triển các cây công nghiệp ng n ngày như cây chè, cây dược liệu, các cây nông nghiệp như ngô, khoai, s n, lúa… đồng thời, phát triển các ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm Hiện nay, với quyết tâm c ng các v ng miền khác thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các t nh miền núi Đông B c cũng đang chú ý tới việc chuyển đổi các loại hình nông nghiệp sang phát triển công nghiệp Hầu hết, các t nh miền núi Đông B c đều có các nhà máy sản xuất công nghiệp tập trung nhiều ở các t nh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Lạng Sơn… các ngành nghề công nghiệp được đầu tư chủ yếu như: khai thác khoáng sản, chế biến lâm sản,

cơ khí, may mặc, phân bón, vật liệu xây dựng… Nhờ đó, trong thời gian qua nền kinh tế của các địa phương v ng miền núi Đông B c đã không ngừng tăng trưởng

và phát triển C ng với hệ thống giao thông thuận lợi, hệ thống điện, trường học, bệnh viện cũng được chú ý đầu tư và ngày càng được cải thiện rõ rệt, dẫn đến những bước đột phá trong văn hóa, giáo dục Trình độ dân trí của nhân dân trong

v ng cũng được nâng lên đáng kể

V ng Đông B c có vị trí chiến lược trong an ninh - quốc phòng Hiện nay,

v ng Đông B c do Quân khu 1 bảo vệ Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên - Huế Trụ sở: Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, t nh B c Giang

V ng Đông B c có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương B c xâm lược đã thâm nhập vào vùng này trước tiên Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Nam gọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh,

và đường biển trên vịnh B c Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâm ngay khi chúng thâm nhập vào v ng này trong đó nổi tiếng là các trận tại Ải Chi Lăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v Thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt B c 1947 , chiến dịch biên giới thu đông 1950 , v.v Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở v ng Đông B c

V ng Đông B c Bộ là nơi có nhiều dân tộc thiểu số c ng chung sống mà chủ yếu là các dân tộc Tày, N ng, Thái, Sán Dìu, Mường, Hoa, Dao, H Mông… Trình

độ của đồng bào dân tộc còn thấp, đời sống còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Kinh

Trang 38

tế chưa phát mạnh so với các v ng khác trong cả nước Do các dân tộc thiểu số sinh sống đan xen, hòa quyện với nhau, cho nên văn hóa của các dân tộc đã có sự thẩm thấu vào nhau một cách tự nhiên, khó có sự phân biệt rạch ròi Vì thế, đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, song vẫn bị ảnh hưởng nặng nề của các tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Trong đó, Phật giáo và Đạo Tin Lành có sức ảnh hưởng lớn tới đồng bào dân tộc nơi đây

1.3.3 Sức lan t a của Phật giáo trong cộng đ ng các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam

Phật giáo sau khi được truyền bá vào Việt Nam đã có sự du nhập và phát triển

ở nhiều t nh thành trong cả nước Đối với một số t nh miền núi Đông B c, Phật giáo

có sự phát triển chậm hơn so với các t nh thuộc v ng đồng bằng Theo tài liệu của các nhà nghiên cứu Phật học, Phật giáo tại các t nh miền núi Đông B c trong quá trình hình thành và phát triển đã có sự hỗn dung với tín ngưỡng dân gian - tín ngưỡng thờ thần của đồng bào các dân tộc nơi đây Chính điều này, đã giúp cho Phật giáo trở thành tôn giáo được nhiều dân tộc thiểu số v ng Đông B c đón nhận

và coi nó như tôn giáo bản địa Những giáo lý từ bi, cứu nạn cứu khổ, luôn hướng con người đến sống thiện, sống có trách nhiệm, xa dời cái ác, cái xấu… của Phật giáo rất gần gũi với tâm tư, tình cảm của những người dân vốn sống g n bó nhiều với thiên nhiên, dựa nhiều vào thiên nhiên, và cũng chịu nhiều tai ương từ thiên nhiên Đúng như nhà nghiên cứu Phật giáo, Nguyễn Lang từng khẳng định: "Đạo Phật thấm vào văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào lòng đất" [62, tr 52] Đối với đồng bào dân tộc thiểu số v ng Đông B c, Phật giáo có sức sống mãnh liệt và lâu bền có lẽ chính bởi sự đồng điệu của giáo lý nhà Phật với tập tục sống vốn rất bình dị, không cầu kì, phức tạp của đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây

Ngay từ những năm đầu công nguyên, khi Phật giáo vào Việt Nam theo chân các thương gia Ấn Độ, người Giao Châu bấy giờ mới biết đến Đạo Phật Luy Lâu (Dâu - nay là Thuận Thành, B c Ninh trở thành Trung tâm Phật giáo lớn nhất trong

cả nước thời kỳ đó Nhưng Phật giáo ở Luy Lâu lúc này không hoàn toàn giống Phật giáo của Đức Thích Ca, cũng không hoàn toàn giống với Phật giáo ở Ấn Độ đương thời Bởi nó đã bị biến đổi đi do truyền thống, tư tưởng và phong tục tập quán cũng như điều kiện kinh tế - xã hội của người Việt Nam lúc bấy giờ Phật giáo Luy Lâu g n liền với tín ngưỡng dân gian, được dân gian hóa, phong tục hóa Nó thể hiện tâm lý, mong ước và thế giới quan của người dân trồng lúa nước v ng đồng bằng sông Hồng Từ câu chuyện về Man Nương kể rằng nhà sư Khâu Đà La trong

Trang 39

một lần vô tình bước qua người Man Nương, bà mang thai và sinh ra một bé gái sau trở thành Thạch Quang Phật Bản thân nghĩa của Thạch Quang Phật chính là Phật ánh sáng của đá Mà đá là đất cứng, đất là âm, là Mẹ, Mẹ t a sáng qua Phật Điều này cho thấy, khi vào Việt Nam sở dĩ Phật giáo được thừa nhận và phát triển, đặc biệt có thể phát triển được ở các v ng dân tộc thiểu số chính là ở chỗ Phật giáo đã hòa vào triết lý văn hóa tín ngưỡng bản địa, đó là tín ngưỡng Mẹ sinh Tín ngưỡng

Mẹ sinh đã nảy nở từ thời nguyên thủy, khi con người ở trên rừng núi Trong cuộc sống hái lượm, cây cho quả, cho mầm, cho rễ để ăn, cho v để mặc, cho rễ tết thành lưới võng để làm tổ ấm treo mình qua đêm tránh thú dữ Cây như người mẹ chở che cho con người, vì thế xuất hiện ở người Việt tín ngưỡng thờ bà chúa Thượng Ngàn trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Cho nên, khi Phật giáo vào Việt Nam và phát triển ở v ng miền núi Đông B c hình ảnh Phật Bà Quan Thế m Bồ Tát được người dân biết đến nhiều và cũng được thờ cúng nhiều trong các gia đình dân tộc Tày, N ng

Khi nghiên cứu về sự hình thành và phát triển Phật giáo ở các t nh miền núi Đông B c cho thấy sự hiện diện của Phật giáo trong đời sống đồng bào các dân tộc miền núi cũng có lịch sử lâu đời như Phật giáo ở các v ng đồng bằng nước ta Tuy nhiên, chính sự hỗn dung của Phật giáo vào tín ngưỡng bản địa - tín ngưỡng thờ thần của các dân tộc thiểu số v ng Đông B c nên gần như đã có sự hòa quyện của Phật giáo qua hình ảnh ông Bụt, ông "Pựt", hình ảnh Phật Bà Quan Thế m Bồ Tát trong đời sống tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc ngay từ khi Phật giáo có mặt trên đất nước Việt Nam

Trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, cũng như sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử, nhiều giá trị văn hóa tôn giáo tín ngưỡng đã gặp gỡ và phát triển tại các v ng dân tộc thiểu số ở Đông B c Việt Nam, trong đó phải kể đến sự hiện diện rất sớm của Phật giáo Nhiều chứng tích lịch sử và khảo cổ học cho thấy, Phật giáo

đã có mặt và để lại dấu ấn khó phai tại đây từ thời nhà Trần, khi Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật làm Trấn thủ đạo Đà Giang năm 1280 , thuộc t nh Yên Bái ngày nay Khi ấy, t trưởng Trịnh Giác Mật đã c ng với tướng lĩnh nhà Trần quy tụ các dân tộc anh em chống giặc phương B c, bảo vệ cương thổ Người dân ở quanh v ng

đã tích cực tham gia vào cuộc kháng chiến chống giặc phương B c, rất nhiều cơ sở của Phật giáo bấy giờ d mới hình thành những đã có những đóng góp nhất định vào th ng lợi của các địa phương này

Cũng từ những chứng cứ khảo cổ học, cho chúng ta thấy, để có những công trình Phật giáo có tầm cỡ, mang phong cách Chiêm - Việt, trong quá trình xây dựng,

Trang 40

Trần Nhật Duật đã sử dụng các t binh người Chiêm Thành làm nhân công để đúc tượng, khánh chuông, xây ch a Đáng tiếc, sau khi nhà Trần sụp đổ, nhà Hồ không

đủ sức chống chọi với giặc Minh, nên chẳng bao lâu đất nước lại rơi vào vòng đô hộ phương B c, nhiều di sản văn hóa bị tiêu hủy đến mức mười phần không còn lại một Trong đó có nhiều cơ sở thờ tự của Phật giáo cũng bị phá hủy

Đặc biệt với sự xuất hiện của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, Quảng Ninh đã khẳng định vai trò cũng như sức ảnh hưởng của Phật giáo và các vị cao tăng đối với nền chính trị đất nước nói chung và đời sống chính trị v ng Đông B c nói riêng Theo sử sách ghi lại vào đầu thế k XIII, ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dần nhập vào một Do ảnh hưởng lớn lao của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ, sự sát nhập của ba phái thiền này vào nhau đã đưa tới sự phát triển lớn của phái Yên Tử thành thiền phái Trúc Lâm, tức là thiền phái duy nhất đời Trần Có thể khẳng định: Thiền phái Trúc Lâm chính là Phật giáo đích thực của người Việt Các nhà thiền sư dưới thời Trần có nhiều đóng góp cho việc triều chính, khuyên răn các bậc cao vương có trách nhiệm với xã t c, với nhân dân Trong "Việt Nam Phật giáo sử luận", tác giả Nguyễn Lang có ghi chép lại: vào năm 1236, khi vua Thái Tông b lên núi Yên Tử định đi tu, Trúc Lâm quốc sư h i vua muốn tìm gì trên núi Vua nói ch muốn tìm thành Phật ng nói: "Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta Nếu tâm ta l ng lại và trí tuệ xuất hiện thì

đó chính là Phật Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức kh c thành Phật ngay tại chỗ, không phải cực nhọc bên ngoài" bài tựa Thiền Tông Ch Nam Khuyên Thái Tông trở về nhận nhiệm vụ trị dân, thiền sư nói: "Đã làm vua thì không còn có thể theo ý thích riêng mình được nữa Phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình; phải lấy lòng dân làm lòng của mình Nay dân muốn vua về, thì vua không về làm sao được?" Thiền sư buộc vua trở về bổn phận bằng một lý luận đanh thép "Nhưng ông vẫn an ủi: tuy vậy, vua vẫn có thể vừa làm nghề trị dân vừa tu học Phật pháp" [62, tr 270]

Căn cứ vào những tài liệu ghi chép này cho thấy vai trò cũng như sự ảnh hưởng của các thiền sư tới việc chính sự của quốc gia dân tộc, thể hiện trách nhiệm của bản thân những người tu đạo không ch hướng thiện mà còn hướng con người đến với chính nghĩa, đến với lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân

Sau khi cuộc kháng chiến quân Minh th ng lợi, Lê Lợi cho phát triển Nho học,

từ đó Phật giáo dần dần mai một trên mảnh đất này Về sau, cuộc chiến Trịnh - Mạc xảy ra, nhà Mạc lánh nạn ở v ng núi giáp ranh phía Đông B c, nhờ đó ít nhiều Phật giáo cũng có phần ảnh hưởng Song nhìn tổng thể thì Phật giáo bị đứt đoạn quá lâu

Ngày đăng: 23/03/2017, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thị Lan Anh 2014 , Chữ "Tâm" nhà Phật và ảnh hưởng của "Tâm" đối với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ "Tâm" nhà Phật và ảnh hưởng của "Tâm" đối với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay
Tác giả: Ngô Thị Lan Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2014
2. Triều n 2000 , Chữ Nôm Tày và truyện thơ, Nhà xuất bản Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Nôm Tày và truyện thơ
Tác giả: Triều n
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân tộc
Năm: 2000
3. Ban Dân vận T nh ủy Cao Bằng 2014 , Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Cao Bằng
Nhà XB: Cao Bằng
Năm: 2014
4. Ban Dân vận T nh ủy Cao Bằng 2015 , Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Cao Bằng
Nhà XB: Cao Bằng
Năm: 2015
5. Ban Dân vận T nh ủy B c Giang 2014 , Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, B c Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy B c Giang
Nhà XB: B c Giang
Năm: 2014
6. Ban Dân vận T nh ủy B c Giang (2015), Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, B c Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy B c Giang
Nhà XB: B c Giang
Năm: 2015
7. Ban Dân vận T nh ủy B c Kạn 2014 , Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, B c Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
8. Ban Dân vận T nh ủy B c Kạn 2015 , Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, B c Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy B c Kạn
Nhà XB: B c Kạn
Năm: 2015
9. Ban Dân vận T nh ủy Hà Giang 2014 , Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Hà Giang
Nhà XB: Hà Giang
Năm: 2014
10. Ban Dân vận T nh ủy Hà Giang 2015 , Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Nhà XB: Hà Giang
Năm: 2015
11. Ban Dân vận T nh ủy Lạng Sơn 2014 , Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
12. Ban Dân vận T nh ủy Lạng Sơn 2015 , Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Lạng Sơn
Nhà XB: Cao Bằng
Năm: 2015
13. Ban Dân vận T nh ủy Quảng Ninh 2014 , Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Quảng Ninh
Nhà XB: Quảng Ninh
Năm: 2014
14. Ban Dân vận T nh ủy Quảng Ninh 2015 , Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Quảng Ninh
Nhà XB: Quảng Ninh
Năm: 2015
15. Ban Dân vận T nh ủy Thái Nguyên 2014 , Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Thái Nguyên
Nhà XB: Thái Nguyên
Năm: 2014
16. Ban Dân vận T nh ủy Thái Nguyên 2015 , Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dân vận năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Ban Dân vận T nh ủy Thái Nguyên
Nhà XB: Thái Nguyên
Năm: 2015
17. Ban Tôn giáo Chính Phủ 2006 , Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính Phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
18. Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam 2016 , Báo cáo t ng kết Giáo hội Phật Giáo Việt Nam 35 năm thành lập, n định và phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t ng kết Giáo hội Phật Giáo Việt Nam 35 năm thành lập, n định và phát triển
19. Beckmann K.V.B (2000), Đa dạng pháp luật - Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng pháp luật - Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Beckmann K.V.B
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
20. Bộ Tƣ pháp 2005 , Việt Nam với vấn đề quyền con người, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam với vấn đề quyền con người
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Về mục đích theo Phật giáo của người d n - Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)
Bảng 2.1 Về mục đích theo Phật giáo của người d n (Trang 76)
Bảng 2.2: Mức độ tác động của Phật giáo đến hành vi ứng xử của người d n - Phật giáo trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam (NCKH)
Bảng 2.2 Mức độ tác động của Phật giáo đến hành vi ứng xử của người d n (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w