Trong sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán, vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại đã được khẳng định không chỉ với tư cách là nhà đầu tư độc lập mà còn l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ QUANG TẠO
PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG PHỤC VỤ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ THÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ THÀNH
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bài luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển và nghiên cứu
tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Phú Hà
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất ký công trình nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này ngoài sự nỗ lực của bàn thân, tôi luôn nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Phú Hà là người trực tiếp hướng dẫn, trợ giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, khoa và các ban ngành đoàn thể của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp tại BIDV Chi nhánh Hà Thành đã hết lòng ủng hộ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG PHỤC VỤ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 5
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận về nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán 9
1.2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 9
1.2.2 Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ phục vụ thị trường chứng khoán 12
1.3 Phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán 21
1.3.1 Quan điểm về phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK 21
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán 22
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các nghiệp vụ NHTM phục vụ TTCK 25
1.4.1 Nhân tố khách quan 25
1.4.2 Nhân tố chủ quan 26
1.5 Kinh nghiệm quốc tế và bài học rút ra cho các NHTM Việt Nam trong phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK 29
1.5.1 Hệ thống ngân hàng đa năng ở Đức 29
1.5.2 Hệ thống ngân hàng ở Mỹ 30
1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho hệ thống NHTM Việt Nam trong phát triển dịch vụ ngân hàng phục vụ TTCK 32
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 35
Trang 62.1 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp thu thập số liệu, dữ liệu 35
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk reseach) 36
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 36
2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 39
2.3.1 Phương pháp so sánh 39
2.3.2 Phương pháp phân tích SWOT 40
2.4 Quy trình nghiên cứu 42
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG PHỤC VỤ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ THÀNH 44
3.1 Khái quát tình hình phát triểnthị trường chứng khoán Việt Nam và Ngân hàng TMCP Đầu tư & Phát triển Việt Nam - CN Hà Thành 44
3.1.1 Tình hình hoạt động của TTCK Việt Nam 44
3.1.2 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Chi nhánh Hà Thành 48
3.2 Thực trạng triển khai các nghiệp vụ phục vụ TTCK tại BIDV Chi nhánh Hà thành 52
3.2.1 Hoạt động ngân hàng chỉ định thanh toán 52
3.2.2 Nghiệp vụ cho vay hỗ trợ khả năng thanh toán tiền mua chứng khoán đối với các thành viên lưu ký 55
3.2.4 Nghiệp vụ ngân hàng lưu ký giám sát 58
3.2.5 Hoạt động kết nối trực tuyến với các công ty chứng khoán 61
3.2.6 Nghiệp vụ huy động vốn qua Thị trường chứng khoán 62
3.2.7 Nghiệp vụ mở tài khoản cho nhà đầu tư nước ngoài 64
3.3 Đánh giá thực trạng triển khai các nghiệp vụ phục vụ TTCK tại BIDV Chi nhánh Hà thành 65
3.3.1 Đánh giá thông qua các chỉ tiêu định lượng 65
3.3.2 Đánh giá thông qua các chỉ tiêu định tính 71
Trang 73.3.3 Đánh giá tiềm năng phát triển các nghiệp vụ ngân hàng cung cấp trên TTCK
của BIDV Hà Thành 75
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG PHỤC VỤ TTCK TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HÀ THÀNH 80
4.1 Đánh giá xu hướng phát triển của TTCK và các nghiệp vụ ngân hàng trên TTCK trong thời gian tới 80
4.1.1 Về quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam 80
4.1.2 Sản phẩm, cơ chế, chính sách mới trên thị trường chứng khoán 81
4.2 Giải pháp phát triển các nghiệp vụ ngân hàng trên TTCK tại BIDV Hà Thành 82
4.2.1 Nhóm giải pháp tác động trực tiếp đến phát triển các sản phẩm dịch vụ hiện có 82 4.2.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ 85
4.3 Một số kiến nghị với hội sở chính BIDV 87
4.3.1 Trong quan hệ với UBCKNN, TTLKCKVN, Sở GDCKHN và chính sách khách hàng: 87
4.3.2 Đổi mới Công nghệ 87
4.3.3 Đối với quy trình nghiệp vụ 88
4.3.4 Triển khai dịch vụ mới 88
4.3.5 Về công tác đào tạo, khảo sát kinh nghiệm trong và ngoài nước: 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 8i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
1 BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam
4 NHĐT&PT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
8 TTCK Thị trường chứng khoán
9 TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
10 UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
11 VSD Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam
Trang 9ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 So sánh chức năng và hoạt động của NHTM đa năng
10 Bảng 3.5 Doanh số phí thanh toán bù trừ giai đoạn 2012 - 2015 56
11 Bảng 3.6 Quy mô và hiệu quả hoạt động cho vay chứng khoán
Trang 10iii
14 Bảng 3.9 Doanh số và hiệu quả nghiệp vụ huy động vốn qua
15 Bảng 3.10 Danh sách các sản phẩm dịch vụ BIDV Hà Thành
16 Bảng 3.11 So sánh nghiệp vụ BIDV CN Hà thành triển khai trên
TTCK so với tổng số nghiệp vụ BIDV triển khai 68
17 Bảng 3.12 Quy mô tổng thu nhập từ các nghiệp vụ phục vụ
TTCK tại BIDV Hà thành 2013 -2015 69
18 Bảng 3.13 Thu nhập từ nghiệp vụ phục vụ TTCK so với tổng
thu nhập ròng BIDV Hà Thành 2013 – 2015 69
Trang 11iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Ngân hàng lưu ký và Công ty chứng khoán giai đoạn
70
5 Biểu đồ 3.5 Thị phần cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư nước ngoài
6 Biểu đồ 3.6 Thị phần cung cấp dịch cho công ty QLQ và Quỹ đầu
tư (tại BIDV Chi nhánh Hà Thành) 72
DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu thiết kế luận văn 42
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Về tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khái niệm “thị trường chứng khoán” không còn xa lạ và mới mẻ đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam Thị trường chứng khoán được coi
là nơi điều hoà vốn; là phong vũ biểu của nền kinh tế Theo một nghiên cứu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vào năm 2014, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những kết quả khả quan so với giai đoạn khủng hoảng trước đó; quy mô huy động vốn qua thị trường chứng khoán đạt con số 280 nghìn tỷ đồng với mức độ vốn hóa của toàn thị trường tương đương 31% GDP, trong khi đó quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 5.575 tỷ đồng (Báo cáo thường niên UBCKNN, 2014)
Trong sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán, vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại đã được khẳng định không chỉ với tư cách là nhà đầu tư độc lập mà còn là một chủ thể chính tham gia vào quá trình cung cấp các dịch vụ ngân hàng chuyên sâu phục vụ TTCK
Là một trong những đơn vị đứng đầu ngành ngân hàng, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (NHĐT&PTVN/BIDV), đã được vinh dự trở thành ngân hàng thương mại quốc doanh duy nhất giữ vai trò Ngân hàng chỉ định thanh toán cho TTCK Việt Nam theo quyết định số 39/1999/QĐ-UBCK3 của UBCKNN Cùng với sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2000 và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà nội vào năm 2005, NHĐT&PT VN đã giao nhiệm vụ cho chi nhánh NHĐT&PT Nam Kỳ Khởi Nghĩa và chi nhánh NHĐT&PT Hà Thành thực hiện nghiệp vụ ngân hàng chỉ định thanh toán cho các trung tâm giao dịch này đồng thời tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng chuyên sâu phục vụ TTCK
Có thể nhận thấy rằng, nghiệp vụ ngân hàng chỉ định thanh toán có chức năng quan trọng, đó là: (i) mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho các Trung tâm giao dịch,
Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán và các thành viên lưu ký; (ii) hỗ trợ khách hàng nhanh chóng thực hiện các giao dịch thanh toán bù trừ cuối cùng để hoàn tất các giao dịch chứng khoán, đồng thời hỗ trợ thanh toán cho các
Trang 132
thành viên khi không đủ tiền trong tài khoản bằng việc sử dụng Quỹ hỗ trợ thanh toán; (iii) đảm bảo thực hiện việc thanh toán bù trù thông suốt, nhanh chóng, kịp thời, chính xác Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, chức năng này có thể thực hiện được một cách hiệu quả và an toàn nếu có một ngân hàng thương mại lớn, có
uy tín cao, đủ khả năng thanh toán cho thị trường với mạng lưới chi nhánh rộng lớn trên khắp các tỉnh thành, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, sản phẩm dịch vụ
đa dạng, có quan hệ hợp tác với các ngân hàng lớn trên thế giới đứng ra đảm bảo trách nhiệm Vì vậy, NHĐT&PTVN đã được UBCKNN lựa chọn là ngân hàng chỉ định thanh toán duy nhất phục vụ cho thị trường chứng khoán
Chi nhánh NHĐT&PT Hà Thành được thành lập vào tháng 9/2003 với mục tiêu phát triển là một ngân hàng bán lẻ, cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại, trong đó nhiệm vụ ngân hàng phục vụ chuyên sâu cho TTCK đối với chi nhánh NHĐT&PT Hà Thành là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn Trải qua hơn 11 năm phục vụ cho TTCK, BIDV Hà Thành với lợi thế là ngân hàng chỉ định thanh toán
bù trừ cho TTCK ngoài việc đảm bảo cho hệ thống thông suốt, an toàn, liên tục đã thực hiện cung ứng các nghiệp vụ chuyên sâu khác cho TTCK như: Nghiệp vụ ngân hàng lưu ký giám sát, nghiệp vụ cho vay trong lĩnh vực chứng khoán, Kết nối trực tuyến với các công ty chứng khoán, mở tài khoản cho nhà đầu tư nước ngoài… Mặc
dù chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ trong và ngoài nước, tuy nhiên với lợi thế là ngân hàng thanh toán chung cho TTCK, BIDV Hà Thành đã đặt quan hệ với hầu hết các công ty chứng khoán và thành viên lưu ký vì vậy nhìn chung các nghiệp vụ mà BIDV Hà Thành cung ứng đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và có vị trí nhất định trong hoạt động cung cấp các nghiệp vụ phục vụ TTCK Việt Nam Tuy nhiên, ngày 03/02/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 08/CT-TTg về việc thúc đẩy hoạt động và tăng cường quản lý thị trường chứng khoán trong đó có nội dung chỉ đạo cải cách hệ thống thanh toán cho TTCK, theo
đó lộ trình sẽ chuyển mô hình thanh toán cho thị trường cổ phiếu/chứng chỉ quỹ theo hướng đa Ngân hàng thanh toán, đây sẽ là một thách thức lớn của NHĐT&PTVN khi muốn giữ vị thế hàng đầu là Ngân hàng thanh toán cho thị trường chứng khoán Gắn liền với tiến trình đó, việc nghiên cứu nhằm phát triển các
Trang 14Xuất phát từ thực tiễn này, tôi đã quyết định chọn đề tài “Phát triển nghiệp
vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành” làm đề tài luận
văn cao học của mình với mong muốn góp phần vào sự phát triển hoạt động ngân
hàng trong lĩnh vực chứng khoán
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về nghiệp vụ Ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán, các tiêu chí và quan điểm phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK cũng như kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới trong việc phát triển các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK Mặc dù tác giả đứng trên góc độ của NHTM, tuy nhiên các nghiệp vụ mà các NHTM đang cung cấp trên TTCK về cơ bản là các nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư, vì vậy nền tảng lý thuyết gốc được tác giả tham khảo và trích dẫn nhiều là các nguồn tài liệu viết
về lĩnh vực ngân hàng đầu tư Những nghiên cứu này là cơ sở để định hướng tiếp cận trong phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp ở các chương tiếp theo
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán tại NHĐT&PT Việt Nam- Chi nhánh Hà Thành, trong đó chỉ
rõ những kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân trong giai đoạn
từ năm 2005 – 2015
- Đề xuất giải pháp phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán tại NHĐT&PT Việt Nam - CN Hà ThànhHà Thành trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Với đặc thù hơn 10 năm phục vụ TTCK, từ lúc ban đầu chỉ triển khai nghiệp
vụ ngân hàng chỉ định thanh toán cho TTCK, đến nay BIDV Hà Thành đã triển khai
Trang 154
nhiều dịch vụ từ cơ bản đến chuyên sâu cho TTCK Việt Nam Tuy nhiên, với chủ trương đa thanh toán và sự cạnh tranh khốc liệt của các ngân hàng trong nước và nước ngoài đối với các dịch vụ triển khai trên TTCK, để giữ vững vị thế của mình đòi hòi BIDV Hà Thành phải có giải pháp khắc phục những tồn tại và nghiên cứu phát triển các nghiệp vụ mới phục vụ TTCK Từ những vấn đề cấp bách nêu trên,
tác giả đã đặt ra câu hỏi nghiên cứu tổng quát là: “Làm thế nào để phát triển nghiệp
vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán tại Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành?”
Để trả lời câu hỏi tổng quát này, tác giả đặt ra những câu hỏi phụ như sau:
- Nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán ở Việt Nam nói chung và tại BIDV Hà Thành nói riêng đã và đang phát triển ở các tiêu chí nào?
- Việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK tại BIDV Hà Thành
có những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức như nào?
- Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành cần có các giải pháp cần thiết nào nhằm phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Hà Thành
Hà Thành
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh
Trang 165
mục các bảng biểu, luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về nghiệp vụ
Ngân hàng phục vụ thị trường Chứng khoán
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Đánh giá tình hình phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị
trường chứng khoán tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành
Chương 4: Giải pháp phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng
khoán tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG PHỤC VỤ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một xu thế tất yếu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Là một cấu thành của thị trường tài chính, sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) sẽ kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống ngân hàng Ngân hàng thương mại (NHTM) tham gia hoạt động trên TTCK từ rất lâu Nhìn vào lịch sử hình thành và phát triển TTCK của các quốc gia khác chúng ta cũng có thể thấy vai trò vô cùng quan trọng của hệ thống NHTM Các NHTM không chỉ là chủ thể tạo ra hàng hoá cho TTCK mà còn
là chủ thể chính hoạt động kinh doanh trực tiếp trên TTCK, cung cấp dịch vụ ngân hàng truyền thống và hiện đại cho TTCK
Qua tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả có một số đánh giá về các đề tài nghiên cứu khác liên quan đến giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng, dịch vụ chứng khoán Cụ thể như sau:
Nguyễn Thị Thu Hiền, 2011.Phát triển hoạt động dịch vụ của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Luận văn Thạc sĩ, Học viện ngân hàng
Trang 176
Luận văn đã phân tích tổng quát về các hoạt động dịch vụ của NHTM nói chung và của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng Tác giả đã làm nổi bật những khái niệm cơ bản các dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng như dịch
vụ hiện đại của NHTM và rút ra một số kinh nghiệm phát triển dịch vụ của ngân hàng các nước trên thế giới như: Trung Quốc, Singapo, Thái Lan Luận văn đã nêu
ra những thực trạng hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và đề ra một số giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Tuy nhiên luận văn chưa đề cập đến các sản phầm dịch vụ đặc thù với vai trò là Ngân hàng chỉ định thanh toán chứng khoán cho thị trường chứng khoán Việt nam, từ đó đưa ra định hướng cũng như hướng phát triển các sản phẩm dịch vụ để phục vụ cho thị trường này
Trần Thị Phượng, 2011 Trung gian tài chính và vai trò của trung
gian tài chính với thị trường chứng khoán Luận văn thạc sĩ, Học viện ngân hàng
Luận văn đã trình bày các khái niệm và phân loại chi tiết trung gian tài chính đang hoạt động trên thị trường, vai trò và các hoạt động của trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Tác giả đã nêu tương đối chi tiết các sản phẩm dịch
vụ mà trung gian tài chính cung cấp trên thị trường chứng khoán nói chung, đồng thời phân tích thực trạng hoạt động của trung gian tài chính tại thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn đã sử dụng mô hình SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của trung gian tài chính, từ đó đưa ra được các giải pháp nâng cao vai trò của trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn cũng đã nêu được hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam với vai trò là ngân hàng chỉ định thanh toán phục vụ cho hoạt động của các Sở giao dịch chứng khoán, tuy nhiên tác giả mới chỉ liệt kê một vài chức năng của ngân hàng chỉ định thanh toán như: bù trừ giao dịch, hỗ trợ thanh toán cho các thành viên, đối chiếu kiểm tra số liệu
Mai Ngọc Kha, 2008 Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị
trường chứng khoán Việt Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế
Luận văn thạc sĩ, Đại học Ngoại thương
Trang 187
Luận văn đã nêu khá chi tiết các khái niệm về trung gian tài chính, các loại hình trung gian tài chính cũng như các hoạt động của trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng Tác giả đã nêu được thực trạng các hoạt động của trung gian tài chính trên TTCK Việt Nam, chỉ ra được những mặt hạn chế và nguyên nhân của nó Luận văn cũng đưa ra một số giải pháp thúc đẩy hoạt động của các Trung gian tài chính trên TTCK Việt Nam trong xu thế hội nhập với thị trường tài chính quốc tế Luận văn đã đề cập đến các cam kết tài chính, những nghĩa vụ quốc tế khi hội nhập, đồng thời đưa ra được mục tiêu và định hướng phát triển của TTCK đến năm 2020 trong đó nêu được vai trò của trung gian tài chính đối với việc thực hiện mục tiêu này
Bên cạnh các luận văn nghiên cứu về TTCK Việt Nam và vai trò của trung gian tài chính trên TTCK Việt Nam, nhiều bài nghiên cứu khác cũng phân tích về vấn đề này Cụ thể là:
Nguyễn Hoài, 2012 Cần đưa chức năng “đầu tư” ra khỏi ngân hàng
thương mại, Thời báo kinh tế Việt Nam
Bài viết của tác giả xuất phát từ phân tích về những rủi ro do nợ xấu trong ngân hàng mà nguyên nhân một phần xuất phát từ hoạt động ủy thác đầu tư của hệ thống NHTM Đặc biệt, Nguyễn Hoài đề xuất yêu cầu tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư ra khỏi NHTM Tác giả bài viết cũng dẫn chứng hoạt động của hệ thống NHTM đa năng của Mỹ, sau khủng hoảng 1933 đã tách bạch hoàn toàn mô hình ngân hàng đầu tư ra khỏi NHTM, hiện nay mặc dù hệ thống NHTM đa năng của Mỹ đã được tham gia các hoạt động của Ngân hàng đầu tư, tuy nhiên đạo luật mới Dodd Frank năm 2010 của Chính phủ Mỹ đã có những giới hạn, điều kiện ngặt nghèo hơn để hạn chế một số rủi ro đối với các NHTM Tại thị trường Việt Nam, tác giả bài viết đã viện dẫn trường hợp nhiều NHTM đã liên quan trực tiếp vào vụ lừa đảo của Huỳnh Thị Huyền Như lên tới gần 5.000 tỷ đồng vào bất động sản, chứng khoán dưới hình thức “ủy thác đầu tư” Tuy nhiên, bài viết mới chỉ đưa ra những cảnh báo rủi ro với hệ thống NHTM đa năng của Việt Nam khi triển khai
Trang 198
hoạt động ngân hàng đầu tư mà không nêu được những ưu thế của hệ thống NHTM
đa năng khi triển khai các dịch vụ trên TTCK
Trần Sĩ Chương, 2012 “Tử huyệt” của hệ thống ngân hàng, Thời báo Doanh nhân Sài Gòn
Tác giả bài viết xuất phát từ thực tế hoạt động yếu kém dẫn đến việc giải thể
và sáp nhập của một số ngân hàng mà bắt nguồn từ việc chồng chéo giữa hoạt động NHTM và hoạt động ngân hàng đầu tư Bài viết đưa ra sự khác biệt trong định hướng hoạt động của các NHTM và Ngân hàng đầu tư, và viện dẫn các bài học trong việc phát triển mô hình ngân hàng tại Mỹ và Châu Âu cũng như thực tế hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để phát triển hệ thống NHTM Việt Nam theo định hướng tách bạch hoạt động NHTM và ngân hàng đầu tư, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân để đánh giá đúng chỉ số đầu tư an toàn của mỗi ngân hàng nhằm chủ động lựa chọn dịch vụ thích hợp và tích cực sử dụng hiệu quả bàn tay vô hình của thị trường
Tạ Hoàng Hà, 2014 Bàn về mô hình tổ chức các hoạt động ngân
hàng đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Thị trường - Tài chính - Tiền tệ
Tác giả tổng hợp các mô hình ngân hàng đầu tư hiện nay trên thế giới, về cơ bản, hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình ngân hàng đầu tư là (i) mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt, và (ii) mô hình ngân hàng tổng hợp Tác giả đưa ra các hoạt động của từng mô hình, ưu nhược điểm của từng loại mô hình ngân hàng đầu
tư trên thế giới Tác giả cũng đưa ra cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam, hiện tại khái niệm “ngân hàng đầu tư” là một thuật ngữ mới đối với hệ thống tài chính và pháp luật nước ta, về bản chất, ngân hàng đầu tư không phải là tổ chức tín dụng thuần túy như các NHTM nên Luật các tổ chức tín dụng không đề cập khái niệm này Cơ sở pháp lý cho thấy các hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam được tổ chức tại các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ, trong đó một số công ty chứng khoán/ quản lý quỹ hoạt động độc lập như các ngân hàng đầu tư chuyên biệt Bên cạnh đó, một số công ty chứng khoán/quản lý quỹ thuộc quyền sở hữu hoặc là công ty con/ công ty liên kết của các NHTM, vì thế được coi là mô hình
Trang 209
ngân hàng tổng hợp/ đa năng hạn chế Trong bài viết của mình, tác giả cũng đề cập đến các NHTM khi thực hiện hoạt động đầu tư của mình thông qua các công ty con hoặc trực tiếp thực hiện Tác giả cũng đánh giá hiệu quả chủ yếu của các hoạt động đầu tư mang lại, trong đó doanh thu chủ yếu từ lãi tiền gửi và lãi từ các hợp đồng repo chứng khoán Tuy nhiên, bài viết của tác giả không đi sâu phân tích các nghiệp
vụ cụ thể mà các NHTM thực hiện trong hoạt động đầu tư của mình cũng như các nghiệp vụ mà các NHTM cung cấp trên TTCK
Như vậy, có khá nhiều đề tài, bài viết nghiên cứu về hoạt động của hệ thống NHTM trên TTCK, các đề tài này đã đưa ra được một cách tổng quan các hoạt động của NHTM đa năng cũng như vai trò của hệ thống NHTM đối với sự phát triển của TTCK Tuy nhiên, các đề tài này hầu như nghiên cứu một cách riêng biệt các dịch
vụ ngân hàng và chứng khoán, rất ít đề tài nghiên cứu hoạt động nghiệp vụ của NHTM triển khai trên TTCK Việt Nam Chính vì vậy, đề tài “Phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK tại ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành” tác giả sẽ đề cập đến thực trạng hoạt động của NHTM nói chung, BIDV nói riêng trên TTCK, các ưu nhược điểm của việc phát triển hệ thống ngân hàng theo
mô hình ngân hàng đa năng, đồng thời đưa ra các giải pháp, đề xuất để góp phần phát triển hơn nữa các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK
1.2 Cơ sở lý luận về nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán
1.2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán
1.2.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Có nhiều định nghĩa khác nhau về TTCK Theo Thư viện học liệu mở Việt
Nam thì “Thị trường chứng khoán” là nơi mà cung và cầu của các loại chứng
khoán gặp nhau để xác định giá cả, số lượng của từng loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường” Theo Luật chứng khoán số 27/2013/VBHN-VPQH do Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/12/2013 thì
“TTCK là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và
giao dịch chứng khoán”
Trang 2110
1.2.1.2 Các chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán
a Huy động vốn cho nền kinh tế:
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
b Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
c Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao
d Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
e Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén
và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh
tế tăng trưởng, ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một
Trang 221.2.1.3 Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán
Trên TTCK, các chủ thể tham gia bao gồm:
c Các công ty chứng khoán và các NHTM
Các công ty chứng khoán và NHTM đảm nhận một hoặc nhiều nghiệp vụ tài chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư, tư vấn đầu tư chứng khoán v.v…
d Các tổ chức có liên quan đến TTCK
Các tổ chức có liên quan đến TTCK bao gồm Ủy ban chứng khoán nhà nước;
Sở giao dịch chứng khoán; Hiệp hội kinh doanh chứng khoán; Trung tâm lưu ký chứng khoán…
1.2.1.4 Các hàng hoá của TTCK
Hàng hóa của TTCK bao gồm:
Trang 2312
a Cổ phiếu:
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành
b Trái phiếu:
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành
c Chứng chỉ quỹ đầu tư:
Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu
tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng
d Chứng khoán có thể chuyển đổi và các chứng khoán phái sinh:
Hình thức biểu hiện của các chứng khoán có thể chuyển đổi và các chứng khoán phái sinh bao gồm: Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi…
1.2.2 Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ phục vụ thị trường chứng khoán
Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì: “Ngân hàng thương mại
là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
NHTM đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với TTCK bởi vì NHTM tham gia trên TTCK không chỉ với tư cách là chủ thể phát hành chứng khoán mà còn có thể là nhà đầu tư và chủ thể kinh doanh trên TTCK
1.2.2.1 Các hình thức NHTM hoạt động trên thị trường chứng khoán
Hiện nay, trên thế giới có hai loại mô hình NHTM tham gia hoạt động TTCK, đó là mô hình ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng đa năng
a Mô hình ngân hàng chuyên doanh
Các ngân hàng chuyên doanh, hay còn gọi là ngân hàng đơn năng về mặt pháp
lý đã thể hiện sự tách bạch hoạt động ngân hàng và hoạt động chứng khoán Khi đó, NHTM đơn năng muốn hoạt động chứng khoán sẽ do các công ty độc lập của họ đảm nhận và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán Mô hình này có ưu điểm
là hạn chế rủi ro cho hệ thống NHTM và thúc đẩy TTCK phát triển Tuy nhiên, mô hình này lại có nhược điểm là không tận dụng được những dịch vụ tiện ích mà hệ
Trang 2413
thống NHTM có thể cung cấp cho TTCK Điển hình cho mô hình này là các công ty chứng khoán ở Nhật, Mỹ, Hàn Quốc v.v… hoạt động với sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động chứng khoán Đặc biệt tại Mỹ, đạo luật Glass-Steagall (1933-1999) đã bắt buộc hai hoạt động này phải tách biệt nhau Đạo luật Glass – Steagall chỉ cho phép các NHTM tiến hành chào bán các loại chứng khoán Chính phủ mới phát hành lần đầu nhưng cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham gia môi giới chứng khoán Tháng 7 năm 1988, Cục
Dự trữ Liên Bang Mỹ cho phép thí điểm ngân hàng J.P Morgan được phép bảo lãnh phát hành trái phiếu công ty từ tháng 1 năm 1989 và được phép bảo lãnh phát hành
cổ phiếu từ tháng 9 năm 1990, tiếp đó dần dần mở rộng cho các ngân hàng khác Tuy nhiên, hiện nay tại Mỹ Glass-Steagall đã được hủy bỏ, qua đó cho phép các NHTM được tham gia vào lĩnh vực chứng khoán
b Mô hình ngân hàng đa năng
Trong mô hình này, các NHTM vừa hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng vừa hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực chứng khoán Mô hình này có ưu điểm rất lớn là
đa dạng hoá hoạt động ngân hàng, gia tăng lợi nhuận và khả năng tài chính nhờ sự kết hợp giữa hai lĩnh vực, tuy nhiên cũng vì sự kết hợp đó mà mô hình này có nhược điểm là làm cho lĩnh vực kinh doanh chứng khoán của ngân hàng kém phát triển do ngân hàng thường tập trung chủ yếu vào lĩnh vực hoạt động ngân hàng Bên cạnh đó, trong trường hợp có biến động trên TTCK, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của ngân hàng Có hai loại mô hình ngân hàng
đa năng:
- Mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Không có sự tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán Các NHTM không những hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn được tham gia sâu rộng trên mọi hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm Mô hình này được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thụy Sỹ, Áó v.v… với ưu điểm có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro hoạt động kinh doanh chung và đảm bảo tập trung tài chính khi ngân hàng gặp các biến động bất lợi trên TTCK Tuy nhiên, mô hình đa năng hoàn toàn
có một số hạn chế Thứ nhất, mô hình này có thể làm cho TTCK phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệ thống ngân hàng là tập trung vốn để cấp tín dụng và dịch
Trang 2514
vụ thanh toán, do đó các NHTM thường ít quan tâm đến lĩnh vực chứng khoán Bằng chứng cụ thể là sự kém phát triển của TTCK Châu Âu so với TTCK Mỹ Bên cạnh đó, mô hình này còn có nhược điểm là trong trường hợp biến động trên TTCK, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh này Thực tế đã chứng minh bằng cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933, hay vụ phá sản ngân hàng Barings của Anh năm 1995, phá sản ngân hàng đầu tư Leman Brother năm 2008 với khoản thua lỗ khổng lồ 613 tỷ USD mà nguyên nhân
là sử dụng vốn vay quá nhiều để đầu tư vào các tài sản có độ rủi ro cao v.v… Ngược lại, trong trường hợp thị trường tiền tệ biến động có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng Cuộc khủng hoàng tài chính tiền
tệ ở Thái Lan là một minh chứng rõ nét cho mô hình này
- Mô hình đa năng một phần: Các NHTM muốn hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phải thành lập công ty con – là các công ty chứng khoán hoạt động độc lập Mô hình này được áp dụng ở Anh và các nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, Úc Mô hình này có ưu điểm là các ngân hàng kết hợp kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng được thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới khách hàng rộng khắp của ngân hàng Bên cạnh đó, bởi vì
có quy định hoạt động riêng rẽ giữa hai lĩnh vực này nên sẽ hạn chế được rủi ro khi
có biến động trên một trong hai thị trường Mô hình này phù hợp với các nước mới thành lập TTCK, khi mà cần có tổ chức tài chính lành mạnh tham gia vào thị trường
và khi hệ thống luật, kiểm soát v.v… còn hạn chế
1.2.2.2 Các nghiệp vụ chính của ngân hàng đa năng trên TTCK
a Nghiệp vụ cho vay trong lĩnh vực chứng khoán
Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng cho vay vốn đối với các khách hàng là nhà đầu tư, công ty chứng khoán hay thành viên lưu ký khi họ phát sinh nhu cầu hoặc thiếu hụt vốn tạm thời trong quá trình giao dịch Một số loại hình cho vay trong lĩnh vực chứng khoán như sau:
- Cho vay cầm cố chứng khoán: là nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng vay
sử dụng vào các mục đích hợp pháp với tài sản đảm bảo là các chứng khoán thuộc
sở hữu của khách hàng vay
- Cho vay bảo chứng: là nghiệp vụ mà ngân hàng cho khách hàng vay vốn để
Trang 2615
thanh toán số tiền mua chứng khoán mà khách hàng phải thanh toán khi giao dịch mua đã thành công và nhận chính những chứng khoán mua được này làm tài sản cầm cố cho khoản vay
- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là nghiệp vụ ngân hàng cho vay
ứng trước tiền bán chứng khoán của khách hàng là nhà đầu tư trên TTCK đối với số chứng khoán thuộc sở hữu của mình được giao dịch thành công mà chưa được thanh toán
- Cho vay đảm bảo khả năng thanh toán đối với các thành viên lưu ký: là
nghiệp vụ ngân hàng cho vay bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán của các thành viên lưu ký trên Sở giao dịch chứng khoán trong trường hợp trên tài khoản bù trừ chứng khoán của thành viên lưu ký đó bị thiếu tiền tại thời điểm thanh toán
b Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Nghiệp vụ tự doanh (đầu tư chứng khoán) là nghiệp vụ ngân hàng tiến hành giao dịch mua, bán chứng khoán cho chính mình Các NHTM có thể thực hiện nghiệp vụ tự doanh trên thị trường giao dịch tập trung hay thị trường giao dịch phi tập trung (thị trường OTC), lệnh của các ngân hàng được đưa vào hệ thống và thực hiện như lệnh của một khách hàng
Mục đích của hoạt động tự doanh của các NHTM là nhằm thu lợi cho chính mình Tuy nhiên để thực hiện nghiệp vụ này, các NHTM phải đảm bảo hai điều kiện quan trọng nhất đó là vốn và con người Đó là các NHTM phải đảm bảo một số vốn nhất định theo quy định của pháp luật, đồng thời các nhân viên thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán của NHTM phải là những người có trình độ chuyên môn nhất định, có hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chứng khoán, nhạy bén với thị trường và có sự nhạy cảm trước những quyết định đầu tư quan trọng
c Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian theo đó NHTM đại diện, thay mặt khách hàng của mình, thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng (NHTM chỉ đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch, còn chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình) Thông qua hoạt động môi giới, NHTM sẽ chuyển đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư mua chứng khoán và nhà đầu tư bán chứng khoán
Trang 27Để có thể thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, NHTM phải có đủ điều kiện cần thiết theo yêu cầu của Luật chứng khoán Các yêu cầu này bao gồm: vốn pháp định, giấy phép hành nghề đối với các nhân viên môi giới, các yêu cầu về cơ
sở vật chất và phải được UBCK cấp giấy phép hoạt động môi giới
d Nghiệp vụ đăng ký, lưu ký chứng khoán và ngân hàng giám sát
Đăng ký chứng khoán là việc ngân hàng đứng ra nhận đăng ký các thông tin
về chứng khoán và quyền sở hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc ngân hàng thực hiện lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp họ thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán lưu ký Do giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ nên lưu ký là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán Theo đó, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các ngân hàng hoặc ký gửi chứng khoán Khi thực hiện dịch vụ này, NHTM sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán Bên cạnh
đó, các NHTM còn phải thực hiện việc hạch toán ghi sổ chứng khoán thông qua việc mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho khách hàng và thực hiện các dịch vụ khác theo uỷ quyền của khách hàng có chứng khoán lưu ký
Nghiệp vụ ngân hàng giám sát là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thực việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo hoạt động quản lý quỹ của công ty quản lý quỹ là phù hợp với quy định của pháp luật, với điều lệ hoạt động của quỹ Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát còn phải thực hiện đăng ký sở hữu chứng chỉ quỹ cho nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi và thực hiện các hoạt động giúp nhà đầu tư thực hiện quyền phát sinh liên quan đến việc sở hữu chứng chỉ quỹ; lưu giữ và bảo quản an toàn tài sản
Trang 2817
quỹ, thay mặt quỹ thực hiện quyền phát sinh liên quan đến tài sản quỹ, thanh toán giao dịch quỹ…
e Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán là hoạt động giúp cho chủ thể phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành
Các NHTM với lợi thế kinh nghiệm, thông tin đầy đủ cùng với trình độ chuyên môn hoá cao có thể dễ dàng hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện việc phát hành chứng khoán thành công NHTM thực hiện các công việc với chi phí thấp hơn, đồng thời tư vấn cho doanh nghiệp các yếu tố pháp lý và kỹ thuật: tái cơ cấu lại doanh nghiệp trước khi phát hành, tư vấn về thủ tục, hồ sơ phát hành, số lượng và loại chứng khoán, chi phí vốn, định giá chứng khoán Hơn thế nữa, với uy tín sẵn có, mạng lưới tổ chức rộng rãi, quan hệ truyền thống với khách hàng, sự bảo lãnh của NHTM sẽ giúp các chứng khoán phát hành được công chúng đầu tư tin tưởng và chấp nhận dễ dàng hơn Trong khi đó, nếu doanh nghiệp tự đảm nhận việc phân phối chứng khoán, họ sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề và rủi ro
Khi thực hiện việc bảo lãnh phát hành, các NHTM đã nhận toàn bộ hay một phần rủi ro trong việc phân phối chứng khoán Do đó, tổ chức phát hành phải trả cho tổ chức phân phối phí bảo lãnh phát hành Ngoài phí phát hành, ngân hàng còn có thể được hưởng thu nhập từ khoản chênh lệch giữa giá phát hành và thị giá chứng khoán Song, nếu như phán đoán không chính xác hoặc do những yếu tố rủi ro thị trường, họ cũng có thể không nhận được phần thu nhập này hoặc bị thua lỗ Các NHTM có thể thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán theo các phương thức như sau
- Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là phương thức mà tổ chức bảo lãnh cam kết
mua toàn bộ số chứng khoán phát hành dù có phân phối được hết hay không Như vậy, tổ chức bảo lãnh phát hành phải đảm bảo mang lại chính xác toàn bộ tổng giá trị của đợt phát hành cho tổ chức phát hành Mọi rủi ro của đợt phát hành sẽ do
Trang 2918
người bảo lãnh chịu
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: là phương thức thường được áp dụng
khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung cổ phiếu thường ở các nước phát triển Công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài Trường hợp một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty thì công ty cần có một tổ chức bảo lãnh phát hành Như vậy, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết thì sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại
- Bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không: Trong phương thức này, nếu số chứng
khoán được phân phối chưa tới một mức tối thiểu như thoả thuận thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ, số tiền đặt mua chứng khoán sẽ trả lại cho người mua
- Bảo lãnh tối thiểu - tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo
lãnh cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh tất cả hoặc không Theo phương thức này, tổ chức bảo lãnh phát hành phải cam kết bán tối thiểu một số lượng chứng khoán nhất định (mức sàn) Ngoài số lượng này, tổ chức bảo lãnh phát hành có thể
tự do chào bán chứng khoán nhưng không vượt quá mức tối đa quy định (mức trần) Nếu số lượng chứng khoán bán ra thấp hơn mức tối thiểu đã được quy định thì toàn
bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ
NHTM có thể tham gia hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ Họ chính là những thành viên chủ yếu, những nhà đầu tư lớn, đảm nhận vai trò nhà tạo lập thị trường đối với các chứng khoán của thị trường đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Chính phủ
Có thể khẳng định, hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của NHTM đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của TTCK nói chung và sự phát triển
Trang 3019
của chính bản thân ngân hàng nói riêng Tuy nhiên, cũng như các hoạt động kinh doanh chứng khoán khác, sự tham gia vào hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của NHTM phụ thuộc vào quy định cụ thể của mỗi nước
f Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán theo uỷ thác vì quyền lợi của khách hàng Thực chất hoạt động này là một dạng của hoạt động tư vấn mang tính tổng hợp có kèm theo đầu tư trong đó khách hàng uỷ quyền cho ngân hàng thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được thoả thuận
Khi thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các NHTM phải đảm bảo tách biệt giữa tài sản của khách hàng với tài sản của ngân hàng Khách hàng có thể
uỷ quyền một phần hay toàn bộ đối với chứng khoán của họ tuỳ theo mức độ tín nhiệm của họ đối với ngân hàng Ngân hàng phải gửi các bản sao kê về tình hình tài sản trong danh mục cho khách hàng theo định kỳ, hoặc theo yêu cầu của khách hàng Đặc biệt các NHTM phải đảm bảo an toàn và bí mật các thông tin về tài sản của khách hàng trừ các trường hợp đặc biệt
Hoạt động quản lý danh mục đầu tư mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua lệ phí quản lý tài sản từ phía khách hàng Qua hoạt động này, các NHTM cũng
có thể tăng uy tín và phát triển hoạt động khác như lưu ký, thanh toán, tư vấn Song
để tạo lòng tin đối với công chúng đầu tư, các ngân hàng phải luôn tôn trọng và đặt quyền lợi của khách hàng trước quyền lợi của ngân hàng
g Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán là việc NHTM đưa ra những lời khuyên, phân tích các tình huống hay đưa ra các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán
Đối với các chủ thể tham gia TTCK như nhà đầu tư cá thể, tổ chức phát hành, việc đánh giá chất lượng chứng khoán, xác định thời điểm phát hành là rất khó khăn Điều này là do họ không có đủ thông tin chính xác, không đủ thời gian và sự hiểu biết cần thiết để theo dõi diễn biến thị trường, thu thập và xử lý thông tin Với
ưu thế của mình trong việc phân tích và xử lý thông tin, phân tích tài chính chuyên
Trang 3120
nghiệp, NHTM đã giúp những nhà đầu tư, tổ chức phát hành khắc phục những yếu điểm, tiết kiệm chi phí, tránh rủi ro và đưa ra những quyết định đúng đắn thông qua hoạt động tư vấn
Các NHTM có thể tiến hành tư vấn qua hai hình thức là tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp Tư vấn trực tiếp là hình thức mà trong đó các ngân hàng tiến hành việc phân tích, xử lý các tình huống đầu tư của khách hàng cụ thể, từ đó có những khuyến nghị trực tiếp trên cơ sở một khoản lệ phí tư vấn thoả thuận Trong khi đó, thông qua hình thức tư vấn gián tiếp các ngân hàng có thể chia sẻ thông tin của mình bằng việc phát hành các báo cáo phân tích trên các tạp chí, trang Web
Một trong những nguyên tắc khi thực hiện hoạt động này là các NHTM phải đảm bảo tính trung thực về những lời tư vấn của mình với khách hàng và trong nhiều trường hợp, hoạt động tư vấn phải được quản lý và cấp phép Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng chính là những nhà đầu tư và họ là người phải
tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình
h Nghiệp vụ thanh toán bù trừ trong giao dịch chứng khoán
Đây là nghiệp vụ mà một ngân hàng được chỉ định để thực hiện việc thanh toán bù trừ tiền của các giao dịch chứng khoán Đây là khâu cuối cùng, hoàn tất một giao dịch chứng khoán, trong đó các bên tham gia giao dịch trên TTCK sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền và chứng khoán của mình
Trên TTCK, nếu tất cả các khoản thanh toán đều thực hiện bằng tiền mặt thì
sẽ không kịp thời, tốn rất nhiều thời gian do lượng tiền giao dịch rất lớn Bởi vậy, người ta áp dụng phương thức thanh toán bù trừ và bằng chuyển khoản, theo đó tất
cả những thành viên lưu ký đều phải mở những tài khoản tự doanh, môi giới ở ngân hàng chỉ định thanh toán Khi các giao dịch mua bán chứng khoán được khớp lệnh, chúng sẽ được bù trừ lẫn nhau để cuối cùng đưa ra các khoản phải trả và được nhận của các đối tác tham gia, ngân hàng chỉ định thanh toán sẽ thực hiện chuyển những món tiền đó từ bên phải trả tiền cho bên được nhận Đây là một bước tiến giúp cho TTCK hoạt động một cách trôi chảy hơn Việc ngân hàng thực hiện tốt nghiệp vụ này sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của TTCK
Mặc dù tồn tại dưới mô hình nào trong các mô hình trên thì các nghiệp vụ
mà một NHTM cung cấp và triển khai trên TTCK cơ bản là các nghiệp vụ Ngân
Trang 3221
hàng đầu tư Có nhiều cách phân chia các nghiệp vụ của NHĐT, trong đó mỗi NHĐT có cách phân loại và gọi tên các sản phẩm của mình rất khác nhau Thậm chí một ngân hàng cũng có thể thay đổi cách phân chia và gọi tên các sản phẩm của mình theo thời gian theo mục đích cơ cấu tổ chức hoặc mục đích thương mại Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả nghiên cứu về hoạt động ngân hàng đầu
tư trong khuôn khổ hoạt động của một NHTM
1.3 Phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán
1.3.1 Quan điểm về phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK
Đứng trên góc độ là các NHTM cung ứng dịch vụ cho TTCK thì quan điểm phát triển các nghiệp vụ phục vụ TTCK được thể hiện trên các tiêu chí sau:
- Tiêu chí 1: Phát triển số lượng và chất lượng các nghiệp vụ ở mức độ cần
thiết, đầy đủ để đảm bảo phục vụ mọi nhu cầu hợp pháp của khách hàng trên TTCK
Việc phát triển một cách đồng bộ phù hợp các nghiệp vụ sẽ giúp khách hàng tiết kiệm được thời gian, công sức, giảm các khâu trung gian đồng thời tăng sự gắn
bó giữa khách hàng với các NHTM
-Tiêu chí 2: Phát triển tốt các hệ thống thông tin, hệ thống báo cáo và lưu
trữ thông tin về khách hàng để phục vụ mục đích nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu của khách hàng khi họ tham gia vào TTCK
Với việc có được một cơ sở dữ liệu chi tiết về khách hàng sẽ góp phần giúp các NHTM có nhiều ưu thế trong việc tiếp thị và phát triển các sản phẩm mới cung cấp cho TTCK
- Tiêu chí 3: Phát triển tốt khâu nghiên cứu, phản hồi để có những kiến nghị
cụ thể với UBCKNN, cơ quan quản lý như NHNN, Chính phủ nhằm kịp thời có cơ chế pháp lý, chính sách phù hợp cho các NHTM tham gia TTCK
- Tiêu chí 4: Phát triển tốt hệ thống thu thập thông tin, nhằm khai thác lợi
ích mà NHTM có được từ phía khách hàng
- Tiêu chí 5: Ứng dụng và cập nhật nền tảng công nghệ tiên tiến phục vụ TTCK
Trang 3322
Việc xây dựng hệ thống CNTT hiện đại, đồng bộ, vững chắc và ổn định góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo hệ thống luôn hoạt động một cách ổn định, liên tục và thông suốt tránh mọi trường hợp rủi ro xãy ra góp phần nâng cao hình ảnh và chất lượng dịch vụ
- Tiêu chi 6: Phát triển con người, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
để phục vụ TTCK:
Đây là quan điểm trọng tâm trong đánh giá phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK bởi con người là nhân tố quan trọng nhất vì vậy cần xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực một cách khả thi dựa trên nhu cầu thực tế, trong đó tổ chức đào tạo riêng biệt với từng yêu cầu hoạt động, cụ thể như đào tạo đội ngũ cán
bộ về nghiên cứu, sáng tạo, thiết kế và xây dựng sản phẩm, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo trên nền tảng kết hợp lý thuyết cơ bản và thực hành thực tế
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của nghiệp vụ ngân hàng phục vụ thị trường chứng khoán
Đánh giá sự phát triển của các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK đòi hòi phải nhìn nhận từ nhiều khía cạnh cụ thể, bao gồm các chỉ tiêu định lượng và định tính
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định lượng
* Số lượng khách hàng và thị phần: Đây là chỉ tiêu đầu tiên để đánh giá quy
mô khách hàng sử dụng dịch vụ do ngân hàng cung cấp trên TTCK
Khi đưa ra mỗi sản phẩm dịch vụ, ngân hàng đều điều tra số lượng người sử dụng, số lượng khách hàng ngày càng nhiều chứng tỏ dịch vụ ngân hàng mang lại nhiều tiện ích đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của khách hàng, thích ứng và tồn tại được trên thị trường Ngược lại, số lượng người sử dụng dịch vụ ít chứng tỏ dịch vụ
đó chưa đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng và thương hiệu của ngân hàng vẫn còn thấp, cần phải tiếp tục nghiên cứu, phát triển dịch vụ hơn nữa, nâng cao vị thế của ngân hàng Bên cạnh đó, số lượng khách hàng tăng trưởng qua các năm cũng là một thước đo đánh giá sự phát triển
+ Công thức xác định sự tăng trưởng khách hàng sử dụng dịch vụ
Trang 34+ Công thức xác định tỷ trọng số lượng nghiệp vụ vụ phục vụ TTCK
(3) Bên cạnh đó, sự gia tăng số lượng sản phẩm dịch vụ qua các năm cũng là chỉ tiêu đo lường sự phát triển
+ Công thức xác định tốc độ phát triển số lượng sản phẩm dịch vụ
*Quy mô và tỷ trọng thu nhập của nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK
Thu nhập từ các nghiệp vụ mà ngân hàng cung cấp trên TTCK cho khách hàng là chỉ tiêu phản ánh sự đóng góp của hoạt động này vào thu nhập của ngân hàng, qua chỉ tiêu này ta có thể cơ cấu lại các nguồn lực và định hướng phát triển phù hợp hơn
Quy mô thu nhập từ các nghiệp vụ phục vụ TTCK = Tổng doanh thu từ các nghiệp vụ phục vụ TTCK;
Công thức tính tỷ trọng thu nhập của các nghiệp vụ mà ngân hàng cung cấp trên TTCK so với tổng thu nhập của NHTM
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định tính
Để đánh giá một cách khách quan và chính xác sự phát triển của nghiệp vụ
Trang 3524
ngân hàng phục vụ TTCK ngoài các chỉ tiêu định lượng đòi hỏi phải xác định chỉ tiêu định tính có liên quan đến phát triển nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK
*Độ tin cậy: đây là tiêu chí bao gồm các vấn đề về sự bảo mật đối với các
giao dịch và thông tin cá nhân của khách hàng, cung cấp dịch vụ chính xác, đúng thời điểm, tạo được sự an toàn, tin cậy của khách hàng khi sử dụng dịch vụ
* Năng lực phục vụ: Ngân hàng có cung cấp được hệ thống dịch vụ đa dạng,
từ cơ bản đến chuyên sâu, nhân viên có khả năng tư vấn, giải thích các vướng mắc của khách hàng một cách đầy đủ, nhanh chóng, dễ hiểu…
* Mức độ đáp ứng: Các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp trên TTCK có khả
năng đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng hay chỉ một phần, nhân viên có đủ kiến thức chuyên môn để trả lời và hướng dẫn khách hàng
* Mức độ hài lòng của khách hàng: Ngân hàng có các chương trình chăm
sóc khách hàng, các cam kết đối với chất lượng dịch vụ, sẵn sàng lắng nghe và thay đổi, có các chương trình khảo sát về chất lượng dịch vụ mà mình cung cấp đối với khách hàng v.v…
Bảng 1.2 Bảng tổng kết các tiêu chí đánh giá sự phát triển nghiệp vụ ngân
hàng phục vụ TTCK STT Các tiêu chí định lượng Các tiêu chí định tính
5
Tỷ trọng số lượng sản phẩm dịch vụ phục vụ TTCK so với tổng số lượng sản phẩm dịch vụ
6 Tốc độ phát triển số lượng sản phẩm
dịch vụ phục vụ TTCK
7 Quy mô thu nhập các sản phẩm phục vụ
TTCK
Trang 3625
8
Tỷ trọng thu nhập của các nghiệp vụ mà ngân hàng cung cấp trên TTCK so với tổng thu nhập của NHTM
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các nghiệp vụ NHTM phục vụ TTCK
1.4.1 Nhân tố khách quan
1.4.1.1 Môi trường kinh tế
Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó hệ thống NHTM với vai trò là huyết mạch của nền kinh
tế nên hoạt động ngân hàng rất nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế Nền kinh tế tác động vào hệ thống ngân hàng theo hai hướng: vào chính khách hàng hoặc thông qua thị trường tài chính, chứng khoán
Nếu nền kinh tế phát triển, cấu trúc vào hoạt động tài chính cũng thay đổi với
sự tham gia đông đảo của nhiều tổ chức kinh tế phi ngân hàng: công ty bảo hiểm, công ty tài chỉnh, công ty chứng khoán…điều này càng gây khó khăn cho NHTM trong việc phát triển các nghiệp vụ của mình trên TTCK bởi các ngân hàng không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức phi ngân hàng khác
Môi trường kinh tế phát triển hoặc suy yếu sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của các nhà đầu tư từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng cung cấp trên TTCK Khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển ổn định, thất nghiệp giảm, thu nhập của người dân tăng lên và họ có xu hướng sử dụng các dịch vụ ngân hàng nói chung
và các nghiệp vụ trên TTCK nhiều hơn Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, mất ổn định, tỉ lệ thất nghiệp cao, thu nhập của người dân giảm, họ sẽ chi tiêu ít hơn, tích trữ tiền mặt, vàng và ngoại tệ nhiều hơn thay cho việc đầu tư trên TTCK
1.4.1.2 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật Môi trường này có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống NHTM, ngoài ra nó còn điều chỉnh các hoạt động của hệ thống NHTM trên TTCK Nếu hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc cho ngân hàng hoạt động và phát triển các hoạt động của nó trên TTCK Ngược lại nếu
Trang 3726
hệ thống pháp luật không đầy đủ, rõ ràng, thiếu tính đồng bộ sẽ là rào cản, cản trở
sự tồn tại và phát triển của hệ thống ngân hàng và TTCK
1.4.1.3 Môi trường văn hóa – xã hội
Môi trường văn hoá - xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể Phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống làm việc, sản xuất, và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ" Như vậy, những hiểu biết về mặt văn hoá - xã hội sẽ là những cơ sở rất quan trọng trong quá trình quản trị chiến lược ở các ngân hàng Các khía cạnh hình thành môi trường văn hoá xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động kinh doanh như: (1) Những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, về lối sống, về nghề nghiệp; (2) Những phong tục, tập quán, truyền thống; (3) Những quan tâm và ưu tiên của xã hội; Trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội
Môi trường văn hóa xã hội là yếu tố quyết định đến sinh hoạt và thói quen sử dụng tiền của người dân Nếu người dân thích tích trữ tiền mặt, vàng và ngoại tệ thì họ sẽ
ít sử dụng dịch vụ của ngân hàng nói chung và hoạt động đầu tư trên TTCK nói riêng
Trình độ dân trí ngày càng cao giúp cho khả năng tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học công nghệ của người dân ngày càng cao, tạo điêu kiện cho các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đa năng hiện đại, các dịch vụ cung ứng trên TTCK ngày càng được phát triển, mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng
1.4.2 Nhân tố chủ quan
1.4.2.1 Chiến lược phát triển của ngân hàng
Kế hoạch chiến lược là nhân tô giúp doanh nghiệp phát triển Khi thiếu một
kế hoạch chiến lược, doanh nghiệp sẽ hoạt động kém hiệu quả và thậm chí đi vào sa sút, phá sản Vì vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải lập được một bản
kế hoạch chiến lược cho mình
Xây dựng kế hoạch chiến lược cho doanh nghiệp chính là để thực hiện tầm nhìn, mục tiêu trong tương lai của doanh nghiệp Vì vậy, thiếu một chiến lược phát triển phù hợp thì mục tiêu của doanh nghiệp rất khó thực hiện hoặc dễ bị đi chệch
Trang 381.4.2.2 Năng lực tài chính của ngân hàng
Năng lực tài chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời…
đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường
Khi năng lực tài chính mạnh, ngân hàng sẽ có nhiều vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, hiện đại thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Quy mô ngân hàng là nhân tố quyết định cơ cấu danh mục sản phẩm của ngân hàng Cơ cấu vốn của ngân hàng quyết định khả năng chi trả và cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng Nếu các ngân hàng truyền thống chỉ chú trọng vào hoạt động tín dụng thì đa số các ngân hàng hiện nay đều phát triển theo xu hướng là ngân hàng đa năng, phát triển nhiều loại hình dịch vụ hiện đại, nhiều tiện ích, đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng
1.4.2.3 Năng lực về công nghệ của ngân hàng
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, năng lực công nghệ của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp luôn được coi là yếu tố rất quan trọng, quyết định đến khả năng cạnh tranh và phát triển Nền kinh tế phát triển, khoa học công nghệ phát triển dẫn đến các sản phẩm dịch vụ dành cho khách hàng cũng đa dạng với hàm lượng công nghệ cao hơn, độ bảo mật, sự tiện dụng giúp cho quá trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng được tiện lợi hơn và an toàn hơn Ngày nay, việc giao dịch điện tử, giao dịch không qua sàn của các nhà đầu tư đã trở nên phổ biến vì vậy việc
Trang 3928
ứng dụng CNTT trong phát triển các nghiệp vụ ngân hàng trên TTCK là yêu cầu cấp bách đối với các NHTM Ngoài ra, việc áp dụng khoa học kỹ thuật giúp quá trình thu thập thông tin của ngân hàng nhanh hơn, chính xác hơn Tuy nhiên, để có được các phương tiện hỗ trợ công nghệ cao như vậy đòi hỏi ngân hàng phải bỏ ra một lượng vốn tương đối lớn Do vậy, khi đầu tư vào công nghệ nào ngân hàng đều cần phải cân nhắc, so sánh giữa lợi ích đạt được và chi phí bỏ ra để áp dụng khoa học công nghệ phù hợp với khả năng tài chính của mình
1.4.2.4 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động
Con người luôn là trung tâm của mọi hoạt động Con người là nhân tố quyết định đến sự tồn tại của ngân hàng Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện qua trình độ nghiệp vụ, phong cách làm việc, thái độ phục vụ khách hàng Nếu nhân viên có trình độ nghiệp vụ cao thì có khả năng nắm bắt công việc nhanh, thao tác nghiệp vụ tốt, ít sai sót Nếu cán bộ ngân hàng phục vụ khách hàng nhiệt tình, chu đáo sẽ làm cho hình ảnh ngân hàng trong mắt khách hàng ngày một chuyên nghiệp và thân thiện hơn
Như vậy, việc phát triển các nghiệp vụ ngân hàng nói chung và các nghiệp
vụ NHTM triển khai trên TTCK nói riêng chịu tác động của tất cả các nhân tố từ khách quan đến chủ quan Việc nắm bắt và có chiến lược phát triển, phát huy, tận dụng mọi nhân tố một cách hài hoà sẽ là động lực giúp doanh nghiệp phát triển
Bảng 1.3: Các nhân tố ảnh hưởng đến các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ trên
thị trường chứng khoán
STT Các nhân tố khách quan Các nhân tố chủ quan
1 Môi trường kinh tế Chiến lược phát triển của ngân hàng
2 Môi trường pháp lý Năng lực tài chính của ngân hàng
3 Môi trường văn hóa – xã hội Năng lực về công nghệ của ngân
hàng
Trang 401.5.1 Hệ thống ngân hàng đa năng ở Đức
Hệ thống ngân hàng đa năng của Đức được đánh dấu với sự ra đời của Luật TTCK vào năm 1896 Luật này đưa ra các hạn chế về hoạt động của TTCK, và do
đó làm thúc đẩy sự tăng trưởng và tập trung quyền lực vào hệ thống các Ngân hàng
đa năng Hệ thống pháp luật về tài chính, cùng với bộ luật kinh doanh của Đức vào thời gian này đã dẫn đế sự phát triển vượt bậc của hệ thống ngân hàng đa năng ở Đức, đặc biệt trong giai đoạn từ 1884 đến 1913 Có ba ảnh hưởng của hệ thống luật pháp giai đoạn này tới hệ thống ngân hàng đa năng đó là: khuyến khích các ngân hàng đa năng mở rộng hoạt động chuyển giao một phần hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán sang các ngân hàng đa năng ở quy mô lớn, và nhân rộng sự tập trung quyền lực vào các ngân hàng đa năng trong khu vực tài chính
Hệ thống ngân hàng đa năng ở Đức là một hình mẫu về ngân hàng đa năng toàn phần Các ngân hàng ở Đức được cung cấp tất cả các loại dịch vụ bao gồm các dịch vụ ngân hàng truyền thống như huy động vốn, tín dụng, thanh toán, các dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại khác; và các dịch vụ chuyên sâu trong lĩnh vực chứng khoán như thanh toán chứng khoán, môi giới, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu
tư, cho vay chứng khoán, tự doanh…
Trong hoạt động TTCK, việc bảo lãnh phát hành chứng khoán mới ở Đức được tiến hành chủ yếu qua các ngân hàng đa năng Phần lớn việc niêm yết được tiến hành theo hình thức một nhà bảo lãnh phát hành (hoặc một ngân hàng xúc tiến) tiến hành mua toàn bộ số cổ phiếu phát hành và sau đó bán lại ra công chúng Các điều luật khác, như điều luật công ty năm 1870, yêu cầu trước khi phát hành, số cổ phiếu đó đã phải được đăng ký mua hết và số tiền trả trước phải đạt ít nhất 25%