1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN tiếng việt: Kinh nghiệm vận dụng Phương pháp trò chơi học tập trong dạy học Luyện từ và câu lớp 2

21 698 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 4,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lý do trên tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, đưa một số trò chơi vào trong bài giảng của mình, nhằm gây hứng thú cho học sinh lớp 2 khi học phân môn LTVC và đúc kết thành kinh nghiệm giảng dạy của mình “ Kinh nghiệm vận dụng Phương pháp trò chơi học tập trong dạy học Luyện từ và câu lớp 2”

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU:

I Lý do chọn đề tài:

Trong trường tiểu học, cùng với những môn học khác ,Tiếng Việt là môn học

có nhiều đổi mới cả về mục đích, nội dung và quan điểm dạy học Tiếng Việt lớp 2bao gồm sáu phân môn, mỗi phân môn có một vị trí đặc biệt quan trọng Học tốttừng phân môn là học tốt Tiếng Việt Tiếng Việt là môn học cơ sở để tiếp thu và lĩnhhội tri thức các môn học khác

Mỗi phân môn Tiếng Việt có một sắc thái riêng Phân môn Luyện từ vàcâu tuy bản chất là cung cấp vốn từ (từ ngữ) và học về câu (ngữ pháp), songtrong sách giáo khoa không đưa ra “những kiến thức đóng khung có sẵn” mà là

“hệ thống các bài tập” Học sinh muốn lĩnh hội tri thức không thể khác là thựchành làm tất cả các bài tập trong sách giáo khoa Vậy một giờ Luyện từ và câu(LTVC) ở lớp 2 được tiến hành ra sao ?

Thực tế cho thấy mỗi giáo viên đều tích cực đổi mới phương pháp dạy họcnhưng nhiều tiết dạy LTVC ở lớp 2 diễn ra vẫn còn trầm lắng và chưa thật sựhiệu quả Tuy chưa phải học những kiến thức sâu rộng như thành phần chính, phụcủa câu hoặc những khái niệm mang tính bản chất, phức tạp nhưng với hệ thống bàitập cũng dễ làm học sinh chán học nếu giáo viên không có sự thay đổi linh hoạt cácphương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Đối với học sinh lớp 2, ở lứa tuổi này các em tâm lí các em còn hồn nhiên,

sự tập trung chú ý chưa cao Bên cạnh học là hoạt động chủ đạo thì nhu cầuchơi, nhu cầu được giao tiếp với bạn bè… vẫn tồn tại và cần thoả mãn Hiểuđược điều đó, trong quá trình dạy học, người giáo viên biết lựa chọn phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của các em sẽ

đem lại hiệu quả cao Dạy học bằng phương pháp “ trò chơi học tập” là đưa học

sinh đến với các hoạt động vui chơi, giải trí có nội dung gắn liền với bài học.Trò chơi trong học tập có tác dụng giúp học sinh thay đổi động hình, chống mệtmỏi, tăng cường khả năng thực hành kiến thức của bài học, phát huy hứng thú,tạo thói quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh…

Xuất phát từ lý do trên tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, đưa một số trò chơi vàotrong bài giảng của mình, nhằm gây hứng thú cho học sinh lớp 2 khi học phân

môn LTVC và đúc kết thành kinh nghiệm giảng dạy của mình “ Kinh nghiệm vận dụng Phương pháp trò chơi học tập trong dạy học Luyện từ và câu lớp 2”

II Mục đích nghiên cứu:

- Nghiên cứu nội dung chương trình phân môn luyện từ và câu để nắmvững nội dung chương trình

- Hệ thống thành các dạng bài, từ đó lựa chọn một số trò chơi phù hợp vàogiảng dạy, nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao chất lượng học tậpphân môn LTVC nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung từ đó giúp học sinh cókhả năng sử dụng Tiếng Việt như một công cụ giao tiếp, học tập

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu thực tế giảng dạy và học tập LTVC khối lớp 2, 3 trường tiểuhọc Thị Trấn Nga Sơn

Trang 2

- Nghiên cứu nội dung chương trình SGK, tài liệu về các trò chơi, cách vậndụng các trò chơi trong dạy học LTVC lớp 2

- Học sinh lớp 2C trường Tiểu học Thị Trấn Nga Sơn

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1 Phương pháp nghiên cứu lí luận:

- Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài: Sách hướng dẫn giảng dạy TV2, Tạpchí giáo dục Tiểu học, trò chơi học tập Tiếng Việt 2

- Nghiên cứu chương trình TV lớp 2, tài liệu hướng dẫn về đổi mới nộidung - phương pháp dạy học ở Tiểu học, chương trình bồi dưỡng thường xuyên

- Tài liệu hướng dẫn trò chơi Tiếng Việt lớp 2

- Nghiên cứu tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng, nghị quyết số 29 của TW vềđổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Dự giờ đồng nghiệp

- Sinh hoạt chuyên môn

- Khảo sát chất lượng học sinh

3 Phương pháp thực nghiệm:

- Dự giờ đồng nghiệp

- Tiến hành dạy thực nghiệm, đối chứng, trao đổi rút kinh nghiệm, đánh giá củaviệc vận dụng đổi mới nội dung - phương pháp dạy học vào lớp 2C trường Tiểu họcThị Trấn

- Quan sát việc học tập LTVC của học sinh

- Thống kê chất lượng thông qua bài khảo sát

Trang 3

PHẦN B : NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN LTVC

1 Vị trí, vai trò của phân môn luyện từ và câu

Ở lớp 2, phân môn luyện từ và câu là một môn học giữ vị trí chủ đạo trongchương trình Tiếng Việt mới của lớp 2 Ngay từ đầu của hoạt động học tập ởtrường, học sinh đã được làm quen với lí thuyết của từ và câu Sau đó, kiến thứcđược mở rộng thêm và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một cao trongcuộc sống của các em cũng như trong lao động, học tập và giao tiếp

Luyện từ và câu là môn học nền tảng để học sinh học các môn học khác trongtất cả các cấp học sau, cũng như trong lao động và giao tiếp trong cuộc sống, bởi

nó giúp học sinh có kĩ năng nói đúng Từ đó, sử dụng Tiếng Việt một cáchthành thạo làm công cụ tư duy để học tập giao tiếp và lao động

2 Trò chơi học tập:

Trò chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi Trò chơi học tậpkhông chỉ nhằm chơi vui giải trí mà còn nhằm góp phần củng cố tri thức, kỹnăng học tập của các em Với các đặc điểm riêng, trò chơi mở ra cho học sinhtiểu học một khả năng phát triển lớn Các em được tiếp cận hoàn cảnh chơi,nhiệm vụ chơi, hoạt động chơi … từ đó các em lĩnh hội các tri thức sống động

về thực tế cuộc sống xung quanh và tri thức khoa học Bởi “chơi” là được sốnghết mình và khác với hoạt động học Các thành tích học tập cơ bản phụ thuộcvào bản thân các em còn sự thắng thua trong trò chơi mang tính ngẫu nhiên Các

em tham gia chơi với hy vọng chiến thắng và để khẳng định chính mình Bêncạnh đó trò chơi tạo cho bản thân các em sự thư giãn thoải mái, vui vẻ

Áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy phân môn LTVC là đưa học sinh vàohoạt

động vận dụng Học sinh phải thể hiện chủ động, sáng tạo để phát hiện điều cầnhọc Nó làm bớt đi sự căng thẳng khô khan không còn sự tẻ nhạt; đem đến sự sôinổi, ham mê, hấp dẫn, say sưa tìm hiểu khám phá và lĩnh hội tri thức trong mỗigiờ học Thành công của việc sử dụng trò chơi trong học tập là góp phần đạtđược mục tiêu giờ học Bởi vậy để đảm bảo cho sự thành công việc sử dụng tròchơi thì nội dung trò chơi phải gắn với mục tiêu bài học, luật chơi rõ ràng đơngiản, dễ nhớ, dễ thực hiện, điều kiện - phương tiện tổ chức trò chơi phong phú,chơi đúng lúc, đúng chỗ, đồng thời phải kích thích sự thi đua giành phần thắng

giữa các đội tham gia

II THỰC TRẠNG DẠY HỌC CỦA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2:

1 Thực trạng của giáo viên.

Tiểu học Thị Trấn là một trường luôn dẫn đầu về phong trào dạy tốt trongkhối tiểu học của Huyện Nga Sơn Trường có đội ngũ giáo viên vững về chuyênmôn, nghiệp vụ, gần 100% giáo viên của nhà trường có trình độ trên chuẩn

Trang 4

Trong các kỳ thi giáo viên giỏi cấp huyện, năm nào nhà trường cũng có giáoviên đạt thủ khoa, có rất nhiều đồng chí có năng lực vững vàng, phương phápdạy học linh hoạt, đã lôi cuốn được học sinh vào học tập.

Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, qua thao giảng, kiến tập của giáo viêntrong trường, đặc biệt là giáo viên khối 2(qua một số tiết LTVC) bản thân tôi vàđồng nghiệp vẫn còn một số tồn tại:

- Một số tiết dạy chưa có sự đầu tư : đổi mới PPDH chưa triệt để, các hình

thức tổ chức hoạt động trong giờ học Luyện từ và câu còn đơn điệu, nghèo nàn,

phương tiện, đồ dùng dạy học chuẩn bị chưa chu đáo

- Nhiều tiết dạy LTVC giáo viên đã sử dụng phương pháp “trò chơi học tập”, tuy nhiên chủ yếu chỉ ở những tiết thao giảng, dự giờ Còn những tiết dạy

hàng ngày trên lớp giáo viên còn ngại tổ chức trò chơi cho học sinh Việc sửdụng phương pháp trò chơi trong dạy học chưa thực sự được chú trọng và chưamang lại hiệu quả: tổ chức qua loa, chưa bài bản, chưa xác định rõ mục tiêu vàtác dụng của trò chơi, lớp học ồn dẫn đến giờ học chưa hiệu quả, chưa lôi cuốnđược học sinh tham gia vào hoạt động học tập

- Tài liệu nói về hình thức tổ chức trò chơi học tập còn hạn chế, một số tàiliệu có đưa ra các hình thức trò chơi phong phú song chưa sát thực, không mangtính khả thi

2 Thực trạng của học sinh.

Trường tiểu học Thị Trấn là một trong những trường chuẩn quốc gia mức

độ 2 tốp đầu tiên của Tỉnh Thanh Hóa Học sinh Trường Tiểu học Thị Trấn vốn

có truyền thống hiếu học và có bề dày thành tích về học tập Học sinh chủ yếu làcon gia đình cán bộ, được các bậc phụ huynh quan tâm, tạo điều kiện về vậtchất, tinh thần cho các em học tập tốt Vì vậy đại đa số học sinh của nhà trường

tự tin, giao tiếp tốt, chất lượng học tập khả quan

Bên cạnh những học sinh chăm học, vẫn còn một số em đang còn rất thờ ơvới việc học Tiếng Việt (vì có phân môn Luyện từ và câu ,Tập Làm Văn) Đây

là một phân môn mới lạ với các em từ lớp một lên, có một số em bố mẹ cho đặtcâu, viết đoạn ở nhà là khóc( Phụ huynh em Nguyễn Trí, Tấn Dũng, Lê Vy phảnánh lại) Vì vậy, kĩ năng giao tiếp, vốn từ ngữ, kiến thức về câu của các em rấthạn chế, điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập của các em nói chung Một số phụ huynh chưa có phương pháp để hỗ trợ cho các em tiếp thu, củng

cố kiến thức môn Tiếng Việt Vì vậy nói đến học Tiếng Việt là các em thấy sợ,

lo lắng, không muốn học, từ đó chất lượng học môn Tiếng Việt của học sinhkhông cao

3 Khảo sát hứng thú của học sinh khi học phân môn luyện từ và câu.

Sau 2 tuần nhận lớp và giảng dạy trực tiếp tại lớp 2C hai tiết LTVC, tôi nhậnthấy rằng, số học sinh nắm được bài, tích cực xây dựng bài và hoàn thành bàitập còn hạn chế Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh và thu được kết quả sau:

Trang 5

Kếtquả

Số bài

Thích học và làmbài đầy đủ Bình thường Không thích

Với thực trạng trên, cùng với những băn khoăn, trăn trở của mình tôi mạnh

dạn tìm hiểu nội dung chương trình, tài liệu hướng dẫn, thực tế kinh nghiệmgiảng dạy trên lớp, trao đổi cùng đồng nghiệp để lựa chọn một số trò chơi chohọc sinh phù hợp với từng kiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh tronglớp nhằm tạo hứng thú học tập cho các em khi học LTVC, từ đó nâng cao chấtlượng môn Tiếng Việt nói riêng và chất lượng giáo dục nói riêng

III CÁC BIỆN PHÁP:

Việc áp dụng phương pháp: “trò chơi học tập” khi dạy LTVC chính là việc

giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mê học tập, tạo không khí sôi nổi chomột giờ học Điều đó đòi hỏi giáo viên phải xác định rõ yêu cầu đạt của tiết học,mục tiêu của trò chơi học tập là gì? Trên cơ sở đó cần lựa chọn trò chơi gì? đưatrò chơi vào lúc nào? bài tập nào? Cách tổ chức ra sao? Nếu giáo viên không tổchức tốt thì trò chơi không gặt hái được kết quả như mong muốn mà còn bị phảntác dụng gây sự mất trật tự trong giờ học Chính vì vậy việc giảng dạy một tiếtLTVC ở lớp 2 được tiến hành ra sao để học sinh chủ động, hào hứng lĩnh hội trithức, đó là điều tôi đã nghiên cứu, nhận biết và tìm hiểu được một số kinhnghiệm về vận dụng một số trò chơi vào tiết dạy LTVC ở lớp 2 Đó là những tròchơi gì? được vận dụng vào từng bài dạy như thế nào cho hiệu quả? Giáo viêncần nghiên cứu kĩ chương trình và phân ra từ dạng bài

cụ thể, rồi đưa các trò chơi phù hợp vào từng bài :

1 Giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình, phân ra các dạng bài trong phân môn Luyện từ và câu:

Việc nắm vững nội dung, chương trình giúp giáo viên có cái nhìn tổng quát

và xác định rõ được mục tiêu cần đạt của môn học Khác với SGK chương trình

cũ, LTVC lớp 2 chương trình mới không có bài học lí thuyết riêng Các kiếnthức từ ngữ và ngữ pháp được thể hiện qua thực hành Thông quan hệ thống bàitập, giáo viên giúp học sinh hệ thống, khái quát hóa kiến thức trong từng bài Vìvậy ngay từ đầu năm học, tôi đã nghiên cứu kĩ chương trình phân môn LTVClớp 2 và phân chia thành các dạng bài cụ thể như sau:

a Dạng bài lí thuyết về từ.

Ở lớp 2, có những bài dạy về lí thuyết từ như :Từ và câu, Từ ngữ chỉ

sự vật (Danh từ), Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái (Động từ), Từ ngữ chỉđặc điểm, tình cảm (Tính từ) … Những bài học này là tổng kết những kiếnthức được rút ra từ những bài tập học sinh được làm Khác với chươngtrình lớp 2 cũ, chương trình lớp 2 mới học sinh được làm bài tập sau đómới rút ra kiến thức trọng tâm của bài

Dạng bài Lí thuyết lớp 2 gồm các tiết: Tuần 1, 2, 3, 4, 7, 8, 15, 16

Trang 6

b Dạng bài mở rộng vốn từ :

Cơ sở của việc hệ thống hóa vốn từ là sự tồn tại của từ trong ý thứccon người, từ tồn tại trong đầu óc con người không phải là những yếu tốrời rạc mà là một hệ thống Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liêntưởng nhất định giữa các từ này với từ khác có một nét gì chung khiến tanhớ đến từ kia nên từ được tích lũy nhanh chóng hơn Từ mới có thể được

sử dụng trong lời nói và khi sử dụng nhờ hệ thống liên tưởng, học sinhnhanh chóng huy động lựa chọn từ phù hợp với yêu cầu giao tiếp

Với mục đích tích lũy nhanh chóng vốn từ và tạo điều kiện để sử dụng

từ một cách dễ dàng, giáo viên đưa ra những từ theo một hệ thống và đồngthời xây dựng một bài tập hệ thống hóa vốn từ trong dạy từ Ở lớp 2, các

em được học từ theo chủ đề, cứ 2 tuần các em được học một chủ đề: từ ngữ

về các môn học, về thời tiết,về cây cối, chim chóc

LTVC lớp 2 gồm các tiết:6 , 7, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 28, 29,

30, 31, 33, 34

c Dạng bài tích cực hóa vốn từ:

Dạng bài tập này không chỉ giúp học sinh nắm được nghĩa mà còn làm

rõ khả năng kết hợp từ Những bài tập được sử dụng ở lớp 2 là bài tập điền

từ, bài tập đặt câu, bài tập tạo từ…

Chương trình LTVC lớp 2 gồm các tiết: Tuần 10,11,13,12,14,32,34

d Dạng bài khái niệm câu:

Quá trình hình thành khái niệm câu có thể chỉ ra theo các bước sau : Đưa ngữ liệu và phân tích ngữ liệu với mục đích làm rõ những dấuhiệu bản chất của khái niệm câu

Khái quát hóa dấu hiệu thiết lập quan hệ giữa các dấu hiệu của kháiniệm

đưa thuật ngữ (học sinh nắm thao tác so sánh và tổng hợp)

Để chuẩn bị dạy khái niệm câu giáo viên cần đặt trong hệ thốngchương trình để thấy rõ vị trí của nó đồng thời phải nắm chắc nội dungkhái niệm Đây

chính là nội dung mà giáo viên cần đưa đến cho học sinh

Chương trình LTVC lớp 2 gồm các tiết: Tuần 3, 6, 13,14,15,16

2 Xác định mục tiêu của trò chơi, xây dựng và thiết kế trò chơi:

Trong thực tế , khi dạy LTVC nhiều giáo viên đã sử dụng trò chơi học tập.Tuy nhiên, nhiều giáo viên chưa xác định rõ được mục tiêu của trò chơi, chưakhai thác hết được tầm quan trọng của trò chơi học tập.Việc sử dụng trò chơihọc tập chủ yếu ở khâu củng cố bài với mục đích thay đổi không khí lớp học,củng cố lại kiến thức bài học Vì vậy giáo viên chưa quan tâm đến cách xâydựng và thiết kế trò chơi nên hiệu quả của trò chơi học tập chưa cao

Ngoài việc củng cố kiến thức, trò chơi học tập còn có thể dùng để hìnhthành kiến thức, kỹ năng mới, tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt

Trang 7

đầu bài học Và để trò chơi học tập thực sự mang ý nghĩa “ chơi mà học” khi sửdụng trò chơi học tập người giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của trò chơi:

- Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng

Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.

Bước 2: Hướng dẫn chơi

Bước này bao gồm những việc làm sau:

- Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấyđội chơi), quản trò, trọng tài

- Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…)

- Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gianchơi, những điều người chơi không được làm…

- Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách xếp giải của cuộcchơi (nếu có)

Bước 3: Làm mẫu.

Bước 4: Thực hiện trò chơi.

Bước 4: Đánh giá - Nhận xét sau cuộc chơi.

Bước này bao gồm những việc làm sau:

- Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi củatừng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởngcho đội đoạt giải

+ Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện Việc nắm vững cách xây dựng, quy trình và các bước tổ chức trò chơi sẽ giúpgiáo viên không tổ chức qua loa, ngẫu hứng , trò chơi không đảm bảo mục tiêu, họcsinh nắm rõ luật chơi, khi thực hiện thì không lúng túng, không mất trật tự …

phân môn Luyện từ và câu lớp 2, hệ thống các trò chơi phải được lựa chọn sao

cho đa dạng về chủ đề, phong phú về cách chơi Dựa vào hình thức, cách chơi

và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt dựa theo nội dung từng bài dạy mà giáo viên tổ chức trò chơi phù hợp với đối tượng học

Trang 8

sinh của mình Để từ đó các em cảm thấy : “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.Vì vậy khi lựa chọn trò chơi, giáo viên cần lưu ý:

- Lựa chọn trò chơi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, vừa sức với học sinh

- Lựa chọn thời điểm thích hợp khi tổ chức các trò chơi học tập cho học sinhlớp

- Các thời điểm có thể tổ chức trò chơi khi dạy phân môn Luyện từ và câu là: + Hình thành kiến thức, kỹ năng mới

+ Củng cố kiến thức, kỹ năng đã học và mở rộng vốn từ cho các em

4 Vận dụng các trò chơi vào trong từng dạng bài cụ thể:

Mỗi một dạng bài LTVC có mục tiêu riêng và cách khai thác riêng Mỗi tròchơi học tập có mục đích, vai trò và hiệu quả nhất định Vì vậy, giáo viên cầncăn cứ vào từng dạng bài cụ thể để lựa chọn trò chơi chủ đạo:

a Dạng bài lí thuyết về từ.

Đối với dạng bài lí thuyết về từ, thông thường giáo viên cho học sinh

quan sát tranh để nêu từ hoặc thảo luận nhóm (nhóm đôi, hoặc nhóm 4) tìm

từ và viết vào bảng nhóm Sau đó cho đại diện các nhóm trưng kết quả vàđọc lên những từ đã tìm được, nhóm khác nhận xét và bổ sung thêm từ cònthiếu Với cách dạy này, tôi thấy hầu như tất cả học sinh đã tìm được đúng

từ theo yêu cầu của bài tập Song vẫn còn một số học sinh trong nhómkhông chịu thảo luận cùng bạn mà chỉ chờ bạn nêu kết quả, cô giáo chữabài rồi viết vào vở.Vậy làm thế nào để tất cả học sinh đều cùng nhau thamgia vào hoạt động học tập?

Tôi đã nghiên cứu kỹ nội dung bài, lựa chọn phương pháp, hình thức tổchức

dạy học phù hợp với đối tượng học sinh của lớp, với dạng bài này tôi đã áp

dụng trò chơi: “Ghép nhanh tên cho sự vật”, “ tìm nhanh các từ cùng chủ đề”

Trò chơi 1: Ghép nhanh tên cho sự vật:

* Ví dụ: Khi dạy bài 1, tuần 3- Tr 26

- Chuẩn bị tranh ảnh ( đã tô màu) theo nội dung bài tập 1 ba bộ

- Luật chơi: Giáo viên gắn 3 tranh đã chuẩn bị lên bảng và lớp đếm một,hai, ba thì em thứ nhất của ba nhóm lên viết từ chỉ sự vật vào tranh ảnh phù hợp,( Nếu em nào viết sai thì những bạn sau không được sửa lại), sau đó tiếp đến họcsinh thứ hai và đến khi hết thời gian quy định

- Cách chơi: Cho ba nhóm, mỗi nhóm có 4 học sinh tham gia chơi tiếp sức,thi đua viết từ chỉ sự vật vào các tranh ảnh, (với thời gian 2 phút), ban giámkhảo là số học sinh còn lại và cô giáo

- Đánh giá trò chơi: Nhóm trưởng của một nhóm đọc kết quả từng hình theo

số thứ tự và từ chỉ sự vật của hình đó như: Hình 1 – bộ đội; hình 2- công nhân;hình 3 – ô tô; hình 4 – máy bay; hình 5 – voi; hình 6 – trâu; hình 7 – cây dừa;hình 8 – cây mía, ban giám khảo nhận xét ghi đúng hoặc sai và thời gian củatừng nhóm để bình chọn nhóm nhất, nhì, ba

Trang 9

Kết quả của nhóm 1 và nhóm 2 các em đều viết đúng được 8 từ vào 8 tranhảnh phù hợp của bài tập 1 Riêng nhóm thứ ba, các tìm từ chỉ sự vật ở hình 2 lànông dân, ban giám khảo đánh giá là sai, tôi đã hướng dẫn học nhận xét: Ngườinông dân ngày nay cũng đã sử dụng máy móc trong sản xuất rất nhiều để tăngnăng xuất và tiết kiệm được thời gian nên vẫn chấp nhận kết quả đúng cho tổ ba

và khẳng định người công nhân chủ yếu trong các công trường nhà máy thì sửcác loại máy móc để sản xuất

* Hiệu quả: Với cách tổ chức trò chơi: Ghép nhanh tên cho sự vật, tôi thấy

tất cả học sinh trong lớp đều tích cực học tập tìm đúng các từ phù hợp với hìnhảnh đã cho Tôi cho một học sinh đọc to lại cả 8 từ các em vừa viết ở bài tập 1

và chốt: các từ bạn vừa đọc đó là từ chỉ sự vật Tôi hỏi:

Hỏi:Từ chỉ sự vật thường là những từ chỉ gì ?

Hầu hết học sinh đều trả lời: Từ chỉ sự vật là những từ chỉ người, đồ vật,cây cối, con vật và các em đã tìm thêm được nhiều từ chỉ sự vật khác Nhưvậy, các em đã nắm vững về từ chỉ sự vật và các em sẽ vận dụng để làm tốt bàitập 2

Trò chơi được vận dụng ở các bài : Bài 1( Tuần 1 – Tr 8) , Bài 1( Tuần 3 –

Trang 10

- Hết thời gian tìm từ, trọng tài yêu cầu các nhóm đính (treo) kết quả lênbảng lớp và tiến hành điều khiển việc chấm đúng sai cho từng nhóm (theo thứ tự

1, 2, 3 ) như sau:

+ Nhóm trưởng lần lượt đọc to, chậm rãi từng từ ngữ đã tìm được của nhómmình (ghi trên giấy khổ to hoặc bảng phụ)

+ Các nhóm khác theo dõi và xác nhận kết quả (Đúng - Sai) để trọng tài ghi

kết quả: Mỗi từ viết đúng yêu cầu và không mắc lỗi chính tả, được tính đúng(không đúng yêu cầu hoặc viết sai chính tảl à sai)

+ Dựa vào kết quả đạt được của từng nhóm, trọng tài công bố xếp hạng Nhất, Nhì, Ba (các nhóm bằng điểm nhau được xếp cùng một hạng).

Thảo luận nhóm 4: Tìm nhanh các từ cùng chủ đề

* Hiệu quả:

Với cách tổ chức trò chơi này, tôi thấy tất cả học sinh trong lớp đều hăng

say làm việc trong nhóm học tập của mình, nhóm nào cũng mong nhóm mìnhtìm được nhiều từ để được tuyên dương và kết quả ba nhóm báo cáo cho thấycác em đều tìm đúng các từ ngữ liên quan đến hoạt động học tập như: bút, mực,thước kẻ, tẩy, sách, bảng, phấn, đọc, nghe giảng, thảo luận, làm bài, chăm chỉ,cần cù, chiụ khó, siêng năng, lời nhác

b Dạng bài mở rộng vốn từ :

Khi dạy kiểu bài mở rộng vốn từ, thông thường giáo viên hướng dẫn cho học

sinh làm từng bài tập rồi chữa bài, chốt kết quả và cuối cùng là học sinh chữabài vào vở bài tập Với cách dạy này thì học sinh tìm được ít các câu thành ngữnói về các con vật, tôi đã áp các trò chơi dụng trò chơi:

Trò chơi 3: Thi tìm nhanh tục ngữ, thành ngữ về loài vật”

* Ví dụ: Khi dạy bài tập 2 (Tuần 24, tr.55),

Ngày đăng: 23/03/2017, 10:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w