1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông cửu long hiện nay

191 520 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với truyền thống cách mạng, bằng sự năng động, tích cực và sáng tạo đã giúp cho vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL được phát huy mạnh mẽ trên tất cả các mặt, các tiêu chí trong phong trà

Trang 1

PHẠM HUỲNH MINH HÙNG

PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

PHẠM HUỲNH MINH HÙNG

PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và Chủ nghĩa duy vật lịch sử

Mã số : 62 22 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGUYỄN THỊ NGA

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định

Tác giả

Phạm Huỳnh Minh Hùng

Trang 4

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN NỘI DUNG ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến những vấn đề lý luận chung về việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới 6 1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long 20 1.3 Những công trình nghiên cứu về quan điểm, giải pháp phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long 23

Chương 2: PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 30

2.1 Chủ thể nông dân và tầm quan trọng của việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới 30 2.2 Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay - những nội dung cơ bản 52 2.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới 60

Chương 3: PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN TRONG

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 74

3.1 Khái lược về Đồng bằng sông Cửu Long và đặc điểm nông dân Đồng bằng sông Cửu Long 74 3.2 Thực trạng phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long 83

Trang 5

hiện nay 111

Chương 4: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ

BẢN NHẰM PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY 124

4.1 Một số quan điểm định hướng nhằm phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay 124 4.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long 129

KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 152 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 168

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là chủ trương của Đảng ta, có ý nghĩa to lớn và tác động toàn diện đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau Trong đó, nông dân được xác định vừa là chủ thể trực tiếp tham gia vừa là chủ thể thụ hưởng những thành quả từ phong trào này Vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM là vô cùng to lớn Hiệu quả đạt được từ việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM đem lại lợi ích trên nhiều phương diện khác nhau Với nông dân, thông qua phong trào XDNTM là cơ hội để từng chủ thể nông dân khẳng định quyền làm chủ, kiến tạo cuộc sống ngày càng ấm no, sung túc một cách bền vững Với xã hội, có phát huy tốt vai trò chủ thể của nông dân sẽ là nhân tố cơ bản đem đến sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn nông thôn

Tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM đạt được nhiều thành tựu quan trọng Với truyền thống cách mạng, bằng sự năng động, tích cực và sáng tạo đã giúp cho vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL được phát huy mạnh mẽ trên tất cả các mặt, các tiêu chí trong phong trào XDNTM: từ việc nhiệt tình, tích cực tham gia quy hoạch và thực hiện quy hoạch đến việc tự nguyện, tự giác đóng góp tiền của, ngày công lao động xây dựng kết cấu hạ tầng

KT - XH; không những chủ động, sáng tạo trong tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế mà còn hăng hái tham gia các phong trào phát triển văn hóa, xã hội, giữ gìn an ninh trật tự,… Việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL trong XDNTM trên thực tế đang thực sự đem lại một diện mạo nông thôn không ngừng đổi thay theo hướng văn minh, hiện đại nhưng giàu bản sắc của vùng

Trang 8

đồng bằng sông nước; đồng thời bản thân nông dân ĐBSCL cũng đang có sự thay đổi đáng kể từ nhận thức đến hành động ngày một tiến bộ hơn

Tuy nhiên, việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL hiện tại vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập từ nhiều góc độ Một mặt, nông dân ĐBSCL luôn chống chọi với nhiều thách thức do tác động của các nhân tố khách quan đó là thị trường đầu ra cho nông sản không ổn định, thường gặp rủi ro; sự gắn kết, hỗ trợ, chia sẻ trong mối liên kết “Bốn nhà” chưa thực sự bền chặt; tác động tiêu cực của các yếu tố tự nhiên là nỗi lo lớn cho nông dân trong suốt quá trình sản xuất; điều quan trọng hơn là hiện nay đang có biểu hiện nóng vội chạy theo thành tích, của sự lạm dụng việc XDNTM để ép buộc nông dân đóng góp quá mức làm cho đời sống của nhiều nông dân đã khó khăn, vất vả lại càng khốn khó hơn Đây là những vấn đề lớn đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người nông dân Mặt khác, bản thân nông dân ĐBSCL vẫn còn tồn tại những hạn chế nội sinh như trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề thấp chưa được khắc phục; những nhược điểm trong tâm lý, tính cách chưa được điều chỉnh, xóa bỏ Những hạn chế này thực sự là rào cản,

“xiềng xích” mà các chủ thể nông dân đang tự trói buộc bản thân mình, làm cho vai trò chủ thể ở từng nông dân chưa được phát huy tối đa, có hiệu quả

Để quá trình XDNTM ở ĐBSCL đi vào chiều sâu, tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn, đòi hỏi vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL với những ưu điểm vốn có như sự chủ động, tự giác, năng động, sáng tạo phải tiếp tục phát huy lên một tầm cao mới; đồng thời các chủ thể nông dân ĐBSCL cần phấn đấu khắc phục những hạn chế, nhược điểm để ngày càng tiến bộ Sức mạnh của nông dân chỉ có thể nhân đôi và phát huy mạnh mẽ một khi nông dân có quyết tâm, nghị lực và khát vọng vượt lên chính mình Cùng với đó, để phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL có hiệu quả rất cần có sự quan tâm sâu sát, sự hỗ trợ kịp thời và thường xuyên của các nhân tố bên ngoài nông dân

Trang 9

Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCLlà để đem lại cho từng chủ thể nông dân có cuộc sống ngày càng tốt hơn, tiến bộ hơn, nghĩa tình hơn đúng như mục đích, ý nghĩa, giá trị đích thực của một chủ trương giàu tính nhân văn của Đảng và Nhà nước ta Vì vậy, việc thống nhất

về quan điểm nhận thức, về việc xây dựng một hệ thống các giải pháp toàn diện, đồng bộ, hiệu quả, khả thi để phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL là yêu cầu đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay

Từ những vấn đề trên cũng chính là lý do để nghiên cứu sinh chọn

hướng nghiên cứu "Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng

nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay" làm đề tài luận án

tiến sĩ triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích

Từ việc phân tích cơ sở lý luận và thực trạng phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL, luận án đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của

nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Trình bày tổng quan về những công trình nghiên cứu có liên quan đến vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM

- Khái quát một số vấn đề lý luận về phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở nước ta hiện nay và những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM

- Phân tích thực trạng của việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL hiện nay và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

Trang 10

- Đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả xác định giới hạn đối tượng nghiên cứu là vai trò chủ thể của bản thân người nông dân trong

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận án nghiên cứu về việc phát huy vai trò chủ thể

của nông dân trong XDNTM tại 13 tỉnh, thành phố khu vực ĐBSCL

- Về thời gian: Nghiên cứu việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL với các thông tin khảo sát giới hạn từ năm 2009 đến

- Các văn kiện, nghị quyết của Đảng đặc biệt là Nghị quyết 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương Bảy khóa X năm 2008 về nông nghiệp, nông thôn

và nông dân

- Quyết định số 491/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ năm 2009 về việc

ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới

- Quyết định số 800/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ năm 2010 về việc

phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020

Trang 11

- Quyết định số 340/QĐ-TTg Thủ tường Chính phủ năm 2013 về việc Sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Quyết định số 1980/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ năm 2016 về

việc Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 -

2020 (gọi tắt là Bộ tiêu chí xã)

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử - lôgíc; phương pháp so sánh, phương pháp thống kê trên cơ sở sử dụng tư liệu thực tế của các công trình nghiên cứu đã có nhất là của các cơ quan ban ngành các tỉnh, thành phố trong khu vực

5 Những đóng góp mới của luận án

- Phân tích làm rõ, có hệ thống về vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL trong XDNTM

- Phân tích thực trạng và nguyên nhân thành tựu, hạn chế trong việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL

- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục phát huy tốt hơn vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL

6 Ý nghĩa của luận án

- Công trình nghiên cứu góp phần khẳng định sự cần thiết, tính đúng đắn về chủ trương XDNTM của Đảng và Nhà nước ta; chỉ rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân, là chủ thể quyết định sự thành công của quá trình XDNTM

- Công trình nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo để vận dụng vào thực tế việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM tại các tỉnh thành vùng ĐBSCL

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án

được kết cấu thành 4 chương, 11 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

NỘI DUNG ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Vai trò chủ thể của nông dân Việt Nam luôn được khẳng định qua mọi giai đoạn lịch sử thăng trầm của dân tộc Đặc biệt, vai trò chủ thể của nông dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến từ rất sớm thông qua các tác phẩm, bài viết, bài nói chuyện của mình Chẳng hạn, ngay từ những ngày đầu lãnh đạo chính quyền cách mạng non trẻ, trong thư gửi điền chủ, nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, Người viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế nước ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [70, tr.215] Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao sức mạnh to lớn, toàn diện của nông dân Người cho rằng: “Nông dân ta chí khí rất anh dũng, kinh nghiệm rất nhiều, lực lượng rất to Điều đó đã tỏ rõ trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến Nếu lãnh đạo tốt, thì khó khăn gì họ cũng khắc phục được, việc gì to lớn mấy họ cũng làm được” [68, tr.196]

Vai trò, sức mạnh của nông dân không chỉ được phát huy trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà ngày nay sức mạnh ấy một lần nữa được Đảng ta tiếp tục khẳng định tại Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X năm 2008 với Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông thôn và nông dân khi cho rằng “Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển” [30, tr.124]

Trang 13

Trong những năm qua, vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn gắn với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và XDNTM luôn tạo được sự quan tâm, chú ý của nhiều cấp, bộ ngành và các nhà khoa học Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của tập thể, của các nhà khoa học về nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở những góc độ khác nhau

Cuốn sách Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đổi mới

đất nước Vấn đề và kinh nghiệm của các tác giả Nguyễn Văn Sáu, Trần Xuân

Sầm và Lê Doãn Tá (đồng chủ biên) khẳng định rằng việc Đảng ta quan tâm đến nông dân luôn là bài học kinh nghiệm không hề cũ đối với sự nghiệp cách mạng “Hướng về nông thôn, nông nghiệp để nghiên cứu tìm cách nhân sức mạnh của một lực lượng nông dân to lớn là một vấn đề có tầm chiến lược bao quát và hết sức căn bản [87, tr.67]

Với tác giả Hoàng Ngọc Hòa trong sách Nông nghiệp, nông dân, nông

thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cũng

đã chỉ rõ:

Nông dân vừa là chủ thể, vừa là động lực của phát triển nông nghiệp Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp phải đặt nông dân vào đúng vị trí chủ thể của sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nông thôn, phải làm sao khơi dậy, phát huy được sự cố gắng, nhiệt tình, tích cực, năng động sáng tạo và các nguồn lực của nông dân đầu tư vào phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế - xã hội nông thôn” [42, tr.46-47]

Vai trò, sức mạnh của nông dân trong mọi giai đoạn lịch sử luôn được thực tiễn khẳng định Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, vì nhiều lý do khác nhau, vai trò của nông dân chưa được phát huy đúng mức, đời sống của người nông dân vẫn còn nhiều khó khăn, vấn đề nông nghiệp và nông thôn vẫn còn

nhiều bất cập Điều này được thể hiện trong sách Nông dân, Nông thôn và

Trang 14

Nông nghiệp: Những vấn đề đang đặt ra của các học giả nổi tiếng như giáo sư

Tương Lai, giáo sư Đào Thế Tuấn, nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc, Các tác giả có điểm giống nhau đó là gắn bó, thiết tha với lĩnh vực nông nghiệp và địa bàn nông thôn; xót xa với tình cảnh khó khăn, vất vả, thua thiệt của người nông dân Điều này được thể hiện qua việc các tác giả chỉ ra những hạn chế, khiếm khuyết từ các chủ trương, chính sách vĩ mô và cho rằng đó là một trong những nguyên nhân làm cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong tương lai vận động theo hướng “Diện mạo nông thôn trong mươi, hai mươi năm tới thật là ảm đạm: Nông thôn sẽ là nơi không ai muốn ở, nông nghiệp sẽ là ngành không ai muốn đầu tư, nông dân muốn thoát khỏi nông thôn, nông nghiệp!” [81, tr.110] là điều rất cần được suy ngẫm và kiểm chứng trong thực tiễn Từ đó, các học giả bằng sự tâm huyết của mình đề xuất một số quan điểm, giải pháp theo góc nhìn tiếp cận cá nhân

Cùng chung quan điểm trên, tác giả Đặng Kim Sơn và các cộng sự,

trong cuốn sách Đổi mới chính sách nông nghiệp Việt Nam: Bối cảnh, nhu

cầu và triển vọng cho rằng việc ban hành chính sách về nông nghiệp, nông

thôn trong thời gian qua là cần thiết và tạo cú hích quan trọng tạo đà cho nông nghiệp Việt Nam cất cánh Tuy nhiên, quá trình ban hành và thực hiện chính sách còn có những bất cập, trong đó đáng chú ý là sự tham gia của chủ thể nông dân chưa cao “Sự tham gia ý kiến của người dân trong công tác xây dựng chính sách và phối hợp thực hiện chính sách còn rất hạn chế Nông dân nói chung không có tiếng nói, hầu như không tham gia vào công tác này, do

đó sự phản hồi chính sách rất yếu, thậm chí không có” [88, tr.132]

Cũng theo Đặng Kim Sơn, trong sách Kinh nghiệm quốc tế về nông

nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, từ việc nêu lên

hàng loạt những câu hỏi lớn, đáng chú ý như nông nghiệp, nông thôn, nông dân ngày mai sẽ ra sao, tác giả dự đoán sẽ có sự biến đổi mạnh trong nông dân với màu sắc khá ảm đạm:

Trang 15

Phần lớn cư dân nông thôn sẽ chuyển về đô thị vì thị trường không hoàn chỉnh, đa số lao động không có tay nghề, quá trình di

cư diễn ra không suông sẻ Hàng chục triệu người sẽ xung vào đội quân “lao động không chính thức” thu nhập thấp, cuộc sống bấp bênh, làm việc khó khăn, không được luật lệ và tổ chức nghiệp đoàn bảo vệ Số dân còn lại ở nông thôn còn rất đông, chủ yếu là hộ tiểu nông sản xuất nhỏ, vừa sản xuất nông nghiệp, vừa tìm việc làm thêm [142, tr.176]

Trong khi đó tình hình rủi ro của các hộ nông dân không những không giảm đi mà còn có khuynh hướng gia tăng cũng được tác giả trình bày trong

cuốn sách Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai

sau Nguyên nhân của các rủi ro có nhiều, chủ yếu là do ốm đau bệnh tật,

thiên tai thường xảy ra, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, tác động tiêu cực từ các yếu tố của thị trường,… [141, tr.145-149]

Mai Ngọc Anh trong sách Tách biệt xã hội về kinh tế đối với nông

dân Việt Nam cũng đã khẳng định: tình trạng tách biệt về kinh tế đối với

nông dân phụ thuộc vào tình trạng việc làm Tuy nhiên, tình trạng việc làm của nông dân đến lượt nó lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội sinh của nông dân Đó là tình trạng sức khỏe không tốt, khả năng và mức độ chăm sóc y

tế không cao; mặt bằng dân trí và trình độ học vấn thấp, thiếu chuyên môn

và tay nghề;… [1, tr.154-158] là nguyên nhân làm cho đời sống kinh tế của nông dân ngày càng có sự cách biệt so với mặt bằng chung của xã hội

Cùng chung quan điểm trên, trong bài viết “Cơ cấu giai cấp nông dân - một số biến đổi (chủ yếu từ năm 1996 đến nay)” của tác giả Mạch Quang Thắng

đã nêu lên thực trạng biến đổi cơ cấu giai cấp nông dân nước ta như: cơ cấu dân

cư nông thôn có sự chuyển dịch nơi cư trú và thay đổi môi trường làm việc, chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị đặc biệt là đối tượng thanh niên nông thôn; sự biến đổi cơ cấu kinh tế tác động mạnh mẽ tới sự biến đổi cơ cấu xã

Trang 16

hội - nghề nghiệp của nông dân kể cả chiều rộng và chiều sâu, từ đó dẫn đến sự biến đổi về điều kiện sản xuất, mức thu nhập, điều kiện sống, Theo tác giả, sự biến đổi tất yếu cơ cấu giai cấp nông dân có hai mặt: tích cực và không tích cực, đáng chú ý “Chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn thấp, điều này ảnh hưởng không tốt đến sự biến đổi giai cấp nông dân Việt Nam trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây Trình độ học vấn và trình độ về mọi mặt của người lao động nông thôn thấp làm cản trở đến việc tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật, khoa học và công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất” [94, tr.73]

Có thể nhận thấy, trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì nông dân vẫn luôn là lực lượng yếu thế Sự hỗ trợ, giúp sức của các chủ thể khác trên thực tế không nhiều, thậm chí có cả xung đột về lợi ích Trong

sách Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Vấn đề và giải

pháp do Lê Quốc Lý (Chủ biên), từ việc phân tích toàn diện các vấn đề có

liên quan đến CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và những vấn đề đặt ra qua khảo sát thực tiễn tại các tỉnh chủ yếu tập trung ở khu vực phía Bắc, quyển sách cho rằng xung đột lợi ích giữa các chủ thể ngày càng nhiều bao gồm: 1) Nông dân xung đột với các cơ quan công quyền; 2) Nông dân xung đột với doanh nghiệp Tác giả nhận định, mức độ xung đột lợi ích giữa nông dân với các cơ quan công quyền, với doanh nghiệp có xu hướng tăng và diễn tiến theo

xu hướng mới, thậm chí có nguy cơ hình thành các điểm nóng, bất ổn chính trị ở khu vực nông thôn [58, tr 128-131]

Hiện nay, cuộc sống của đại bộ phận nông dân nước ta còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có một phần là từ những hạn chế của bản thân người nông

dân Điều này được thể hiện rõ trong các sách như: Nông nghiệp, nông dân,

nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020 do

Nguyễn Thị Tố Quyên (Chủ biên) [144, tr.207-212]; sách Tác động của hội

nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam do Nguyễn Từ

(Chủ biên) [123, tr.219-222] Nhìn chung, cả hai cuốn sách đi tìm nguyên

Trang 17

nhân từ chính những hạn chế của bản thân người nông dân Cho đến nay, đa

số nông dân vẫn mang lối sống và nếp nghĩ cũ của người tiểu nông: tư duy manh mún, tầm nhìn hạn hẹp; tính thụ động, yên phận; không dám mạo hiểm,

sợ rủi ro; tác phong làm ăn tùy tiện, ý thức kỷ luật kém, ít sống theo luật pháp

mà chủ yếu theo văn hóa cộng đồng làng xã; tư tưởng bình quân chủ nghĩa;… Tất cả những nhược điểm, hạn chế trên làm cho nông dân ngày càng thua thiệt trong quá trình CNH, HĐH Có thể khẳng định, những vấn đề các sách phân tích là rất sâu sắc, làm tiền đề để tác giả nghiên cứu sâu hơn trong phạm vi hẹp về nông dân ở ĐBSCL

Khi nghiên cứu về nông dân ở phạm vi khu vực, đáng chú ý có các công trình như:

Sách Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 do Trần Thị Minh

Ngọc chủ biên [143] Cuốn sách nêu lên thực trạng việc làm của nông dân vùng ĐBSH dưới tác động của CNH, HĐH giai đoạn 2000 - 2007 Mặt tích cực của CNH, HĐH đối với nông dân vùng ĐBSH tạo ra nhiều cơ hội việc làm, thu hút lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Mặt tiêu cực là nông dân bị thu hồi đất phải từ bỏ nghề nông trong khi chưa được trang bị các điều kiện cần thiết để chuyển sang làm các nghề khác dẫn đến gia tăng tình trạng thiếu việc làm do tác động của CNH và đô thị hóa Đây là một mâu thuẫn, nghịch lý của vùng ĐBSH Điều này làm cho mối quan hệ cung - cầu trong thị trường lao động ở ĐBSH có nhiều bất cập: thừa lao động phổ thông, thiếu lao động qua đào tạo có trình độ chuyên môn tay nghề cao Quá trình CNH, HĐH đã tác động trực tiếp đến thu nhập của nông dân vùng ĐBSH Số liệu trong cuốn sách cho thấy thu nhập của nông dân có được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo từng bước giảm theo tiến trình của sự phát triển Tuy nhiên, thu nhập của nông dân khu vực này nhìn chung vẫn còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của

Trang 18

vùng Mặc dù cuốn sách chỉ đề cập đến đời sống của nông dân vùng ĐBSH và giới hạn ở vấn đề việc làm, nhưng đây là tài liệu quan trọng làm

hệ quy chiếu trong so sánh khi nghiên cứu về vấn đề nông dân ở ĐBSCL

Luận án tiến sĩ triết học của Đỗ Thị Thanh Mai nghiên cứu về vấn đề

“Tâm lý nông dân miền Bắc Việt Nam khi chuyển sang kinh tế thị trường - Đặc trưng và xu hướng biến đổi” [63] Luận án đi sâu nghiên cứu về đặc điểm tâm

lý của nông dân Đồng bằng Bắc bộ trong lịch sử và hiện tại Đồng thời, tác giả đưa ra những dự báo về sự biến đổi tâm lý của nông dân Đồng bằng Bắc

bộ trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực trong những năm tiếp theo khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường sâu rộng Tuy nhiên, do giới hạn về phạm

vi và nội dung nghiên cứu, nên luận án không đi sâu tìm hiểu về tâm lý nông dân ở các khu vực khác, nhưng đây là tài liệu khoa học quan trọng trong việc

so sánh đối chiếu với tâm lý nông dân ở các vùng miền khác nhất là tâm lý, tính cách nông dân vùng ĐBSCL

Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Ngọc Sơn “Nguồn nhân lực nông

thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và

xu hướng phát triển” [89] Luận án đi sâu nghiên cứu về chất lượng nguồn

nhân lực ở địa bàn nông thôn (thực chất là nông dân, đặc biệt là thanh niên) của cả nước với những thuận lợi và khó khăn trong quá trình CNH, HĐH đất nước Qua đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp như về giáo dục và đào tạo,

KT - XH, chính trị, văn hóa nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn nông thôn đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước

Riêng nông dân ĐBSCL với tư cách là một bộ phận quan trọng của nông dân cả nước cũng là đối tượng được nhiều học giả nghiên cứu, đáng chú

ý có Sơn Nam với tư cách là nhà văn, nhà Nam bộ học đã đi sâu nghiên cứu

về lịch sử khai phá, phát triển vùng đất phương Nam, về con người Nam bộ

và đã xuất bản hơn 50 tác phẩm, tiêu biểu như: Nói về miền Nam, cá tính miền

Nam, thuần phong mỹ tục Việt Nam; Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh

Trang 19

hoạt xưa và văn minh miệt vườn; Lịch sử khẩn hoang miền Nam; Sài Gòn xưa

- Ấn tượng 300 năm và tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long [72], [73],

[74], [75] Theo Sơn Nam, tính cách, tâm lý người dân Nam bộ luôn có sự đan xen của cả hai yếu tố đối lập: hiền lành, đôn hậu nhưng cũng ngang tàng, liều lĩnh; năng động, thích tìm tòi khám phá cái mới từ thực tiễn nhưng có phần lười biếng, không quan tâm việc học từ sách vở, đi học là điều không cần thiết; không văn chương hoa mỹ, nói ít làm nhiều, con người hành động nhưng cũng dễ buông suôi, thiếu kiên nhẫn, Bên cạnh đó, trong các sách của

mình, tác giả đồng thời trình bày về các phong tục, tập quán, về “văn minh

miệt vườn” của người dân vùng ĐBSCL Các tác phẩm của Sơn Nam là kho

tài liệu đồ sộ, thực sự cần thiết để nghiên cứu tìm hiểu về những nét đặc trưng văn hóa cũng như tâm lý, tính cách nông dân vùng ĐBSCL với tất cả những

ưu nhược điểm - yếu tố quan trọng có liên quan đến thực trạng phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM hiện nay

Cuốn sách Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do Trần Ngọc Thêm

chủ biên và viết chính [96] là công trình khảo cứu rất đồ sộ, công phu gần 900 trang in với sự tham gia nghiên cứu và thẩm định của nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa học có sự am hiểu sâu sắc về Nam bộ nói chung và Tây Nam bộ nói riêng Xuyên suốt 8 chương của cuốn sách, các học giả đều xuất phát từ tồn tại xã hội, nhất là căn cứ vào những nét đặc thù do điều kiện tự nhiên quy định, làm cơ sở đối chiếu với các vùng miền khác trong cả nước, qua đó nhằm làm rõ bên cạnh những điểm tương đồng thì người Việt ở Tây Nam bộ cũng

có những nét văn hóa độc đáo có tính khu biệt Đặc biệt, ở chương V, công trình tập trung nghiên cứu về các đặc trưng tính cách văn hóa của người Việt vùng Tây Nam bộ, đó là: tính sông nước, tính trọng nghĩa, tính bộc trực, tính bao dung, tính thiết thực và tính mở thoáng Ở mỗi yếu tố trên lại chứa đựng

cả tích cực và tiêu cực, ưu điểm và nhược điểm Trên cơ sở đó, tác giả rút ra kết luận:

Trang 20

Từ thiên nhiên, khí hậu cho đến con người, không có cái gì là bất biến Chất văn minh thì tăng lên, đời sống kinh tế thì có đi lên, nhưng thiên nhiên và khí hậu và một số mặt của con người thì đang

có dấu hiệu đi xuống Bởi vậy mà người Tây Nam Bộ không thể ngủ yên; đối với Tây Nam Bộ, cả tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khí hậu và tài nguyên con người đều cần được nuôi dưỡng Trong

đó, tài nguyên con người là quan trọng nhất; con người mà suy

thoái về đạo đức, thiếu hiểu biết về nhận thức và thiếu tầm nhìn về

năng lực thì chính họ sẽ tàn phá rất nhanh tài nguyên thiên nhiên và

tài nguyên khí hậu của mình, của mọi người và của muôn đời con cháu về sau [96, tr.853]

Nhìn chung, các tác phẩm của Sơn Nam, hay Trần Ngọc Thêm tuy không chủ đích bàn sâu về nông dân Nam bộ với tư cách là một giai tầng trong xã hội, nhưng bối cảnh lịch sử mà các tác giả đề cập có liên quan đến cư dân Nam bộ

mà về thực chất và chủ yếu đó là nông dân Vì vậy, sẽ là thiếu sót nếu nghiên cứu về nông dân ĐBSCL mà lại không tìm hiểu nghiên cứu về những tác phẩm này, bởi lịch sử là một dòng chảy liên tục Một khi hiểu rõ về văn hóa, về đất và người của vùng đất chín rồng là một trong những cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách phù hợp nhằm tiếp tục phát huy tốt hơn vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM Các sách này giúp cho tác giả luận án có nguồn tư liệu phong phú làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu về những đặc điểm tâm lý, tính cách của nông dân ĐBSCL trong điều kiện hiện nay

Để tiếp tục phát huy vai trò của nông dân trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và XDNTM đồng thời cũng là để nâng cao đời sống cho nông dân, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ nông dân như:

Sách Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân

ở Việt Nam của tác giả Hồ Quế Hậu [40] Cuốn sách đi sâu nghiên cứu và khảo

Trang 21

sát về mối liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân - một phần rất quan trọng trong mối kiên kết “Bốn nhà” - được tác giả nhấn mạnh nhất là khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng giữa nông dân với các doanh nghiệp Qua khảo sát về mối liên kết giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân trên phạm vi cả nước cho thấy bước đầu đạt được nhiều kết quả tốt đẹp Đối với doanh nghiệp chế biến nông sản, thông qua mối liên kết với nông dân, đã thu mua được sản phẩm có chất lượng tốt, tạo nguồn cung nguyên liệu ổn định bền vững cho nhu cầu chế biến, phát huy được hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao Về phía nông dân, khi tham gia liên kết với doanh nghiệp chế biến đã giúp cho nông sản ổn định được đầu ra với giá cả hợp lý, yên tâm sản xuất và thu nhập từng bước được cải thiện Tuy nhiên, theo tác giả, quá trình thực hiện liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân tiến triển chậm, còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Đáng chú ý là quy mô thực hiện còn nhỏ, chất lượng liên kết không cao, thiếu bền vững; tranh chấp hợp đồng giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân diễn ra khá gay gắt, phức tạp Tình trạng vi phạm hợp đồng từ cả hai phía rất phổ biến Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp phát triển liên kết giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân Việt Nam ngày càng trở nên thực chất và hiệu quả hơn

Cuốn sách Xây dựng câu lạc bộ sinh kế cộng đồng - Góp phần xóa đói

giảm nghèo [133] Cuốn sách được trình bày bằng hình thức như sổ tay, cẩm

nang cho nông dân Cuốn sách khẳng định các câu lạc bộ sinh kế cộng đồng

là hình thức hợp tác giản đơn, có khả năng áp dụng rộng rãi ở các vùng miền, phù hợp với nông dân có hoạt động sản xuất quy mô nhỏ lẻ, vốn ít, dễ bị thiệt thòi khi tham gia thị trường Do vậy, việc hợp tác liên kết giữa một số nông dân hay hộ gia đình thành tổ chức cộng đồng cùng thực hiện các hoạt động sản xuất được đánh giá là thích hợp để huy động các nguồn lực phát triển kinh

Trang 22

tế hộ gia đình nhằm nâng cao năng lực sản xuất, XĐGN, liên kết tạo thêm nguồn lực, bình đẳng giới, thúc đẩy thực hiện dân chủ cơ sở

Hoàng Chí Bảo với Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến

trình đổi mới [7] Nội dung cuốn sách nêu bật tầm quan trọng của dân chủ, dân

chủ cơ sở, đặc biệt là việc thực hiện và phát huy tốt dân chủ cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay là chìa khóa quan trọng trong việc thực hiện tốt công tác XĐGN nói riêng cũng như CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói chung; về những ảnh hưởng và tác động của tâm lý làng xã trong việc thực hiện và phát huy dân chủ ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ hiện nay; đồng thời trình bày những bài học kinh nghiệm từ các địa phương về quá trình triển khai, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cùng với đó là các khuyến nghị Cuốn sách là tài liệu quan trọng

có thể nghiên cứu vận dụng vào quá trình XDNTM hiện nay, vì muốn XDNTM thành công đòi hỏi phải thực hiện tốt vấn đề dân chủ, dân chủ phải đi trước một bước Chỉ có như thế mới có thể phát huy tốt sức mạnh của quần chúng nhân dân, nhất là nông dân Nhưng, để phát huy dân chủ được tốt thì yêu cầu đặt ra là HTCT cơ sở phải trong sạch, vững mạnh toàn diện - một nội dung quan trọng được thể hiện ở tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia về XDNTM

Cũng bàn về vấn đề dân chủ có bài “Thực hành dân chủ qua 30 năm đổi

mới - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Lê Hữu Nghĩa, trong sách Triết

học chính trị - con người - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [79], tác giả cho

rằng để thực hiện dân chủ thì phải từ nhiều chủ thể khác nhau như Đảng, Nhà nước và đặc biệt là nhân dân:

Nhân dân phải có năng lực làm chủ Năng lực đó không phải bỗng dưng mà có, không phải từ trên trời rơi xuống, không phải do “ban

phát” mà một mặt Đảng, Nhà nước phải tạo ra cơ chế, chính sách, luật pháp thích hợp, mặt khác người dân phải phấn đấu, rèn luyện,

phải học dân chủ, phải nâng cao trình độ hiểu biết về dân chủ, phương pháp thực hành dân chủ và bản lĩnh thực hành dân chủ Có

Trang 23

như vậy, nhân dân mới có quyền dân chủ thực sự, tránh tình trạng dân chủ chung chung, dân chủ hình thức [79, tr.12]

Những năm gần đây, đặc biệt kể từ khi phong trào XDNTM được Đảng

ta chủ trương thực hiện trên phạm vi cả nước thực sự đang trở thành chủ đề lớn được cả xã hội quan tâm Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

về vấn đề này

Đối với các đề tài khoa học, đáng chú ý có: Một số giải pháp xây dựng

nông thôn mới vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng (2012), mã số KHBĐ

(2009)-16 [51]; Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống vùng đồng

bằng Bắc bộ trong xây dựng nông thôn mới hiện nay (2014), mã số KHBĐ

(2013)-12 [50]; Phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng

nông thôn mới ở khu vực đồng bằng sông Hồng (2014), mã số KHBĐ

(2013)-39 [49] Các đề tài khoa học trên tuy đối tượng nghiên cứu có khác nhau, nhưng đều xoay quanh chủ đề XDNTM và những giải pháp đề ra đều nhằm mục đích làm thế nào để phong trào XDNTM đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn Có thể nhận định, ngay từ khi Đảng ta đề ra chủ trương XDNTM, ở khu vực phía Bắc đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này với những góc độ tiếp cận khác nhau Trong khi đó, ở ĐBSCL đây là vấn đề chưa được quan tâm đúng mức

Sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn, Vũ

Văn Phúc (Chủ biên) [159] Quyển sách trình bày những vấn đề lý luận chung

và kinh nghiệm quốc tế về XDNTM, về thực tiễn XDNTM ở Việt Nam tập trung ở các tỉnh khu vực phía Bắc Tuy nhiên, khảo sát về thực tiễn XDNTM

ở ĐBSCL như thế nào, cũng như vai trò của nông dân với tư cách là chủ thể trong quá trình XDNTM ở ĐBSCL ra sao chưa được đề cập đến, trong khi ĐBSCL là địa bàn rộng lớn, giàu tiềm năng để phát triển nông nghiệp vì trên thực tế ĐBSCL đã và đang đóng góp đáng kể vào thành tựu chung cho nền kinh tế nông nghiệp của cả nước Cho nên, chương trình XDNTM nói chung

Trang 24

và việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL nói riêng cũng nên được quan tâm nghiên cứu và tổng kết thực tiễn

Bài viết Kết quả sau bốn năm thực hiện Chương trình xây dựng nông

thôn mới của Nguyễn Sinh Cúc [19], tác giả tập trung khái quát về kết quả đạt

được rất cơ bản của bốn năm triển khai thực hiện XDNTM (2011 - 2014) thông qua những mô hình tiêu biểu ở một số địa phương như: Đồng Nai, Thái Bình, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng Đồng thời, tác giả chỉ ra những khó khăn, hạn chế và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để quá trình XDNTM trong những năm tiếp theo được tốt hơn Bài viết phản ánh kịp thời thực trạng của chương trình XDNTM với nội dung và số liệu được cập nhật cùng với những giải pháp có tính gợi mở Vì vậy, đây là tài liệu tham khảo quan trọng và cần thiết

Đặc biệt, với bài Phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới - khâu

đột phá để cơ cấu lại nông nghiệp và nâng cao thu nhập bền vững cho người nông dân của tác giả Nguyễn Thiện Nhân đã chỉ ra một giải pháp rất

quan trọng nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân trong quá trình XDNTM

đó là con đường tất yếu cần phải hướng đến mô hình HTX kiểu mới gắn với sự ra đời của của Luật Hợp tác xã năm 2012 Theo Nguyễn Thiện Nhân, nông dân không thể sản xuất riêng lẻ vì “nếu canh tác độc lập, riêng

lẻ thì sức mạnh kinh tế của hộ nông dân rất nhỏ bé, khả năng chịu đựng rủi

ro rất thấp, tình trạng tái nghèo rất dễ xảy ra” [80, tr.17] Tác giả cho rằng:

Chừng nào mà nền sản xuất nông nghiệp nước ta còn chủ yếu vẫn là các hộ riêng lẻ, không liên kết với nhau, thì 10 triệu hộ nông dân vẫn mãi là 10 triệu hộ yếu thế và các yêu cầu rất hợp lý về sản xuất nông nghiệp, các chính sách về tín dụng, đào tạo, liên kết với các nhà khoa học sẽ rất khó thực thi [80, tr.19]

Vì vậy, để đổi mới mô hình sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi các hộ nông dân nhất thiết phải liên kết, hợp tác với nhau bằng mô hình HTX kiểu

Trang 25

mới Bởi lẽ, tham gia vào các HTX kiểu mới trong giai đoạn hiện nay là hướng đi cần thiết và đúng đắn vì chỉ có vào HTX nông dân sẽ có được nhiều lợi ích trên nhiều phương diện

Nhìn chung, bài viết của Nguyễn Thiện Nhân bàn về tầm quan trọng phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới - một hình thức sản xuất tiêu biểu của nông dân - để cơ cấu lại nông nghiệp mà mục đích cuối cùng không gì khác hơn nhằm nâng cao đời sống cho nông dân là rất sâu sắc đã gợi mở, định hướng cho tác giả luận án trong việc định hình giải pháp phát triển các HTX nhất là đối với mô hình cánh đồng lớn trong sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL

Bài viết Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt

Nam trong xây dựng nông thôn mới của tác giả Hoàng Phó Dân [21, tr.15-19]

nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của nông dân trong phong trào XDNTM được thể hiện qua việc nông dân chủ động tham gia trên tất cả các nội dung của Bộ tiêu chí Quốc gia về XDNTM dưới sự dẫn dắt bởi tổ chức của mình là Hội Nông dân Việt Nam các cấp

Tuy nhiên, việc nhận thức về vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ngay ở một bộ phận cán bộ, đảng viên còn khá nhiều bất cập, điều này được thể hiện trong bài “Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý về Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (Qua khảo sát tại một số tỉnh duyên hải Nam Trung bộ)” của Phạm Đi Qua điều tra xã hội học với các số liệu khảo sát thực tế về tình hình cán bộ, đảng viên nhận thức chưa chuẩn xác về việc ai giữ vai trò chủ thể trực tiếp thực hiện và thụ hưởng những thành quả trong XDNTM, tác giả kết luận đang có tình trạng “nhầm vai” khá phổ biến Theo đó:

Chính sự “nhầm vai” này khiến cho nông dân - những người cần phải trực tiếp tham gia và thụ hưởng từ Chương trình - còn “đứng ngoài cuộc”: quyền được biết, bàn, tham gia, quyết định, giám sát, thụ

Trang 26

hưởng… chưa được thể hiện một cách đầy đủ và vô hình trung trở thành “khán giả” trong tiến trình xây dựng nông thôn mới [35, tr.68]

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Nghiên cứu về nông dân ĐBSCL nói chung, về vai trò chủ thể của nông dân gắn với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và hiện nay là phong trào XDNTM nói riêng đáng chú ý có các công trình như:

Kỷ yếu Hội thảo Tái cơ cấu phát triển nông nghiệp gắn XDNTM thích

ứng với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL [12] Nhiều bài viết trong Kỷ yếu cho

rằng ĐBSCL có nhiều tiềm năng, lợi thế để XDNTM, vì với hơn 13 triệu người sống ở địa bàn nông thôn ĐBSCL và hàng năm đóng góp 40,7% trong giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp, 53,4% sản lượng thóc, 70% sản lượng trái cây, 68,7% sản lượng thủy sản, 90% sản lượng gạo xuất khẩu và chiếm gần 70% sản lượng xuất khẩu thủy sản của cả nước [12, tr.7] Những kết quả của nền nông nghiệp vùng ĐBSCL đang góp phần to lớn vào sự phát triển chung của nền nông nghiệp nước nhà, điều này càng chứng minh thành tựu có được không thể thiếu vai trò của người nông dân

Bài viết Giải pháp cho vấn đề Tam nông ở Đồng bằng sông Cửu Long

của tác giả Phạm Ngọc Hòa Trong bài viết, bước đầu tác giả đã khái quát những thành tựu đạt được đồng thời chỉ ra những hạn chế trên cả ba lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Riêng đối với nông dân ĐBSCL, tác giả khẳng định nông dân đang có nhiều thay đổi theo hướng tiến bộ “Người nông dân đã tự mình vươn lên trong phát triển kinh tế nông nghiệp và tham gia xây dựng nông thôn mới, từng bước tiếp cận, tham gia, hòa nhập được các loại thị trường, giải phóng năng lực sản xuất, tạo ra động lực mới, bước đột phá mới cho sự phát triển của vùng” [43, tr.58]

Trong cuốn sách Xây dựng nông thôn mới - Khảo sát và đánh giá của

Trần Minh Yến (Chủ biên) [146] Từ kết quả khảo sát trực tiếp tại 3/11 xã ở

Trang 27

nhiều vùng miền khác nhau, trong đó có xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đại diện cho các tỉnh thuộc ĐBSCL thực hiện thí điểm XDNTM với những thành tựu bước đầu đạt được là rất cơ bản Trong cuốn sách, tập thể tác giả đánh giá kết quả đạt được trong XDNTM ngoài sự tác động từ nhiều nhân tố khánh quan thì không thể không đề cập đến vai trò chủ thể nông dân

Ở ĐBSCL, khi nghiên cứu về nông dân với phạm vi hẹp hơn là đồng

bào Khmer, có đề tài khoa học Chính sách khuyến khích đồng bào Khmer

vùng Tây Nam Bộ tham gia tích cực vào chiến lược quốc phòng, an ninh, bảo

vệ tuyến biên giới Tây Nam của Tổ quốc (11/2014) do Học viện khu vực IV

(Cần Thơ) thực hiện [45] Đề tài khẳng định: đồng bào Khmer Nam bộ là một

bộ phận quan trọng trong đại gia đình các dân tộc ở ĐBSCL Trong khi đó, tuyệt đại đa số đồng bào Khmer Nam bộ sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, thực chất họ là nông dân Do đó, XDNTM ở ĐBSCL không thể không đề cập đến sự tham gia của đồng bào Khmer Nam bộ Cùng nghiên cứu về dân tộc,

tôn giáo ở ĐBSCL còn có sách Nhà nước, tôn giáo, luật pháp [53] của Đỗ

Quang Hưng Cuốn sách cho thấy vấn đề giữ vững an ninh, trật tự nông thôn nhất là nơi có đông đồng bào dân tộc và theo đạo vùng Tây Nam bộ là một trong những nội dung quan trọng (tiêu chí 19) trong XDNTM cần được quan tâm khi xây dựng chính sách

Vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM là to lớn Tuy nhiên, trong những năm qua, vai trò chủ thể của nông dân trên thực tế chưa được phát huy tốt, đời sống của nông dân còn gặp không ít khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau Lý giải về vấn đề này có những công trình nghiên cứu như:

Sản xuất và đời sống của các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất

ở đồng bằng sông Cửu Long Thực trạng và giải pháp của Nguyễn Đình

Hương (chủ biên) [55] Nội dung cuốn sách bước đầu cố gắng làm rõ thực chất, nguyên nhân cơ bản và sâu xa của tình trạng các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất Trên cơ sở đó đề xuất và kiến nghị một số quan

Trang 28

điểm và giải pháp nhằm bảo đảm công ăn việc làm, ổn định đời sống cho các

hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở vùng ĐBSCL

Với tiêu đề của cuốn sách bằng cách đặt ra câu hỏi lớn Nông dân dựa

vào đâu? do Đặng Đức Thành chủ biên [93] đã thể hiện một cách sâu sắc tâm

huyết của các chuyên gia, các nhà quản lý về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

và nhất là nông dân Các tác giả đã tập trung đi sâu trình bày vai trò to lớn của nông dân trong mối quan hệ với nông nghiệp và nông thôn Tuy nhiên, thực trạng về đời sống của nông dân lại không như kỳ vọng, đến mức có nhiều bài viết đã được các tác giả đặt tiêu đề theo tên chủ đề của cuốn sách như: Vì sao nông dân chưa giàu? Nông dân đang ở đâu, về đâu? Nhà nước hỗ trợ gì cho nông dân? Nhìn chung, các bài viết trong quyển sách đã thể hiện sự đồng cảm, trăn trở, chia sẻ khi đi sâu chỉ ra những những khó khăn, thách thức do các nhân tố khách quan và cả sự bất cập trong cơ chế chính sách là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thua thiệt cho nông dân Đây cũng lý do, theo tác giả luận án, làm cho vai trò chủ thể của nông dân chưa được phát huy tốt

Thực trạng phát huy vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL ngoài những nhân tố khách quan, còn do những hạn chế từ phía bản thân người nông dân

Bài viết Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng Tây Nam Bộ trong

tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Hoàng Mạnh

Tưởng [128] Theo tác giả, ĐBSCL tuy giàu tiềm năng, lợi thế so sánh nhưng thực tế cho thấy thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở ĐBSCL còn rất nhiều hạn chế, là nút thắt cản trở quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của Vùng [128, tr.61] Nguyên nhân của thực trạng này, theo tác giả, chủ yếu

là do tỷ lệ đói nghèo cao và chất lượng sống của người dân thấp; ý thức nâng cao trình độ học vấn của người dân còn thấp vì “phần đông người dân có ruộng có vườn, nên cuộc sống ít vất vả, cực nhọc Có lẽ vì vậy, người dân thường có suy nghĩ đơn giản, ít có sự nhìn xa trông rộng để có sự đầu tư cho

Trang 29

con cái trong tương lai về vấn đề học hành, sự nghiệp Cho đến nay, tình trạng này vẫn không được cải thiện là bao so với trước đây” [128, tr.62-63]

Võ Tòng Xuân trong bài “Vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân trong việc hình thành và phát triển các chuỗi giá trị

nông nghiệp” trong Tài liệu hội thảo Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền

vững [151] Với tư cách là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp,

tác giả nhận xét về nông dân ĐBSCL như sau:

Sự nghèo nàn của đa số nông dân còn do chính bản thân người nông dân gây ra Với kinh nghiệm “lão nông tri điền” rất nhiều bà con nông dân tự hào làm theo kinh nghiệm cũ của mình mà không nghiêm túc tuân thủ quy trình kỹ thuật nông nghiệp cao (GAP) khi sản xuất… Mặt khác, nông dân ta thì học thức kém nên cứ hay bắt chước người khác mà không tính toán kỹ lưỡng, thấy ai trồng gì bán được giá thì hùa nhau trồng theo, không biết thị trường như thế nào, đến khi cung vượt quá cầu thì rớt giá, bán không được, phải chịu lỗ, càng nghèo thêm [151, tr.122]

Đây là nhận định xác đáng về một trong những nhược điểm của nông dân ĐBSCL Chính điều này ít nhiều làm hạn chế việc phát huy vai trò chủ

thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL hiện nay

1.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đối với các kỷ yếu được hình thành từ các cuộc hội nghị, hội thảo khoa học lớn được các cơ quan Trung ương và địa phương đồng tổ chức, chủ trì ở

ĐBSCL đáng chú ý như: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đẩy mạnh tuyên truyền

trên báo Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long [92]; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cơ chế chính sách phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp [4]; Kỷ yếu Hội nghị xúc tiến thương mại - đầu tư nông

Trang 30

nghiệp - nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long [9]; Tài liệu hội thảo Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững [129]

Các kỷ yếu là tập hợp các bài viết được chuẩn bị công phu phục vụ cho các hội thảo, hội nghị gắn với từng chủ đề riêng Nhìn chung, các bài viết trình bày khá toàn diện vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân vùng ĐBSCL gắn với XDNTM với những thời cơ, thuận lợi Song song đó là những khó khăn, thách thức, bất cập cần được quan tâm nghiên cứu tháo gỡ Qua đó, có cái nhìn tổng thể về tình hình KT - XH và đầu tư phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy các sản phẩm nông nghiệp lợi thế ở ĐBSCL Trong giải pháp, đáng chú ý là tập trung đi sâu vào việc chỉ ra sự cần thiết và tình hình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH; về tái cấu trúc toàn diện sản xuất nông nghiệp một cách bền vững và hiệu quả để nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp Riêng đối với nông dân ĐBSCL, các kỷ yếu đều thể hiện sự đồng hành, chia sẻ và sự cần thiết phải có thêm nhiều hỗ trợ từ phía các bộ ngành, địa phương, của đội ngũ doanh nghiệp, các nhà khoa học nhằm tháo gỡ những khó khăn cho nông dân từ việc ban hành chủ trương, chính sách trong việc tái

cơ cấu ngành nông nghiệp, giải quyết việc làm gắn với giảm nghèo bền vững, khắc phục ô nhiễm môi trường,… đến hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, bao tiêu nông sản,… Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là xuyên suốt các bài tham luận trong tất cả các kỷ yếu chưa đề cập hoặc thể hiện không rõ về vai trò chủ thể nông dân với tư cách là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong XDNTM

Đối với các công trình khoa học cấp tỉnh nghiên cứu về XDNTM có đề

tài: Đề xuất các giải pháp chủ yếu xây dựng xã nông thôn mới theo bộ tiêu chí

của tỉnh trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2012 - 2014 của Liên hiệp các

Hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Bến Tre chủ trì thực hiện [134] Đề tài đi sâu khảo sát thực tế quá trình triển khai XDNTM ở 03 xã: Sơn Định (huyện Chợ Lách), Phú Nhuận (thành phố Bến Tre) và Tân Thủy (huyện Ba Tri) tương

Trang 31

ứng với đặc thù của ba vùng sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn Trên

cơ sở đó, tập thể tác giả tập trung vào việc đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát huy tốt hơn những kết quả đồng thời khắc phục những hạn chế trong quá trình XDNTM của 03 xã để có thể nhân rộng áp dụng cho tất cả các

xã trên địa bàn tỉnh

Trương Giang Nam, Nguyễn Thành Phong (Đồng chủ biên), Liên kết

“Bốn nhà” - giải pháp cơ bản góp phần xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Cửu Long [76] Đây là sách tham khảo tập hợp các bài viết của các

nhà khoa học tập trung vào thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện liên kết “Bốn nhà” ở ĐBSCL trong thời gian qua với những thành tựu và hạn chế; về vai trò của nhà nước và các cấp chính quyền trong liên kết

“Bốn nhà”, về vai trò của các nhà khoa học trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, về trách nhiệm của các doanh nghiệp đồng hành cùng với nông dân Tuy nhiên, trong mối liên kết “Bốn nhà” thì vai trò của nông dân ĐBSCL là gì, về những mặt ưu điểm và hạn chế ở nông dân ĐBSCL chưa được đề cập đến Vì vậy, đây là khoảng trống cần được nghiên cứu bổ sung

để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện, đa chiều Cuốn sách có giá trị lớn giúp cho tác giả luận án kế thừa những yếu tố hợp lý để xây dựng giải pháp huy động nguồn lực XDNTM thông qua liên kết “Bốn nhà” với góc nhìn mới

Liên quan đến nông dân ĐBSCL nhưng ở phạm vi đối tượng nghiên

cứu hẹp hơn là đồng bào Khmer có đề tài khoa học Công tác dân vận trong

thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer Tây

Nam Bộ - Thực trạng và giải pháp [48] Đề tài cho rằng công tác dân vận

trong thực hiện chính sách XĐGN chỉ có thể thành công khi có sự cộng tác tích cực của các hộ nghèo vì “Xóa đói giảm nghèo xét cho cùng là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước; của cộng đồng và xã hội, song trước hết và chủ yếu là sự nghiệp của chính bản thân hộ nghèo, người nghèo, còn những yếu tố khác chỉ là sự hỗ trợ cần và đủ để người nghèo sớm đạt được mục tiêu thoát

Trang 32

nghèo bền vững” [48, tr.97] Nhưng để làm được điều này thì các hộ nghèo cần “bài trừ các tệ nạn như mê tín, tiêu xài lãng phí, rượu chè…; có ý thức tiết kiệm trong chi tiêu, bố trí chi tiêu hợp lý, tiến bộ, thể hiện cuộc sống văn minh ngay trong cơ cấu chi tiêu của gia đình” [48, tr.97]

Đối với các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành đáng

chú ý có: Nguyễn Phong Quang với bài Cơ cấu lại và phát triển bền vững

nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở liên kết vùng [84] Từ việc

phân tích những thành tựu, hạn chế trong phát triển nông nghiệp gắn với XDNTM, tác giả khẳng định yêu cầu tất yếu phải liên kết, đặc biệt là liên kết trong thực hiện mô hình cánh đồng lớn Theo tác giả, điểm nổi bật của liên kết theo mô hình này (chủ yếu giữa doanh nghiệp với nông dân) đó là: doanh nghiệp đóng vai trò là nhà đầu tư cho nông dân, thiết kế mô hình tổ chức sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật và bảo đảm thị trường tiêu thụ Trong khi

đó, vai trò chủ thể của nông dân là trực tiếp sản xuất, đảm bảo tuân thủ đúng quy trình sản xuất để đạt hiệu quả cao Kết quả đạt được đôi bên cùng chia sẻ, trong đó nông dân hưởng lợi đáng kể vì thực tế cho thấy trên mỗi hecta lúa khi áp dụng mô hình này người nông dân có thể giảm chi phí từ 10% đến 15%, giá trị sản lượng tăng lên từ 20% đến 25%, thu lợi nhuận thêm từ 2,2 đến 7,5 triệu đồng

Giải pháp cho vấn đề Tam nông ở Đồng bằng sông Cửu Long của tác

giả Phạm Ngọc Hòa [43] Bài viết khái quát những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế trên cả ba lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Theo tác giả, để phát huy tốt hơn vai trò chủ thể của nông dân rất cần có những giải pháp mang tính chất công cụ thông qua các chính sách nhằm tác động vào chủ thể nông dân ĐBSCL như giải pháp về miễn, giảm thuế cho nông dân; hỗ trợ nông dân khi xảy ra mất mùa, thiên tai; hỗ trợ giải quyết việc làm, an sinh xã hội; đầu tư xây dựng trường học, trung tâm dạy nghề

Trang 33

Kết luận chương 1

Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là lĩnh vực rộng lớn lại có tính thời sự đang gây sự quan tâm, chú ý của toàn xã hội Phong trào XDNTM không chỉ được nông dân đón nhận và tham gia thực hiện mà nhiều tổ chức, cá nhân, các học giả, các nhà khoa học cũng bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ và có những đóng góp to lớn từ việc nghiên cứu lý luận đến tổng kết thực tiễn phong trào XDNTM trên nhiều phương diện, ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau, tạo nên bức tranh sinh động về một phong trào sôi nổi trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Đây là những kênh thông tin đa chiều, thậm chí đóng vai trò phản biện cần thiết giúp cho Đảng và Nhà nước có thêm cơ sở trong hoạch định chủ trương, chính sách XDNTM bám sát thực tiễn và phù hợp hơn

Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học, bài viết đi sâu nghiên cứu về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn; về quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với XDNTM; về thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, yếu kém và bất cập từ thực tiễn XDNTM; về những thời cơ và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng có ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn nước ta; về kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn mà Việt Nam có thể nghiên cứu, học tập và vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mình; về vai trò của HTCT và các

tổ chức CT - XH, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, của đội ngũ các nhà khoa học trong tham gia XDNTM cũng như kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập từ mối quan hệ, sự tương tác giữa các chủ thể này thông qua liên kết

“Bốn nhà”

Riêng đối với nông dân, đã có nhiều bài viết, nhiều sách, công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về nông dân như khảo sát thực trạng giai cấp nông dân dưới tác động của kinh tế thị trường, của quá trình CNH, HĐH và xu hướng vận động; về những thuận lợi và khó

Trang 34

khăn của nông dân,… Tuy nhiên, có một điểm chung ở rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về nông dân nước ta nói chung, nông dân ĐBSCL nói riêng

hiện nay cũng chỉ dừng lại ở một số vấn đề như: một là, bày tỏ sự cảm thông,

chia sẻ với những khó khăn, vất vả, thua thiệt của nông dân trong sản xuất, cũng

như xót xa với nỗi khổ của nông dân trong cuộc sống; hai là, cần phải làm gì và

làm thế nào để tác động, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong XDNTM thông qua cơ chế, chính sách như giao đất, giao rừng, hỗ trợ về vốn, hướng dẫn kỹ thuật, phát triển giáo dục gắn với đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giải quyết đầu ra cho nông sản hàng hóa

Thực tiễn XDNTM ở nước ta trong những năm qua cho thấy, bằng sự chủ động, tích cực, tự giác, năng động và sáng tạo các chủ thể nông dân đang

ra sức vươn lên trong cuộc sống không chỉ cho bản thân người nông dân mà còn vì sự tiến bộ xã hội, không chỉ đem lại sự sung túc cho riêng mình mà còn

vì nền nông nghiệp hưng thịnh, một nông thôn hiện đại và giàu bản sắc Điều này càng khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM là vô cùng

to lớn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM đến nay còn khá nhỏ bé, khiêm tốn Đặc biệt, đi sâu nghiên cứu tình hình phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM ở ĐBSCL với những nét đặc thù cho đến nay vẫn còn là khoảng trống cần được

bổ sung, lấp đầy

Từ việc thiếu hụt những công trình nghiên cứu và khảo sát thực tế đang đặt ra vấn đề là căn cứ vào cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nào để khẳng định vai trò chủ thể của nông dân, làm gì và làm thế nào để phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM hiện nay Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã có về nông dân để bổ sung khoảng trống của các vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa nghiên cứu sâu nhằm hoàn thiện hơn những vấn

đề lý luận và đánh giá thực tiễn việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân

Trang 35

trong XDNTM ở ĐBSCL hiện nay rất cần được quan tâm nghiên cứu và được luận án xác định là hướng phát triển tiếp theo

Vì vậy, trong chương 2 của luận án, bước đầu trình bày khái quát khung lý luận về chủ thể nông dân, trên cơ sở nội dung và yêu cầu cơ bản về

XDNTM ở nước ta hiện nay luận án khẳng định tầm quan trọng của việc phát

huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM, những nhân tố tác động đến việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong XDNTM được thể hiện trên

những nội dung cụ thể

Ở chương 3, từ việc khái quát về ĐBSCL và nông dân ĐBSCL, luận án

đi sâu trình bày thực trạng phát huy vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL căn

cứ vào các nội dung, tiêu chí (19 tiêu chí) trong Bộ tiêu chí Quốc gia về XDNTM trên cả hai phương diện thuận lợi và khó khăn, thành tựu và hạn chế Luận án cũng trình bày những nguyên nhân của thành tựu, hạn chế trong việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL trong XDNTM hiện nay Đây

là cơ sở quan trọng để tác giả luận án khẳng định những kết quả đạt được trong XDNTM không phải bỗng nhiên mà có và cũng không hẵn thuần túy do

việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân với tất cả sự chủ động, tích cực, phấn đấu, nỗ lực không ngừng; đồng thời cũng do những hạn chế, nhược điểm của nông dân đang là rào cản cho việc phát huy vai trò của mình trong XDNTM

Ở chương 4, luận án đề xuất những quan điểm có tính định hướng và những giải pháp cơ bản để làm gì và làm như thế nào nhằm tiếp tục phát huy ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn vai trò chủ thể của nông dân ĐBSCL trong XDNTM hiện nay và trong những năm tiếp theo

Trang 36

Chương 2 PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1 CHỦ THỂ NÔNG DÂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Chủ thể nông dân và đặc điểm cơ bản của chủ thể nông dân

Chủ thể là phạm trù thuộc lĩnh vực triết học Ở mỗi giai đoạn lịch sử và tùy vào từng trường phái triết học mà phạm trù chủ thể được nghiên cứu với những góc nhìn khác nhau Nhìn chung, các trường phái triết học khi đề cập đến chủ thể cho rằng chủ thể là con người Triết học Ấn Độ cổ đại cho rằng, chủ thể nhận thức chính là Atman (linh hồn con người) nhưng Atman của con người không phải tự hình thành, tồn tại và vận động theo những quy luật của riêng nó Mọi hoạt động của nó, suy cho cùng, là do Brahman (linh hồn vũ trụ) tạo ra, quy định và chi phối Tương tự, trong triết học Trung cổ Tây Âu,

do chịu sự quy định bởi tư tưởng thần quyền, phạm trù chủ thể được hiểu ở hai góc độ: chủ thể nhận thức là con người, còn chủ thể chi phối là thượng đế, chúa trời Trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt với Immanuel Kant, khi đề cập đến vấn đề con người thì chủ yếu bàn về con người với vai trò là chủ thể nhận thức, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh đến tính năng động, sáng tạo của hoạt động nhận thức Tuy nhiên, I Kant tách rời nhận thức ra khỏi hiện thực khách quan, không coi nhận thức như là quá trình lịch sử dựa vào hoạt động thực tiễn, không phải là nhận thức về “vật tự nó” mà là hiện tượng luận Điều này có nghĩa là chủ thể nhận thức chỉ nhận thức những gì do mình sáng tạo ra, con người chỉ có tri thức về thế giới hiện tượng mà không thể có tri thức về thế giới “vật tự nó”

Với triết học Mác - Lênin, chủ thể là phạm trù được đề cập một cách toàn diện nhất so với các trào lưu trước đây Triết học Mác - Lênin khẳng

Trang 37

định chủ thể chỉ có thể là con người hiện thực và chủ thể là bản chất đặc trưng của con người Từ điển Triết học định nghĩa: “Chủ thể là con người hoạt động tích cực và nhận thức, có ý thức và ý chí” [127, tr.93] Như vậy, chủ thể - trước hết phải là con người Tác giả Dương Thị Liễu tiếp cận phạm trù chủ thể trong mối quan hệ với khách thể, theo đó: “Chủ thể là con người với những cấp độ tồn tại khác nhau của nó, đang thực hiện hoạt động nhằm tác

động vào khách thể” [67, tr.13]

Như vậy, khi khẳng định chủ thể là con người rõ ràng không phải con người chung chung trừu tượng, mà là con người hiện thực đang tham gia vào các hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn gắn với những điều kiện xã hội

cụ thể có tác động tích cực vào khách thể, buộc khách thể bộc lộ những đặc điểm, thuộc tính Là chủ thể thì trước hết phải có năng lực nhận thức, trình độ, kinh nghiệm, học vấn,… riêng có, tạo nên sự đa dạng, phong phú Như vậy, một khi con người được xác định là chủ thể thì chủ thế ấy về cơ bản phải có những thuộc tính như có ý thức, có tư duy, chủ động, tích cực, sáng tạo và có mục đích, luôn phản ánh hiện thực khách quan và tác động vào thế giới xung quanh từ đời sống tự nhiên đến đời sống xã hội thông qua hoạt động thực tiễn

Thứ nhất, chủ thể có nhận thức, có tư duy Đây là thuộc tính cơ bản đầu

tiên để phân biệt một con người cụ thể nào đó là chủ thể hay không là chủ thể Đối với từng chủ thể thì năng lực nhận thức, năng lực tư duy ở mỗi người là khác nhau, rất đa dạng Có người tư duy sắc sảo, nhạy bén, thông minh Ngược lại, có người năng lực nhận thức hạn chế, chậm chạp Tuy nhiên, đã là con người với tư cách là chủ thể thì bao giờ cũng phải có một năng lực nhận thức nhất định

để khám phá, chinh phục, cải tạo thế giới với những mức độ khác nhau

Thứ hai, chủ thể tích cực, chủ động Để sinh tồn, con người luôn biết

tìm mọi cách vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong cuộc sống Đây là điều khác biệt cơ bản giữa con người với con vật Đối với con vật cũng có sự phản ánh hiện thực khách quan, nhưng đó là sự phản ánh có tính thụ động và tiêu

Trang 38

cực Theo đó, nếu hiện thực khách quan thuận lợi, sẽ tạo điều kiện cho con vật tồn tại Ngược lại, trong trường hợp hiện thực khách quan khó khăn, thậm chí khắc nghiệt, thì bằng sự phản ánh thụ động chắc chắn con vật không thể tồn tại, nguy hại hơn có thể đưa đến sự tiêu vong của giống nòi Thế nhưng, riêng con người ở góc độ là chủ thể thì lại khác Bằng sự phản ánh mang tính chủ động, tích cực, con người không ngừng tác động vào thế giới vật chất, bắt thế giới vật chất bộc lộ những đặc điểm, thuộc tính, kết cấu, quy luật,… của

nó ngày càng đầy đủ, rõ nét, sâu sắc hơn Qua đó, từng bước làm cho năng lực nhận thức của các chủ thể được nâng cao Bằng sự phản ánh có tính tích cực, chủ động giúp các chủ thể khắc phục, vượt qua những khó khăn, thách thức từ cuộc sống để tồn tại và không ngừng phát triển

Thứ ba, chủ thể sáng tạo Sáng tạo là một trong những thuộc tính độc

đáo riêng có của con người với tư cách là chủ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Điều cần nhấn mạnh là, sự sáng tạo ở đây không phải là sản phẩm thuần túy trong tư duy Tức là một sự sáng tạo hoàn toàn xa rời và tách biệt với hiện thực khách quan, hay từ suy nghĩ chủ quan để quy định và thậm chí tạo ra thế giới vật chất như cách tiếp cận của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đối với từng chủ thể nhận thức, sáng tạo là sự phản ánh hiện thực khách quan, trên cơ sở của hiện thực khách quan Nhờ có sự sáng tạo, các chủ thể đã tạo nên một “Thiên nhiên thứ hai” [56] Nói cách khác, thế giới vật chất phải là thuộc tính thức nhất, là cái

có trước và là “chất liệu” sinh động cho sự phản ánh mang tính sáng tạo của các chủ thể Vì rằng, thông qua sự phản ánh đó, còn là quá trình mô phỏng, bắt chước, làm theo những cái vốn có trong thế giới vật chất, giống như thế nhưng không hoàn toàn là như thế và thường đạt đến một trình độ cao hơn Hơn nữa, nhờ có tính sáng tạo mà các chủ thể nhận thức còn có khả năng tạo

ra tri thức mới về các sự vật hiện tượng cũng như khả năng dự đoán, dự báo các khuynh hướng vận động của thế giới vật chất trong tương lai

Trang 39

Thứ tư, chủ thể có mục đích Chính thuộc tính có mục đích đã làm cho

các chủ thể có sự khác biệt căn bản với thế giới loài vật Theo C Mác: “Con nhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt… con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây những ngăn

tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi” [59, tr 266-267] Như vậy, rõ ràng đối với loài vật, hoạt động của chúng thuần túy chỉ dừng lại ở bản năng, bẩm sinh di truyền vốn có của sự sinh tồn theo kiểu “đói thì ăn, khát thì uống” hay sinh con đẻ cái duy trì nòi giống Trong khi đó, mọi hoạt động của con người chủ thể đều có mục đích, tức là các hoạt động, hành vi, lời nói mà con người đang thực hiện hoặc sẽ thực hiện đều phải thông qua hoạt động tư duy và đều phải đem lại một kết quả, một giá trị hay một ý nghĩa nhất định nào đó Cũng chính vì trong từng chủ thể nhận thức và hành động có tính mục đích mà đảm bảo cho hoạt động của con người

có tính định hướng, để từ những mục đích ban đầu đã được định hình theo đó từng chủ thể phấn đấu, vươn lên đạt được những mục tiêu đã đề ra

Dĩ nhiên, mỗi chủ thể trong hoạt động của mình bao giờ cũng có sự tương tác với những khách thể cụ thể, nhất định Những khách thể ấy đóng vai trò là “nhân tố khách quan” với tư cách là tất cả những gì tồn tại bên ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể và tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể Đó là môi trường tự nhiên, là phương thức sản xuất, những quan hệ xã hội, chính trị, tư tưởng,… tồn tại với tư cách là khách thể của hoạt động Vì vậy, mọi hoạt động của chủ thể suy cho cùng cũng phải trên cơ sở của khách thể, chịu sự quy định bởi nhân tố khách quan Mọi mục đích, dự định mà các chủ thể đặt ra phải lấy hiện thực khách quan làm căn cứ

Như trên đã trình bày, ở góc độ triết học, khi đề cập đến khái niệm “chủ thể” thì đó phải là con người với tất cả những đặc tính vốn có Tuy nhiên, chủ thể ở đây không chỉ dừng lại ở từng cá nhân riêng lẻ, mà tùy vào cấp độ và

Trang 40

qui mô tiếp cận, chủ thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau Bởi lẽ, con người trong quá trình tồn tại của mình luôn gắn chặt với các mối quan hệ xã hội, chịu sự quy định bởi các thiết chế xã hội, vì như chủ nghĩa Mác khẳng định: trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội Theo đó, trong xã hội, chủ thể còn được hiểu đó là các tổ chức, tổ chức CT - XH, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,… Nói cách khác, chủ thể còn là các nhóm người, đảng phái, giai cấp, Chẳng hạn, trong khoa học quản lý nhà nước, chủ thể được phân chia bao gồm “chủ thể quản lý” được hiểu “là cá nhân, tổ chức có một quyền lực nhất định buộc các đối tượng quản

lý phải tuân thủ các quy định do mình đề ra để đạt được những mục tiêu đã định trước” [47, tr.7] Ngoài ra, còn có “chủ thể quản lý nhà nước” được định nghĩa “là các cơ quan nhà nước (cán bộ, công chức có thẩm quyền phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao) Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp theo quy định của pháp luật” [47, tr.8]

Đi sâu nghiên cứu về chủ thể nông dân, Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm định nghĩa nông dân là “Người chuyên sản xuất ra các loại lương thực, thực phẩm” [23, tr 614] Còn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa nông dân là “Người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [148, tr 717] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa về nông dân khá đầy đủ và toàn diện, theo đó: “Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông dân

có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội”

Có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản của chủ thể nông dân nước ta:

Ngày đăng: 23/03/2017, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Ngọc Anh (Chủ biên) (2013), Tách biệt xã hội về kinh tế đối với nông dân Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tách biệt xã hội về kinh tế đối với nông dân Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Anh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
2. Phạm Ngọc Anh (chủ biên) (2012), Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
4. Ban Kinh tế Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, Trường Đại học Cần Thơ (2014), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cơ chế chính sách phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Nxb Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế chính sách phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, Trường Đại học Cần Thơ
Nhà XB: Nxb Đại học Cần Thơ
Năm: 2014
6. Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người”, Tạp chí Triết học, (1), tr.14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
7. Hoàng Chí Bảo, (2010), Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
8. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới: Qúa khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới: Qúa khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
10. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ (1996), Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Trương Quốc Chính (Sách chuyên khảo) (2013), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam theo quan điểm Mácxít, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam theo quan điểm Mácxít
Tác giả: Trương Quốc Chính (Sách chuyên khảo)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
18. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu Toàn (chủ biên) (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu Toàn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Nguyễn Sinh Cúc (2015), “Kết quả sau bốn năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Lý luận Chính trị, (3), tr 38-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sau bốn năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới”, "Tạp chí Lý luận Chính trị
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2015
20. Dan Senor and Saul Singer (2013), Quốc gia khởi nghiệp - Câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc gia khởi nghiệp - Câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel
Tác giả: Dan Senor and Saul Singer
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2013
21. Hoàng Phó Dân (2014), “Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Cộng sản (Chuyên đề cơ sở), (94), tr.15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới”, "Tạp chí Cộng sản (Chuyên đề cơ sở)
Tác giả: Hoàng Phó Dân
Năm: 2014
22. Nguyễn Văn Dũng (2014), Thị trường sức lao động ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường sức lao động ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2014
23. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w