Vì thế,chúng tôi tiến hành những nghiên cứu đề tài Dạy học đoạn tríchViệt Bắc của Tố Hữu Ngữ văn 12, tập 1 theo hướng tiếp cận thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm.Với đề tài này, chúng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU
(NGỮ VĂN 12, TẬP 1) THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP TÁC GIẢ VÀ THI PHÁP TÁC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU
(NGỮ VĂN 12, TẬP 1) THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP TÁC GIẢ VÀ THI PHÁP TÁC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số:60 14 01 11 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương
HÀ NỘI - 2016
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Đoàn Đức Phương, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Xin cảm ơn các thầy cô trong phòng Đào tạo, thư viện trường Đại học Giáo dục, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đang giảng dạy tại trường THPT Hoài Đức A đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi rất nhiều trong khóa học Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm khích lệ và chia sẻ trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian và khả năng của bản thân có hạn nên luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 6
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện hành 6
1.1.2 Khái lược về thi pháp học, thi pháp thơ hiện đại 6
1.1.3 Những bình diện cơ bản của thi pháp học hiện đại……… 13
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 30
1.2.1 Tình hình vận dụng thi pháp để dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông 30
1.2.2 Nhà thơ Tố Hữu với đoạn trích Việt Bắc trong trường phổ thông 32
1.2.3 Thực trạng dạy học đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu trong chương trình Ngữ văn 12 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40 CHƯƠNG 2 : ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐOẠN
TRÍCHVIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU THEO HƯỚNG TIẾP CẬNTHI
PHÁP TÁC GIẢ VÀ THI PHÁP TÁC PHẨMError! Bookmark not defined
Trang 6iv
2.1 Một số vấn đề thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm trong đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu Error! Bookmark not defined 2.1.1 Thi pháp tác giả trong đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu Error!
Bookmark not defined
2.1.2 Thi pháp tác phẩm trong đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu Error!
Bookmark not defined
2.2 Kết hợp các phương pháp, biện pháp dạy học tích cực theo hướng tiếp cận
thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm đối với đoạn trích Việt Bắc Error!
Bookmark not defined
2.2.1 Phương pháp đọc sáng tạo Error! Bookmark not defined 2.2.2 Phương pháp diễn giảng Error! Bookmark not defined 2.2.3 Phương pháp đàm thoại Error! Bookmark not defined 2.2.4 Phương pháp trực quan Error! Bookmark not defined 2.2.5 Phương pháp dạy học tích hợp liên mônError! Bookmark not defined
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined 3.1 Giáo án thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2 Những vấn đề chung về thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.2.1 Mục đích thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.2 Đối tượng thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.3 Địa bàn thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.4 Thời gian thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.4.5 Nội dung thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.6 Phương pháp tiến hành thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.7 Kết quả thực nghiệm: Error! Bookmark not defined
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
1 Kết luận Error! Bookmark not defined
Trang 7v
2 Khuyến nghị Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tổng hợp 06 giáo viên của trường THPT Hoài Đức A, 35 huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 35 Bảng 2: Tổng hợp 90 phiếu của học sinh trường THPT Hoài Đức A 37
Bảng 3.1: Thống kê kết quả kiểm tra 15 phút Error! Bookmark not defined Bảng 3.2: Thống kê kết quả kiểm tra 90 phút Error! Bookmark not defined
Trang 9“Thơ khởi phát từ lòng người mà ra” Tiếp nhận tác phẩm văn học trong thời đại ngày nay càng trở nên quan trọng, khi các em học sinh ngày càng trở nên
sợ học thơ, sợ học văn Các em thích chạy theo các môn học thời thượng như Toán, Lí, Hóa, Ngoại ngữ, thích cuộc sống thực tế Vì vậy, làm sao để đa số các em học sinh có cái nhìn mới về văn học? Bởi văn học sẽ mang đến cho các em cái nhìn mới về thế giới, cuộc sống có văn học sẽ thật sự phong phú hơn, ý nghĩa hơn Văn học bồi đắp cho các em tình yêu cuộc sống, nhìn cuộc sống bằng con mắt “xanh non, biếc rờn” Văn học còn giúp các em biết yêu thương người hơn, biết chia sẻ, cảm thông giống như M.Gorki từng nói “Văn học là nhân học”
Văn học ở mỗi thời kì lại có những đặc điểm riêng Văn học phát triển đòi hỏi phương pháp dạy học Ngữ văn cũng phải được đổi mới.Đã có nhiều phương pháp đổi mới trong cách tiếp nhận tác phẩm văn học Có người đi từ phương pháp khai thác nội dung để rút ra những nét nghệ thuật trong tác phẩm Có người lại chú ý khám phá tầng sâu ý nghĩa tác phẩm, nhưng thực tế trong dạy học Ngữ văn hiện nay, thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm vẫn chưa thực sự được quan tâm, chú ý Trong số bao nhà thơ, nhà văn, Tố Hữu được coi là cây đại thụ lớn nhất của nền văn học Các tác phẩm của nhà thơ được đưa vào chương trình nhà trường cũng không ít, rải rác từ các lớp Tiểu
học qua bài thơ Lượm, đến THCS rồi THPT với một loạt thi phẩm Từ ấy, Bác ơi! Đặc biệt Việt Bắclà một bài thơ đã cuốn hút bao người yêu thơ chứ
không chỉ giới học trò Tuy nhiên, bài thơ quá dài trong chương trình Ngữ văn lớp12 chỉ lược trích 90 câu của phần đầu bài thơ
Trang 102
Vậy mà việc dạy học đoạn tríchViệt Bắc của nhà thơ Tố Hữu vẫn gặp
nhiều khó khăn Chúng tôi khao khát muốn khám phá cái hay cái đẹp qua
đoạn trích Vì thế,chúng tôi tiến hành những nghiên cứu đề tài Dạy học đoạn tríchViệt Bắc của Tố Hữu (Ngữ văn 12, tập 1) theo hướng tiếp cận thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm.Với đề tài này, chúng tôi muốn tìm ra cách dạy
thích hợp mang tính khoa học và nghệ thuật để nâng cao hiệu quả một giờ giảng dạy Ngữ văn giúp học sinh biết cách cảm thụ văn chương, yêu môn Ngữ văn hơn Chúng tôi mong muốn đề tài sẽ góp phần nhỏ vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Đề tài: “Dạy học đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu theo hướng tiếp cận thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm” được chúng tôi xem xét và
nghiên cứu lịch sử vấn đề theo 2 hướng chính sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu thi pháp học
Từ trước tới nay, vấn đề tìm ra phương pháp dạy học thơ văn đã được các ngành nghiên cứu lý luận, các nhà giáo, các nhà lý luận dạy học chú ý quan tâm ở những mức độ khác nhau Trong đó phải kể đến một số tác giả nghiên cứu phương pháp dạy học Ngữ văn theo quan điểm tiếp cận thi
pháp:Thi pháp thơTố Hữu (Trần Đình Sử),Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (Hà Minh Đức), Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường (Nguyễn Thị Khánh Dư), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy - nghiên cứu Văn học dân gian (Hoàng Tiến Tựu), Tác phẩm trữ tình và phương pháp giảng dạy (Nguyễn Thanh Hùng)…Các công trình này đều chủ
yếu giới thiệu cách vận dụng đặc trưng thi pháp thể loại, thể tài vào phân tích hình tượng, kết cấu, ngôn ngữ, để làm sáng tỏ tư tưởng chủ đề và giá trị nghệ thuật của tác phẩm khi giảng văn Các tác giả đều nêu lên những phương pháp, biện pháp, giảng dạy cụ thể như: đọc, phân tích, giảng giải, rút ra các khâu, các bước trong quá trình tìm hiểu, phân tích một tác phẩm thuộc thể loại
Trang 113
nhất định, còn cách thức trình bày trước học sinh chưa được nói đến Cũng có một vài tác giả có chú ý tiếp cận, phân tích giảng văn trên bình diện thi pháp nhưng chỉ là gợi ra hướng mở cho các bài giảng văn
Thứ hai: Tìm hiểu những tài liệu liên quan đến con người, sự nghiệp
sáng tác của nhà thơ Tố Hữu Những cách nghiên cứu, tìm hiểu bài thơ Việt Bắc
của Tố Hữu từ trước tới nay
Có đến hàng chục công trình nghiên cứu văn học về thơ ông Đáng chú
ý hơn cả là những công trình của các nhà thơ nổi tiếng như : Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên , Lưu Trọng Lư… của các nhà nghiên cứu phê bình văn học có tên tuổi như: Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, vv… và một số bài viết c ủa chính tác giả về đời mình và thơ mình
Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, chuyên luận, khóa luận tốt
nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về Tố Hữu và Việt Bắc Có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu như:Dạy học thơ Tố Hữu ở Trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật của Bùi Thị Hồng
Chiên (Luận văn Thạc sĩ, 2012, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia
Hà Nội),Biểu tượng thơ Tố Hữu giai đoạn 1945 – 1975 của Hoàng Thị Kim
Nhẫn (Luận văn Thạc sĩ, 2014, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại
học Quốc gia Hà Nội), Sự ảnh hưởng của thơ ca dân gian trong thơ Tố Hữu
của Nguyễn Thị Hải Yến (Luận văn Thạc sĩ, 2014,Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội),Cao Thị Dung Hoà trong tiểu luận
Thạc sĩ Các công trình phê bình nghiên cứu thơ Tố Hữu ở Việt Nam từ 1939 đến nay (Đại học Sư phạm Hà Nội, 1994), Nguyễn Thị Hoa ở luận văn Thạc
sĩ Thi pháp học trong một số công trình của Trần Đình Sử (Đại học Sư phạm
Hà Nội, 2008) Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử trong bối cảnh nghiên
cứu phê bình văn học Việt Nam 1945 – 1986 của Nguyễn Thị Thủy (Luận
văn Thạc sĩ, 2009, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I), Vận dụng con đường
Theo bước tác giả và Theo đề tài, chủ đề trong dạy học Việt Bắc của Tố
Trang 124
Hữucủa Triệu Phương Quỳnh (Luận văn Thạc sĩ, 2010, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội I) Vì vậy, chúng tôi khẳng địnhDạy học đoạn tríchViệt Bắc của Tố Hữu theo hướng tiếp cận thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm là đề
tài nghiên cứu mới mẻ, chưa có công trình nào đề cập đến
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Vận dụng quan điểm dạy học theo thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm
vào giảng dạy một tác phẩm văn học đặc biệt qua đoạn trích Việt Bắc nhằm
góp phần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, nâng cao hiệu quả giảng dạy Qua đó, bồi dưỡng năng lực nhận thức và tình yêu văn học của học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh
- Khảo sát tình hình dạy học thơ Tố Hữu và việc dạy học đoạn trích
Việt Bắc theo hướng tiếp cận thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm ở trường
THPT hiện nay
- Đề xuất các phương pháp, biện pháp dạy học đoạn trích Việt Bắctheo
hướng tiếp cận thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
- Quá trình dạy học (định hướng đổi mới) theo đặc trưng thi pháp tác
giả và thi pháp tác phẩm qua đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu
- Học sinh lớp 12 ban Cơ bản THPT
Trang 13bài viết phê bình về tác phẩm Việt Bắc
- Phương pháp điều tra: (Phương pháp nghiên cứu thực tiễn): quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm về các phương pháp dạy học,
thực trạng dạy học đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu theo thi pháp tác giả và thi
pháp tác phẩm trong dạy và học của giáo viên và học sinh lớp 12 trường THPT Hoài Đức A để nắm được kết quả, thuận lợi, khó khăn khi dạy học thơ Tố Hữu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: được tiến hành nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của đề tài
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Đề xuất các phương pháp dạy học đoạn trích Việt Bắc của
Tố Hữu theo hướng tiếp cận thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 146
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1.Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện hành
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn đang được Bộ Giáo dục cũng như các cấp, các ngành quan tâm Bởi những năm gần đây, môn Ngữ văn đang dần mất ưu thế, không còn là môn học được đông đảo các em học sinh yêu thích Vì vậy, môn Ngữ văn cần được thay đổi cách dạy, cách học làm sao để thu hút học sinh Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, lồng ghép các phương pháp dạy học như: phương pháp trực quan, đọc sáng tạo, dạy học tích hợp liên môn…để bài học thêm phong phú, hấp dẫn học sinh Tùy theo kinh phí mỗi trường, có thểsau một số bài học, nhà trường cho các em đi tham quan, thực tế để các em thấy được văn học gắn liền với đời sống, không xa rời cuộc sống.Điều này cũng khơi gợi tình yêu văn học trong các em học sinh
1.1.2 Khái lược về thi pháp học, thi pháp thơ hiện đại
1.1.2.1 Khái niệm về thi pháp và thi pháp học
Thi pháp là hệ thống nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm là cả nền văn học.Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp
Thi pháp học là một lĩnh vực nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong ngành nghiên cứu văn học thế kỉ XX, tuy có cội nguồn xa xưa nhưng đã được cải tạo triệt để, mang nội dung mới, rất đa dạng về quan niệm, phương pháp, đồng thời tự nó cũng biến đổi nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử
Trang 157
Thi pháp học xuất hiện rất sớm trong lịch sử nghiên cứu, phê bình văn
học trên thế giới với công trìnhNghệ thuật thi ca (Poetika) của Aristote (384 -
322 TCN) Thi pháp học ở Nga xuất hiện rải rác từ cuối thế kỉ XIX và thực sự
bùng phát từ đầu thế kỉ XX với chủ nghĩa hình thức Nga.Năm 1963, cuốnMấy vấn đề sáng tác Dostoievskicủa Bakhtin mang cái tên mới:Mấy vấn đề thi pháp Dostoievski Thi pháp học hiện đại xuất hiện ở phương Tây từ cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Thi pháp học trở thành một trong những hướng chủ yếu của nghiên cứu văn học thế kỷ XX và vẫn đang phát triển mạnh mẽ ở thế kỉ XXI
Nghiên cứu về thi pháp học, có rất nhiều cách hiểu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau Có cách hiểu thi pháp như là nguyên tắc, biện pháp chung làm cho văn bản, phát ngôn trở thành tác phẩm nghệ thuật Có cách hiểu thi pháp như là những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật cụ thể tạo thành đặc sắc nghệ thuật của một tác phẩm, một tác giả, thể loại, trào lưu Nếu nhìn vào mục đích nghiên cứu, nhiều người dễ nhầm thi pháp là ngành Lí luận văn học nhưng thực ra đó chỉ là một bộ phận của ngành lí luận văn học, bởi lí luận văn học nghiên cứu tất cả các quy luật chung của hiện tượng văn học còn thi pháp học chỉ nghiên cứu các nguyên tắc đặc thù tạo thành văn học như một nghệ thuật mà thôi, phạm vi của nó thường đóng khung trong việc nghiên cứu tác phẩm, thể loại, phong cách, ngôn ngữ
GS Trần Đình Sử đã đưa ra định nghĩa về thi pháp học như sau: “Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật, mọi quy tắc, phương tiện tạo thành nghệ thuật cũng như sự vận động, phát triển lịch sử của chúng” [29;tr 32] Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự cấu thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật” Từ những định nghĩa trên, ta có
Trang 168
thể hiểu thi pháp học là bộ môn khoa học đặc thù nghiên cứu thi pháp tức nghiên cứu các phương tiện nghệ thuật tạo nên tác phẩm nghệ thuật ngôn từ trong sự thống nhất toàn vẹn của nó
ỞViệt Nam, từ những năm 30 cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm
1945, thi pháp chỉ được nhắc đến lẻ tẻ trong một số công trình phê bình văn học
mà chưa phải là một phương pháp luận của một trào lưu, một xu hướng thẩm mỹ Cho tới trước năm 1986 thi pháp học hiện đại đã được đề cập nhưng chưa có điều kiện để tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống và hầu như không được sử dụng để nghiên cứu văn học Từ sau 1986, cùng với sự hồi sinh của nền văn học dưới ánh sáng dân chủ của tinh thần đổi mới trường phái lý thuyết văn học này được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Người đầu tiên xác lập được tư tưởng học thuật, đề xuất một cách đầy đủ nhất hệ thống luận điểm khoa học thi pháp học hiện đại là Trần Đình Sử
Chúng ta vẫn có thể nhận ra một phạm vi nhất định của bộ môn chuyên ngành này là nghiên cứu hình thức và ngôn ngữ của văn học Vậy chúng ta nên hiểu thi pháp như thế nào? Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học nói chung trong đó có thơ ca, văn xuôi… Thi pháp học còn có thể coi là khoa học nghiên cứu về cấu tạo của các tác phẩm văn học, các phương tiện nghệ thuật mà tác phẩm sử dụng Thi pháp học gồm thi pháphọc đại cương: nghiên cứu các phương tiện, các quy luật xây dựng bất cứ tác phẩm nào; thi pháp học miêu tả đi miêu tả đặc điểm của tác phẩm cụ thể của tác giả nào đó hoặc của
cả một thời kì, một giai đoạn văn học; còn thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự phát triển của các phương tiện nghệ thuật, các biểu hiện nghệ thuật
Các phương tiện nghệ thuật rất phong phú Đó là những nghệ thuật mà nhà văn, nhà thơ gửi gắm trong đứa con tinh thần của mình Các phương tiện nghệ thuật giúp làm nổi bật tư tưởng, tình cảm, ý tưởng của tác giả qua tác phẩm Thi pháp học rất phong phú, đa dạng.Thi pháp học lịch sử nghiên cứu
sự phát triển của các biện pháp nghệ thuật riêng lẻ nhưđịnh ngữ, ẩn dụ, hoán
dụ, vần,…; nghiên cứu các phạm trù thời gian nghệ thuật, không gian nghệ
Trang 179
thuật, cũng như cả hệ thống các thủ pháp hay phạm trù vốn có của những thời
các phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học, là lĩnh vực của lý luận văn học, thi pháp học nghiên cứu đặc trưng của các loại hình, thể loại văn học, các dòng và trào lưu, các phong cách, phương pháp, nghiên cứu quy luật liên hệ nội tại và tương quan các cấp độ của chỉnh thể nghệ thuật Bởi vì tất cả các phương tiện biểu hiện trong văn học suy đến cùng đều quy về ngôn ngữ, vì thế có thể định nghĩa thi pháp học như là khoa học nghiên cứu cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ.Mục đích của thi pháp học là chỉ ra và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản tham gia vào việc tạo thành ấn tượng thẩm mĩ của tác phẩm Cũng có thể coi thi pháp học là khoa học về mọi hình thức, mọi dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm văn học, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học Các tác phẩm văn học có giá trị chính là sự thành công của tác giả khi vận dụng thi pháp Vì vậy, ta có thể kết luận nhiệm vụ của thi pháp học rất nặng nề Nó đi nghiên cứu phương thức cấu tạo của tác phẩm văn học Còn đối tượng của thi pháp học là các
sáng tác văn học giàu nội dung, nghệ thuật.Trong cuốn Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2, Những công trình lý luận và phê bình văn học, Nguyễn Đăng Điệp
đưa ra ý kiến: “Thi pháp học nghiên cứu các thủ pháp, kỹ thuật văn học, nhưng nó không đơn giản là kỹ thuật học văn học Nó đi sâu vào hoạt động sáng tạo, tư duy nghệ thuật của chủ thể, cho nên có thể xem nó như một lĩnh vực gắn với mỹ học văn học, triết học nghệ thuật.” [10; tr 12]
Từ năm 1945 đến năm 1975, các nhà lí luận và sáng tác văn học cách mạng dường như chỉ quan tâm nội dung phản ánh hiện thực,ít đi sâu đến phương diện thi pháp, mặc dù đôi lúc có quan tâm đến phong cách, bút pháp sáng tác của nhà văn Những năm 1980 một số nhà nghiên cứu văn học như Phạm Vĩnh Cư, Duy Lập (Trường Viết Văn Nguyễn Du), Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân (NXB Tác phẩm Mới, Hội Nhà văn Việt Nam)…đã giới thiệu thi pháp học Liên Xô vào Việt Nam, dịch một số công trình của Bakhtin, Khrapchenco…
Trang 1810
trong đó có phần về thi pháp học Đồng thời, chuyên đề thi pháp học được Trần Đình Sử mở tại Đại học Sư phạm Hà Nội, một số cuộc Hội thảo chuyên đề về Thi Pháp học đã được tổ chức tại Hà Nội… Từ đó nhu cầu tìm hiểu thi pháp học trở nên sôi động trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học, nhiều người xem đó là cách để tạo nên sự đổi mới trong nghiên cứu, phê bình văn họcđược thành công
của Trần Đình Sử ở Thi pháp thơ Tố Hữu trên hai phương diện ứng dụng và
lý luận thi pháp học.Năm 1991, Nguyễn Lai, qua Sức mạnh lý giải của hệ thống qua công trình "Thi pháp thơ Tố Hữu" in trong sách Ngôn ngữ và sáng tạovăn học, đã nhận ra khả năng ứng dụng cao của thi pháp học trongnghiên
cứu văn học.TrầnĐình Sử đã kiểm định và khẳng định lý thuyết trên thông qua cơ sở thực tiễn văn học Việt Nam Ông đã chứng tỏ tính năng động, mềm
dẻo của ứng dụng thi pháp học thuộc lý thuyết tiếp nhậntrên nhiều cấp độ
(nghiên cứu tác phẩm, tác giả và giai đoạn văn học) qua hai công trình tiêu
biểu: Thi pháp thơ Tố Hữu (1985), Thi pháp Truyện Kiều (2001) Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử “là công trình có hệ thống đầu tiên tiếp cận văn
học Việt Nam từ thi pháp học”
Thi pháp học có thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm Trước hết, thi pháp tác giả là một trong những vấn đề không nên bỏ lỡ khi nghiên cứu một tác phẩm văn học Bởi tiếp xúc với văn bản nghệ thuật ngoài việc cảm nhận nội dung khách quan, chúng ta còn giao tiếp với tác giả, đồng cảm với tác giả Hình tượng tác giả đã đứng ra nói chuyện và giao tiếp với độc giả, vậy chúng
ta không nên đồng nhất giữa hai tác giả: tác giả tiểu sử và tác giả nghệ thuật Hình tượng tác giả có chân dung hành động, ngôn ngữ chứa đựng trong tác phẩm Đặc biệt có khi tác giả tự miêu tả mình Khi đọc văn, người đọc vẫn có
xu hướng đọc theo chỉ dẫn của tác giả, đọc thầm hay đọc thành tiếng theo giọng điệu của tác giả Cái nhìn và giọng điệu vô hình nhưng có thực, luôn luôn tồn tại và ổn định suốt theo tác phẩm Đó là yếu tố thi pháp quan trọng
có thể xác định được dù nó vô hình dạng
Trang 1911
Tiếp theo, thi pháp học hiện đại tiếp cận tác phẩm từ quan niệm mới về chỉnh thể nghệ thuật, tìm mọi cách khắc phục phép nhị nguyên, chia tách giả tạo nội dung và hình thức GS Trần Đình Sử - một trong những người đi đầu trong xu hướng nghiên cứu thi pháp tác phẩm ở Việt Nam thường bóc tách tác phẩm văn học theo ba cấp độ: chỉnh thể - văn bản hình tượng - văn bản ngôn
từ Trong đó, ở cấp độ chỉnh thể, tác phẩm được tiếp cận từ ba phạm trù “cái”: hình thức quan niệm, quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nghệ thuật “Hình thức quan niệm” là hình thức bên trong, loại hình thức thể hiện
“logic của hình thức” và tạo ra hình thức Cho nên, theo Trần Đình Sử, phải lấy “hình thức quan niệm” làm đối tượng chiếm lĩnh, thi pháp học mới có thể
“nghiên cứu hình thức nghệ thuật như những hiện tượng có quy luật” Quan niệm nghệ thuật về con người chủ yếu xác định bình diện “nội dung” như là đối tượng nghiên cứu của thi pháp học
1.1.2.2 So sánh thi pháp học cổ điển và thi pháp học hiện đại
Thi pháp học truyền thống được bắt đầu từ Aristote cho đến hết thế
kỷ XVIII, XIX Tinh thần của thi pháp học truyền thống là cái nhìn một chiều từ người sáng tác đến tác phẩm như: Cách thức viết, mô phỏng như thế nào, từ việc xác định dung lượng, kết cấu đến lựa chọn ngôn ngữ,nhân vật Nghĩa là, thi pháp học truyền thống coi sáng tác văn chươngnhưmột nghề, có thể dạy cho nhau được, có thể bắt chước được.Vì thế, thi pháp học truyền thống có những đặc trưng sau:Nhấn mạnh nghiên cứu thể loại, ngôn từ để chỉ đạo sáng tác, đềxuất các lời khuyên (ở Trung Quốc, Việt Nam quan niệm "thi
dĩ ngônchí", "văn dĩ tải đạo", "thuật nhi bất tác" là thể hiện đặc trưng này).Được xem là hiện tượng bất biến và cấu trúc văn học được xéttheo nguyên tắc nguyên tử luận - nghệ thuật do các yếu tố nhỏ nhất liênkết với nhau mà thành, tác phẩm là tổng cộng các yếu tố riêng lẻ.Nguyên tắc thi pháp được hiểu thành những quy phạm, giáo điều.Vì đặc trưng thi pháp là tính qui phạm, giáo huấn, và dù làm nênsự phong phú uyên bác nhất định, nhưng thi
Trang 20Văn học được xem như một sáng tác tạo bằng chất liệu, có đời sống lịch sử độc lập với tác giả.Văn học là một hệ thống ký hiệu, có bản chất biểu tượng, được tổchức một cách đặc biệt để biểu hiện một nội dung nghệ thuật đặc thù.Trần Đình Sử chọn thi pháp học hiện đại để dịch, nghiên cứu và ứng dụng vào nghiên cứu văn học đã đáp ứng đòi hỏi bức thiết từ yêu cầu của đời sống nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam Và những thành quả mà Trần Đình Sử đã cống hiến cho nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam cũng chính là từ hai bình diện của thi pháp học hiện đại là
lý luận và ứng dụng trong nghiên cứu Vì thế, cùng với các xu hướng nghiên cứu khác, thi pháp học hiệnđại đang gánh trên vai trọng trách, sứ mạng đổi mới và phát triển lĩnhvực nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam
Có sự khác biệt giữa thi pháp học cổ điển và thi pháp học hiện đại Nếu thi pháp học truyền thống xuất phát từ đối tượng, từ chân lý tự nhiên khi bàn
về nghệ thuật thì thi pháp học hiện đại xuất phát từ bản chất sáng tạo của chủ thể Khác với thi pháp học cổ điển coi trọng tính quy phạm, thi pháp học hiện đại đi sâu vào khảo sát những đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm Tinh thần chủ đạo của phương pháp nghiên cứu thi pháp học hiện đại là hướng tới cách tiếp cận nội quan, tức là nghiên cứu văn học từ bản thân văn học, quan tâm đến tính văn học, tính nghệ thuật của văn bản văn học, coi tác phẩm như một chỉnh thể, như một hệ thống Thi pháp học truyền thống thườngcó những qui định ngặt nghèo về sáng tạo nghệ thuật buộc nhà văn phải tuân theo thì thi pháp học hiện đại là khoa học đúc kết bản chất và quy luật nghệ thuật từ trong
Trang 2113
bản thân các sáng tạo nghệ thuật Nếu thi pháp học truyền thống xem nghệ thuật như là những nguyên lí nghìn năm bất biến thì thi pháp học hiện đại xem nghệ thuật là sản phẩm của lịch sử, cùng vận động và phát triển theo thời gian Nếu thi pháp học truyền thống chỉ quan tâm tới các quy tắc sáng tác thì thi pháp học hiện đại còn quan tâm tới cách đọc, cách giải mã văn bản
1.1.3 Những bình diện cơ bản của thi pháp học hiện đại
Dạy học một tác phẩm văn học theo hướng thi pháp cần chú ý các bình diện sau:
1.1.3.1 Thi pháp tác giả: là đặc trưng nghệ thuật nổi bật của tác giả
1.1.3.1.1 Hình tượng tác giả trong bài thơ trữ tình
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn
Khắc Phi), hình tượng tác giả được xem là “phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm” [14;
tr 149] Hình tượng tác giả vừa cho thấy vị trí số phận nhà văn vừa mang đậm
cá tính tác giả tức phong cách Đặc biệt, các nhà nghiên cứu nêu lên cơ sở tâm
lý hình tượng tác giả, cơ sở nghệ thuật của nó và tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật
Mỗi người trên cơ sở quan điểm của mình đưa ra một cách hiểu về hình tượng tác giả Nó cho thấy vấn đề hình tượng tác giả còn nhiều điều cần làm
rõ Nếu các hình tượng nghệ thuật khác như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, nhân vật… giúp chúng ta chiếm lĩnh thế giới hiện thực trong tác phẩm thì hình tượng tác giả cho ta hiểu về chủ thể sáng tạo của nó, phong cách tác giả Cho nên, hình tượng tác giả phức tạp hơn các hình tượng nghệ thuật khác Nó ẩn trong mọi hình thức nghệ thuật Nghiên cứu không - thời gian, nhân vật… thực chất là nghiên cứu hình tượng tác giả gián tiếp
Có người hiểu quá hẹp, có người mở rộng phạm vi hình tượng tác giả ở mọi thành tố cấu tạo tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong lập trường đời sống, đến giọng điệu lời văn - cả giọng điệu người trần thuật và giọng điệu nhân vật Thi pháp học nghiên cứu hình tượng
Trang 2214
tác giả như các hình tượng nghệ thuật khác “là một hình tượng của tác giả được sáng tạo ra trong tác phẩm như là các nhân vật khác, sáng tạo ấy hoàn toàn không theo ý muốn chủ quan của cá nhân” Hình tượng ấy được thể hiện như thế nào trong tác phẩm và vì sao được thể hiện ra như vậy? Trong trường hợp này, hình tượng tác giả không dung nạp tác giả với nghĩa chủ thể sáng tạo tác phẩm vốn được mặc nhiên thừa nhận
Văn hào Gớt nhận xét rằng mỗi nhà văn bất kể muốn hay khôngmuốn đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt - đặc biệt nên cuốn hút, thú vị; đặc biệt nên khó phát hiện; đặc biệt nên không thể lẫn lộn vào đâu được Hình tượng tác giả có ý nghĩa rất lớn làm nên tính cá thể của sáng tạo văn chương Nó làm cho đời sống văn chương như khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ Cần phải đề cao hình tượng tác giả khi sáng tác cũng như nghiên cứu văn học nghệ thuật
Hình tượng tác giả có thể thấy trực tiếp hoặc gián tiếp qua nhân vật trữ tình Đó là người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và cảm xúc trong thơ Nhân vật trữ tình không có diện mạo, tiểu sử, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể nhưng được thể hiện qua giọng điệu, cảm xúc, cách cảm, cách nghĩ
Khi tiếp xúc văn bản trữ tình, đầu tiên ta phải xác định nhân vật trữ tình
là ai, để có thể hình dung tư thế, nỗi niềm, tâm trạng của họ một cách phù hợp Nhân vật trữ tình thường là hiện thân của tác giả Qua những hình ảnh, những chi tiết trong bài thơ ta có thể biết những chi tiết thoáng qua về lịch sử của họ: quê hương, kỉ niệm tuổi thơ, đường đời, sự từng trải, suy nghĩ, tài năng, khát vọng Thơ trữ tình luôn cho thấy một con người cụ thể, sống động,
có cá tính, có quan niệm và những nỗi niềm riêng Thơ trữ tình bao giờ cũng mang lại sự thật về đời sống tâm hồn của những cá nhân trong các tình huống đời sống và xung đột xã hội cụ thể Cảm xúc trong thơ trữ tình thường hướng tới cái gì lớn lao, cao cả tức là đã tự nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ cho một loại người, một thế hệ, một thời đại Vì thế,
Trang 23Phong cách văn học (hay phong cách nghệ thuật) nảy sinh do chính nhu cầu của cuộc sống, bởi vì cuộc sống luôn đòi hỏi sự xuất hiện những nhân tố mới mẻ, những cái không lặp lại bao giờ; và nó cũng nảy sinh từ nhu cầu của quá trình sáng tạo văn học, vì đó là một yếu tố quan trọng tạo nên tính hấp dẫn, sức sống của tác phẩm Phong cách là những nét riêng biệt, độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, những nét độc đáo ấy thể hiện trong tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của từng tác phẩm cụ thể Nói cách khác, phong cách là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo, vì thế Buy-phông viết: “Phong cách chính là người” Trong tác phẩm của Sếch-xpia “mỗi một ưu điểm nhỏ nhất cũng in dấu ấn riêng, dấu ấn đó có thể lập tức nói với toàn thế giới rằng: Tôi là Sếch-xpia” (Lét-xinh) Chẳng thế mà trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh – Hoài Chân cũng khẳng định phong cách riêng biệt của các nhà Thơ mới: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng
đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên
Trang 24Ý, người Pháp, người Anh hay người Tây Ban Nha một cách dễ dàng” Trong mỗi thời đại nhất định, trong sáng tác của nhiều khuynh hướng văn học khác nhau có thể có những nét chung nào đó về tư duy nghệ thuật và kĩ thuật biểu hiện Dù mỗi người có một “gương mặt” riêng, nhưng các nhà văn của Tự lực văn đoàn và các nhà thơ của phong trào Thơ mới đều góp phần tạo nên diện mạo chung của văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945
Phong cách biểu hiện trước hết ở cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá, ở giọng điệu riêng biệt của tác giả Sự sáng tạo các yếu tố thuộc nội dung tác phẩm cũng in đậm dấu ấn riêng của tác giả, từ việc lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, thể hiện hình ảnh, nhân vật cho đến xác lập tứ thơ, triển khai cốt truyện Thạch Lam hướng ngòi bút tới cuộc sống và tâm hồn những con người “nhỏ bé”, Vũ Trọng Phụng chú ý tới những góc khuất, những nơi tăm tối của xã hội trước Cách mạng.Hệ thống phương thức biểu hiện, các thủ pháp kĩ thuật lưu lại đậm đặc cá tính sáng tạo của tác giả, từ việc sử dụng ngôn ngữ, tổ chức kết cấu, định vị thể loại cho đến cách kể chuyện, miêu tả ngoại hình, bộc lộ nội tâm Phong cách học là cái thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác Cái độc đáo, vẻ riêng phải xuất hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tính chất bền vững, nhất quán Thống nhất từ cốt lõi, nhưng triển khai đa dạng, đổi mớivà phải có phẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là nó phải đem lại cho người đọc một hưởng thụ mĩ cảm dồi dào qua những tác phẩm giàu tính nghệ thuật, hay, sinh động, hấp dẫn