ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- NGUYỄN THU PHƯƠNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN LUẬ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THU PHƯƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THU PHƯƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ VŨ HÀ
Hà Nội – 2016
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined DANH MỤC BẢNG Error! Bookmark not defined DANH MỤC HÌNH Error! Bookmark not defined
LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 5 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về nâng cao năng suất lao động 5
1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao năng suất lao động Error! Bookmark not defined 1.2.1 Các khái niệm Error! Bookmark not defined 1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao năng suất lao động trên thế giới Error!
Bookmark not defined
1.2.3 Các mô hình quản trị nâng cao NSLĐ Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU Error!
Bookmark not defined
2.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận Error! Bookmark not defined 2.1.1 Phương pháp luận Error! Bookmark not defined 2.1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2.1 Phương pháp thống kê Error! Bookmark not defined 2.2.2 Phương pháp so sánh Error! Bookmark not defined 2.2.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp Error! Bookmark not defined 2.2.4 Phương pháp kế thừa Error! Bookmark not defined 2.3 Nguồn số liệu Error! Bookmark not defined 2.4 Thiết kế nội dung nghiên cứu Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN Error! Bookmark not defined 3.1 Tổng quan về năng suất lao động của Việt NamError! Bookmark not defined
Trang 43.1.1 Năng suất lao động chia theo các ngành kinh tếError! Bookmark not
defined
3.1.2 Năng suất lao động chia theo thành phần kinh tếError! Bookmark not
defined
3.1.3 Năng suất lao động khu vực doanh nghiệpError! Bookmark not defined
3.1.4 Năng suất lao động tính theo số giờ làm việcError! Bookmark not defined
3.2 Thực trạng năng suất lao động của VN so sánh với các quốc gia ASEAN
Error! Bookmark not defined
3.2.1 Khoảng cách tương đối về NSLĐ của Việt Nam so với các quốc gia
ASEAN Error! Bookmark not defined
3.2.2 Khoảng cách tuyệt đối về NSLĐ của Việt Nam so với các quốc gia
ASEAN Error! Bookmark not defined
3.2.3 Số giờ làm việc trung bình của lao động Việt Nam so với các quốc gia
ASEAN Error! Bookmark not defined
3.2.4 Tỷ trọng lao động và NSLĐ của Việt Nam trong các ngành kinh tế so với
các quốc gia ASEAN Error! Bookmark not defined 3.3 Đánh giá chung Error! Bookmark not defined 3.3.1 Điểm mạnh Error! Bookmark not defined 3.3.2 Điểm yếu Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA
VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEANError! Bookmark not defined
4.1 Cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam khi tham gia cộng đồng kinh tế
ASEAN Error! Bookmark not defined 4.1.1 Cơ hội Error! Bookmark not defined 4.1.2 Thách thức Error! Bookmark not defined 4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ của Việt NamError! Bookmark not defined
Trang 54.2.1 Các nhân tố từ cơ cấu và trình độ phát triển của nền kinh tế Error!
Bookmark not defined
4.2.2 Các nhân tố về thể chế kinh tế và trình độ quản lýError! Bookmark not
defined
4.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng ở mức độ doanh nghiệpError! Bookmark not
defined
4.3 Giải pháp nâng cao năng suất lao động của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế
ASEAN Error! Bookmark not defined 4.3.1 Chương trình và chính sách của chính phủ Việt NamError! Bookmark
not defined
4.3.2 Định hướng nâng cao NSLĐ của các doanh nghiệp Việt Nam Error!
Bookmark not defined
4.3.3 Trang bị và học hỏi của người lao động Việt NamError! Bookmark not
defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
Trang 61
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã hội nhập trong khu vực và quốc tế cả
về chiều sâu và chiều rộng, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Mốc đánh dấu quan trọng là Việt Nam gia nhập ASEAN vào tháng 7-1995, Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1998 và Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 Đồng nghĩa với việc gia nhập vào các tổ chức, Việt Nam đã ký chính thức các Hiệp định thương mại tự do (FTA) Đặc biệt, cuối năm 2015, Việt Nam cùng các nước Brunei, Cam-pu-chia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan tham gia chính thức gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
Trong khu vực Đông Nam Á, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thành lập ngày 31-12-2015, đây là sự kiện bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện của các nền kinh tế trong khu vực Cộng đồng kinh tế ASEAN bao gồm
10 quốc gia với dân số hơn 620 triệu người, trong đó có 300 triệu người tham gia lực lượng lao động Theo báo cáo của tổ chức Lao động Quốc tế ILO, ba quốc gia chiếm tỷ trọng hơn 70% là Indonesia (40%), Philippine (16%) và Việt Nam (15%) Theo định hướng, AEC sẽ là một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh tranh cao, trong đó, hàng hóa, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển thông thoáng, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói và phân hóa kinh tế-xã hội giảm bớt Theo dự kiến thì sẽ có 8 ngành nghề lao động trong các nước ASEAN được tự do di chuyển thông qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương gồm: kế toán, kiến trúc sư, nha sỹ, bác sỹ, kỹ sư, y tá, điều dưỡng, điều tra viên và nhân viên ngành du lịch Ngoài ra, nhân lực chất lượng cao (các chuyên gia, thợ lành nghề), trong đó có nhân lực được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ được di chuyển tự do hơn Như vậy, AEC được thành lập nhằm tạo dựng một thị trường thống nhất cho các quốc gia thành viên ASEAN, thúc
đẩy dòng lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động
Trang 72
Năng suất lao động (NSLĐ) là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh, ngoài ra, đó còn là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, đo lường hiệu quả
sử dụng lao động của nền kinh tế, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra với lao động để sản xuất ra nó Tăng NSLĐ có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia, là cơ sở quan trọng trong các quyết định ở tầm vi mô và vĩ mô
Trong thời gian vừa qua, vấn đề NSLĐ của Việt Nam đã được Chính phủ và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, do đây là yếu tố tác động quan trọng tới năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế cũng như tăng mức sống của người dân và đó cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá trình độ phát triển của nền kinh tế Trong gần 10 năm qua, đặc biệt từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 đến nay, NSLĐ của Việt Nam tăng tiên tục và đã có bước thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực Tuy vậy, Theo
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), NSLĐ của Việt Nam vẫn thuộc nhóm thấp nhất châu Á - Thái Bình Dương và đang giảm dần Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013, NSLĐ của Việt Nam chỉ bằng hai phần năm của Thái Lan, một phần năm của Malaysia một phần mười của Hàn Quốc, một phần mười một của Nhật Bản và một phần mười lăm của Singapore
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu đề tài “ Phân tích thực trạng và
giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN ” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận văn là phân tích thực trạng NSLĐ và các nhân
tố ảnh hưởng đến NSLĐ của Việt Nam trong điều kiện gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN nhằm tìm các giải pháp tối ưu để nâng cao NSLĐ của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN trong thời gian tới
Mục tiêu cụ thể của luận văn là:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về NSLĐ và thực tiễn về
NSLĐ của khu vực ASEAN cũng như trên thế giới
Trang 83
Thứ hai, phân tích thực trạng NSLĐ của Việt Nam cùng những đánh giá về
kết quả, hạn chế của NSLĐ tại Việt Nam giai đoạn 2007 trở lại đây
Thứ ba, từ những phân tích, đánh giá thu được, đưa các một số gợi ý về giải
pháp nâng cao NSLĐ của người Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Thực trạng NSLĐ của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Câu hỏi 2: NSLĐ của Việt Nam hiện nay được đánh giá như thế nào so với
các nước trong cộng đồng kinh tế ASEAN
Câu hỏi 3: Các giải pháp để nâng cao NSLĐ Việt Nam trong cộng đồng kinh
tế ASEAN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu
Về mặt lý luận : đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận về
NSLĐ, các yếu tố góp phần nâng cao NSLĐ cũng như tác động của hội nhập đến nâng cao NSLĐ
Về mặt thực tiễn: đối tượng nghiên cứu gồm nghiên cứu thực trạng NSLĐ của
Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN; ảnh hưởng của việc gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN đến nâng cao NSLĐ của Việt Nam; đồng thời so sánh NSLĐ của Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm và
đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất nhằm nâng cao NSLĐ của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung : đề tài tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới NSLĐ, đồng
thời đánh giá thực trạng NSLĐ của Việt Nam và tìm các giải pháp tối ưu để nâng cao NSLĐ của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN trong thời gian tới
Thời gian : đề tài tập trung nghiên cứu về NSLĐ Việt Nam sau khi gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới năm 2007 trở lại đây
Không gian : nghiên cứu về NSLĐ tại Việt Nam và một số nước ASEAN
Trang 94
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu thực hiện theo phương pháp định tính như : phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá Trong quá trình nghiên cứu có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến nội dung nghiên cứu, cũng như sử dụng các số liệu tham khảo từ các cơ quan hữu quan và các số liệu từ tài liệu trong nước và ngoài nước
Loại dữ liệu:
Dữ liệu phân tích là định tính bao gồm: các vấn đề lý thuyết về NSLĐ, nâng cao NSLĐ, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến nâng cao NSLĐ, đặc biệt là các quốc gia thành viên ASEAN
Các số liệu thu thập bao gồm: số lượng lao động của Việt Nam, NSLĐ của Việt Nam và các thành viên trong cộng đồng kinh tế ASEAN
Nguồn dữ liệu:
- Thu thập các tài liệu tham khảo và chuyên khảo về NSLĐ, hiện trạng và các giải pháp nhằm nâng cao NSLĐ của Việt Nam
- Thu thập các số liệu về NSLĐ của Việt Nam, NSLĐ của các nước trong cộng đồng kinh tế ASEAN thông qua các nguồn như : diễn đàn kinh tế,
Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, tổ chức ILO Châu Á, viện Năng suất Việt Nam, tổng cục thống kê…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chương
Cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về tình hình nghiên cứu nâng
cao NSLĐ
Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu
Chương 3: Nghiên cứu thực trạng năng suất lao động của Việt Nam trong cộng
đồng kinh tế ASEAN
Chương 4: Các giải pháp nâng cao NSLĐ của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế
ASEAN
Trang 105
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về nâng cao năng suất lao động
Vấn đề nâng cao NSLĐ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, đầu tiên phải
kể đến thuyết Quản lý theo khoa học mà đại biểu nổi tiếng nhất và là người khai sinh ra học thuyết này là Frederick Winslow Taylor Trong cuốn “Các nguyên tắc
quản trị một cách khoa học”, 1911, ông đã định nghĩa công việc là sự phối hợp của
các nhiệm vụ nhằm đem lại hiệu suất tối ưu với các nhân viên hoạt động theo dây chuyền sản xuất Ông cho rằng con người làm việc chỉ vì mục đích lợi ích kinh
tế nên thường lười biếng Do vậy cần cho họ vào khuôn phép của kỷ luật và thúc
ép họ làm việc bằng cơ chế thưởng phạt Thuyết Quản lý theo khoa học của Taylor không chỉ là một tập hợp các nguyên tắc và biện pháp kỹ thuật thuần túy, mà là sự hợp tác, hài hòa những mối quan hệ cơ bản giữa con người với máy móc, kỹ thuật; giữa người với người trong quá trình sản xuất, đặc biệt giữa người quản lý và người lao động Nhờ áp dụng thuyết này tại các xí nghiệp công nghiệp ở Mỹ thời
kì đó, năng suất lao động đã tăng vượt bậc, giá thành hạ, kết quả cuối cùng là lợi nhuận cao, cả chủ và thợ đều có thu nhập cao Thuyết Quản lý theo khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp doanh nghiệp với tầm vi mô Tuy nhiên,
nó đã đặt nền móng rất cơ bản cho lý thuyết quản lý nói chung, đặc biệt về phương pháp làm việc tối ưu có hiệu quả cao hơn, tạo động lực trực tiếp cho người lao động và việc phân cấp quản lý Từ tinh thần cốt lõi đó, đã tạo ra một phong trào quản lý theo khoa học với “Hiệp hội Taylor” thu hút nhiều nhà quản lý tài năng,
góp phần hoàn thiện và phát triển lý thuyết này
Tuy nhiên, mặt hạn chế của thuyết này là sự hiểu biết phiến diện và máy móc về con người, nhiều nhà phê bình cho rằng nói chung thuyết Quản lý theo khoa học của Taylor chỉ chú ý đến khía cạnh kỹ thuật, thiếu tính nhân bản vì với định mức lao động thường rất cao, đòi hỏi công nhân phải làm việc cật lực Hơn nữa, phân công lao động và chuyên môn hóa quá chi tiết tuy có làm NSLĐ tăng
Trang 116
lên nhưng khiến con người như một cái đinh ốc trong cỗ máy gắn chặt với dây chuyền sản xuất, bị méo mó về tâm, sinh lý Để thực hiện các thao tác quá đơn giản trong suốt cuộc đời lao động, những người thợ không cần phải được đào tạo phát triển nâng cao trình độ, cũng có nghĩa là không có cơ hội thăng tiến và nhận được thu nhập cao hơn Cũng có ý kiến cho rằng tư tưởng của Taylor là sản phẩm của thời đại ông sống cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi xã hội Mỹ đang muốn tìm cách tăng NSLĐ của công nhân bằng các tiến bộ kỹ thuật, khi chưa có những nghiên cứu về tâm lý học, xã hội học để hiểu sâu sắc hơn bản chất con người như sau này
Trong thời điểm thuyết quản lý theo khoa học bộc lộ những hạn chế nhất định thì trường phái Quan hệ con người ra đời đã góp phần khắc phục những hạn chế của thuyết Quản lý theo khoa học Người khởi xướng học thuyết này là Hugo Munsterberg với tác phẩm “Tâm lý học và hiệu quả trong công nghiệp” xuất bản năm 1913; cùng với Elton Mayo với tác phẩm “Những vấn đề xã hội của nền văn minh công nghiệp”, năm 1933, tác giả Mary Parker Follet với tác phẩm “Nhà nước mới”, năm 1920 và một số nghiên cứu khác của các học giả này Trong các cuộc nghiên cứu liên tục, Elton Mayo lần lượt phát hiện ra: ánh sáng không gây ảnh hưởng đến NSLĐ của công nhân; các điều kiện làm việc cũng không có hoặc ít có quan hệ với năng suất; tiền lương và tiền thưởng cũng không tạo ra tác động nào đáng kể trong NSLĐ của tập thể Trái lại, những yếu tố chủ yếu có can dự đến
năng suất lại là những yếu tố phi vật chất Ông rút ra một số kết luận: Thứ nhất, tâm lý và hành vi của con người có quan hệ rất chặt chẽ với nhau; Thứ hai, khi con
người làm việc trong nhóm, thì nhóm có ảnh hưởng lớn đến hành vi của cá nhân;
Thứ ba, với tư cách thành viên của một nhóm, công nhân có xu hướng tuân theo
các quy định của nhóm, kể cả những quy định không chính thức, hơn là chịu sự tác động của các yếu tố kích thích bên ngoài Những khám phá này đưa đến nhận thức mới về yếu tố con người trong quản lý Mặc dù bị nhiều chỉ trích về tính khoa học của các phương pháp được áp dụng, công trình của Mayo đã mở ra một kỷ nguyên mới cho quản lý học, được gọi là “phong trào quan hệ con người”, đối nghịch lại