- Nêu lên một số khái niệm liên quan đến trường đại học công lập, tài chính và tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập; - Nêu lên thực trạng tự chủ tại các trường đại học công l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ HOÀNG NGA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hình thành và phát triển trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực hành thực tế Luận
văn được thực hiện với sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Hoàng Nga Các đoạn trích dẫn,
số liệu sử dụng, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, nguồn gốc trích dẫn rõ ràng,
có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tài liệu, tư liệu, hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5- Nêu lên một số khái niệm liên quan đến trường đại học công lập, tài chính và
tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập;
- Nêu lên thực trạng tự chủ tại các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục hiện nay và thực trạng tình hình tự chủ tài chính tại Đại học Công nghiệp Quảng Ninh (ĐHCNQN) ;
- Một số kiến nghị và giải pháp chung cho các trường đại học công lập trong giai đoạn tiếp theo;
- Kiến nghị và giải pháp cụ thể đối với Trường ĐHCNQN về công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
Danh mục các chữ viết tắt……… i
Danh mục các bảng ……… ii
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ ……… iii
LỜI NÓI ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP……… 5
1.1 Một số khái niệm chung……… 5
1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công……… 5
1.1.2 Khái niệm và cơ cấu tổ chức của trường đại học công lập…… 5
1.1.3 Cơ chế tự chủ tài chính và tự chủ tài chính 6
1.1.4 Tài chính trong các trường đại học công lập 8
1.1.5 Tổ chức tài chính trong các trường đại học công lập 9
1.2 Cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập……… 10
1.2.1 Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính tại trường đại học………… 10
1.2.2 Tính tất yếu của tự chủ tài chính……… 12
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc tự chủ tài chính……… 14
1.2.4 Nội dung cơ chế tự chủ tài chính tại đại học công lập 15
1.2.5 Yếu tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính tại đại học công lập 21
1.3 Kinh nghiệm tự chủ tài chính ở một số trường đại học và bài học rút ra cho trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh 22
1.3.1 Tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập của một số quốc gia
22 1.3.2 Kinh nghiệm của một số trường đại học công lập 24
1.3.3 Một số đánh giá và bài học kinh nghiệm 33
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH 36 2.1 Mô hình nghiên cứu……… 36
Trang 72.2 Phương pháp nghiên cứu……… 37
2.2.1 Thu thập dữ liệu 37
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 37
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH 40 3.1 Giới thiệu về trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh 40
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 40
3.1.2 Cơ cấu tổ chức 41
3.2 Thực trạng tự chủ tài chính tại trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh 41
3.2.1 Tự chủ về xây dựng các văn bản pháp lý 41
3.2.2 Tự chủ về các khoản thu, mức thu 42
3.2.3 Tự chủ về nội dung chi và định mức chi 49
3.2.4 Tự chủ về quản lý và sử dụng tài sản 53
3.2.5 Tự chủ về quản lý cân đối thu chi 54
3.2.6 Tự chủ công cụ thực hiện quản lý tài chính 55
3.2.7 Tự chủ trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện 59
3.3 Đánh giá chung về cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh 60
3.3.1 Ưu điểm và nguyên nhân 60
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 62
3.3.3 Một số vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết 64
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH 66 4.1 Mục tiêu và phương hướng tự chủ tài chính của trường Đại học công nghiệp Quảng Ninh
66 4.1.1 Mục tiêu tự chủ tài chính 66
4.1.2 Phương hướng tự chủ tài chính 68
4.2 Giải pháp thực hiện tự chủ tài chính 69
4.2.1 Giải pháp về tổ chức 69
4.2.2 Giải pháp về hoàn thiện các quy định quản lý nội bộ 71
Trang 84.2.3 Giải pháp về huy động nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi 72
4.3 Một số kiến nghị 75
4.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 75
4.3.2 Kiến nghị với Bộ giáo dục và đào tạo 77
4.3.3 Kiến nghị với Bộ công thương 78
Trang 10DANH MỤC BẢNG
2 Bảng 3.1 Bảng tổng hợp nguồn kinh phí, cơ cấu nguồn kinh phí ngân sách
nhà nước cấp giai đoạn 2011-2015
42
3 Bảng 3.2 Bảng tổng hợp thu, cơ cấu thu từ hoạt động sự nghiệp giai đoạn
2011-2015
44
4 Bảng 3.3 Cơ cấu thu từ học phí, lệ phí giai đoạn 2011-2015 46
5 Bảng 3.4 Bảng tổng hợp nguồn tài chính, cơ cấu nguồn tài chính giai đoạn
2011-2015
48
6 Bảng 3.5 Bảng tổng hợp nội dung chi, cơ cấu chi giai đoạn 2011-2015 50
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức các trường đại học công lập 10
2 Sơ đồ 1.2 Mô hình hoạt động tài chính của các trường ĐHCL ở Việt
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 So sánh nguồn kinh phí, cơ cấu nguồn kinh phí ngân sách nhà
nước cấp giai đoạn 2011-2015
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Văn kiện đại hội lần thứ XII của đảng tiếp tục khẳng định “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Trong đó thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc
tế và thực hiện đổi mới cơ chế tài chính giáo dục” Như vậy, chủ trương đổi mới nền
giáo dục Việt Nam trong đó có đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục đại học
là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, việc nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo đặc biệt là giáo dục đại học đã giúp các trường đại học công lập chủ động hơn trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ đào tạo với chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước nâng cao thu nhập cho cán bộ viên chức Mặc khác qua trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong lĩnh vực giáo dục nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, huy động sự đóng góp của cộng đồng để phát triển sự nghiệp giáo dục, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước
Trong những năm gần đây giáo dục đại học ở Việt Nam có rất nhiều thay đổi, ngày càng có nhiều trường đại học ngoài công lập, đại học nước ngoài, các chương trình liên kết quốc tế và nhiều chương trình du học tại chỗ của nước ngoài tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ giáo dục đại học ở Việt Nam Điều này, đã đặt các trường đại học công lập của Việt Nam vào một vị thế cạnh tranh lẫn nhau ngày càng tăng và cạnh tranh với những tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục đại học của nước ngoài ngày càng cao hơn Mặt khác, thực hiện đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, trao quyền tự chủ cho các trường đại học công lập, nhà nước sẽ từng bước giảm dần tỷ lệ chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học với mục tiêu tăng tính tự chủ cho các trường nhằm giúp các trường nâng cao khả năng cạnh tranh và giảm gánh nặng ngân sách chi cho giáo dục đại học Như vậy, về mặt tài chính các trường đại học công lập ở Việt
Trang 13Nam phải chủ động chuyển đổi nguồn thu theo hướng từ một cơ cấu nguồn thu chủ yếu dựa vào sự tài trợ của nhà nước sang một cơ chế nguồn thu đa dạng hơn, dựa nhiều hơn vào học phí cũng như những hoạt động dịch vụ khác của nhà trường
Trong bối cảnh đó, các trường đại học công lập ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu và phát triển bền vững Như vậy, trong xu thế cạnh tranh và hội nhập, các trường đại học công lập ngày càng gặp nhiều khó khăn về nguồn kinh phí
để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên trong điều kiện ngân sách cấp chi thường xuyên cho giáo dục đại học có xu hướng giảm xuống và học phí vẫn bị khống chế bởi mức trần thu học phí
Phù hợp với xu thế phát triển chung của GDĐH, Đại học Công nghiệp Quảng Ninh rất tích cực cải cách và đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và công tác kế toán nói riêng, đã chủ động khai thác tối đa các nguồn thu, nâng cao hiệu quả các khoản chi phí, tích cực cân đối thu chi đảm bảo tự chủ về tài chính phục vụ tốt sự nghiệp giáo dục đào tạo Tuy nhiên, thực trạng cơ chế TCTC còn rất nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến mục tiêu của quá trình đổi mới
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, tôi xin chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh” với mong muốn tìm hiểu
thực trạng tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính Từ đó, đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn tài chính theo hướng bền vững cho Đại học Công nghiệp Quảng Ninh trong thời gian tới
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Dựa trên nguyên lý về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, luận văn phân tích thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Qua đó chỉ rõ những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện cơ chế này của trường và đề xuất những giải pháp giúp trường thực hiện tốt hơn cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
2.2 Nhiệm vụ
Trang 14- Thu thập các nguồn dữ liệu, khảo sát thực tế để tìm hiểu thực trạng tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, chỉ ra những thành tựu, hạn chế
và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cơ chế tự chủ tài chính của các trường Đại học với tư cách là một đơn vị sự nghiệp công lập
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: cơ chế tự chủ tài chính của trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, tỉnh Quảng Ninh
+ Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
*) Cách tiếp cận:
Xuất phát từ việc tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, tác giả tiến hành thiết kế nghiên cứu phù hợp với bối cảnh Việt Nam Từ đó, số liệu thực tế liên quan được thu thập và phân tích Các giải pháp và đề xuất cũng được đưa ra dựa trên kết quả phân tích dữ liệu thực tế
*)Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin
+ Tài liệu thứ cấp: Các số liệu được thu thập thông qua việc thống kê, nghiên cứu các văn bản pháp quy của Nhà nước, các ấn phẩm; các tài liệu, báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối tài sản của trường qua các năm, các văn bản pháp quy, định hướng phát triển của Ngân hàng; đề tài, các sách, tạp chí, các website có liên quan
+ Tài liệu sơ cấp: Các số liệu được thu thập theo phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp tổng hợp thông tin
Trang 15Thu thập số liệu từ các báo cáo, tài liệu của trường, thông tin trên báo chí và internet và tổng hợp thông tin dựa trên các phương pháp tổng hợp: phân tổ thống kê, đồ thị thống kê, bảng thống kê
- Phương pháp phân tích thông tin
+ Phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp so sánh số tuyệt đối và phương pháp so sánh bằng số tương đối, thống kê…
+ Phương pháp thu thập, phân tích dữ liệu, đánh giá sơ đồ, biểu mẫu
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết luận, luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Liên quan đến vấn đề TCTC đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đã
có một số công trình nghiên cứu, thể hiện tầm quan trọng của vấn đề và sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế TCTC đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục và
đào tạo nói chung và đối với các trường Đại học nói riêng Có thể kể đến một số Hội
thảo khoa học, một số đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) về lĩnh vực này là:
- Hội thảo khoa học “Vấn đề tự chủ-tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học
và cao đẳng Việt nam” do trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thay mặt ban liên lạc các trường Đại học và Cao đẳng Việt nam (VUN) tổ chức tại Đại học Tây Nguyên ngày 24/10/2009 Phần lớn các ý kiến tham luận đều đề cập những hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý các trường ĐHCL hiện nay
Tiến sỹ Nguyễn Danh Nguyên – Đại học Bách khoa Hà Nội trong phần tham luận đã nhận xét: Hệ thống giáo dục Đại học hiện nay đã có những thay đổi so với trước nhưng việc quản lý hệ thống vẫn chưa có nhiều thay đổi Ngoại trừ một số trường như: Đại học Quốc gia và một số Đại học vùng, tất cả các trường ĐHCL vẫn được quản lý theo cơ chế quản lý của thời kỳ bao cấp, nghĩa là chịu sự xét duyệt chỉ tiêu tuyển sinh, chương trình đào tạo (chương trình khung), ngân sách tài chính, cho đến thù lao giảng viên, bổ nhiệm chức danh Trong khi đó, đối với các trường Đại học tư thục/dân lập, quốc tế hay liên kết quốc tế, việc kiểm soát khá thông thoáng Chính sự khác biệt trong quản lý này đã tạo ra sự thiếu nhất quán trong toàn hệ thống, tạo ra sự cạnh tranh thiếu bình đẳng giữa các trường Đại học Bài tham luận cũng xác định những ảnh hưởng không mong muốn đến sự phát triển của các ĐHCL và đề xuất một số giải pháp liên quan tự chủ cho các ĐHCL Việt nam
Tiến sỹ Võ Xuân Đàn - Đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: tự chủ, tự chịu trách nhiệm chính là bước đột phá của cải cách giáo dục Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam Ông khẳng định: “Có tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Trang 17được những vấn đề chuyên biệt cao của Đại học thì tính khả thi của đề án đổi mới, cải cách giáo dục Đại học từ nay đến năm 2020 mới thực hiện hiệu quả” (Tr16)
PGS-TS Phạm Xuân Hậu - Viện trưởng Viện nghiên cứu giáo dục – Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh nhận định: tự chủ - tự chịu trách nhiệm là nội dung quan trọng trong quá trình cải cách giáo dục Đại học nhằm đáp ứng nhu cầu
xã hội và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, cần phải có điều kiện cần thiết và lộ trình phù hợp cho việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm Để được tự chủ, trường phải
có được thương hiệu, khẳng định đẳng cấp về quy mô và chất lượng trong lĩnh vực đào tạo chính, cùng các nghiên cứu khoa học được áp dụng vào thực tiễn, có niềm tin với xã hội
PGS-TS Phùng Xuân Nhạ - Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá: Với thực tiễn còn nhiều bất cập của giáo dục Đại học hiện nay, không thể giao một lúc quyền tự chủ hoàn toàn và cho tất cả các trường Đại học, Cao đẳng Mặt khác, khi được giao quyền tự chủ, chưa chắc một số trường
đủ sức nhận Hoặc, một số trường sau khi nhận có thể lạm dụng quyền tự chủ để tùy tiện mở rộng quy mô đào tạo mà không cần quan tâm đến chất lượng
- Hội thảo khoa học “Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực GD&ĐT và Khoa học công nghệ” diễn ra ngày 09/11/2013, tham gia Hội thảo có nhiều chuyên gia đến từ Học viện Tài chính, Bộ Khoa học công nghệ, Bộ Thông tin và đại diện một số trường Đại học, Cao đẳng Tại Hội thảo các nhà khoa học đã đóng góp nhiều bài viết bàn về vấn đề TCTC trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ
Tại hội thảo Ông Nguyễn Việt Hồng - Vụ trưởng Vụ Hành chính sự nghiệp –Bộ tài chính đã nêu bật những kết quả, cũng như những nguyên nhân tồn tại trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ
sự nghiệp giáo dục và đào tạo Cho đến nay số các đơn vị giáo dục và đào tạo tự đảm bảo kinh phí còn rất thấp, chủ yếu vẫn là các đơn vị sự nghiệp do nhà nước đảm bảo một phần hoặc toàn bộ kinh phí Nguyên nhân các đơn vị giáo dục và đào tạo tự đảm bảo kinh phí còn rất thấp trong thời gian qua, về quản lý phương thức
Trang 18hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp giáo dục và đào tạo chưa được đổi mới đồng bộ; Chưa tạo ra cơ chế hạch toán đầy đủ chi phí và cơ chế giá dịch vụ
để khuyến khích các đơn vị sử dụng kinh phí gắn với hiệu quả công việc
- Hội thảo khoa học “Tháo gỡ vướng mắc trong công tác quản lý tài chính tại các đơn vị Giáo dục và Đào tạo” do trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ tổ chức ngày 14 và 15/11/2013
Tại hội thảo TS Nguyễn Trường Giang - Vụ Hành chính sự nghiệp - Bộ Tài chính đã nêu một số hạn chế và giải pháp về thực trạng cơ chế tài chính trong giáo dục đại học như: việc duy trì học phí thấp, không đủ bù đắp chi thường xuyên, đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cơ sở giáo dục ĐHCL phải xé rào, ban hành nhiều khoản thu ngoài quy định, dẫn đến thiếu công khai, minh bạch trong việc sử dụng nguồn thu; Phân bổ NSNN chưa gắn với nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề Và đưa ra một số giải pháp đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học như sau; Từng bước tính đủ học phí, đối với giáo dục đại học, việc tính đủ học phí là cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế về giáo dục đại học, học đại học để có nghề, tạo thu nhập kiếm sống nuôi sống bản thân và gia đình nên người học phải đóng đủ học phí Việc tính đủ học phí đối với giáo dục đại học là phù hợp với kết luận của Bộ chính trị tại Thông báo số 37-TB/TW ngày 26 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị về đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”
- Hội thảo khoa học “Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập” do Bộ Tài chính tổ chức năm 2011
Tại Hội thảo có nhiều tham luận của các chuyên gia, các nhà khoa học về vấn đề làm thế nào để đổi mới cơ chế tài chính đối với các trường ĐHCL Có nhiều biện pháp được đưa ra như: trước mắt cần phải hoàn thiện Luật Giáo dục đại học, hoặc việc đổi mới quản lý tài chính ở các trường đại học phải gắn với nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện mục tiêu công bằng
- Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Đức Cân (2012) : “Hoàn thiện cơ chế
tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt nam” Luận án đã làm rõ thêm
Trang 19về bản chất TCTC, phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đưa ra 6 tiêu chí đánh giá mức
độ hoàn thiện của cơ chế TCTC Phân tích thực trạng, những thuận lợi, khó khăn của cơ chế TCTC hiện nay từ góc độ các trường ĐHCL Đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, tính công bằng, tính ràng buộc, tính đồng thuận của các trường đối với Nghị định 43 Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện cơ chế TCTC
- Bài báo khoa học của tiến sỹ Phạm Thị Thu Thủy (2012), “Tăng cường quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng nhằm thực hiện hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Hội nhập: Cơ hội và thách thức”, NXB Thống kê Bài báo đánh giá thực trạng tự chủ hiện nay của các trường ĐHCL và chỉ ra những hạn chế của các trường trong quá trình hội nhập quốc tế do thiếu quyền tự chủ đầy đủ, bài báo cũng gợi ý các giải pháp tăng cường quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các trường ĐHCL, giúp các trường có điều kiện tốt hơn khi hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo
- Bài báo khoa học của GS.TS Đinh Văn Sơn (2013), “Tự chủ tài giải pháp chiến lược về chất lượng đào tạo của các trường đại học ở Việt nam trong điều kiện hội nhập”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Hội nhập: Thành tựu và những vấn
chính-đề đặt ra”, NXB Thống kê Bài báo phân tích, luận giải về một số giải pháp có tính quyết định đến chất lượng đào tạo và vai trò của nguồn lực tài chính đối với việc tạo lập các yếu tố nền tảng của quá trình đào tạo, tác giả cũng đề cập đến một số vấn đề
về TCTC trong các trường ĐHCL, như là giải pháp then chốt cho bài toán chất lượng đào tạo của giáo dục đại học Việt Nam
- Bài báo khoa học của GS.TS Hoàng Văn Châu (2011), “Một số vấn đề
về thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại trường đại học Ngoại thương”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở GDĐH công lập”, Bộ Tài chính và Bộ GD&ĐT phối hợp tổ chức Bài báo nêu thực trạng TCTC tại Đại học Ngoại thương và các vấn đề thực tế đặt ra trong quá trình thực hiện TCTC, đồng thời nêu các giải pháp cần thiết nhằm giải quyết tốt vấn đề TCTC tại đại học Ngoại Thương trong thời gian tới
- Bài báo khoa học của Nguyễn Thị Yến Nam (2011), “Giải pháp nâng
Trang 20cao hiệu quả công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (số 31 - 2011) Bài báo đề cập đến thực trạng về tình hình tài chính và công tác quản lý tài chính của trường đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh đối với các hoạt động chi thường xuyên được giao tự chủ trong chu kỳ kinh phí ổn định ba năm gần đây (2008 - 2011) từ đó đề ra những giải pháp cho việc cải tiến công tác quản lý tài chính cũng như góp phần đổi mới công tác quản lý của trường trong thời gian tới
- Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2009 Mục tiêu của đề án là xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo Xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục chất lượng cao
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể khái quát các vấn
đề mà các công trình nghiên cứu đã đề cập như sau:
(1) Nêu lên xu thế và các ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến phát triển GDĐH
(2) Kinh nghiệm của một số nước và một số mô hình tự chủ tài chính đại học của các nước có nền GDĐH phát triển, kinh nghiệm của một số trường đại học Việt nam
(3) Đưa ra một số khái niệm, bản chất của tự chủ và tự chủ tài chính, lý luận về tự chủ, đánh giá sơ bộ thực trạng tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng; đánh giá những tác động của chính sách đối với vấn đề tự chủ của các đại học
ở Việt nam hiện nay
(4) Nêu những vướng mắc liên quan đến việc thực thi quyền tự chủ
(5) Nêu một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập
Trang 21Hầu hết các công trình nghiên cứu và các bài viết đều đánh giá thực trạng chung của vấn đề tự chủ nói chung và TCTC nói riêng trên toàn hệ thống, một vài bài báo đánh giá thực trạng của một đơn vị cụ thể như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại thương…, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu hay bài báo khoa học nào nghiên cứu về thực trạng TCTC tại Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Vì vậy, trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ nghiên cứu cụ thể về vấn đề tự chủ tài chính tại trường ĐHCNQN theo Nghị định 16, từ thực trạng của hệ thống, thực trạng của trường ĐHCNQN đề xuất một số giải pháp phù hợp với trường trong thời gian tới
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
1.2.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công
Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước
Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ)
- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự
Chủ yếu là các Viện nghiên cứu, Bệnh viện, Trường học….trực thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.2 Khái niệm về trường đại học công lập
Trường đại học công lập là một đơn vị sự nghiệp công được thành lập theo quyết định của Nhà nước, được Nhà nước cấp kinh phí để đầu tư cơ sở vật chất
và kinh phí hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác theo quy định tại Điều lệ trường đại học ban hành theo quyết định 58/2010/QĐ-TTG ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ:
Trang 22- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo về Tổ quốc;
- Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định;
- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và đội ngũ cán
bộ giảng viên của trường;
- Quản lý giảng viên, cán bộ nhân viên, xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi
và giới;
- Quản lý sử dụng tài sản, trang thiết bị và tài chính theo quy định;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định
Hoạt động của các trường đại học là cung cấp các dịch vụ công đáp ứng yêu cầu đào tạo trang bị các kiến thức theo các chuyên ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau cho người học không vì mục tiêu lợi nhuận
Tổ chức hoạt động đào tạo của các trường đại học được thực hiện theo nhiều chương trình, chuyên ngành và cấp bậc khác nhau (cao đẳng, đại học, sau đại học) Điều đó đòi hỏi tổ chức quản lý phải theo từng chuyên ngành, cấp đào tạo, đặc biệt trong điều kiện thực hiện tự chủ tài chính cần xác định được chi phí và các khoản thu của từng chuyên ngành và cấp đào tạo
Thời gian tổ chức hoạt động của các trường đại học được thực hiện thống nhất chung giữa các trường và không phù hợp với thời gian thực hiện cấp phát và thanh quyết toán các nguồn kinh phí (năm tài chính )
Trong các trường đại học ngoài hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học theo nhiệm vụ được Nhà nước giao còn tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh các dịch vụ sự nghiệp ngoài nhiệm vụ chính của Nhà nước
1.2.3 Cơ chế tự chủ tài chính và tự chủ tài chính
Trang 23a) Cơ chế tự chủ tài chính
Cơ chế tự chủ tài chính có thể khái quát đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước Cơ chế
tự chủ tài chính được hiểu là cơ chế do Nhà nước quy định theo đó các đơn vị sự nghiệp công lập được trao quyền quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu chi của đơn vị mình nhưng không được vượt quá mức khung do Nhà nước quy định
Cơ chế TCTC là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn
vị
Cơ chế tự chủ tài chính trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay được thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 và Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015
b) Tự chủ tài chính
Được hiểu là vấn đề tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công trong việc tạo ra
và sử dụng nguồn tài chính có được trong quá trình hoạt động, tự chủ tài chính là tự chủ trong việc phân bổ nguồn tài chính cho mọi hoạt động của đơn vị
Thực hiện việc đổi mới quản lý tài chính công, Chính phủ bắt đầu giao quyền TCTC cho các đơn vị sự nghiệp trong đó có ĐHCL bằng việc ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 Nghị định 10 đã quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp có thu và trách nhiệm của cơ quan quản
lý các cấp Tuy nhiên quá trình thực hiện, Nghị định 10 bộc lộ nhiều hạn chế Sau
đó Chính phủ ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/10/2006 và nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Hiện nay
cơ chế TCTC trường ĐHCL thực hiện theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP
Nghị định 16/2015/NĐ-CP so với Nghị định 10/2002/NĐ-CP có mở rộng hơn về mục tiêu, nội dung, quy định chi tiết hơn và có một số điểm mới như
Trang 24(3) Sử dụng nguồn vốn được chia thành 2 loại rõ rệt (chi thường xuyên
và chi không thường xuyên) Thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định phương thức khoán chi phí cho từng đơn vị, bộ phận trực thuộc;
(4) Việc chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ, sau khi trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và làm nghĩa vụ với nhà nước được quy định cụ thể, chi tiết hơn;
(5) Việc lập và chấp hành dự toán được chia thành 2 thời điểm:
Một là: Năm đầu thời kỳ ổn định, dự toán được lập dựa vào chức năng
nhiệm vụ được giao, kết quả thu chi của năm trước liền kề - lập dự toán chi không thường xuyên;
Hai là: Hai năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định, dự toán được lập dựa
trên mức ngân sách cấp cho năm trước liền kề, nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm
kế hoạch-lập dự toán chi không thường xuyên
(6) Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong việc thực hiện quyền tự chủ, xây dựng phương án tự chủ báo cáo cơ quan cấp trên
1.2.4 Tài chính trong các trường đại học công lập:
Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể xã hội
Tài chính trong các trường đại học là phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của các quỹ tiền tệ trong các trường đại học Xét về hình thức nó phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quá trình sử dụng các quỹ
Trang 25bằng tiền Xét về bản chất, nó là những mối quan hệ tài chính biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ bằng tiền nhằm phục vụ cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Các quan hệ tài chính trong các trường ĐHCL như sau:
- Quan hệ tài chính giữa các trường với NSNN
Ngân sách nhà nước cấp kinh phí bao gồm: Chi hoạt động thường xuyên
và chi hoạt động không thường xuyên Các trường phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như nộp thuế theo quy định của nhà nước
- Quan hệ tài chính giữa các trường với xã hội
Quan hệ tài chính giữa các trường với xã hội, mà cụ thể là người học được thể hiện qua các khoản thu sau: Học phí, lệ phí tuyển sinh để góp phần đảm bảo cho hoạt động giáo dục Nhà nước quy định khung học phí, cơ chế thu và sử dụng học phí đối với các trường ĐHCL Người học thuộc diện chính sách xã hội và người nghèo được nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách xã hội, sinh hoạt phí, cho vay…
- Quan hệ tài chính giữa nhà trường với nước ngoài
Quan hệ tài chính giữa nhà trường với nước ngoài gồm các quan hệ tài chính với các trường, tổ chức nước ngoài về hoạt động như liên kết đào tạo, NCKH
và hợp tác quốc tế nhằm phát triển các nguồn lực tài chính, tìm kiếm các nguồn tài trợ
- Quan hệ tài chính trong nội bộ nhà trường
Quan hệ tài chính trong nội bộ nhà trường gồm các quan hệ tài chính giữa các đơn vị trong trường và giữa các công chức, viên chức trường thông qua quan hệ tạm ứng, thanh toán, phân phối thu nhập, thù lao giảng dạy, NCKH, tiền lương, thưởng, thu nhập tăng thêm…
1.2.5 Tổ chức tài chính trong các trường Đại học công lập:
Quản lý tài chính là quản lý các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế
Trang 26tài chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước Quản lý tài chính là việc sử dụng các công cụ quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Tổ chức quản lý tài chính trong các trường ĐHCL là tổ chức quản lý công tác thu, chi của các quỹ tài chính trong nhà trường, quản lý thu chi của các chương trình, dự án đào tạo, quản lý thực hiện dự toán ngân sách của nhà trường
Quản lý tài chính đòi hỏi các chủ thể quản lý phải lựa chọn, đưa ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động quản lý tài chính của đơn vị mình Mục tiêu tài chính có thể thay đổi theo từng thời kỳ và chính sách chiến lược của từng đơn vị Tuy nhiên khác với doanh nghiệp, mục tiêuquản lý tài chính trong các trường ĐHCL không vì mục đích lợi nhuận mà phục vụ cho cộng đồng là chủ yếu nên quản lý tài chính tại các trường ĐHCL là quản lý và sử dụng có hiệu quả, đúng định hướng các nguồn kinh phí NSNN cấp và các nguồn thu khác theo đúng quy định của pháp luật
1.3 CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
1.3.1 Cơ cấu tổ chức của trường đại học công lập
Hiệu trưởng
Các hội đồng tư vấn Hội đồng khoa học và đào tạo
Trang 27Sơ đồ 1.1 Bộ máy của trường ĐHCL
Các khoa quản lý
Các đơn vị trực thuộc
Lớp sinh viên
Trang 28Theo cơ cấu tổ chức các trường Đại học được quy định trong luật Giáo dục, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động của nhà trường, do
Bộ GD&ĐT có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và thủ tục bổ nhiệm, công nhận Hiệu trưởng được thực hiện theo quy định của nhà nước Các phó Hiệu trưởng là thành viên trong Ban giám hiệu và là người giúp việc cho Hiệu trưởng, cũng do Bộ chủ quản có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận
Các phòng chức năng là các đơn vị trực thuộc trường, thực hiện nhiệm vụ phục vụ đào tạo, triển khai thực hiện các kế hoạch và đóng vai trò tham mưu cho Hiệu trưởng trong việc hoạch định, chiến lược phát triển cũng như thực hiện các nghiệp vụ trong lĩnh vực chuyên môn
Các khoa là cấp quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về đào tạo, NCKH
Đầu ra
Mục tiêu đào tạo
Sơ đồ 1.2 Mô hình hoạt động tài chính của các trường ĐHCL ở Việt Nam
Đào tạo (chính quy, VHVL, hợp đồng)
Hoạt động ngoài đào tạo (NC, SX, DV )
Trang 29Hiện nay, các nguồn tài chính nhằm duy trì các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy của các trường ĐHCL bao gồm: nguồn NSNN, học phí và đóng góp xã hội
1.3.2 Tính tất yếu khách quan của tự chủ tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của một quốc gia Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, hầu hết các chính phủ đều quan tâm đầu tư cho giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng
Bộ GD&ĐT đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đổi mới, cải cách giáo dục đại học đến năm 2020 như sau:
+ Điều chỉnh cơ cấu trình độ và hệ thống nhà trường, làm cho giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và xu hướng phát triển của thế giới;
+ Xây dựng quy trình mềm dẻo và liên thông, đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy ở bậc đại học;
+ Xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách quản lý và giáo dục tiên tiến hiện đại;
+ Tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, trực tiếp giải quyết những vấn đề thực tiễn phát triển kinh tế xã hội và tăng nguồn thu nhập cho trường;
+ Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục đại học nhằm đa dạng hóa nguồn lực
và nâng cao hiệu quả đầu tư;
+ Đổi mới quản lý giáo dục theo hướng tăng cường tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy năng lực cạnh tranh của hệ thống đại học trong quá trình hội nhập quốc tế
Hiện nay, một thách thức đối với giáo dục đại học là giải quyết bài toán giữa yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng, trong khi ngân sách quốc gia không thể cung cấp đủ, các cơ sở giáo dục cần phải tìm kiếm tài chính ngoài ngân sách Điều này sẽ được giải quyết nếu các trường là một chủ thể, có quyền xem xét lại các ưu tiên,
tổ chức lại cơ cấu quản lý, tự đa dạng hóa nguồn thu (bao gồm cả nguồn thu học phí từ người học)
Trong thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở GDĐH công
Trang 30lập ở nước ta đã từng bước được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế
xã hội theo hướng ngày càng nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính Thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và nay là Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có các trường ĐHCL được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tạo lập và sử dụng nguồn tài chính để thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực hoạt động của mình Việc giao quyền tự chủ tài chính cho các trường là hết sức cấp bách, sẽ giúp các trường thuận lợi trong việc chủ động chi tiêu trong những trường hợp đột xuất cũng như xoay xở trong những vấn đề thuộc diện trường tự lo được Vì sao phải tự chủ tài chính? Là vì:
- Các trường phải đáp ứng các qui luật giá trị và qui luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường;
- Phải có sản phẩm đa dạng, có chất lượng phù hợp, nhằm đáp ứng với mọi yêu cầu của thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường;
- Các trường không còn được bao cấp nguồn lực hoàn toàn;
- Phải nâng cao không ngừng chất lượng, hiệu quả và hiệu suất của mình để khẳng định vị trí, thương hiệu;
- Chỉ có tự chủ mới khai thác được triệt để tiềm năng của những trí tuệ lớn tại các trường đại học để phát triển nhà trường nói riêng và GDĐH nói chung + TCTC cho phép các trường chủ động thu hút, khai thác nguồn vốn ngân sách và tạo lập nguồn vốn ngoài ngân sách thông qua đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, nhân lực, tài sản để việc thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn, mở rộng, phát triển nguồn thu
+ TCTC có tác động tích cực tạo điều kiện cho các trường công lập chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng kinh phí và thực hành tiết kiệm, thúc đẩy các đơn vị năng động hơn trong các hoạt động theo hướng
đa dạng hoá các loại hình đào tạo để tăng nguồn thu, khắc phục được tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn lực, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ hoạt động nghiệp vụ có chuyên môn của các đơn vị
+ TCTC góp phần tăng cường trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn, 100% các đơn vị được giao quyền tự chủ đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện công khai tài chính
Trang 31+ TCTC bảo đảm đầu tư của nhà nước cho các trường ĐHCL được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, thể chế hoá việc trả lương tăng thêm một cách thích đáng, hợp pháp từ kết quả hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ và tiết kiệm chi tiêu, tăng cường công tác quản lý tài chính của các đơn vị từng bước đi vào nề nếp
1.3.3 Mục tiêu và nguyên tắc tự chủ tài chính tại các trường ĐHCL
1.3.3.1 Mục tiêu của tự chủ tài chính tại các trường ĐHCL:
+ Cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho các trường ĐHCL Muốn xây dựng được thương hiệu, nâng cao được uy tín, tạo được danh tiếng và vị thế trường phải chú trọng đầu tư cho chất lượng đào tạo (xây dựng đội ngũ chuẩn, đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, cải tiến chương trình, nội dung phù hợp, tổ chức tuyển sinh nghiêm túc…)
+ Chủ động nguồn thu bằng cách đa dạng hóa hoạt động đào tạo, đẩy mạnh hợp tác, liên doanh liên kết, nâng cấp các chương trình và hình thức đào tạo, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hộị
+ Loại bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào ngân sách nhà nước, tạo thói quen làm việc năng động
+ Giảm bớt các thủ tục hành chính, các khâu trung gian, tiết kiệm thời gian và giảm những chi phí vô ích
+ Tăng thu, tiết kiệm chi, giúp các trường ĐHCL nâng cao hiệu quả và tăng thu nhập cho người lao động
1.3.3.2 Nguyên tắc của tự chủ tài chính tại các trường ĐHCL:
Các trường đại học công lập là những đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện tự chủ, tự đảm bảo một phần chi phí thường xuyên, do đó các nguyên tắc thực hiện quyền TCTC tại các trường ĐHCL như sau:
Phạm vi, mức độ TCTC trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Nghị định 43/2006.NĐ-CP có sự khác nhau, tuỳ theo mức độ tự bảo đảm nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên Tuy có sự khác nhau về phạm vi, mức độ TCTC, song khi các trường ĐHCL được trao quyền TCTC phải bảo đảm các nguyên tắc nhất định
Một là, Hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối với hoạt động sản xuất hàng hoá,
cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
Trang 32được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị
Hai là, Thực hiện công khai, dân chủ theo đúng quy định của pháp luật
Ba là, Thực hiện quyền tự chủ phải gắn liền với tự chịu trách nhiệm trước cơ
quan quản lý cấp trên và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu
sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Bốn là, Đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, nghĩa vụ tổ chức, cá nhân theo
quy định của pháp luật
Tóm lại, Thực hiện TCTC trong các ĐHCL là nhằm thực hiện việc quản lý tốt
hơn mọi hoạt động trong đơn vị Việc giao quyền TCTC cho các trường chính là cơ chế nhà nước giao quyền tự chủ cao hơn trong quản lý lao động và quản lý tài chính cho các đơn vị
1.3.4 Nội dung tự chủ tài chính trong trường ĐHCL
- Tự chủ xây dựng các văn bản quản lý
Thực hiện việc đổi mới quản lý tài chính công, Chính phủ bắt đầu giao quyền
tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có các trường ĐHCL bằng việc ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP Các trường trên cơ sở những Nghị định trên cùng với các Thông tư hướng dẫn của các
Bộ, Ngành liên quan xây dựng và ban hành các văn bản quản lý tài chính phù hợp với điều kiện thực tế của trường mình
- Tự chủ nguồn thu, mức thu
(1) Nguồn ngân sách nhà nước cấp (nguồn tài chính này các trường không được tự chủ mà chi theo dự toán ngân sách được duyệt), gồm:
Kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đảm bảo một phần kinh phí hoạt động;
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ;
Kinh phí thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CCVC;
Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hang (điều tra, quy hoạch, khảo sát…);
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
Trang 33Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng (3) Nguồn thu khác:
Thu từ các dự án viện trợ, quà tặng;
Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của công chức viên trong đơn vị;
Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
- Tự chủ nội dung chi, định mức chi
Nội dung chi của các trường ĐHCL gồm: chi hoạt động thường xuyên, chi hoạt động không thường xuyên và chi khác
(1) Chi hoạt động thường xuyên:
Kinh phí chi hoạt động thường xuyên bao gồm NSNN cấp cho hoạt động thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị để lại theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm:
Chi cho con người: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội
Chi nghiệp vụ chuyên môn: Thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, chi hội nghị, đoàn ra, đoàn vào, chi mua giáo trình, tài liệu, dụng cụ phục vụ thí
Trang 34nghiệm….tùy theo nhu cầu thực tế
Chi mua sắm sửa chữa: Chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa, nâng cấp trường lớp, bàn ghế, trang thiết bị, học cụ…
Chi thường xuyên khác
(2) Chi hoạt động không thường xuyên
Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ;
Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng CCVC; Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, khảo sát, quy hoạch…) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định;
Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định; Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định, thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết; Chi các khoản khác theo quy định (nếu có)
(3) Chi khác:
Các khoản chi từ dự án tài trợ, viện trợ của các hoạt động hợp tác quốc tế, chi nguồn tài trợ học bổng SV, quà biếu, tặng…
- Tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản
Trường đại học công lập thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị được để lại
bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại
- Tự chủ quản lý cân đối thu chi
Trường đại học công lập là đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực
Trang 35giáo dục và đào tạo Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp
và mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên
Mức tự đảm bảo chi phí thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp có thu được thể hiện qua mức tự bù đắp các chi phí hoạt động thường xuyên bằng các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị theo quy định được để lại và được xác định như sau : Mức tự đảm bảo chi
phí hoạt động thường
xuyên của đơn vị (%)
= Tổng số chi hoạt động thường xuyên Tổng số nguồn thu sự nghiệp x 100%
Theo tiêu thức này các đơn vị sự nghiệp có thu được chia thành :
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đủ để trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị, hay nói cách khác là đơn
vị có mức tự đảm bảo chi hoạt đông thường xuyên > 100%
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự trang trải một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (những đơn vị có mức tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên <100%)
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động
- Đối với đơn vị tự đảm bảo chi hoạt động:
Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động: được quyết định tổng mức thu nhập tăng thêm theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị ;
Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa 2 quỹ không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
- Đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chí hoạt động:
Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt
Trang 36động sự nghiệp;
Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động: được quyết định mức thu nhập tăng thêm cho người lao động nhưng không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định;
Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa 2 quỹ không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Như vậy, đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn được quyền chủ động về chi thu nhập tăng thêm cho người lao động
- Tự chủ công cụ thực hiện quản lý tài chính
+ Hệ thống văn bản pháp luật: Gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản
lý tài chính của các trường ĐHCL Các văn bản pháp luật về các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính ở các trường Hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước hướng dẫn, tạo điều kiện phát huy quyền TCTC cho các trường ĐHCL
+ Công tác kế hoạch: Công cụ này đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính, đảm bảo các khoản thu, chi của các trường đúng, đảm bảo Các trường căn cứ vào quy mô đào tạo, cơ sở vật chất, hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác của năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm kế hoạch Dựa vào số liệu chi cho con người, cho quản lý hành chính và cho hoạt động sự nghiệp, mua sắm, sửa chữa….làm cơ sở dự kiến năm
kế hoạch
+ Quy chế chi tiêu nội bộ: Công cụ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính, nó đảm bảo các khoản thu, chi của trường được thực hiện theo quy định và công khai Thông qua đó thể hiện sự quản lý tập trung, thống nhất Qua đây CCVC và kho bạc nhà nước cũng có thể thực hiện kiểm soát chi của trường
+ Công tác kế toán: Là phần không thể thiếu của quản lý tài chính, để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản
lý Công tác kế toán đòi hỏi phải ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả sử dụng kinh phí của trường kịp thời, tuân thủ mục lục ngân sách
+ Công tác quản lý thu chi tài chính: Quản lý tài chính trong các trường đại học công lập thực chất là quản lý thu chi tài chính, được thực hiện theo một quy trình
Trang 37thống nhất: lập dự toán ngân sách- thực hiện dự toán ngân sách – kế toán thanh quyết toán ngân sách
+ Thanh tra, kiểm toán: Thông qua công tác kiểm toán trường có thể kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu, chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn, sử dụng tài sản, kinh phí nhằm phát hiện kịp thời những hành vi tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản, vi phạm các chế độ chính sách, kinh tế của nhà nước và trường Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa, đồng thời phát hiện những sai phạm để kịp thời ngăn chặn, giúp các trường quản lý tài chính chặt chẽ và hiệu quả hơn
- Tự chủ trong kiểm tra giám sát việc thực hiện
Các trường được quyền chủ động thành lập các ban, tổ thanh tra, kiểm toán nội bộ để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động tài chính của trường…
1.3.5 Những yếu tố chi phối đến tự chủ tài chính
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề tự chủ tài chính đối với các trường ĐHCL Tuy nhiên có thể xem xét những nhân tố tác động từ bên ngoài đơn vị và nhân
tố phát sinh từ bên trong đơn vị
- Nhân tố bên ngoài
Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo và sự nhận thức đổi mới cơ chế quản lý của nhà nước trong từng giai đoạn: Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu Điều đó thể hiện số chi NSNN cho giáo dục đào tạo ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn và các cơ chế quản lý đối với hoạt động giáo dục đào tạo ngày càng được nới lỏng hơn Trong những năm qua Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường hơn nữa quyền tự chủ đối với các trường ĐHCL, đây là một thuận lợi Tuy nhiên việc ban hành các chính sách chưa đồng bộ, không kịp thời lại là một rào cản đối với tiến trình thực hiện quyền tự chủ đối với các trường ĐHCL
Chính sách kinh tế xã hội: Chính sách kinh tế xã hội ngày càng có xu hướng ủng
hộ việc tự chủ tài chính không chỉ đối với các trường ĐHCL mà đối với toàn bộ hệ thống các đơn vị sự nghiêp Hoạt động tài chính ở các trường ĐHCL không chỉ chịu sự chi phối bởi bản thân hoạt động của con người chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính, mà còn chịu sự chi phối bởi môi trường kinh tế - xã hội khách quan Nó sẽ được phát triển hay thu hẹp tuỳ thuộc vào quan điểm khuyến khích hoặc hạn chế của
Trang 38chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước
Cơ chế quản lý tài chính: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với quá trình TCTC của các trường ĐHCL Hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị có liên quan này có được thông thoáng thì vấn đề TCTC mới sớm đạt kết quả như mong đợi Hiện nay mặc dù đã
có chủ trương rõ ràng nhưng chính sách còn chưa nhất quán và chưa theo kịp, các văn bản hướng dẫn chậm nên việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn
- Nhân tố bên trong
Sự nhận thức của đơn vị về TCTC và trình độ của người quản lý trong đơn vị Việc thực hiện TCTC tại các ĐHCL phải được các nhà quản lý đại học xác định là nhiệm vụ không chỉ của các nhà quản lý mà là trách nhiệm và quyền lợi chung của toàn thể công chức viên chức (CCVC) trong toàn trường và việc thực hiện TCTC phải thực
sự đem lại lợi ích cho người lao động Một khi CCVC nhận thức được đầy đủ về vấn đề này thì hiệu quả công việc sẽ đem lại thực sự, bởi vì, lợi ích luôn là động lực của sự làm việc Tuy nhiên trong thực tế không phải các trường ĐHCL đều đã làm tốt điều này, vì vậy việc tự chủ tài chính ở một số trường vẫn được coi là việc của các nhà quản lý đơn
vị
Một nhân tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện TCTC tại các trường ĐHCL là Hệ thống kiểm tra, kiểm soát trong đơn vị như: thanh tra nhân dân, thanh tra tài chính, kiểm toán, kiểm soát nội bộ, …Đặc biệt là hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và các loại kiểm soát khác…làm tốt công tác kiểm soát nội bộ đảm bảo tính minh bạch trong quản lý tài chính, tạo được niềm tin và củng cố tính đoàn kết trong đơn vị thì việc tự chủ tài chính mới thành công
Như vậy, thông qua xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính trong các các trường ĐHCL giúp cho việc đề ra và thực thi cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị đạt được mục tiêu đã định
1.4 KINH NGHIỆM TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC
1.4.1 Tự chủ tài chính tại các đại học công lập của một số quốc gia
a) Trung Quốc:
Trước năm 1989, Nhà nước bao cấp hoàn toàn kinh phí cho GDĐH Từ năm
Trang 391989 trở lại đây, Chính phủ nước này đã thực hiện chế độ thu học phí đối với GDĐH trong các trường công lập, ngay cả sinh viên (SV) được học bổng theo kế hoạch tuyển sinh của Nhà nước cũng phải đóng học phí từ 100 đến 300 nhân dân tệ một năm học Từ
1990, Trung Quốc đã bỏ sự kiểm soát của các bộ chủ quản đối với các trường đại học bằng cách phân quyền quản lý và cung cấp tài chính hàng trăm trường cho chính quyền các tỉnh và các đặc khu Bộ Giáo dục giữ quyền kiểm soát đối với ít hơn 5% trong tổng
số các trường đại học và cao đẳng, phần lớn là các trường hàng đầu được giao nhiệm vụ trở thành trường đẳng cấp thế giới của Trung Quốc Việc phân quyền này dẫn đến việc nhiều trường sáp nhập lại, kết hợp nhiều trường nhỏ thành các trường đại học lớn hơn
Năm 1995, Trung Quốc chính thức quy định mức thu học phí cao nhất của các trường đại học là 1.200 nhân dân tệ (trường hợp cụ thể có thể tăng thêm 20%) Đối với các trường đại học công lập của Trung quốc thì việc được tự chủ tài chính đồng nghĩa với việc được tự chủ mọi việc của chính mình, tuy nhiên hiện nay Trung Quốc cũng mới chỉ dừng ở việc cho phép các trường tự chủ một phần
Tháng 1 năm 2002, Bộ Giáo dục Trung Quốc được Chính phủ Trung Quốc chọn làm đơn vị thí điểm thực hiện đề án “Cải cách chế độ quản lý ngân sách chính phủ” Để triển khai đề án, Bộ này đã chọn 5 trường đại học: Đại học Thiên Tân, đại học Nam Khai, đại học Sơn Đông, đại học Hàng hải Trung quốc, đại học Dầu khí để thí điểm cải cách chế độ quản lý tài chính Mặc dù cho phép các trường tự chủ một phần tài chính (nhà nước vẫn cấp kinh phí) dưới dạng phân bổ ngân sách theo cơ chế tài trợ chọn gói cho phép các trường đại học linh hoạt trong sử dụng và linh hoạt hơn trong ấn định mức thu học phí Nhà nước cũng cho phép các trường được điều chỉnh mức lương cơ bản trả cho người lao động phù hợp với điều kiện làm việc và đóng góp
Những năm gần đây, khi kinh tế có phần sụt giảm Trung Quốc đã có chính sách cải cách cơ chế cung cấp ngân sách cho GDĐH Chính Phủ đã đưa ra 3 kế hoạch chiến lược:
(1) Tái cấu trúc hệ thống GDĐH
(2) Thu học phí SV
(3) Điều chỉnh cơ chế tài chính của đại học
Theo đó cấu trúc lại hệ thống các trường đồng nghĩa với việc giải thể một số trường không đảm bảo yêu cầu về chất lượng giáo dục, đầu tư cho các trường có năng
Trang 40lực phát triển Mức thu học phí phù hợp theo từng đối tượng và chất lượng dịch vụ, chất lượng đào tạo Thay đổi cơ bản việc tạo nguồn lực tài chính cho các trường theo hướng giảm ngân sách trung ương, khuyến khích ngân sách địa phương và xã hội hóa giáo dục, khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với các đại học trong việc đào tạo và chuyển giao công nghệ
b) Thái Lan:
Thái Lan cũng có các trường ĐHCL và đại học tư do ủy ban GDĐH thuộc Bộ Giáo dục quản lý Từ sau 1997 Thái Lan có cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ, các trường ĐHCL được tăng quyền tự trị Các trường đại học tự chủ nhận NSNN thông qua chế độ phân bổ kinh phí trọn gói (khoán) và được tự chủ trong xác định cơ chế quản lý
và sử dụng nhân sự Các trường này cũng được quyền quản lý, sử dụng tài sản công
Năm 2010, chính phủ Thái Lan lập quỹ do Bộ Tài chính quản lý cho phép SV vay vốn học tập trả lãi trong vòng 15 năm, SV không phải trả lãi trong 7 năm (5 năm học và 2 năm ân hạn), các năm tiếp theo trả lãi từ 1,5%/năm tăng dần hàng năm và đạt 13%/năm vào năm thứ 15 Với sự tham gia của các ngân hàng, người dân Thái Lan có nhiều cơ hội được học tập đồng thời, sinh viên Thái Lan cũng có trách nhiệm hơn trong việc học tập vì sau khi ra trường phải làm việc để trả vốn và lãi vay cho ngân hàng
1.4.2 Kinh nghiệm của của một số trường ĐHCL
Trong quá trình nghiên cứu về thực trạng tổ chức quản lý tài chính tại trường ĐHCNQN, để có cơ sở phân tích một cách sâu sát và có cái nhìn khách quan tác giả đã nghiên cứu về thực trạng TCTC tại một số trường ĐHCL thuộc Bộ GD&ĐT như Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại Thương Hà Nội, Đại học Hà Nội…
- Tự chủ xây dựng các văn bản quản lý
Các trường đã căn cứ Điều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định 58/2010/QĐ-TTG, ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ Các văn bản pháp luật hiện hành về việc quản lý tài chính của các trường ĐHCL: Nghị định 10/2002/CP; Nghị định 43/2006/CP; Nghị định 16/2015/CP; Thông tư liên tịch 21/2003/TTLT/BTC-BGD&ĐT-BNV, ngày 24/3/2003 hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với cơ sở giáo dục và đào tạo; Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 43; Thông tư 113/2007/TT-BTC ngày 29/9/2007 sửa đổi bổ sung Thông tư 71…xây dựng và ban hành các văn bản quản lý tài chính của đơn vị mình như