1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô

65 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực tế trên, tác giả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô” nhằm đánh giá kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS Hoàng Văn Thắng

2 PGS.TS Nguyễn Thế Chinh

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng cá nhân tác giả; các số liệu

là trung thực, không sử dụng số liệu của tác giả khác chƣa đƣợc công bố; các kết quả nghiên cứu của tác giả chƣa từng đƣợc công bố

Hà Nội, tháng 01 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Diễm Hằng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận án này, với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Hoàng Văn Thắng, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ dẫn những định hướng nghiên cứu và truyền cho tôi tinh thần tự giác trong học tập, nghiên cứu

Xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các Thầy, Cô giáo và tập thể cán bộ trong Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế -xã hội

Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận án này Cảm ơn ạn và đồng nghiệp, đặc biệt là các đồng nghiệp trong Phòng Nghiên cứu phát triển Đô thị đã luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận án

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn, sự thương yêu sâu sắc tới Mẹ, Chồng, các con và những người thân yêu trong gia đình, đã luôn sát cánh ên tôi những lúc khó khăn, là nguồn động lực lớn để tôi có thể hoàn thành luận án

Tưởng nhớ Bố thân yêu./

Hà Nội, tháng 01 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Diễm Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

Mục tiêu nghiên cứu: 2

Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3

Câu hỏi nghiên cứu 4

Luận điểm của luận án: 4

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: 5

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án: 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Tái chế và công nghiệp tái chế chất thải rắn 6

1.1.2 Vai trò của công nghiệp tái chế chất thải rắn đối với phát triển bền vững 10

1.1.3 Phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển bền vững 16

1.2 Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển bền vững 30

1.2.1 Các khái niệm liên quan 30

1.2.2 Đặc điểm của công nghiệp tái chế chất thải rắn 31

1.2.3.Yêu cầu và điều kiện để phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển bền vững 39

Tiểu kết chương I 45

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

2.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 47

2.2 Cách tiếp cận 50

2.2.1 Tiếp cận hệ thống và liên ngành: 50

2.2.2 Tiếp cận dựa vào cộng đồng 55

Trang 5

2.3 Phương pháp nghiên cứu: 55

2.3.1 Phương pháp khảo cứu, tổng hợp tài liệu, số liệu: 55

2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát: 56

2.3.3 Phương pháp dự báo 62

2.3.4 Phương pháp phân tích chính sách 64

2.3.5 Phương pháp tham vấn chuyên gia 65

2.3.6 Phương pháp phân tích SWOT 65

CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỦ ĐÔ 68

3.1 Khái quát hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn thành phố Hà Nội 68

3.1.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn Thành phố Hà Nội 68

3.1.2 Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 71

3.1.3 Những vấn đề bất cập trong quản lý chất thải rắn trên địa bàn Hà Nội 72

3.2 Phân tích chính sách phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn 73

3.2.1 Khái quát hệ thống các chính sách liên quan đến phát triển công nghiệp tái chế: 73

3.2.2 Khái quát nội dung hệ thống chính sách thúc đẩy tái chế chất thải rắn 75

3.2.3 Những vấn đề bất cập trong xây dựng hệ thống chính sách thúc đẩy tái chế chất thải rắn 81

3.3 Đánh giá thị trường nguyên liệu phục vụ công nghiệp tái chế chất thải rắn 84

3.3.1 Đánh giá thực trạng phân loại chất thải rắn tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp tái chế 84

3.3.2 Thực trạng hoạt động thu gom, kinh doanh nguyên liệu cho công nghiệp tái chế chất thải rắn tại Hà Nội 94

3.4 Đánh giá công nghệ và lao động của công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội 100

3.4.1 Công nghệ tái chế chất thải rắn 100

3.4.2 Hiện trạng lao động trong công nghiệp tái chế chất thải rắntại Hà Nội 106

3.5 Đánh giá thị trường tiêu thụ sản phẩm tái chế của Thành phố Hà Nội 107

3.5.1 Chất lượng và số lượng sản phẩm tái chế 107

3.5.2 Về thị trường tiêu thụ sản phẩm 108

3.6 Vấn đề môi trường của hoạt động tái chế chất thải rắn trên địa bàn Hà Nội 109

3.6.1 Tác động hoạt động tái chế chất thải rắn đối với môi trường nước 110

3.6.2 Tác động của hoạt động tái chếchất thải rắn đến môi trường không khí 112

Trang 6

3.7 Đánh giá tiềm năng phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát

triển bền vững trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới 113

3.7.1 Dự báo nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp tái chế chất thải rắn 113

3.7.2 Đánh giá tác động từ chính sách của Nhà nước 118

3.7.3 Đánh giá thị trrường sản phẩm chất thải rắn trong những năm tới 120

Tiểu kết chương III 123

CHƯƠNG IV ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỦ ĐÔ 125

4.1 Các căn cứ đề xuất 125

4.1.1 Căn cứ pháp lý 125

4.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn 125

4.2 Đề xuất giải pháp phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển bền vững trên địa bàn Hà Nội 126

4.2.1 Quan điểm trong phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển bền vững của Thành phố Hà Nội 126

4.2.2 Xác định mô hình dòng chất thải và tái chế trên địa bàn Hà Nội 130

4.2.3 Đề xuất hoàn thiện chính sách để phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Hà Nội 133

4.2.4 Giải pháp phát triển thị trường nguyên liệu và sản phẩm tái chế 145

4.2.5 Phát triển công nghệ và kiểm soát ô nhiễm trong quá trình tái chế chất thải rắn 146

4.2.6 Giải pháp tăng cường thông tin – tuyên truyền 148

Tiểu kết chương IV 150

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 153

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155

TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

PHỤ LỤC 165

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BIR Cục tái chế quốc tế (Bureau of International Recycling)

BOD Nhu cầu ô xy sinh hóa

BVMT Bảo vệ môi trường

CNMT Công nghiệp môi trường

COD Nhu cầu ô xi hóa học

CSSX Cơ sở sản xuất

CTR Chất thải rắn

EPA Cơ quan ảo vệ môi trường Hoa Kỳ (United States

Environmental Protection Agency) GDP Tổng thu nhập quốc nội

ISWA Hiệp hội chất thải rắn quốc tế (the International Solid Waste

Association) ISWM Quản lý tổng hợp chất thải rắn ( Integrated solid waste

management)

KCN Khu công nghiệp

NĐ-CP Nghị định – Chính phủ

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( The Organization for

Economic Co-operation and Development) PET Polyethylene terephthalate

PCCC Phòng cháy chữa cháy

PTBV Phát triển bền vững

TCCP Tiêu chuẩn cho phép

TNMT Tài nguyên môi trường

UBND Ủy ban nhân dân

UNEP Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (The united nations

environment programme)

WB Ngân hàng thế giới (World Bank)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Lợi ích của tái chế CTR trong tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí

Cacbon 16

Bảng 1.2 Các cách xử lý chất thải theo GDP/người 24

Bảng 1.3 Danh mục một số nhà máy sản xuất phân hữu cơ từ CTR của Việt Nam 28 Bảng 1.4 So sánh độ lệch chuẩn của dao động giá cả các tháng giữa nguyên liệu nguyên chất và nguyên liệu từ chất thải 32

Bảng 2.1 Một số làng nghề tái chế lớn khu vực các tỉnh lân cận Hà Nội 53

Bảng 2.2 Các hoạt động khảo sát trực tiếp của luận án 56

Bảng 2.3 Thông tin tổng hợp đối tượng trả lời phiếu điều tra 59

Bảng 2.4 Thành phần CTR đô thị theo thu nhập của mỗi quốc gia 63

Bảng 3.1 Thống kê lượng CTR phát sinh trên địa bàn Thành phố Hà Nội 68

Bảng 3.2 Thành phần CTR sinh hoạt trên địa bàn Hà Nội 69

Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn một số đối tượng tại Hà Nội về chính sách thúc đẩy tái chế CTR 79

Bảng 3.4 Số lượng các cơ sở mua phế liệu trong khu vực nội thành Hà Nội 97

Bảng 3.5 Kết quả phân tích nước ao làng tại xã Triều Khúc, Tân Triều, Hà Nội 110 Bảng 3.6 Kết quả quan trắc mẫu nước một số làng nghề tái chế sắt Hà Nội 112

Bảng 3.7 Kết quả quan trắc làng nghề tái chế sắt Thành phố Hà Nội 113

Bảng 3.8 Dự báo quy mô dân số Thành phố Hà Nội đến năm 2030 113

Bảng 3.9 Tiêu chuẩn định mức phát sinh chất thải rắn tại Hà Nội (kg/người/ngày) 114

Bảng 3.10 Ước tính khối lượng CTR theo thành phần CTR sinh hoạt tại Hà Nội 115 Bảng 4.1 Đề xuất chính sách vĩ mô cần bổ sung 134

Bảng 4.2 Đề xuất chính sách đối với Thành phố Hà Nội 137

Bảng 4.3 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy tái chế CTR ưu tiên thực hiện trong thời gian tới trên địa bàn Hà Nội 150

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Hệ thống phân cấp trong quản lý, xử lý CTR 6

Hình 1.2 Mô hình phát triển bền vững của xã hội 11

Hình 1.3 Tỷ lệ tái chế qua các năm tại Mỹ, Nhật bản, EU, Hàn Quốc 23

Hình 1.4 Sự chênh lệch của đường cầu sản phẩm tái chế so với đường cầu của sản phẩm từ vật liệu truyền thống với cùng mức giá 35

Hình 1.5 Đường cung của sản phẩm tái chế so với sản phẩm sản xuất từ vật liệu truyền thống 36

Hình 1.6 Tác động ngoại ứng tích cực của hoạt động tái chế 38

Hình 1 7 Vai trò của Nhà nước trong phát triển tái chế phục vụ mục tiêu PTBV 44

Hình 2.1 Bản đồ Thành phố Hà Nội 47

Hình 2.2 Vị trí các làng nghề tái chế trong Vùng Thủ đô 54

Hình 2.3 Sơ đồ khung phân tích của luận án 67

Hình 3.1 Các văn ản chủ yếu thúc đẩy tái chế CTR(ban hành theo Luật BVMT 2005) 74

Hình 3.2 Các văn ản chủ yếu thúc đẩy tái chế CTR(ban hành theo Luật BVMT 2014) 75

Hình 3.3 Tỷ lệ hình thức xử lý đối với CTR hữu cơ của người dân (%) 87

Hình 3.4 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải nhựa (%) 88

Hình 3.5 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải thủy tinh (%) 88

Hình 3.6 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải pin, ắc quy (%) 89

Hình 3.7 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải kim loại (%) 89

Hình 3.8 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải nilon (%) 89

Hình 3.9 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải giấy (%) 89

Hình 3.10 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải gỗ (%) 89

Hình 3.11 Ứng xử của người được phỏng vấn đối với chất thải vải vụn (%) 89

Hình 3.12 Tỷ lệ ứng xử của người dân đối với đồ điện tử bị hỏng có giá trị khác nhau (%) 92

Trang 10

Hình 3.13 Ý kiến của người dân đối với việc tổ chức phân loại CTR tại nguồn 93

Hình 3.14 Sơ đồ thu gom CTR thông thường có thể tái chế ở Hà Nội 95

Hình 3.15 Sơ đồ phân loại chất thải rắn công nghiệp 102

Hình 3.16 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất dây nhựa tại xã Trung Văn 104

Hình 3.17 Sơ đồ quy trình công nghệ tái chế sắt 105

Hình 3.18 Dự báo diễn biến chất thải rắn sinh hoạt tại Hà Nội đến năm 2020 theo kịch bản phát triển dân số, GDP và hệ số tăng trưởng chất thải rắn nội tại 115

Hình 3.19 Dự báo diễn biến chất thải rắn công nghiệp tại Hà Nội đến năm 2030 theo kịch bản phát triển công nghiệp của thành phố 117

Hình 3.20 Tỷ lệ ứng xử của người dân đối với sản phẩm tái chế (%) 122 Hình 4.1 Đề xuất sơ đồ dòng vật chất và tài chính của công nghiệp tái chế CTR 132

Trang 11

MỞ ĐẦU

Chất thải rắn (CTR) là chất thải dạng rắn phát sinh ra từ các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội Quản lý CTR là một nhiệm vụ quan trọng tại mỗi quốc gia Cùng với sự phát triển về kinh tế, khoa học công nghệ, loài người đã đi từ quan niệm chất thải rắn được thải bỏ một cách tự nhiên vào môi trường xung quanh đến việc cần phải hoạch định chiến lược cho việc xử lý chất thải rắn Mỗi quốc gia đều

có những lựa chọn phương án xử lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm văn hóa của quốc gia mình Trên quan điểm PTBV, những phương

án xử lý CTR phổ biến và được ưu tiên theo thứ tự là: giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, đốt thu hồi năng lượng và chôn lấp

Trên thế giới, hoạt động tái chế xuất hiện từ rất lâu và an đầu được hình thành do nhu cầu tìm đến một loại nguyên liệu có giá thành rẻ của các nhà sản xuất hàng hóa Trước đây, ngành công nghiệp tái chế được hình thành và có thời gian phát triển khá tốt với mục tiêu chính là lợi nhuận của các nhà đầu tư Tuy nhiên, trong giai đoạn gần đây, lợi nhuận kinh tế không phải là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia khi phát triển ngành công nghiệp này, mà là lợi ích đạt được từ việc xử lý CTR, góp phần bảo vệ môi trường Ngành công nghiệp tái chế CTR góp phần đạt được mục tiêu PTBV, bao gồm: tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm khối lượng CTR chôn lấp, giảm phát thải khí nhà kính, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, …

Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn có nhiều hoạt động tái chế là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, sử dụng lao động không tuân thủ các quy định về bảo hộ lao động Đó chủ yếu là những hoạt động tái chế với mô hình thủ công, quy mô nhỏ

và thường xuất hiện ở các nước đang phát triển như Việt Nam, do các mục tiêu kinh

tế vẫn được ưu tiên hơn các mục tiêu môi trường Trong khi đó, Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã chỉ rõ phát triển tái chế là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu PTBV.Vì vậy, làm thế nào

để phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ tốt các mục tiêu PTBV, hài hòa giữa bảo vệ môi trường, lợi ích kinh tế và các lợi ích xã hội, là việc cần quan tâm trong thời gian tới

Trang 12

Thủ đô Hà Nội hiện nay có diện tích tự nhiên là 3.329 km2, dân số khoảng 7,5 triệu người (tính đến hết năm 2015) Những năm qua, thành phố Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt, tăng trưởng GDP luôn ở mức cao hơn so với bình quân cả nước khoảng 1,4-1,6 lần Hà Nội đang ngày càng phát triển trở thành một Thủ đô văn minh, hiện đại Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng kinh tế cao là sức ép về suy giảm chất lượng môi trường Thành phố ngày một gia tăng, trong đó đặc biệt là vấn đề CTR Khối lượng phát sinh CTR trên địa bàn Thành phố đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây Phương pháp chủ yếu xử lý CTR của Thành phố hiện nay vẫn là chôn lấp (chiếm hơn 80% tổng lượng CTR sinh hoạt toàn Thành phố) và Hà Nội đang đứng trước khó khăn trong việc xây dựng các bãi chôn lấp CTR mới, trong khi các

ãi cũ đã sắp lấp đầy Hoạt động tái chế CTR đã diễn ra từ lâu trên địa bàn, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và đa số là cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu Hoạt động xử lý CTR nói chung và tái chế CTR nói riêng trên địa àn đang là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến mục tiêu PTBV của Thủ đô

Để thực hiện chiến lược PTBV trên địa bàn Hà Nội, đồng thời góp phần giảm lượng CTR phải chôn lấp, tiết kiệm tài nguyên, phát triển công nghiệp tái chế CTR có thể là một giải pháp hữu hiệu trong thời gian tới Trước thực tế trên, tác giả

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa

bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô” nhằm đánh giá khả

năng phát triển một ngành công nghiệp- công nghiệp tái chế CTR- trên địa bàn Hà Nội, góp phần giải quyết vấn đề xử lý CTR thân thiện với môi trường, đồng thời đạt được các lợi ích về kinh tế và xã hội, phục vụ tốt mục tiêu PTBV

Mục tiêu nghiên cứu:

- Nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý luận phát triển ngành công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV

- Đánh giá thực trạng công nghiệp tái chế CTR trên địa bàn Thủ đô

Trang 13

- Đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV Thủ đô

Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Tập trung nghiên cứu chủ yếu về công nghiệp tái chế CTR thông thường, bao gồm CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp (không bao gồm CTR nguy hại)

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về học thuật: luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV; các vấn đề thực tiễn về công nghiệp tái chế đối với các CTR thông thường phát sinh tại Thành phố Hà Nội, chủ yếu là CTR sinh hoạt Phạm vi CTR có thể tái chế được giới hạn nghiên cứu sâu về hoạt động sản xuất phân compost (phân hữu cơ) từ CTR hữu cơ và tái chế các loại vật liệu vô cơ

Hoạt động tái chế hiện nay bao gồm cả tái chế vật liệu từ CTR phát sinh trên địa bàn Thành phố và nguồn phế liệu được nhập khẩu từ nước ngoài hoặc từ các địa phương khác Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án, chỉ nghiên cứu các hoạt động liên quan đến tái chế các vật liệu có nguồn gốc từ CTR của Thành phố để phục vụ mục tiêu giảm thiểu chất thải, bảo vệ môi trường, PTBV Thủ đô

Theo tính chất và thành phần hóa học, CTR được chia thành CTR thông thường và CTR nguy hại Trong phạm vi nghiên cứu này, luận án chỉ tập trung nghiên cứu công nghiệp tái chế CTR thông thường, trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là CTR sinh hoạt, chiếm 60- 70% khối lượng CTR phát sinh [Bộ TNMT, 2011]

+ Không gian lãnh thổ: trên toàn địa bàn Thành phố Hà Nội, có tính đến mối liên kết vùng Thủ đô

+ Thời gian nghiên cứu: trong khoảng 5 năm trở lại đây và dự áo đến năm

2030

Trang 14

Câu hỏi nghiên cứu

- Có phải công nghiệp tái chế CTR có thể tự do phát triển theo quy luật của thị trường và mang lại lợi ích, phục vụ tốt mục tiêu PTBV mà không cần có sự can thiệp nào của xã hội?

- Công nghiệp tái chế của Hà Nội đã đáp ứng được yêu cầu phục vụ PTBV thủ

đô chưa?

- Trong giai đoạn tới, có khả năng phát triển công nghiệp tái chế CTR trên địa bàn Thành phố Hà Nội không? để phát triển ngành này phục vụ mục tiêu PTBV thì cần những giải pháp gì?

Luận điểm của luận án: luận án đưa ra 3 luận điểm sau:

- Công nghiệp tái chế CTR chỉ phục vụ tốt mục tiêu PTBV khi nó giúp đạt được các lợi ích về môi trường, kinh tế, xã hội Thị trường tái chế CTR có những đặc điểm riêng và khó phát triển khi phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể để phục vụ tốt mục tiêu PTBV nếu không có sự hỗ trợ từ xã hội, đặc biệt là từ phía nhà nước

- Trên địa bàn Hà Nội đã có nhiều hoạt động tái chế CTR từ CTR của thành phố nhưng đa số quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ PTBV Thủ đô Hoạt động quản lý CTR, các chính sách và hệ thống thông tin hiện tại chưa thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp tái chế CTR và trên thực tế ngành công nghiệp này chưa thực sự hình thành, phát triển tại Thủ đô Hà Nội

- Ngành công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV có tiềm năng phát triển trên địa bàn Hà Nội và để phát triển được, trong thời gian tới cần coi đây như một hoạt động xử lý chất thải rắn trên địa bàn, được áp dụng các chính sách khuyến khích tương tự với hoạt động xử lý CTR Bên cạnh đó, cần thực hiện các giải pháp quản

lý, xử lý CTR thuận tiện cho hoạt động tái chế; có các chính sách khuyến khích, đồng thời kiểm soát để nâng cao chất lượng sản phẩm tái chế và tỷ lệ tiêu dùng sản phẩm tái chế

Trang 15

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:

- Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV Từ đó xác định những điểm còn chưa hoàn thiện trong các nghiên cứu để xác định các nội dung nghiên cứu trong luận án Nghiên cứu góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận trong phát triển công nghiệp tái chế CTR phục

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:

Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần bổ sung các vấn đề lý luận về phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ mục tiêu phát triển bền vững

Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp hệ thống giải pháp giúp Thành phố Hà Nội phát triển ngành công nghiệp tái chế CTR phục vụ tốt PTBV Thủ đô

Kết cấu của luận án:

Ngoài mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu thành 4 chương, ao gồm:

- Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển ền vững

- Chương II: Địa điểm, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Chương III: Đánh giá thực trạng công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển ền vững Thủ đô

- Chương IV: Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển ền vững Thủ đô

Trang 16

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tái chế và công nghiệp tái chế chất thải rắn

1.1.1.1 Tái chế chất thải rắn

CTR là chất thải dạng rắn phát sinh ra từ các hoạt động của đời sống kinh tế -

xã hội Việc thực hiện nhiều giải pháp khác nhau sao cho công tác quản lý CTR đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong bảo vệ môi trường, tiết kiệm kinh phí là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia Áp dụng hệ thống phân cấp trong quản lý CTR để đạt được mục tiêu này đã nhiều nghiên cứu đề cập, trong đó thứ tự ưu tiên dựa vào việc hạn chế tiêu thụ tài nguyên và bảo vệ môi trường của phương án quản lý CTR [Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001; Tchobanoglous và Kreith, 2002; UNEP, 2005; Cù Huy Đấu

và Trần Thị Hường, 2009] Hệ thống này được mô tả trong hình 1.1:

Hình 1.1 Hệ thống phân cấp trong quản lý, xử lý CTR

Nguồn: UNEP [2005]

Ưa thích nhất

Ít ưa thích nhất

Trang 17

Theo đó, việc giảm thiểu tối đa sự phát thải của mọi đối tượng, từ đó giảm lượng chất thải cần xử lý là ưu tiên hàng đầu đối với các quốc gia Việc tái sử dụng, tức là sử dụng lại CTR vào một mục đích khác mà không cần qua xử lý, là ưu tiên thứ hai, tuy nhiên hiệu quả của nó lại phụ thuộc vào tính năng của chất thải có phù hợp với việc sử dụng vào việc khác hay không Tái chế là hoạt động ưu tiên thứ ba

và là hoạt động có tính khả thi nhất trong 3 hoạt động được ưu tiên

Khái niệm tái chế CTR

Tái chế là một trong những hình thức quản lý chất thải rắn của mỗi quốc gia, có nhiều khái niệm về tái chế, trong đó tiêu iểu là:

TheoTchobanoglous và Kreith [2002], tái chế là việc tách một vật liệu phế thải được đưa ra từ các dòng thải và xử lý nó để nó có thể được sử dụng một lần nữa như là một vật liệu hữu ích cho sản xuất các sản phẩm có thể tương tự hoặc không

so với vật liệu gốc

Theo Cơ quan ảo vệ môi trường Hoa Kỳ EPA [2009], tái chế là quá trình thu thập và chế biến vật liệu mà chúng có thể bị vứt bỏ như rác và iến chúng thành các sản phẩm mới

Theo UNEP [2005]: Tái chế là quá trình tách, thu gom và chế biến hoặc chuyển đổi các sản phẩm đã qua sử dụng hoặc các chất thải thành vật liệu mới hoặc sản phẩm mới Quá trình tái chế liên quan đến một loạt các ước để sản xuất sản phẩm mới

Tại Việt Nam, khái niệm tái chế cũng được định nghĩa tại nhiều tài liệu nghiên cứu khác nhau Tác giả Cù Huy Đấu và Trần Thị Hường [2009] đã đưa ra định nghĩa: ―Tái chế và hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng

để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất‖

Theo Trần Hiếu Nhuệ [2005], tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất

Trang 18

Khái niệm tái chế cũng được nêu trong các văn ản quy phạm pháp luật, gần đây nhất khái niệm tái chế CTR được nhắc đến trong Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu: ―Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải‖ Với cách diễn đạt này, có thể làm người đọc chưa nhận thức được toàn bộ quá trình tái chế là biến chất thải thành 1 thành phẩm có thể được sử dụng trong xã hội mà rất dễ để được hiểu là tái chế chỉ dừng lại ở việc biến chất thải thành các nguyên liệu để đưa vào quá trình sản xuất Trong khi đó, trong 19/2015/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì quy định khá rõ về việc các cơ quan

sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm ưu tiên mua sản phẩm từ hoạt động tái chế (có nghĩa là các sản phẩm này là các thành phẩm)

Nghiên cứu về các loại hình tái chế:

Theo Nguyễn Đức Khiển [2003], Cù Huy Đấu và Trần Thị Hường [2009],

các loại hình tái chế có thể chia thành: (i) Tái chế vật liệu: bao gồm các hoạt động

thu gom vật liệu có thể tái chế từ dòng rác, xử lý trung gian và sử dụng vật liệu này

để tái sản xuất các sản phẩm mới hoặc sản phẩm khác.; (ii): Tái chế nhiệt: bao gồm

các hoạt động khôi phục năng lượng từ rác thải

Cũng có thể coi hoạt động tái chế như hoạt động tái sinh lại chất thải thông qua:

Tái sinh sản phẩm chuyển hóa hóa học: chủ yếu dùng phương pháp đốt để

thành các sản phẩm khí đốt, hơi nóng và các hợp chất hữu cơ

Tái sinh các sản phẩm chuyển hóa sinh học: chủ yếu thông qua quá trình lên

men, phân hủy chuyển hóa sinh học, để thu hồi các sản phẩm như: phân ón, khí mêtan, protêin, các loại cồn và nhiều hợp chất hữu cơ khác

Tái sinh năng lượng từ các sản phẩm chuyển hóa: từ các sản phẩm chuyển

hóa ằng quá trình sinh học, hóa học có thể tái sinh năng lượng ằng quá trình đốt tạo thành hơi nước và phát điện

- Một số vật liệu có thể tái chế trong chất thải rắn

Trang 19

Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt nam đều thống nhất rắng, về lý thuyết, trong thành phần chất thải rắn có rất nhiều vật liệu có thể tái chế [Nguyễn Văn

Phước, 2008; Cù Huy Đấu và Trần Thị Hường 2009; Khalid et al., 2011; Tietenberg

and Lewis, 2011] Các vật liệu có thể tái chế bao gồm:

+ Chất thải hữu cơ từ thực phẩm, phụ phẩm trong nông nghiệp: được sử dụng như là nguyên liệu chính để sản xuất phân vi sinh (compost)

+ Phân gia súc: Phân gia súc là nguyên liệu để sản xuất khí sinh học (biogas) và phân hữu cơ đã được phân hủy

+ Kim loại (đồng, sắt, thép, nhôm, chì,…): các chất thải rắn là kim loại nêu trên được tái chế hoặc thu hồi để tạo ra nguyên liệu hoặc sản phẩm mới cùng loại

+ Nhựa: nhựa phế thải được tái chế để sản xuất hạt nhựa và các sản phẩm bằng nhựa

+ Giấy vụn: được sử dụng để tái sản xuất ra các loại giấy + Thủy tinh: làm nguyên liệu để nấu thủy tinh tạo ra các sản phẩm thủy tinh + Cao su: tái sản xuất thành các vật liệu cao su và vật liệu xây dựng như: dải phân cách đường, gạch

+ Các chất trơ: tái sản xuất thành gạch không nung

+ Các loại chất trơ có nhiệt: tái chế làm nhiên liệu

1.1.1.2 Công nghiệp tái chế CTR

Hoạt động tái chế CTR khi ứng dụng trên thực tế đã trở thành các hoạt động kinh tế và được xác định là hoạt động thuộc lĩnh vực công nghiệp

Theo Bách khoa toàn thư mở,công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh

tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật [https://vi.wikipedia.org]

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấycông nghiệp tái chế CTR là một trong những phân ngành chính của ngành công nghiệp môi trường Đây là ngành công nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng từ chính việc giải quyết các vấn đề môi trường, đã

Trang 20

và đang có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho phát triển theo hướng bền vững, chiếm vị thế quan trọng trong cơ cấu công nghiệp [OECD, 1996; UNEP, 2005; Tietenbergand Lewis, 2011] Tại Việt Nam, khái niệm ngành công nghiệp tái chế CTR cũng chưa được đề cập cụ thể

Không đưa ra khái niệm cụ thể ngành công nghiệp tái chế CTR, nhưng nhiều nghiên cứu đã đề cập khá rõ về các hoạt động liên quan đến ngành này, bao gồm: Hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển CTR; Hoạt động sơ chế, làm sạch CTR; Hoạt động sản xuất vật liệu dùng cho các ngành công nghiệp khác; Hoạt động sản xuất sản phẩm tiêu dùng cho xã hội [OECD, 1996; UNEP, 2005; Nguyễn Văn Phước, 2008]

Đặc biệt, có nhiều nghiên cứu chỉ rõ về sự hình thành và phát triển của công nghiệp tái chế CTR với vai trò quan trọng của Nhà nước [OECD, 1996; UNEP, 2005; Tietenberg and Lewis, 2011]

1.1.2 Vai trò của công nghiệp tái chế chất thải rắn đối với phát triển bền vững

1.1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về phát triển bền vững

Nghiên cứu về PTBV đã được thực hiện rất nhiều trên thế giới và ở Việt Nam Theo Tatyana [2004], PTBV là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới mặc dù khái niệm vẫn còn khá mới mẻ và thiếu giải thích thống nhất Cho đến nay, khái niệm PTBV và nội hàm của nó vẫn đang được phát triển, định nghĩa của thuật ngữ này liên tục được sửa đổi và mở rộng

Theo Trương Quang Học [2011], thuật ngữ "phát triển ền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược ảo tồn Thế giới (công ố ởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Khái niệm này được phổ iến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy an Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy an Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: PTBV

Trang 21

là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai "

Trong cuốn "Quản lý môi trường cho sự phát triển ền vững‖, tác giả Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh [2000] đã trình ày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển ền vững Công trình này đã xác định phát triển ền vững qua các tiêu chí: ền vững kinh tế, ền vững môi trường, ền vững văn hoá, đã tổng quan nhiều mô hình PTBV

Tựu trung lại, các nghiên cứu đều thống nhất rằng, PTBV là phát triển đảm

ảo hài hòa giữa sự ền vững về kinh tế, ền vững về xã hội và ền vững về môi trường theo hình 1.2 Trong đó, với mỗi quốc gia, các mục tiêu phát triển bền vững

cụ thể đối với 3 lĩnh vực trên được xác định khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội, chính trị của mỗi quốc gia nhưng vẫn đảm bảo đúng định hướng về PTBV được thông qua trong chương trình Nghị sự 21 về PTBV

Hình 1.2 Mô hình phát triển bền vững của xã hội

Nguồn: Trương Quang Học [2011]

Trong đó có thể hiểu một số nhiệm vụ của mỗi lĩnh vực nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững như sau:

Trang 22

• Lĩnh vực kinh tế: Giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác qua

công nghệ tiếtkiệm và thay đổi lối sống; Thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường; Bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáodục; Xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Công nghệ sạch

và sinh thái hoá công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, táitạo năng lượng đã sử dụng)

• Lĩnh vực xã hội: Ổn định dân số; Phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào

đô thị; Giảm thiểu tác động xấu đến môi trường do đô thị hoá; Nâng cao học vấn, xoá mù chữ; Bảo vệ đa dạng văn hoá; Bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định của cácnhà quản lý, hoạch định chính sách

• Lĩnh vực môi trường: Sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên

không tái tạo; Phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; Bảo vệ đa dạng sinh học; Bảo vệ tầng ôzôn; Kiểm soát và giảm thiểu phát xả khí nhà kính; Bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, không khí, đất, lương thực thực phẩm), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm

Chương trình Nghị sự 21 của Thế giới và Việt Nam

Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại iểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ ản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển ền vững có

tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200

nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa

ra ản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, ộ khung của hiệp định về sự iến đổi khí hậu, tuyên ố về nguyên tắc quản lý, ảo tồn rừng

Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển ền vững nhóm họp tại Johannes urg, Nam Phi là dịp cho các ên tham gia nhìn lại những việc đã làm

Trang 23

10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này

ao gồm xóa ngh o đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, ảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn

đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển ền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005

Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Định hướng Chiến lược

Phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Chiến

lược xác định 5 mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, 5 mục tiêu phát triển bền vững về xã hội và 9 mục tiêu Phát triển bền vững trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường Việc phát triển kinh tế theo hướng tiết kiệm tài nguyên, khuyến khích áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn và thân thiện với môi trường, công nghệ tái chế

và tái sử dụng chất thải, phế liệu; Đẩy mạnh công tác thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt và công nghiệp tại các đô thị và khu công nghiệp, tìm nơi chôn lấp xa khu dân cư hoặc sử dụng công nghệ tái chế để tái sử dụng hoặc chế biến làm phân bón

là những nội dung liên quan đến sử dụng tiết kiệm tài nguyên, quản lý CTR đã được

đề cập trong Chương trình nghị sự này

1.1.2.2 Lợi ích của công nghiệp tái chế chất thải rắn với phát triển bền vững:

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy công nghiệp tái chế mang lại các lợi ích về kinh tế,

xã hội và môi trường, phục vụ tốt cho mục tiêu PTBV, thể hiện ở những nội dung sau:

+ Giảm thiểu diện tích đất chôn lấp CTR và gia tăng được lượng tài nguyên giữ gìn cho thế hệ tương lai, giảm nguy cơ cạn kiệt tài nguyên

Công nghiệp tái chế không những mang lại lợi ích kinh tế, nó còn có ý nghĩa rất lớn trong việc tiết kiệm tài nguyên đất và các tài nguyên khác, góp phần gìn giữ tài nguyên cho thế hệ tương lai, góp phần đạt được mục tiêu của PTBV Chỉ riêng năm 1996, với việc tái chế được 130 triệu m3

CTR, Mỹ đã giảm được diện tích

Trang 24

tương đương với 64 bãi rác (diện tích mỗi bãi rác phục vụ đủ nhu cầu của một thành phố khoảng 700 nghìn người) [EPA, 2008]

Việc thay thế các vật liệu nguyên chất từ cây gỗ, quặng kim loại, khoáng sản, dầu… ằng các phế thải, hoạt động tái chế làm giảm áp lực trong khai thác lâm nghiệp và khoáng sản, giảm áp lực đối với môi trường Ví dụ, tái chế một tấn giấy tiết kiệm tương đương với 17 cây gỗ và 7.000 gallon nước Đặc biệt đối với các nhiên liệu hóa thạch và kim loại là tài nguyên không thể tái tạo, việc tiết giảm khai thác đã giúp cho thế hệ tương lai có thêm cơ hội được sử dụng các loại tài nguyên này [OECD, 2007]

+ Giúp tạo nhiều việc làm, phát triển kinh tế và gia tăng thu thuế

Khi ngành công nghiệp này hình thành, nó đã tạo ra nhiềudoanh nghiệp mới trong nhiều lĩnh vực, từ vận tải, xử lý, môi giới chất thải đến những công ty sản xuất

và phân phối các sản phẩm làm từ các vật liệu tái chế, góp phần tạo thêm nhiều việc làm, gia tăng ngân sách đáng kể cho mỗi quốc gia Tại Mỹ, ngành công nghiệp tái chế có khoảng 56.000 cơ sở, sử dụng trên 1,1 triệu người với mức lương cao hơn mức trung bình, thu về hơn 236 tỷ USD doanh thu hàng năm Ngành công nghiệp này đã gia tăng đáng kể khoản thu thuế địa phương (ước tính khoảng 12,9 tỷ USD trong năm 2001)[EPA, 2008]

Theo UNEP [2011], tái chế tạo ra nhiều việc làm hơn các hoạt động xử lý CTR khác Tái chế là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong việc tạo việc làm và hiện đang có 12 triệu người chỉ trong ba quốc gia - Brazil, Trung Quốc và Hoa Kỳ tham gia trong lĩnh vực tái chế Hoạt động phân loại và tái chế tạo ra số lượng việc làm gấp mười lần so với san lấp hoặc thiêu đốt trên mỗi tấn CTR Đồng thời với việc gia tăng việc làm trong lĩnh vực tái chế, có thể làm giảm cơ hội việc làm trong khai thác vật liệu truyền thống (là các vật liệu được tạo ra từ nguồn tài nguyên thiên nhiên) và các hoạt động liên quan Đây lại là một lợi ích nữa trong việc tạo việc làm bền vững

Theo BIR [2008], vật liệu tái chế cung ứng 40% nhu cầu toàn cầu của các nguyên liệu thô đầu vào cho sản xuất Ngành công nghiệp tái chế xử lý hơn 600

Trang 25

triệu tấn chất thải tái chế mỗi năm, với doanh thu hàng năm hơn 200 tỷ USD, tương

tự như GDP của các nước như Bồ Đào Nha, Colom ia và Malaysia Khoảng 10%

số tiền này được chi cho các công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển, góp phần vào việc tạo ra việc làm có tay nghề cao và làm cho tái chế hiệu quả hơn và thân thiện môi trường

+ Tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính

Theo các nghiên cứu [UNEP, 2005; BIR, 2008; EPA, 2015], đa số quy trình tái chế có công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng đáng kể so với sản xuất từ vật liệutruyền thống Ví dụ, tái chế một lon nhôm tiết kiệm 95% năng lượng cần thiết

để làm cho cùng một lượng nhôm từ nguồn nguyên chất Hiện nay, tái chế nhôm giúp giảm thiểu 80 triệu tấn khí nhà kính thải ra mỗi năm, tương đương với việc phát thải của 15 triệu ôtô Đối với mỗi pound nhôm phục hồi, người Mỹ tiết kiệm các nguồn tài nguyên năng lượng để tạo ra khoảng 7,5 kilowatt-giờ điện Việc tái chế giấy đã qua sử dụng giúp giảm 64% năng lượng so với sản xuất từ bột nguyên khai và tránh phải chôn lấp chất thải này Việc sử dụng các loại kính cũ phục vụ công nghiệp thủy tinh đã giảm chi phí năng lượng khoảng 20-30% so với dùng thuỷ tinh nguyên chất Chính việc tiết kiệm năng lượng của công nghiệp tái chế đã tác động tích cực đến giảm phát thải khí nhà kính so với việc dùng các nguyên liệu truyền thống Tại Mỹ, năm 2005 hoạt động tái chế đã giảm 48 triệu tấn khí thải carbon, tương đương với việc loại bỏ sử dụng 36 triệu chiếc xe mỗi năm

Theo Singer [1995], tiết kiệm năng lượng đáng kể có thể được thực hiện khi

sử dụng nhựa phế thải để sản xuất sản phẩm tiêu dùng Polyethylene mật độ thấp (LDPE) được sử dụng để sản xuất các loại túi, bao bì và đóng gói Tổng năng lượng được sử dụng để sản xuất một tấn LDPE tinh khiết (từ 1,8 tấn dầu thô) là 110 GJ/tấn Tổng năng lượng được sử dụng để sản xuất túi tái chế từ LDPE được ước tính là từ

27 đến 35 GJ/tấn, tiết kiệm năng lượng lên đến 75% Bên cạnh đó, NOx, SO2 và

CO2 phát thải được cho là giảm trung bình 70%

Bảng 1.1 cho thấy lợi ích của tái chế trong tiết kiệm năng lượng và giảm hiệu ứng nhà kính được BIR tổng hợp:

Trang 26

Bảng 1.1 Lợi ích của tái chế CTR trong tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí

1.1.3 Phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn phục vụ phát triển bền vững

1.1.3.1 Nghiên cứu về công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV tại các nước phát triển

Trên thế giới, hoạt động tái chế xuất hiện từ rất lâu và an đầu được hình thành do nhu cầu tìm đến một loại nguyên liệu có giá thành rẻ của các nhà sản xuất hàng hóa Việc quay vòng các loại chất thải như giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh để sản xuất ra các sản phẩm trong các ngành công nghiệp đã được phổ biến từ thế kỷ 17,18 Chính việc tìm ra lợi nhuận từ hoạt động tái chế một số loại CTR nên ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này [John,1997] Tuy nhiên, với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng hàng hóa và các tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường, hoạt động tái chế dần không hấp dẫn nhà đầu tư vì lợi nhuận mang lại không cao so với việc sử dụng vật liệu truyền thống Phân tích của OECD [2007] cho thấy, việc chi phí cho tìm kiếm thị trường nguyên liệu là điều tất yếu, nhưng những chi phí trong tìm kiếm thị trường vật liệu tái chế thường đặc biệt cao do tính không ổn định của nguồn nguyên liệu và khó khăn trong tiếp cận thông tin.Bên cạnh đó, chi phí lao động là một thành phần quan trọng của chi phí xử lý Thu gom,

Trang 27

phân loại, chế biến phế liệu thường sử dụng rất nhiều lao động Do đó, chi phí lao động cao hơn có thể làm cho các phế liệu tái chế kém cạnh tranh trên thị trường đầu vào

Tại Nhật Bản, cho tới đầu thập niên 70, hoạt động thu gom giấy của người đi mua rong tại Nhật Bản rất phát triển do nhu cầu nguyên liệu giấy trên thị trường rất cao Nhưng khi nền kinh tế Nhật phát triển mạnh, trở thành điểm đến hấp dẫn với các nguồn đầu tư nước ngoài thì bột giấy lại trở nên quá rẻ do nguồn nhập khẩu ổn định, trong khi giá nhân công tăng cao khiến việc thuê người đi rao đổi giấy không còn kinh tế nữa Hoạt động mua bán giấy áo cũ và tái chế do đó giảm dần, và chỉ như hồi sinh trở lại vào thập niên 90 – khi bắt đầu phát triển mạnh các mối quan tâm về môi trường [Phòng chính sách công nghiệp môi trường Thành phố Kitakyushu, 2009]

Nghiên cứu của Yunchang [2004] cho thấy, sau Thế chiến II, Đài Loan là một quốc gia rất nghèo với GNP ình quân đầu người thấp hơn 100USD Khi đó xuất hiện những người tiên phong trong các doanh nghiệp tái chế với mục đích cải thiện tình hình kinh tế cá nhân Hoạt động tái chế khá phát triển cho đến cuối thế kỷ 19,

do đời sống ngày càng cao, thói quen tiêu dùng đã thay đổi đáng kể, các sản phẩm làm từ vật liệu tái chế ít được ưa chuộng bởi người tiêu dùng Do đó, số lượng các doanh nghiệp tái chế cũ đã giảm, ngay cả đối với các kim loại màu, giấy và kính vì tăng chi phí tái chế và giảm lợi nhuận Điều này cũng được tác giả minh chứng thêm khi tính toán cho thấy đối với các loại vật liệu bao bì, chỉ có hoạt động tái chế nhôm là tự phát triển được do chi phí ròng âm, còn các loại vật liệu khác không thể phát triển nếu không có sự can thiệp của Nhà nước

Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong những năm gần đây nhiều nước đã áp dụng cácchính sách để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp này như là một giải pháp để xử lý chất thải rắn, tiêu biểu như Nhật, các nước EU, Mỹ, Hàn Quốc, Đài

Loan Các giải pháp mà các nước thực hiện được khái quát như sau:

Trang 28

Xây dựng hệ thống thuế, phí để giảm lượng CTR chôn lấp; hỗ trợ tài chính khuyến khích tái chế phát triển

Các nước phát triển đặt mục tiêu hạn chế phát thải, giảm tối đa lượng CTR chôn lấp bằng hình thức tái chế và nhiều hệ thống phí thải được đặt ra để đạt được mục tiêu này Ngay từ năm 1993, Hàn Quốc đã đưa ra hệ thống phí thải đòi hỏi các nhà sản xuất sản phẩm và nhập khẩu phải trả một phần chi phí cho việc xử lý sản phẩm không dễ dàng tái chế hoặc có chứa chất độc hại và có thể gây ra các vấn đề môi trường trong quản lý chất thải (ví dụ ao ì đựng thuốc trừ sâu, chất chống đông, kẹo cao su, tã dùng một lần, thuốc lá và các sản phẩm nhựa ) Hệ thống phí thải được thiết kế để giảm thiểu sản xuất các chất thải không thể tái chế và phát huy hiệu quả xử lý Mức thu phí được dựa trên tác động môi trường của mỗi sản phẩm.Các khoản phí thu được gửi vào hệ thống Tài khoản đặc biệt cho việc cải thiện môi trường được duy trì bởi Chính phủ Hàn Quốc, cụ thể dành cho nghiên cứu

và phát triển; hỗ trợ các doanh nghiệp tái chế và thành lập các cơ sở xử lý chất thải;

và mua nguyên vật liệu có thể tái chế Đến năm 2003, hệ thống EPR đã được thay thế cho hệ thống cũ, cụ thể là hệ thống tiền gửi chất thải, trong đó yêu cầu các nhà sản xuất phải trả một khoản tiền gửi để sản xuất các mặt hàng có thể tái chế, bao gồm chai, lon nhôm và thép, thủy tinh Với sự ra đời của hệ thống phí thải dựa trên lượng thải và mở rộng hệ thống trách nhiệm sản xuất, các doanh nghiệp tài nguyên tái chế tại Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng Số lượng các công ty tái chế trong nước tăng nhanh từ 1.647 trong 1999 lên đến 4.375 vào năm 2009, sử dụng tổng cộng 52.000 lao động Chính phủ đã cho vay, hỗ trợ đặc biệt cho sự phát triển của các ngành công nghiệp tái chế tại Hàn Quốc Bộ Môi trường cung cấp các khoản vay lãi suất thấp dài hạn cho các doanh nghiệp tái chế nhỏ để phát triển các thiết bị

và công nghệ tái chế Các doanh nghiệp tái chế mới được cung cấp sự tư vấn từ các chuyên gia bắt đầu kinh doanh để tạo thuận lợi cho việc khởi động của họ Là một phần của sáng kiến tăng trưởng xanh, Chính phủ Hàn Quốc đã phân ổ tổng cộng

930 tỷ won của Hàn Quốc để đầu tư vào các dự án liên quan đến tái chế nguồn thải

Trang 29

trong giai đoạn 2009-2012, được ước tính để có thể tạo ra khoảng 16.196 việc làm mới trong ngành công nghiệp [Ministry of Environment, Republic of Korea, 2012] Nghiên cứu của Yunchang [2004], Fan et al[2005] cũng chỉ rõ những chính sách ưu việt về tài chính của Đài Loan trong phát triển công nghiệp tái chế Hệ thống khuyến khích phát triển thị trường tái chế thị được áp dụng năm 1997 đã tích hợp bốn bên liên quan, cụ thể là (1) cộng đồng dân cư, (2) các đội thu gom và xử lý chất thải rắn của chính phủ địa phương, (3) thu gom tư nhân và các doanh nghiệp phân loại và (4) doanh nghiệp công nghiệp tái chế Đây được coi là hình thức ''bốn-trong-một ' với mục đích là nâng cao hiệu quả của việc tái chế tại Đài Loan Chính sách này đã uộc các nhà sản xuất có liên quan và người nhập khẩu phải trả phí tái chế và trợ giá cho các đội thu chất thải rắn và xử lý chính quyền địa phương, cộng đồng, các doanh nghiệp thu gom và phân loại, và các ngành công nghiệp tái chế để thúc đẩy tái chế Trong hệ thống này, mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường có thể đạt được cùng một lúc Bằng cách thiết lập các thị trường mới để tái chế, hàng ngàn công ăn việc làm sẽ được tạo ra trong khi theo đuổi sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong khi đó, trong hệ thống này, người dân cũng tham gia hoạt động tái chế, làm giảm nhiều khó khăn chính trị không mong muốn cho cơ quan môi trường Đài Loan trong việc thực hiện một chính sách môi trường mới

Tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các hoạt động sản xuất

Tất cả các quốc gia khi quan tâm đến phát triển công nghiệp tái chế đều xác định việc tạo nguồn nguyên liệu là điều kiện quan trọng.Việc ban hành các bộ luật quy định bắt buộc từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng có trách nhiệm trong việc thu gom phế thải có thể tái chế là một nội dung được các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản, EU chú trọng sử dụng và chính từ những chính sách này đã tạo ra nguồn nguyên liệu phong phú và ổn định cho công nghiệp tái chế CTR [Singer, 1995; EPA, 2015]

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong việc khuyến khích các hoạt động tái chế Ngay từ đầu những năm 2000, Nhật Bản đã đưa ra mô hình xã hội

Trang 30

tuần hoàn vật chất với quan điểm kêu gọi toàn xã hội tham gia vào hoạt động tái chế, hạn chế tối đa việc xả thải và sử dụng tài nguyên Nhật Bản đã an hành hàng loạt

bộ luật quy định thu gom, tái chế đối với từng loại hàng hóa cá biệt có thể tái chế như Luật tái sinh bao bì, vỏ bịch (trong đó quy định rõ trách nhiệm phân loại do người tiêu dùng thực hiện, trách nhiệm thu gom các ao ì đã phân loại do chính quyền phường, xã thực hiện và trách nhiệm tái sinh lại bao bì do chính các công ty sản xuất đầu tiên thực hiện), Luật tái sinh điện gia dụng (Quy định rõ người tiêu dùng đứng ra thu gom rác, gánh chịu phí tái sinh qua giá thành sản phẩm, tiệm bán

lẻ tiếp nhận phế liệu điện gia dụng từ người tiêu dùng và nhà sản xuất điện gia dụng chịu trách nhiệm tái chế sản phẩm), Luật tái sinh thực phẩm (quy định người chế tạo, gia công, bán thực phẩm phải chịu trách nhiệm tái tài nguyên hóa phế liệu thực phẩm), Luật tái sinh xây dựng (quy trách nhiệm tái tài nguyên hóa phế liệu xây dựng cho người nhận thầu công trình) [Ministry of Economy, Trade and Industry, 2002]

Kiểm soát hoạt động sản xuất

Có thể lấy ví dụ về việc quản lý những hoạt động tái chế giấy tại các nước Châu Âu Trong bộ tiêu chuẩn giấy thu hồi ở các nước, mỗi loại giấy được cho mã riêng, kèm theo là mô tả chi tiết về loại giấy đó với hàm lượng % cụ thể của những tạp chất ―không phù hợp‖ và tạp chất bị ―cấm tuyệt đối‖, cùng các điều kiện giao dịch cho cả hai bên mua bán Ngành công nghiệp tái chế Châu Âu còn đặt ra mục tiêu quản lý thật chuyên nghiệp đối với các nguồn giấy thu hồi để góp phần đáng kể vào việc hạn chế rác thải (trong năm 2007 dựa trên sự ủng hộ của các thành viên Hiệp hội thu hồi giấy Châu Âu, Bộ hướng dẫn về rác thải của EU đã giới thiệu hướng dẫn cách thu gom riêng biệt các loại rác và đến năm 2015 sẽ trở thành pháp lệnh đối với tất cả các quốc gia thành viên) và nâng cao chất lượng giấy thu hồi để

có thể tái chế được Để đạt được mục tiêu này, một hệ thống theo dõi đường đi của giấy thu hồi trong chuỗi giá trị sẽ được thiết lập – có tên là Hệ thống truy căn giấy thu hồi (Recovered Paper Identification System) Mục tiêu của hệ thống là nhằm theo dõi được nguồn gốc của giấy thu hồi, qua đó ảo đảm an toàn cho các sản

Trang 31

phẩm giấy tái chế Đây là một giải pháp quan trọng để cải tiến chất lượng giấy thu hồi cũng như giúp đưa nguyên liệu thô có chất lượng có thể kiểm soát được đến với các nhà máy tái chế; giúp họ có được sản phẩm giấy chất lượng cao Nhờ có hệ thống truy căn giấy thu hồi, các nhà cầm quyền địa phương có thể phân biệt được những chuyến hàng giấy thu hồi hợp pháp với những chuyến hàng phi pháp, vận chuyển rác thải hoặc phế liệu nguy hại Chương trình được đề xuất tiến hành triển khai cho toàn châu Âu

Nhờ những chính sách hiệu quả như vây, hiện nay tái chế đã trở thành một bộ phận không ngừng lớn mạnh trong ngành sản xuất giấy và tự nó đã là một ngành công nghiệp to lớn liên kết trực tiếp và gián tiếp tới một bộ phận không nhỏ các ngành khác trong nền kinh tế Châu Âu – vốn đang được mệnh danh là ‗nền kinh tế tái chế‘ Tái chế giúp hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững và lâu dài của Châu Âu, thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết việc làm [European,2006]

Nhật Bản cũng an hành nhiều chính sách liên quan đến quản lý hoạt động tái chế Trong đó tiêu iểu là Luật xử lý đúng đắn phế liệu ban hành tháng 6/2006 bao gồm các nội dung về xử lý thích đáng phế liệu, quy chế xây dựng cơ sở xử lý phế liệu, quy chế đối với người xử lý phế liệu, thiết lập tiêu chuẩn xử lý phế liệu và đối sách đối với những trường hợp xử lý không thích đáng

Hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm tái chế

Thực tế cho thấy, với đặc điểm sản phẩm xuất phát từ nguồn gốc vật liệu phế thải, nếu không có các biện pháp hỗ trợ, các sản phẩm tái chế sẽ khó có cơ hội cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại được sản xuất từ vật liệu nguyên chất trên thị trường

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp đặc thù này, can thiệp để sản phẩm tái chế có được một thị trường tiêu thụ ổn định cũng là mối quan tâm của Chính phủ các nước Trong đó khu vực nhà nước luôn được kêu gọi gương mẫu trong việc dùng các sản phẩm tái chế

Ngoài các Luật quy định trách nhiệm của từng đối tượng với hoạt động tái chế,

Trang 32

Nhật Bản đã an hành các loại luật khuyến khích việc sử dụng hàng hóa, sản phẩm được tái chế Trong đó phải kể đến Luật mua hàng hóa sinh thái được ban hành năm 2001 quy định rõ trách nhiệm của quốc gia, chính quyền địa phương và người dân tự chủ xúc tiến mua hàng hóa tái sinh

Tại Mỹ, bang Caliphocnia ra điều luật yêu cầu các nhà xuất bản báo phải dùng

ít nhất 25% giấy in báo tái chế từ ngày 1-1-1991 và 50% vào năm 2000 Năm 1993, Tổng thống Clintơn yêu cầu toàn bộ giấy mua cho các cơ quan của chính phủ phải chứa 20% (hoặc với tỉ lệ cao hơn) xơ sợi tái chế (từ giấy đã qua sử dụng) từ 1995, tăng lên 25% vào năm 2000 [EPA, 2010]

Tại Hàn Quốc, để thúc đẩy việc sử dụng các sản phẩm xanh, chính sách được đưa ra là yêu cầu chính phủ quốc gia, địa phương và các tổ chức công cộng của chính phủ mua sản phẩm thân thiện môi trường (bao gồm cả các sản phẩm tái chế) thông qua việc an hành các đạo luật về Khuyến khích mua sản phẩm thân thiện môi trường vào năm 2005 Hàng năm, Bộ Môi trường an hành hướng dẫn mua sản phẩm này cho các cơ quan chức năng khi họ thiết lập và thực hiện kế hoạch mua hàng của họ

Xây dựng hệ thống thông tin

Hiện nay, tại hầu hết các nước phát triển như Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và khối EU, hệ thống thông tin về hoạt động tái chế đã được xây dựng rất chi tiết Các nước này đều có trang web riêng về tái chế, các vấn đề liên quan đến tái chế như: chính sách tái chế, hướng dẫn cụ thể các hoạt động phân loại CTR, tái chế, các thông tin về thị trường

Bên cạnh các trạng web chính thức của chính quyền, các trang web của các hãng tái chế tư nhân, các tổ chức tái chế như BIR cũng là kênh thông tin tin cậy

để các đối tượng quan tâm có thể tìm hiểu

Việc cung cấp thông tin đầy đủ, dễ hiểu, cập nhật như vậy đã giúp ngành công nghiệp tái chế CTR tại các nước phát triển có những hoạt động thuận lợi hơn nhiều

Và với những giải pháp tích cực này, tỷ lệ tái chế của các nước này đã gia tăng liên tục, có thể thấy ví dụ trong hình 1.3

Ngày đăng: 22/03/2017, 20:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hệ thống phân cấp trong quản lý, xử lý CTR - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Hình 1.1. Hệ thống phân cấp trong quản lý, xử lý CTR (Trang 16)
Hình 1.2. Mô hình phát triển bền vững của xã hội - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Hình 1.2. Mô hình phát triển bền vững của xã hội (Trang 21)
Bảng 1.1. Lợi ích của tái chế CTR trong tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Bảng 1.1. Lợi ích của tái chế CTR trong tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí (Trang 26)
Hình 1.3. Tỷ lệ tái chế qua các năm tại Mỹ, Nhật bản, EU, Hàn Quốc - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Hình 1.3. Tỷ lệ tái chế qua các năm tại Mỹ, Nhật bản, EU, Hàn Quốc (Trang 33)
Bảng  1.2  cho  biết  các  phương pháp  xử  lý  chất  thải  theo  GDP   ình  quân  đầu  người, trong đó cho thấy các khu vực tư nhân là một lực lượng tham gia khá tích  cực trong hệ thống quản lý chất thải của các nước có thu nhập thấp và trung bình - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
ng 1.2 cho biết các phương pháp xử lý chất thải theo GDP ình quân đầu người, trong đó cho thấy các khu vực tư nhân là một lực lượng tham gia khá tích cực trong hệ thống quản lý chất thải của các nước có thu nhập thấp và trung bình (Trang 34)
Bảng 1.3. Danh mục một số nhà máy sản xuất phân hữu cơ từ CTR của Việt Nam - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Bảng 1.3. Danh mục một số nhà máy sản xuất phân hữu cơ từ CTR của Việt Nam (Trang 38)
Bảng 1.4. So sánh độ lệch chuẩn của dao động giá cả các tháng giữa nguyên liệu - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Bảng 1.4. So sánh độ lệch chuẩn của dao động giá cả các tháng giữa nguyên liệu (Trang 42)
Bảng 1.4 cho thấy, trừ mặt hàng cao su (sự dao động giá cả của cao su nguyên  chất  cao  hơn  rất  nhiều  so  với  cao  su  phế  thải),  hầu  hết  các  mặt  hàng  khác  sự  dao  động giá cả của vật liệu phế thải cao hơn nhiều so với vật liệu nguyên chất - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Bảng 1.4 cho thấy, trừ mặt hàng cao su (sự dao động giá cả của cao su nguyên chất cao hơn rất nhiều so với cao su phế thải), hầu hết các mặt hàng khác sự dao động giá cả của vật liệu phế thải cao hơn nhiều so với vật liệu nguyên chất (Trang 43)
Hình 1.4. Sự chênh lệch của đường cầu sản phẩm tái chế so với đường cầu của sản - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Hình 1.4. Sự chênh lệch của đường cầu sản phẩm tái chế so với đường cầu của sản (Trang 45)
Hình 1.5. Đường cung của sản phẩm tái chế so với sản phẩm sản xuất từ vật liệu - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Hình 1.5. Đường cung của sản phẩm tái chế so với sản phẩm sản xuất từ vật liệu (Trang 46)
Hình 1.6. Tác động ngoại ứng tích cực của hoạt động tái chế - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Hình 1.6. Tác động ngoại ứng tích cực của hoạt động tái chế (Trang 48)
Hình 1. 7. Vai trò của Nhà nước trong phát triển tái chế phục vụ mục tiêu PTBV - Nghiên cứu phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô
Hình 1. 7. Vai trò của Nhà nước trong phát triển tái chế phục vụ mục tiêu PTBV (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w