1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học văn nghị luận trong chương trình trung học phổ thông

36 411 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 800,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG .... 26 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Sư phạm Ngữ văn, Phòng Đào tạo SĐH, Trường ĐHGD đã có những hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn thầy chủ nhiệm lớp cao học K10, các thầy cô giáo trường THPT Vũ Văn Hiếu đã có những góp ý, đánh giá, nhận xét chân thành cho tôi trong quá trình làm luận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi

Học viên: Phạm Thị Ngọc Mai

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LTKT Lí thuyết kiến tạo

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 10

1.1 Khái quát về lí thuyết kiến tạo trong dạy học 10

1.1.1.Các quan điểm chủ đạo của lí thuyết kiến tạo 10

1.1.2 Một số luận điểm cơ bản của lí thuyết kiến tạo 12

1.1.3 Các loại kiến tạo trong dạy học 14

1.1.4 Yêu cầu cơ bản với giáo viên và học sinh khi dạy học theo thuyết kiến tạo 16

1.2 Khả năng vận dụng thuyết kiến tạo vào dạy học văn nghị luận trong chương trình trung học phổ thông 19

1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Làm văn trong chương trình trung học phổ thông 19

1.2.2 Đặc điểm văn nghị luận trong chương trình Làm văn trung học phổ thông 22

1.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học học Làm văn 25

Tiểu kết chương 1 26

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Error! Bookmark not defined

2.1.Khai thác các kiến thức và kĩ năng đã có của học sinh Error!

Bookmark not defined

2.2 Tạo lập môi trường học tập thuận lợi Error! Bookmark not defined

Trang 6

2.3 Dạy học theo quan điểm tích hợp Error! Bookmark not defined

2.4 Thực hiện quy trình tổ chức dạy học văn nghị luận theo quan điểm kiến

tạo Error! Bookmark not defined 2.4.1 Giai đoạn chuẩn bị Error! Bookmark not defined 2.4.2 Hoạt động học tập trên lớp Error! Bookmark not defined 2.4.3 Kiểm tra, đánh giá kiến thức Error! Bookmark not defined

2.5 Đổi mới hướng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập văn nghị luận của

học sinh ở trường THPT Error! Bookmark not defined 2.5.1 Mục đích, yêu cầu kiểm tra, đánh giáError! Bookmark not defined

2.5.2 Đổi mới hướng ra đề văn nghị luận ở trường THPT Error!

Bookmark not defined

Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined

3.1 Mục đích thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2 Quy trình thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.1 Xác định thời gian và phạm vi thực nghiệmError! Bookmark not

3.3.1 Về mặt định tính Error! Bookmark not defined 3.3.2 Về mặt định lượng Error! Bookmark not defined Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 7

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong lĩnh vực giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại Vì vậy, đây là vấn đề đã được chỉ rõ trong các văn bản có tính chất pháp quy của Nhà nước và ngành Giáo dục nước ta Trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 – 1996) của Đảng đã định hướng đổi mới nền giáo dục nước ta nói chung và đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói

riêng có viết:“Cuộc cách mạng về phương pháp giáo dục phải hướng vào

người học, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn

đề một cách năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông”

Đến Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X cũng viết: “Xây

dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”

Điều 28.2 Luật Giáo dục (2005) cũng nêu rõ:“Phương pháp giáo dục

phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào

tạo đã đặt ra yêu cầu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng

tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự

Trang 9

học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

Thông báo Kết luận số 242-TB/TW ngày 15/04/2009, Bộ Chính trị đã

đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ sự

nghiệp giáo dục và đào tạo, trong đó giải pháp thứ tư nêu rõ: “Tiếp tục đổi

mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn

bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 20111-2020 ban hành kèm theo

quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ:

“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”

Từ đó, chúng tôi nhận thấy đổi mới PPDH là yêu cầu cấp bách, là một giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay Bản chất của việc đổi mới PPDH là người thầy từ chỗ là người truyền đạt tri thức chuyển sang người cung cấp cho người học phương pháp thu nhận, lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống, có tư duy và sáng tạo Cốt lõi của việc đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động nhằm giúp các em phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo, rèn luyện khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn Người học là đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học; tự tìm tòi, khám phá, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất

Do đó, trung tâm của quá trình dạy học đã chuyển từ hoạt động dạy của thầy sang hoạt động học của trò

Trang 10

Trong môn Ngữ văn, việc đổi mới PPDH đã nói đến các phương pháp dạy học tích cực như: Phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, đàm thoại, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học với lí thuyết tình

huống, dạy học với lí thuyết kiến tạo,… trong cuốn tài liệu Hướng dẫn thực

hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn[18, tr.9 -11] Nhìn

chung, vận dụng các PPDH này nhằm làm cho người học tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học Mỗi phương pháp có mặt mạnh, mặt yếu, phù hợp với một số lĩnh vực tri thức, có khả năng giải quyết một số nhiệm vụ dạy học cụ thể Trong đó, chúng tôi nhận thấy việc vận dụng lí thuyết kiến tạo (LTKT) là một quan điểm dạy học hiện đại nhấn mạnh vai trò tích cực và chủ động của người học trong việc thu nhận tri thức mới cho bản thân Sự chủ động này thể hiện ở chỗ người học được đặt vào những tình huống học tập mà

ở đó họ thấy có khả năng và có nhu cầu giải quyết vấn đề đặt ra và thông qua việc giải quyết tình huống học tập đó, họ kiến tạo nên tri thức mới cho mình Theo LTKT, người học tiếp thu tri thức mới bằng cách đặt mình vào một môi trường học tập tích cực, phát hiện ra vấn đề theo lối đồng hóa hay điều ứng những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho tương thích với những tình huống mới, để xây dựng nên những hiểu biết Bởi quá trình nhận thức không phải là quá trình cho - nhận khiên cưỡng, máy móc mà là quá trình mỗi chủ thể nhận thức biến đổi thế giới quan khoa học của bản thân sao cho phù hợp với mục tiêu đặt ra Mục đích của việc dạy học theo quan điểm kiến tạo không phải chỉ truyền thụ mà chủ yếu là biến đổi nhận thức, kiến tạo kiến thức và thông qua đó học sinh (HS) phát triển trí tuệ và nhân cách Vì thế, dạy học theo LTKT cho thấy có nhiều khả năng đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Chương trình Làm văn là một bộ phận không thể tách rời của chương

trình Ngữ văn Làm văn với Đọc văn là hai hoạt động quan trọng nhất của

việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Đây chính là mối quan hệ giữa đọc – hiểu, tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản Một mặt giúp học sinh

Trang 11

hình thành và phát triển năng lực đọc văn bản, một mặt giúp tạo lập năng lực viết văn bản Giữa hai năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vì những tri thức và kĩ năng của việc đọc văn không chỉ giúp học sinh tiếp nhận tốt tác phẩm văn học mà còn giúp các em viết tốt hơn các loại văn bản Và ngược lại, những tri thức và kĩ năng của làm văn cũng không chỉ giúp cho việc viết các văn bản tốt hơn mà còn soi sáng thêm cho việc đọc – hiểu tác phẩm rất nhiều Dạy Đọc văn là công việc rất khó, dạy Làm văn lại càng khó hơn Vì nếu trò không biết cách tạo lập được văn bản thì coi như không “tiêu hóa” được kiến thức của hai phân môn Văn học và Tiếng Việt

Không những thế, việc học văn, làm văn lại càng quan trọng hơn với lứa tuổi học sinh THPT đặc biệt là phần văn nghị luận được chú trọng trong chương trình THPT Đây là lứa tuổi mà các em tạo lập cho mình những bước đệm vững chắc, những hành trang cơ bản để bước vào đời, lứa tuổi chuẩn bị trở thành một công dân thực thụ Bài làm văn không chỉ góp phần quyết định việc đỗ, trượt Đại học (với những em khối thi có môn Ngữ văn) mà còn mang đến nhiều giá trị khác Khi rời ghế trường phổ thông các em sẽ phải hòa mình,

va chạm với muôn mặt đời thường Vì vậy, cần hơn bất kì lúc nào, môn Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng phải giúp các em kiến tạo nên

“năng lực người”, tạo cho các em khả năng tạo lập và lĩnh hội văn bản Đó là nấc thang quan trọng giúp các em tiến những bước vững chắc trên đường đời Trong khi đó, thực tế chất lượng, hiệu quả dạy học phần Làm văn còn nhiều vấn đề phải bàn…

Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy họcvăn nghị trong chương trình trung học phổ thông” để nghiên cứu và mong muốn sẽ tìm ra một hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học phần văn Nghị luận nói riêng và môn Ngữ văn THPT nói chung

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

a Lịch sử ra đời và việc vận dụng lí thuyết kiến tạo vào việc dạy học nói chung

Trang 12

Lí thuyết kiến tạo ra đời từ cuối thế kỉ XVIII, xuất phát từ tuyên bố của nhà triết học Giam Battista Vico cho rằng: con người chỉ có thể hiểu một cách

rõ ràng những cái gì mà họ tự xây dựng nên cho mình Tuy nhiên, người đầu tiên nghiên cứu để phát triển tư tưởng kiến tạo một cách rõ ràng và áp dụng vào việc dạy học đó là J Piaget Theo ông, nền tảng của việc học là khám phávà các cấu trúc nhận thức phải có lịch sử phát sinh và phát triển nằm trong một quá trình kép: đồng hóa và điều ứng

Một tác giả khác có nhiều đóng góp cho sự phát triển LTKT là L.X.Vygotsky Ông cho rằng: trẻ em học các khái niệm khoa học thông qua

sự mâu thuẫn giữa những quan niệm hằng ngày của chúng với những khái niệm của người lớn Người lớn giới thiệu cho trẻ em những khái niệm chuẩn mực, nhưng đồng thời trẻ em phải tự kiến tạo sự hiểu biết riêng của mình với thế giới xung quanh chứ không chỉ chấp nhận và ghi nhớ một cách khiên cưỡng những gì mà người lớn truyền đạt

Trong những năm gần đây, LTKT đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Tâm lý học và giáo dục học của Jean Piaget (1997); Tâm lí học Vygotsky của Phạm Minh Hạc (1997); PatriciaH Miler (2003) với Các thuyết về tâm lý học phát triển,…

Tiếp cận thành tựu của tâm lý học hiện đại, đặc biệt là tâm lý học phát triển, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu về LTKT Đầu năm 1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội thảo quốc tế lần thứ nhất của các nước Đông Nam Ávề dạy học kiến tạo và đào tạo GV các môn học đã được tổ chức với khoảng hơn 100 nhà khoa học Pháp, Việt Nam và các nước Đông Nam Á tham dự Tại hội thảo này, nhiều nhà giáo dục Việt Nam đã hết sức quan tâm và có nhiều ý kiến về dạy học theo quan điểm kiến

tạo Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Những

vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học của Nguyễn Hữu Châu

(2005); Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường của Phan Trọng

Trang 13

Ngọ (2005); Lý thuyết kiến tạo, một hướng phát triển mới của lí luận dạy học

hiện đại của Bùi Gia Thịnh (1995), Tiếp cận kiến tạo trong dạy học khoa học theo mô hình tương tác của Nguyễn Phương Hồng (1997), Phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại của Thái Duy Tuyên (2008),… cũng đã giới

thiệu khá cụ thể về LTKT và khả năng ứng dụng của lý thuyết này trong các lĩnh vực khác nhau đặc biệt là lĩnh vực dạy học

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ứng dụng LTKT vào dạy học đều cho rằng: đây là một quan điểm dạy học mới, có khả năng phát huy cao

độ tính tích cực, chủ động nhận thức của người học Và người học đóng vai trò chủ động, quyết định trong quá trình xây dựng tri thức cho bản thân Tuy vậy, vai trò xã hội của lớp học cũng không thể thiếu trong quá trình học tập; ở

đó, GV sẽ là người tổ chức, điều khiển HS trao đổi, thảo luận, để từ đó khuyến khích các em tự xây dựng tri thức theo cách riêng của mình Và điều

này đã được GS Nguyễn Hữu Châu khẳng định: “Thuyết kiến tạo đã điều

chỉnh vai trò của giáo viên và học sinh, giáo viên sẽ là người hướng dẫn học sinh xây dựng nên kiến thức thay vì chỉ tái tạo kiến thức Với quan điểm dạy học kiến tạo giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề, xây dựng và thử nghiệm các ý tưởng

và giải pháp, thực hiện suy diễn, tổng hợp, chia sẻ tri thức trong một môi trường học tập hợp tác”

Cho đến nay, ở Việt Nam, LTKT đã được vận dụng để tiến hành dạy học một số nội dung trong chương trình vật lý, toán học, hóa học và cũng đã

có một vài thực nghiệm sư phạm chứng minh khả năng của quan điểm mới này trong việc tích cực hóa vai trò của chủ thể người học Chúng ta có thể xem những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Bạch Dương (2002),

“Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm định luật trong chương trình Vật lý lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo”; Cao Thị

Hà (2006), Dạy học một số chủ đề hình học không gian (hình học 11) theo

quan điểm kiến tạo; Lương Việt Thái (2006), Nghiên cứu tổ chức quá trình

Trang 14

dạy học một số nội dung vật lí trong môn khoa học ở tiểu học và môn vật lí ở trung học cơ sở trên cơ sở vận dụng tư tưởng của lý thuyết kiến tạo,… Đó là

những công trình nghiên cứu ứng dụng LTKT bước đầu rất có giá trị

Bên cạnh đó, chúng ta còn phải kể đến một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí về giáo dục của các tác giả như: Đào Thị Việt Anh, Đỗ Văn Cường (2008), Đỗ Tiến Đạt (2005), Võ Văn Duyên Em (2007), Nguyễn Quang Lạc, Đào Tam,…

b Đối với bộ môn Ngữ văn, có thể nhận thấy bóng dáng của quan điểm kiến tạo qua một số công trình nghiên cứu về Phương pháp dạy học Ngữ văncủa GS Phan Trọng Luận Ông đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của

bạn đọc - học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương: “Giáo viên

không phải là diễn viên mà chỉ là người hướng dẫn, tổ chức quá trình học sinh cảm nhận, thâm nhập tác phẩm” và “Học sinh chính là chủ thể tích cực tham gia quá trình khám phá tác phẩm, bài văn Đích cuối cùng của tiến trình phân tích một tác phẩm không phải là việc phát hiện tác phẩm

và truyền thụ hiểu biết về tác phẩm Đích cuối cùng là sự chuyển hóa bên trong học sinh, từ bước nhận thức một cách tự giác, tích cực, nhằm tạo được một sự chuyển hóa về nhận thức và tình cảm”

Đồng quan điểm với nhận định trên, khi bàn về việc đổi mới PPDH môn

Ngữ văn, GS.Trần Đình Sử đã chia sẻ: “bản chất học tập không phải là tiếp

nhận những gì được đưa trực tiếp từ ngoài vào, mà là sự kiến tạo tri thức mới dựa trên cơ sở nhào nặn các dữ liệu mới và kinh nghiệm đã được tích lũy”

và “Học thực chất không phải là học thuộc mà là tự biến đổi tri thức của mình trên cơ sở các tác động của bên ngoài và của hoạt động của người học” hay “Học sinh phải là người chủ thể trong các hoạt động học tập, là người chủ động kiến tạo các kiến thức của mình mà giáo viên chỉ là người tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh”

Việc vận dụng LTKT vào dạy học văn đã được đề cập bước đầu trong

Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ

Trang 15

văn Tuy nhiên, đối với việc dạy học môn Ngữ Văn trong nhà trường phổ

thông chúng ta gần như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào Theo quan điểm của chúng tôi, LTKT có khả năng phát huy hiệu quả cao trong dạy học văn nghị luận cho HS phổ thông Luận văn của chúng tôi là thể nghiệm bước đầu việc vận dụng LTKT vào dạy học văn nghị luận ở trường THPT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu, vận dụng LTKT vào quá trình dạy học Làm văn, cụ thể là dạy học phần văn nghị luận ở trường THPT, góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học Ngữ văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của LTKT

- Nghiên cứu, đề xuất cách tổ chức dạy học làm văn nghị luận theo LTKT

- Tổ chức dạy học thực nghiệm nhằm kiểm chứng, đánh giá kết quả nghiên cứu, từ đó rút ra kết luận và đề xuất kiến nghị

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí luận và thực tiễn

Trang 16

Phân tích và tổng hợp những công trình, bài viết của các nhà lí luận và nghiên cứu về LTKT, về dạy học làm văn nghị luận trong nhà trường phổ thông,… để hình thành cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, phần chính văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy họcvăn nghị luận trong chương trình trung học phổ thông

Chương 2: Một số giải pháp vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học văn nghị luận trong chương trình trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trong chương thực nghiệm, người viết sẽ mô tả lại tiến trình và kết quả thực nghiệm Từ đó rút ra kết luận để bước đầu đánh giá hiệu quả việc vận dụng LTKT vào dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN

TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Khái quát về lí thuyết kiến tạo trong dạy học

1.1.1.Các quan điểm chủ đạo của lí thuyết kiến tạo

Theo từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” có nghĩa là xây dựng nên Theo Brooks (1993) thì: “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng HS

cần tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đã có trước đó HS thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng…” Cũng trong khoảng thời gian này, M.Briner cho rằng:

“Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng cho chúng vào những tình huống mới, hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc” Theo Mebrien và Brandt (1997) thì: “Kiến tạo là một cách tiếp cận “Dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “Học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận từ người khác”

Như vậy, lí thuyết này xem hoạt động học tập là quá trình biến đổi nhận thức, chủ động xây dựng kiến thức từ những kinh nghiệm đã có của người học Và theo tác giả Nguyễn Hữu Châu và Cao Thị Hà thì cơ sở tâm lý học

của lý thuyết này là tâm lý học phát triển của J Piaget và lý luận về: “Vùng

phát triển gần nhất” của Vygotsky

Jean Piaget (1896 –1983), người đặt nền móng cho tâm lý học phát triển cho rằng: “Những ý tưởng cần được trẻ em tạo nên chứ không phải được tìm thấy như một viên sỏi hoặc nhận được từ tay người khác như một món quà” [11, tr.34 -36] Theo ông, các cấu trúc nhận thức không phải do bẩm

Trang 18

sinh mà chúng có một lịch sử phát sinh và phát triển, được hình thành từ hai

cơ chế đồng hóa (assimilation) và điều ứng (accommodation)

Đồng hoá là quá trình chủ thể (con người) tiếp nhận và xử lí các thông

tin mới từ môi trường xung quanh nhằm đạt được mục tiêu nhận thức nào đó nhờ vào các kiến thức, kĩ năng đã có Trong dạy học, đồng hóa là quá trình người học vận dụng kiến thức và kĩ năng đã có của mình để giải quyết tình

huống học tập mới Còn điều ứng là quá trình chủ thể thích nghi với một sự

kiện mới từ môi trường tác động vào và biến đổi nhận thức cũ sao cho phù hợp với bản chất của sự kiện tác động Do đó, khi tình huống học tập mới được giải quyết thì kiến thức mới cũng được hình thành và bổ sung vào hệ thống kiến thức đã có Vì vậy, thông qua hai hoạt động đồng hóa và điều ứng các kiến thức và kĩ năng đã có để thích ứng với môi trường học tập mới, người học xây dựng nên những kiến thức cho mình Đây chính là cơ sở, nền tảng của LTKT trong dạy học

L X Vygotsky (1896 –1934) là người có nhiều đóng góp cho tâm lý học và ứng dụng tâm lý học vào dạy học Hai luận điểm quan trọng trong lý thuyết của ông là giả thuyết vùng phát triển gần nhất và dạy học hợp tác Theo ông, mỗi cá nhân đều có một vùng phát triển gần nhất - thể hiện tiềm năng phát triển của riêng mình Vùng phát triển gần nhất là vùng phát triển tương ứng với trình độ trẻ có thể đạt được với sự giúp đỡ của người lớn hoặc bạn bè Do đó, nếu các hoạt động học tập được tổ chức trong vùng này thì sẽ đạt được hiệu quả cao Thực tế cho thấy, vùng này đã được chuẩn bị trước đó

do quá trình phát triển nhận thức, nhưng các em còn chưa đạt tới Nhờ vào các hoạt động học tập, vùng phát triển gần nhất sẽ trở thành vùng hoạt động hiện tại Và vùng trước đó là vùng phát triển xa hơn một chút thì bây giờ trở thành vùng phát triển gần nhất Quá trình cứ lặp lại như vậy và HS cứ leo hết bậc thang này đến bậc thang khác trong quá trình hoạt động và phát triển Bên cạnh đó, Vygotsky cũng khẳng định: nếu được đặt trong một môi trường kích thích tốt thì trẻ em có thể đạt tới một giai đoạn nhận thức nhanh hơn, hiệu quả

Ngày đăng: 22/03/2017, 17:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010) , Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10, 11, 12, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10, 11, 12
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Ngữ văn 10,11,12 , Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10,11,12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
3.Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt – Bỉ (2010),Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng,Nhà xuất bản ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt – Bỉ
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHSP
Năm: 2010
4.Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt – Bỉ (2010),Dạy và học tích cực – một số phương pháp và kĩ thuật dạy học,Nhà xuất bản ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực – một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt – Bỉ
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHSP
Năm: 2010
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014),Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. Nhiều tác giả (2007), Kỷ yếu Hội thảo khoa học dạy học Ngữ văn ở trường PT theo chương trình và SGK mới, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học dạy học Ngữ văn ở trường PT theo chương trình và SGK mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2007
10. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
11. Đỗ Văn Cường (2008), Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hình học 10 trên cơ sở phối hợp quan điểm dạy học giải quyết vấn đề và dạy học kiến tạo, Tạp chí Giáo dục, (số 190) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hình học 10 trên cơ sở phối hợp quan điểm dạy học giải quyết vấn đề và dạy học kiến tạo
Tác giả: Đỗ Văn Cường
Năm: 2008
12. Cao Thị Hà (2006), Dạy học một số chủ đề hình học không gian (hình học 11) theo quan điểm kiến tạo, Luận án tiến sĩ Giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học một số chủ đề hình học không gian (hình học 11) theo quan điểm kiến tạo
Tác giả: Cao Thị Hà
Năm: 2006
13. Cao Thị Hà (2008), Dạy học định lí toán học ở THPT theo quan điểm kiến tạo, Tạp chí Giáo dục, (số 181) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học định lí toán học ở THPT theo quan điểm kiến tạo
Tác giả: Cao Thị Hà
Năm: 2008
14. Đỗ Kim Hồi (1986), Vài ý nghĩ xung quanh vấn đề kiểu bài văn nghị luận, Tập san Giáo dục cấp III, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý nghĩ xung quanh vấn đề kiểu bài văn nghị luận
Tác giả: Đỗ Kim Hồi
Năm: 1986
15. Đặng Thành Hƣng (2002), Dạy học hiện đại – lí luận, biện pháp, kĩ thuật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – lí luận, biện pháp, kĩ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
17. Lê Thái Hƣng, Tài liệu: Phân tích và xử lý số liệu trong nghiên cứu khoa học giáo dục (Dành cho các lớp cao học Lí luận và phương pháp dạy học), Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu: Phân tích và xử lý số liệu trong nghiên cứu khoa học giáo dục
18. Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử, Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn, Nhà xuất bản Giáo dục VN, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục VN
19. Phan Trọng Luận (2002), Phương pháp dạy Văn, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy Văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
20. Phan Trọng Luận (2005), Tuyển tập, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
21. GS. Hoàng Nhƣ Mai, “Sự rung cảm và sáng tạo của học sinh có nguy cơ mòn”, Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự rung cảm và sáng tạo của học sinh có nguy cơ mòn”, "Tạp chí Dạy và học ngày nay
31. Một số tài liệu trên internet: Trang http://hungyen.edu.vn/NewsDetails.aspx?id=1680 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w