Tuy nhiên, sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang hoa với mức thâm canh cao đã làm phát sinh những vấn đề môi trường do sử dụng phân bón hóa học, chất kích thích sinh trưởng, hoá ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
_
NGUYỄN HOÀNG LINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG CHUYÊN CANH HOA ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT
VÙNG VEN ĐÔ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
_
NGUYỄN HOÀNG LINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG CHUYÊN CANH HOA ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT
VÙNG VEN ĐÔ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Môi trường đất và nước
Mã số : 62440303
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Lê Văn Thiện
2 PGS.TS Ngô Thị Tường Châu
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Văn Thiện và PGS.TS Ngô Thị Tường Châu đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai thực hiện và hoàn thành luận án này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Môi trường, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn hỗ trợ, ủng hộ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi để thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Địa chất Khoáng sản Việt Nam; Trung tâm Sinh học Thực nghiệm, Viện ứng dụng công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ; Viện Công nghệ Sinh học, Đại học Huế đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho tôi thực hiện các công tác nghiên cứu để hoàn thành Luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, các cán bộ đồng nghiệp, bạn bè đã luôn ủng hộ và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện Luận án
Tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn đối với cha, mẹ, vợ con và các thành viên trong gia đình đã động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện và hoàn thành tốt nhất bản Luận án này
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1.TỔNG QUAN 106
1.1.Đất canh tác và nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng đất 106
1.1.1.Đất canh tác 106
1.1.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng đất 106
1.1.2.1 Một số chỉ tiêu lý hóa học 106
1.1.2.2 Một số chỉ tiêu sinh học đất 108
1.2 Ảnh hưởng của hoạt động canh tác nông nghiệp tới chất lượng đất 109 1.2.1 Ảnh hưởng của quá trình canh tác tới chất hữu cơ trong đất 109 1.2.2 Ảnh hưởng của bón phân tới hàm lượng các nguyên tố trong đất 110 1.2.3 Ảnh hưởng của nước tưới tới hàm lượng các nguyên tố trong đất 112
1.2.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất đến tính chất hóa lý của đất 114 1.2.5 Ảnh hưởng của tàn dư thực vật tới chất lượng đất 116
1.2.6 Ảnh hưởng khi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đến hệ sinh vật đất 117
1.2.6.1 Ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong đất canh tác 117
1.2.6.2 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến hệ sinh vật đất 118
1.2.7 Ảnh hưởng của nước tưới và bón phân đến hệ sinh vật đất 120
1.2.7.1 Ảnh hưởng của nước tưới 120
1.2.7.2 Ảnh hưởng của phân bón 120 1.2.7.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm vi sinh vật vào đất 122
Trang 61.3 Kỹ thuật điện di gel biến tính trong nghiên cứu sự biến động
thành phần loài của hệ vi sinh vật đất 126
1.3.1 Phương pháp “dấu vân tay” phân tích quần xã vi sinh vật đất 126
1.3.2 Kỹ thuật phân tích DGGE 127
1.4 Đặc điểm sinh thái và kỹ thuật canh tác một số giống hoa chính 128
1.4.1 Cây hoa hồng 128
1.4.2 Cây hoa cúc 129
1.4.3 Cây hoa đồng tiền 130
1.5 Ảnh hưởng của chuyên canh hoa tới chất lượng đất 132
1.5.1 Ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật do chuyên canh hoa 132
1.5.2 Làm suy giảm hệ sinh vật đất 133
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUError! Bookmark not defined.
2.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.2 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.4 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.4.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu, số liệuError! Bookmark not defined.
2.4.2 Nhóm phương pháp phân tích KLN và hóa chất BVTVError! Bookmark not defined.
2.4.2.1 Phương pháp ICP-OES Error! Bookmark not defined.
2.4.2.2 Các phương pháp sắc ký Error! Bookmark not defined.
2.4.3 Nhóm các phương pháp nghiên cứu sinh họcError! Bookmark not defined.
2.4.3.1 Phương pháp đánh giá biến động về thành phần vi sinh vật
trong đất bằng kỹ thuật DGGE Error! Bookmark not defined.
2.4.3.2 Phương pháp đánh giá biến động động vật chân khớp bé
Collembola Error! Bookmark not defined.
2.5 Địa điểm và vị trí lấy mẫu nghiên cứuError! Bookmark not defined.
2.5.1 Lấy mẫu đất và mẫu nước Error! Bookmark not defined.
2.5.1.2 Vị trí lấy mẫu đất và mẫu nước vùng trồng hoa ở Mê LinhError! Bookmark not defined 2.5.3 Lấy mẫu đất xác định động vật chân khớp bé CollembolaError! Bookmark not defined.
Trang 72.5.4 Lấy mẫu đất xác định vi sinh vậtError! Bookmark not defined.
2.6 Thực nghiệm Error! Bookmark not defined.
2.6.1 Xác định kim loại nặng trong các mẫu nghiên cứuError! Bookmark not defined.
2.6.2 Xác định hóa chất bảo vệ thực vật trong các mẫu nghiên cứuError! Bookmark not defined 2.6.3 Xác định Collembola trong các mẫu nghiên cứuError! Bookmark not defined.
2.6.4 Xác định thành phần vi sinh vật đất bằng kỹ thuật DGGEError! Bookmark not defined.
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬNError! Bookmark not defined.
3.1 Đặc điểm đất, nước và cơ cấu cây trồng khu vực nghiên cứuError! Bookmark not defined.
3.1.1 Đặc điểm đất, nước tưới và cơ cấu cây trồng ở Tây TựuError! Bookmark not defined.
3.1.1.1 Đặc điểm đất, nguồn nước tướiError! Bookmark not defined.
3.1.1.2 Cơ cấu cây trồng Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Đặc điểm đất, nước tưới và cơ cấu cây trồng ở Mê LinhError! Bookmark not defined.
3.1.2.1 Đặc điểm đất, nước tưới Error! Bookmark not defined.
3.1.2.2 Cơ cấu cây trồng Error! Bookmark not defined.
3.2 Kỹ thuật canh tác, phân bón và chăm sóc cây hoa tại vùng chuyên canh
hoa phường Tây Tựu và xã Mê Linh, thành phố Hà NộiError! Bookmark not defined.
3.2.1 Cây hoa hồng Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Cây hoa cúc Error! Bookmark not defined.
3.2.3 Cây hoa đồng tiền Error! Bookmark not defined.
3.3 Kim loại nặng trong nước tưới vùng chuyên canhError! Bookmark not defined.
3.3.1 Nước tưới trồng hoa ở Tây Tựu Error! Bookmark not defined.
3.3.2 Nước tưới trồng hoa ở Mê Linh Error! Bookmark not defined.
3.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân
bón đến một số tính chất đất ở Tây Tựu và Mê LinhError! Bookmark not defined.
3.4.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vậtError! Bookmark not defined.
3.4.1.1 Mức độ sử dụng hóa chất bảo vệ thực vậtError! Bookmark not defined.
3.4.1.2 Ảnh hưởng c ủa hóa chất BVTV đối với đất chuyên canh hoaError! Bookmark not defined.
3.4.2 Ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón đến chất lượng đất
chuyên canh hoa ở Tây Tựu và Mê LinhError! Bookmark not defined.
3.4.2.1 Sử dụng phân bón trong trồng hoa ở vùng nghiên cứuError! Bookmark not defined.
Trang 83.4.2.2 Hàm lượng kim loại nặng trong một số loại phân bón sử dụng
để trồng hoa ở Tây Tựu và Mê Linh Error! Bookmark not defined.
3.4.3 Hàm lượng kim loại nặng trong phế thải của cây hoa đồng tiền,
cây hoa cúc, lá cây hoa hồng Error! Bookmark not defined.
3.5 Tồn lưu kim loại nặng trong đất chuyên canh hoa ở Tây Tựu và
Mê Linh Error! Bookmark not defined.
3.5.1 Tồn lưu kim loại nặng trong đất chuyên canh hoa ở Tây TựuError! Bookmark not defined 3.5.2 Tồn lưu kim loại nặng trong đất chuyên canh hoa ở Mê LinhError! Bookmark not defined 3.6.1 Ảnh hưởng quần xã động vật chân khớp bé Collembola Error! Bookmark not defined.
3.6.1.1 Thành phần loài và phân bố của động vật chân khớp bé
Collembola Error! Bookmark not defined.
3.6.1.2 Số loài động vật chân khớp bé Collembola Error! Bookmark not defined.
3.6.1.3 Số cá thể động vật chân khớp bé Collembola Error! Bookmark not defined.
3.6.1.4 Chỉ số đa dạng H‟ và chỉ số đồng đều J‟Error! Bookmark not defined.
3.6.1.5 Các loài Collembola ưu thế Error! Bookmark not defined.
3.7 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
đất khu vực nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3.7.1 Nhóm giải pháp về tổ chức Error! Bookmark not defined.
3.7.2 Nhóm giải pháp về kỹ thuật Error! Bookmark not defined.
3.7.3 Nhóm giải pháp về chính sách Error! Bookmark not defined.
3.7.4 Nhóm giải pháp giáo dục và tuyên truyềnError! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIA
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁNError! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BHC, HCB : Hexaclobenzen
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
CEC : Dung tích trao đổi cation (Cation Exchange Capacity) DAP : Phân bón Diamon phốt phát
DDD : Diclo Diphenyl Dicloetan
DDE : Diclo Diphenyl Dicloetylen
DDT : Diclo Diphenyl Tricloetan
DGGE : Điện di trên gel biến tính
(Denaturing Gradient Gel Electrophoresis)
GC/ECD : Phương pháp sắc ký khí detectơ cộng kết điện tử
HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật
HCH : Hexaclocyclohexan
HPLC/DAD : Sắc ký lỏng hiệu năng cao detectơ diod array
HPLC/DAD-UV: Sắc ký lỏng hiệu năng cao detectơ diod Array - tử ngoại
Trang 10MAP : Phân bón MonoAmon Phốt phát
MĐC : Mẫu đất đối chứng
MSD-SIM : Detectơ khối phổ chọn lọc ion
n : Tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay địa điểm
N : Tổng số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
na : Số lượng cá thể của loài a
Ni : Số lượng cá thể của loài i
NPK : Phân bón chứa nitơ, photpho, kali
PCBs : Policlobiphenyl
POP : Chất ô nhiễm hữu cơ bền
QCVN : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
SOM : Chất hữu cơ của đất
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TSP : Triple Super phốt phát
US EPA : Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ
2,4-D : 2,4-Diclophenoxyaxetic axít
2,4,5-T : 2,4,5-Triclophenoxyaxetic axít
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Xếp loại phản ứng của đất (pHH2O) 106
Bảng 1.2 Giá trị CEC của các loại đất được xác định ở pH = 8,2 107
Bảng 1.3 Thang đánh giá hàm lượng phốt pho dễ tiêu trong đất theo các phương
pháp chiết tách khác nhau [87] 108
Bảng 1.4 Hàm lượng Cd trong các mẫu phân lân sử dụngở một số quốc gia trên thế
giới 112
Bảng 1.5 Hàm lượng KLN trong đất trồng rau ở Vân Nội (Hà Nội) 113
Bảng 2.1 Ký hiệu mẫu đất và nước nghiên cứu lấy ở Tây TựuError! Bookmark not defined
Bảng 2.2 Ký hiệu mẫu đất và nước nghiên cứu lấy ở Mê LinhError! Bookmark not defined
Bảng 2.3 Ký hiệu các mẫu đất lấy nghiên cứu xác định động vật chân khớp bé
Collembola Error! Bookmark not defined
Bảng 2.4 Thông tin mẫu đất lấy xác định vi sinh vật đấtError! Bookmark not defined
Bảng 3.1 Chế độ bón phân vô cơ cho 1.000 m2 đất trong 1 năm đối với cây hoa
hồng trồng mới Error! Bookmark not defined
Bảng 3.2 Giá trị trung bình hàm lượng của một số KLN trong nước tưới trồng hoa
lấy tháng 7 hàng năm ở Tây Tựu Error! Bookmark not defined
Bảng 3.3 Giá trị trung bình hàm lượng của một số KLN trong nước tưới trồng hoa
lấy tháng 5 hàng năm ở Tây Tựu Error! Bookmark not defined
Bảng 3.4 Giá trị trung bình hàm lượng của một số KLN trong nước tưới trồng hoa
lấy tháng 7 hàng năm ở Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.5 Giá trị trung bình hàm lượng của một số KLN trong nước tưới trồng hoa
lấy tháng 5 hàng năm ở xã Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.6 Hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng hóa chất BVTV ở Tây Tựu và Mê Linh (tính % theo
tổng số 36 hô ̣ dân đã điều tra) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.7 Tỉ lệ phần trăm các hô ̣ trồng hoa ở Tây Tựu và Mê Linh tr ả lời
các kiến thức hiểu biết về cách sử du ̣ng hóa chất BVTV Error! Bookmark not defined
Trang 12Bảng 3.8 Sự tồn dư hóa chất BVTV trong lớp đất chuyên canh hoa 0-20 cm vào
tháng 5 hàng năm ở Tây Tựu Error! Bookmark not defined
Bảng 3.9 Sự tồn dư hóa chất BVTV trong lớp đất chuyên canh hoa 0-20 cm vào
tháng 7 hàng năm ở Tây Tựu Error! Bookmark not defined
Bảng 3.10 Sự tồn dư hóa chất BVTV trong lớp đất chuyên canh hoa 0-20 cm vào
tháng 5 hàng năm ở Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.11 Sự tồn dư hóa chất BVTV trong lớp đất chuyên canh hoa 0-20 cm vào
tháng 7 hàng năm ở Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.12 Hiê ̣n tra ̣ng hộ dân sử du ̣ng phân bón ở Tây Tựu và Mê Linh (tính theo %
tổng số hô ̣ điều tra) Error! Bookmark not defined
Bảng 3.13 Liều lượng trung bình phân bón cho 1.000 m2 đất chuyên canh các loại
hoa ở Tây Tựu và Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.14 Kết quả xác định hàm lượng trung bình của các kim loại nặng trong
phân lân của Việt Nam Error! Bookmark not defined
Bảng 3.15 Kết quả xác định hàm lượng trung bình kim loại nặng trong phân đạm
Việt Nam Error! Bookmark not defined
Bảng 3.16 Hàm lượng trung bình N, P2O5, K2O nguyên chất bón cho 1.000 m2 đất
trồng hoa trong một vụ theo yêu cầu kỹ thuật và thực tếError! Bookmark not defined
Bảng 3.17 Kết quả xác định hàm lượng trung bình của các KLN trong một
số phân hữu cơ và vôi sử dụng trong trồng hoa ở Tây Tựu và Mê LinhError! Bookmark not defined
Bảng 3.18 Kết quả xác định hàm lượng KLN trung bình trong phế thải cây hoa
đồng tiền, cây hoa cúc và lá, nụ và hoa hồng ở Tây Tựu và Mê LinhError! Bookmark not defined
Bảng 3.19 Giá trị trung bình hàm lượng của mô ̣t số kim loa ̣i nă ̣ng da ̣ng tổng số và
linh đô ̣ngtrong đất chuyên canh hoa lấy vào tháng 7 hàng năm ở Tây TựuError! Bookmark not defined
Bảng 3.20 Giá trị trung bình hàm lượng của mô ̣t số kim loa ̣i nă ̣ng da ̣ng tổng số và
linh đô ̣ngtrong đất chuyên canh hoa lấy tháng 5 hàng năm ở Tây TựuError! Bookmark not defined
Bảng 3.21 Giá trị trung bình hàm lượng của mô ̣t số kim loa ̣i nă ̣ng da ̣ng tổng số và
linh đô ̣ngtrong đất chuyên canh hoa lấy vào tháng 7 hàng năm ở Mê LinhError! Bookmark not defined
Trang 13Bảng 3.22 Giá trị trung bình hàm lượng c ủa mô ̣t số kim loa ̣i nă ̣ng da ̣ng
tổng số và linh đô ̣ng trong đất chuyên canh hoa l ấy vào tháng 5 hàng năm
ở Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.23 Thành phần loài và phân bố của Collembola ở 6 sinh cảnh đất chuyên
canh hoa ở Tây Tựu Error! Bookmark not defined
Bảng 3.24 Thành phần loài và phân bố của Collembola ở 6 sinh cảnh đất chuyên
canh hoa ở Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.25 Một số đặc điểm định lượng Collembola trong đất chuyên canh hoa ở
Tây Tựu Error! Bookmark not defined
Bảng 3.26 Một số đặc điểm định lượng Collembola trong đất chuyên canh hoa ở
Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.27 Các loài Collembola chiếm ưu thế vượt trội trong đấtchuyên canh hoa ở
Tây Tựu và Mê Linh Error! Bookmark not defined
Bảng 3.28 Các băng ưu thế trên gel DGGE của các mẫu đất nghiên cứuError! Bookmark not defined
Bảng 3.29 Trình tự gen 16S rARN của các loài vi khuẩn ưu thếError! Bookmark not defined
Trang 14Hình 3.5 Cấu trúc ưu thế của quần xã Collembola ở đất ruộng chuyên canh hoa ở
Mê Linh (thu mẫu đợt 1) Error! Bookmark not defined
Hình 3.6 Cấu trúc ưu thế của quần xã Collembola ở đất ruộng chuyên canh hoa ở
Mê Linh (thu mẫu đợt 2) Error! Bookmark not defined
Hình 3.7 Phổ điện di ADN tổng số của các mẫu đất Mê Linh (trên) và Tây Tựu (dưới) Error! Bookmark not defined
Hình 3.8 Phổ điện di sản phẩm PCR với mồi V3. Error! Bookmark not defined
Hình 3.9 Hình ảnh điện di của bảng gel DGGE Error! Bookmark not defined
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Cơ sở khoa học và tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nông dân chiếm trên 70% dân số
cả nước Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và hội nhập Quốc tế thì nông nghiệp và nông thôn nước ta phải phát triển theo xu hướng nông nghiệp bền vững và hội nhập là tất yếu Tuy nhiên, do những áp lực về hiệu quả kinh tế của việc sản xuất nông nghiệp nên tình trạng quản lý và sử dụng không đúng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) đang có xu hướng tăng lên, gây tác hại xấu đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng Những năm gần đây việc sử dụng phân bón, chất kích thích sinh trưởng và hóa chất BVTV trong thâm canh sản xuất, đặc biệt trong thâm canh hoa, rau đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại Một thực tế hiện nay là việc sử dụng hóa chất BVTV tràn lan, không thể kiểm soát đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ con người và môi trường sinh thái
Mặt khác, xã hội đang ngày càng phát triển nên nhu cầu lương thực và làm đẹp cho cuộc sống ngày càng tăng, vì thế nghề trồng hoa trở thành nghề sản xuất chính tại một số vùng chuyên canh ngoại thành Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu về thú chơi hoa trong nước và xuất khẩu Người dân trong một số vùng đã chuyển đổi
từ trồng lúa sang chuyên canh hoa và nổi lên trong đó có vùng chuyên canh hoa tại phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội và tại xã Mê Linh, huyện Mê Linh,
Hà Nội Trong khoảng 20 năm trở lại đây đã có sự chuyển đổi cơ cấu canh tác nên đến nay kinh tế trong các hộ nông dân tại đây đã hoàn toàn thay đổi, nhiều hộ gia
đình trở thành “triệu phú”, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, sự
chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang hoa với mức thâm canh cao đã làm phát sinh những vấn đề môi trường do sử dụng phân bón hóa học, chất kích thích sinh trưởng, hoá chất bảo vệ thực vật quá mức trong thâm canh nhằm tối đa hoá lợi nhuận nên đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe cộng đồng
Chính vì vậy chúng tôi đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của
hoạt động chuyên canh hoa đến môi trường đất vùng ven đô Hà Nội” nhằm
đánh giá tổng thể tác động của hoạt động chuyên canh hoa đến chất lượng môi trường đất và đề xuất các giải pháp canh tác bền vững cho địa bàn nghiên cứu
Trang 16Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, hướng tới nền nông nghiệp bền vững cho các vùng ngoại thành Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho việc đánh giá một cách chính xác, có hệ thống hơn về tác động của việc chuyên canh cây trồng đến chất lượng môi trường đất (theo chiều hướng tích cực và tiêu cực), những nguy cơ
về ô nhiễm môi trường đất do lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp, đặc biệt trên đất trồng các cây trồng có mức thâm canh cao như hoa và rau
Ngoài ra, những kết quả nghiên cứu, kiến nghị và đề xuất của luận án sẽ là
cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách về quản lý, quy hoạch và phát triển bền vững nền nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao ở Việt Nam nói chung và
ở các vùng ven đô Hà Nội nói riêng
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung thêm nguồn dữ liệu thực tiễn về việc quản lý và sử dụng hóa chất BVTV, phân bón trong chuyên canh hoa, những tác động của thâm canh hoa đến môi trường đất, nước từ đó giúp người dân hiểu biết và
có ý thức thêm về bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn nhằm ổn định sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường cho các vùng ven đô Hà Nội sau khi mở rộng
3 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu, đánh giá tác động của hoạt động chuyên canh hoa đến chất lượng môi trường đất, đặc biệt thông qua sự đánh giá mức độ tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng trong môi trường đất và ảnh hưởng của chúng đến khu hệ sinh học đất; trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất chuyên canh hoa vùng nghiên cứu
4 Luận điểm bảo vệ của Luận án
- Hoạt động chuyên canh hoa nếu không tuân thủ theo các yêu cầu kỹ thuật, lạm dụng hóa chất nông nghiệp có thể dẫn đến các tác động tiêu cực tới chất lượng môi trường đất nói chung và tại các vùng trồng hoa ở ngoại thành Hà Nội nói riêng Ảnh hưởng tiêu cực của chuyên canh hoa đến môi trường đất thể hiện qua các khía cạnh sau:
+ Hàm lượng kim loại nặng và hóa chất BVTV trong đất tăng;
+ Giảm hệ sinh vật đất;
+ Giảm độ phì của đất;
Trang 17+ Đất bạc mầu và khô cằn
- Từ các kết quả nghiên cứu thu được có thể chỉ ra các yếu tố tác động tiêu cực đến hoạt động chuyên canh hoa và đề xuất được các giải pháp tổng hợp nhằm giảm các tác động tiêu cực đến môi trường đất chuyên canh hoa, hướng đến sự phát triển một nền nông nghiệp bền vững cho vùng nghiên cứu nói riêng và cho hoạt động nông nghiệp nói chung ở Việt Nam
5 Đóng góp mới của đề tài
1 Lần đầu tiên đánh giá một cách có hệ thống các yếu tố tác động đến môi trường đất vùng chuyên canh hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa cúc tại các ruộng trồng hoa tại phường Tây Tựu và xã Mê Linh (Hà Nội):
- Đã xác định thấy mối liên hệ giữa sử dụng phân bón và vôi cho đất trồng cây hoa với mức độ tích luỹ Cu , Cd, Zn, As, Hg trong môi trường đất Mức độ tích lũy kim loại nặng trong đất chuyên canh hoa giảm dần theo thứ tự đất trồng hoa hồng, đất trồng hoa cúc và hoa đồng tiền, đất trồng rau, đất đối chứng
- Đã xác định có sự liên quan giữa sử dụng hóa chất BVTV trong trồng hoa với sự tích lũy các hóa chất này trong môi trường đất Trong đất chuyên canh hoa có
sự tồn dư nhiều loại hóa chất BVTV như BHC, DDT, DDE… vượt ngưỡng QCVN 15:2008/BTNMT (ở Mê Linh, hàm lượng BHC trong đất trồng hoa hồng vượt 10,4-12,7 lần; ở Tây Tựu, DDT trong đất trồng hoa hồng vượt 1,42-1,65 lần) Sự tích lũy hóa chất BVTV trong đất trồng hoa gi ảm theo dần thứ tự đất trồng hoa hồng, đất trồng hoa cúc và hoa đồng tiền, đất trồng rau, đất đối chứng
2 Đã sử dụng chỉ số đa dạng H’ và chỉ số đồng đều J’ để đánh giá những tác
đô ̣ng của hoạt động chuyên canh hoa ở hai vùng nghiên cứu đến nhóm động vật
chân khớp bé Collembola và đã xác nhận các loài ưu thế vượt trội ở các ruộng trồng hoa riêng biệt ở Tây Tựu là Isotomurus palutris, Cryptopygus thermophilus,
Sminthurides bothrium, Isotomurus punctiferus, Cyphoderus javanus; ở Mê Linh là Isotomurus palutris, Cyphoderus javanus, Protaphorura tamdaona Các loài này
giảm dần theo thứ tự: rau, hoa cúc, hoa hồng 2 năm, hoa hồng 6 năm, hoa hồng 4 năm, hoa đồng tiền
3 Lần đầu tiên ứng dụng kỹ thuật điện di trên gel biến tính (DGGE) để đánh giá sự biến động về thành phần loài vi sinh vật đất trong đất chuyên canh hoa cho hai vùng Tây Tựu và Mê Linh Dựa vào trình tự 16S rARN, đã xác định được rằng,
Trang 18năm trong số sáu loài vi khuẩn chiếm ưu thế của các mẫu đất nghiên cứu (ký hiệu từ B1 đến B5) là các loài chưa được nuôi cấy Chỉ có loài vi khuẩn B6 là loài thuộc chi
Klebsiella đã được công bố với tên gọi là Klebsiella sp Những loài vi khuẩn này
xuất hiện dưới các điều kiện chuyên canh hoa khác nhau là khác nhau
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đất canh tác và nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng đất
1.1.1 Đất canh tác
Khi xem xét đất canh tác thường được quan tâm đến tầng đất canh tác Thông thường, tầng canh tác được chia ra 3 mức: > 15 cm: tầng canh tác dày; 15 - 10 cm: tầng canh tác trung bình; < 10 cm: tầng canh tác mỏng
Kết cấu của đất ảnh hưởng rất lớn tới các tính chất đất, nhất là tính chất vật
lý của đất Nếu đất có cấu tạo hạt kết tốt, đất sẽ tơi xốp, làm đất dễ, hạt dễ mọc, rễ cây dễ phát triển; nước thấm nhanh và được giữ nhiều; đất thoáng khí và đầy đủ oxy cung cấp cho cây và các hệ sinh vật, động vật đất hoạt động; nước và không khí điều hòa, quá trình khoáng hóa và mùn hóa đồng thời xảy ra nên xác hữu cơ biến thành thức ăn đầy đủ cho sinh vật vừa được tích lũy lại trong đất dưới dạng các hợp chất mùn Thành phần cơ giới khác nhau, tỷ trọng đất khác nhau, đất cát có tỷ trọng 2,65 ± 0,01 g/cm3, đất cát pha có tỷ trọng 2,7 ± 0,02 g/cm3, đất thịt có tỷ trọng 2,7 ± 0,02 g/cm3, đất sét có tỷ trọng 2,74 ± 0,03 g/cm3 [14]
Tỷ trọng của đất được quyết định chủ yếu bởi các loại khoáng nguyên sinh, thứ sinh và hàm lượng chất hữu cơ trong đất Nhìn chung do tỷ lệ chất hữu cơ trong đất thường không lớn nên tỷ trọng đất sẽ phụ thuộc chủ yếu vào thành phần khoáng vật của đất, thường dao động khoảng 2,6 - 2,75 Thông qua tỷ trọng đất người ta có thể đưa ra những nhận xét sơ bộ về hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng sét hay tỷ lệ sắt, nhôm của một số loại đất cụ thể nào đó Đất có hàm lượng mùn rất cao 15 - 20% thì tỷ trọng đất này < 2,4 g/cm3 [14]
1.1.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng đất
1.1.2.1 Một số chỉ tiêu lý hóa học
+ Phản ứng của đất Phản ứng của đất biểu thị mức độ chua hay kiềm của
đất, được đo và biểu hiện bằng giá trị pH, bảng 1.1 [87]
Bảng 1.1 Xếp loại phản ứng của đất (pH H2O )
Phản ứng của đất pH Phản ứng của đất pH
Chua trung bình 5,2 - 6,0 Kiềm trung bình 7,4 - 8,4
Trang 20+ Dung tích hấp phụ
Dung tích hấp phụ hay dung tích trao đổi cation (CEC) của đất phụ thuộc vào thành phần keo, thành phần cơ giới đất, tỷ lệ SiO2/R2O3 và pH Đất càng nhiều mùn và montmorilonit thì CEC càng lớn; thành phần cơ giới đất càng nặng thì CEC càng lớn; tỷ lệ SiO2/R2O3 càng lớn thì CEC càng lớn; độ pH đất tăng lên thì CEC cũng tăng lên Ở pH = 8,2 thì tùy thuộc vào giá trị CEC được xác định
mà đánh giá mức độ trao đổi của đất thấp hay cao, bảng 1.2 [67]
Bảng 1.2 Giá trị CEC của các loại đất được xác định ở pH = 8,2
TT Mức độ đánh giá CEC (meq/100 g đất)
+ Hàm lượng kim loại nặng trong đất
Đất luôn có chứa một số lượng kim loại nặng (KLN) nhất định [19] Ở Việt Nam, đất sử dụng trong nông nghiệp có qui định ngưỡng giá trị giới hạn cho phép hàm lượng tổng số của một số KLN, theo đó hàm lượng (mg/kg) của Cu là 50, Zn là
200, Pb là 70, As là 12, Cd là 2 [11], Hg là 0,3 [187]
+ Hàm lượng một số chất dinh dưỡng chủ yếu trong đất
Chất hữu cơ là thành phần quan trọng đối với quá trình hình thành đất và tính chất đất; chất hữu cơ và mùn là kho thức ăn cho cây trồng và vi sinh vật, và
có tác dụng duy trì và bảo vệ đất Để đánh giá hàm lượng mùn trong đất người ta thường sử dụng chỉ tiêu hàm lượng chất hữu cơ trong đất (OM), hàm lượng nitơ
tổng số (N), tỷ lệ C/N Hàm lượng OM trong đất được chia thành các mức độ: Rất
cao (>6%), cao (4,3 - 6,0%), trung bình (2,1 - 4,3%), thấp (1,0 - 2,1%), rất thấp (<1,0%) [158]
Tổng các nguyên tố dinh dưỡng trong đất biểu thị khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng từ đất Hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng dễ tiêu thể hiện khả năng cung cấp dinh dưỡng tức thời cho thực vật, thông số này quyết định trực tiếp khả năng tồn tại của thực vật đối với các loại đất cụ thể Chỉ tiêu đánh giá hàm
Trang 21lượng phốt pho tổng số (P2O5 tổng số) được chia thành 3 mức như sau: Giàu: P2O5 tổng số > 0,10%; trung bình: P2O5 tổng số từ 0,06 - 0,10%, nghèo: P2O5 tổng số < 0,06% [12] Hàm lượng của nguyên tố nitơ tổng số trong đất được chia thành các mức: rất cao (> 0,35%), cao (0,22 – 0,35%), trung bình (0,12 - 0,22%), thấp (0,05 - 0,12%), rất thấp (< 0,05%) [67]
Hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất bề mặt (30cm) được đánh giá thông qua chỉ tiêu hàm lượng NO3-N được chia thành 3 mức: giàu (> 13,2 mgN/100g đất), cao (8,8 – 13,2 mgN/100g đất), trung bình (4,4 – 8,8 mgN/100g đất), nghèo (< 4,4 mgN/100g đất) [87]
Đối với phốt pho dễ tiêu: Phốt pho tương đối kém linh động trong đất Hàm lượng phốt pho dễ tiêu được đánh giá tùy thuộc vào loại đất và phương pháp chiết tách Thang đánh giá hàm lượng phốt pho dễ tiêu trong 2 loại đất được nêu trong bảng 1.3 [87]
Bảng 1.3 Thang đánh giá hàm lượng phốt pho dễ tiêu trong đất
theo các phương pháp chiết tách khác nhau [87]
TT Mức độ đánh
giá
P 2 O 5 dễ tiêu (mg/100 g đất) Bray (đất chua) Olsen (đất kiềm)
1.1.2.2 Một số chỉ tiêu sinh học đất
Tính toán của các nhà khoa học đất cho thấy, trên một ha đất trồng trọt (độ sâu 20 - 30 cm) có 5 - 7 tấn vi khuẩn, 2 - 3 tấn nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn, động vật nguyên sinh , và 3 - 4 tấn động vật không xương sống (giun, ấu trùng, sâu bọ,
Trang 22tuyến trùng ) Vì vậy khi đánh giá về sinh học đất, các nhà khoa học đất đã đề xuất các chỉ tiêu về số lượng vi sinh vật trong đất; khả năng nitrat hóa và khả năng cố định đạm trong đất; cường độ phân giải xenlulôzơ, hô hấp của đất, và hoạt tính men của đất
1.2 Ảnh hưởng của hoạt động canh tác nông nghiệp tới chất lượng đất
1.2.1 Ảnh hưởng của quá trình canh tác tới chất hữu cơ trong đất
Khi bón phân hữu cơ sẽ là tăng hàm lượng OM trong đất OM là thành phần quan trọng góp phần làm tăng độ phì của đất, tăng hoạt tính của đất và tăng tính bền vững của cấu trúc đất Nó góp phần làm giảm thiểu tác động tiêu cực của môi trường, và do đó cải thiện chất lượng đất [12] Các nhà khoa học cho rằng dưới ngưỡng 3,4% OM ở đất vùng ôn đới thì suy giảm nghiêm trọng chất lượng đất sẽ xảy ra [113] Khoảng 75% cacbon tích lũy trong lớp trên của thạch quyển được lưu giữ dưới dạng OM [37]
Phần lớn dạng hữu cơ này được phân hủy sinh học một cách nhanh chóng bởi vi sinh vật đất Kết quả của quá trình này là hình thành nhanh chóng của các hợp chất hữu cơ mới và cấu trúc cơ thể vi sinh vật góp phần quan trọng trong việc gắn kết các hạt đất với nhau hình thành cấu trúc đất và hạn chế xói mòn cũng như phát sinh khí CO2 trở lại bầu khí quyển thông qua hô hấp của vi sinh vật và quá trình khoáng hóa [48, 99] Tỷ lệ C hấp thụ trung bình toàn cầu khi thay đổi sử dụng đất từ nông nghiệp sang rừng hoặc đồng cỏ ước tính tương ứng là 33,8 và 33,2 gC/m2 mỗi năm [169] Qua nghiên cứu các nhà khoa học kết luận rằng sự thay đổi lớn nhất hàm lượng C xảy ra trong 8 cm trên cùng của đất, một lượng nhỏ hơn ở độ sâu 8 đến 15 cm và một lượng không đáng kể C ở dưới 15 cm [96] Họ cũng kết luận rằng, trong đất không có hiện tượng cày xới hàm lượng OM được tích lũy cao hơn so với đất có cày xới, điều đó cũng đồng nghĩa với việc cày làm đất là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm hàm lượng OM trong đất canh tác nông nghiệp Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng trong khoảng thời gian từ 5 đến 20 năm, đất không cày có sự gia tăng trung bình 285 gC/m2 so với canh tác thông thường
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự giảm nhanh chóng hàm lượng OM do xáo trộn đất trong thời gian trồng trọt ban đầu Sự suy giảm đáng kể cacbon đất xảy ra trong 5 năm đầu tiên của quá trình trồng trọt, con số có thể lên tới 2.300 kgC/ha trung bình mỗi năm cho tầng đất 0-17 cm Con số của 14 năm sau đó so với 5 năm
là 950 kgC/ha và giữa 50 năm và 14 năm là 290 kgC/ha [111] Theo đó, các tác giả
Trang 23chỉ ra sự suy giảm OM theo thời gian canh tác, so với hàm lượng OM trong đất không canh tác, tổng mất OM là 17%, 28%, và 55% trong tương ứng 5, 14 và 50 năm canh tác Các nhà khoa học thấy rằng, phần lớn quá trình khoáng hóa như là kết quả của canh tác đất được diễn ra ngay sau khi đất được cày xới và có liên quan trực tiếp đến khối lượng đất bị xáo trộn và độ gồ ghề của bề mặt sau khi cày Và như vậy, hàm lượng OM và tổng N bị giảm ít nhất khi cầy xới đất tối thiểu và tàn
dư sinh khối sau thu hoạch được trả lại [105]
Trồng trọt có thể phá vỡ hoặc kéo dài thời gian đạt cân bằng của vòng tuần hoàn cacbon trong tự nhiên thông qua việc làm giảm hàm lượng OM và dẫn đến suy thoái đất, và cuối cùng là làm giảm năng suất của đất Tuy nhiên, bằng cách thay đổi sử dụng đất và hệ thống canh tác hoặc bằng việc áp dụng luân canh bền vững, tỷ lệ hấp thụ cacbon có thể được tăng lên đến 20-75 gC/m2/năm và giúp hệ canh tác có thể đạt đến trạng thái cân bằng về C mới trong vòng vài thập kỷ
Chẳng hạn, khi thay đổi cách sử dụng đất sẽ làm ảnh hưởng tới hàm lượng
OM và N trong đất [121] Do tổng số vi khuẩn trong đất thay đổi, trong lớp đất mặt
hệ độc canh lúa mì lượng C là 533 mg/kg, hệ độc canh ngô chỉ có 350 mg/kg và đối với hệ độc canh đậu tương là 398 mg/kg Do đó, độc canh ngô và đậu tương không chỉ giảm OM và N mà còn dẫn đến sự suy giảm của hoạt động sinh học của đất Các nhà khoa học thấy rằng, 11 năm canh tác liên tục ngô, đậu tương, lúa mì dẫn đến giảm tương ứng 10%, 11% và 5,3% OM, so với hệ luân canh tất cả loại cây trồng nói trên [112]
Do đó, loại cây trồng ảnh hưởng tới OM cũng như chất lượng đất rất mạnh
mẽ trong các hệ độc canh liên tục Những tác động tiêu cực của độc canh nổi bật là nghèo hóa hệ động vật đất; tăng số lượng dịch hại cây trồng; giảm hoạt động của quá trình dehidrogenaza và phốt phát hóa, làm tăng hàm lượng các axit phenolic trong đất
1.2.2 Ảnh hưởng của bón phân tới hàm lượng các nguyên tố trong đất
Bón phân là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng của nó trên các chất dinh dưỡng sẵn có trong đất Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, khi sử dụng phân bón bón cho cây trồng sẽ làm tăng đáng kể hàm lượng N, P, K và OM trong lớp đất canh tác so với lớp đất phía dưới [90]
Khi sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh từ tàn dư của cây trồng thì đã làm
bổ sung một lượng N, P, K đáng kể trong đất canh tác ngô và lúa mì; điều đáng
Trang 24quan tâm là sản lượng sinh khối thu được ở đây cao hơn, lên tới 50% so với phương thức chỉ bón N, P, K ở lượng lớn Và OM được tăng lên nhiều nhất trong hệ luân canh hàng năm có sử dụng đầy đủ phân bón N và P ở vùng đất bán khô cằn phía tây nam Saskatchewan, Canada [100] Việc sử dụng liên tục N, P, K cộng với phân chuồng để bón cho cây trồng dẫn tới làm tăng đáng kể hàm lượng OM và N so với một khu vực hoang hóa lân cận [167] Với những kết quả nghiên cứu đã nêu, có thể thấy nếu duy trì lớp phủ tàn dư thực vật sau thu hoạch và tăng tỷ lệ lượng phân bón các loại sẽ có thể duy trì được chất lượng đất [35]
Bên cạnh đó các loại phân bón vô cơ, vôi và phân hữu cơ, phân bùn,… có một lượng đáng kể các KLN Thành phần KLN trong phân bón đã nêu trên đã được một số tác giả nghiên cứu Trong số các loại phân nghiên cứu các tác giả chỉ ra rằng phân lân có chứa hàm lượng KLN khá cao
Phân lân là một trong những nguồn đầu vào KLN vào các hệ thống nông nghiệp Quặng phốt phát chứa nhiều nguyên tố KLN với giá trị dao động khoảng 1 -
100 mgCd/kg, 70 - 110 mg Cr/kg, 1 - 1000 mgCu/kg, 0 - 117 mgNi/kg, 0 - 45 mgPb/kg, 4 - 1000 mgZn/kg, 0 - 710 mgF/kg và 8 - 220 mgU/kg [39, 54, 101] Tùy thuộc vào loại quặng và quy trình sản xuất mà phân lân có hàm lượng các KLN khác nhau: 0 - 58,8 mgCd/kg, 10,4 - 72,7 mgCr/kg, 1 - 183 mgCu/kg, 5 - 26,9 mgNi/kg, 0,6 - 30,7 mgPb/kg, 8,8 - 181 mgZn/kg và 39,7 -206 mgU/kg [28, 45,
117, 162]
Hàm lượng KLN có trong quặng phốt phát khác nhau (PR) do vậy nó là tạp chất không thể loại bỏ hoàn toàn khỏi phân lân [46] Kết quả phân tích 20 mẫu phân lân cho kết quả tương tự về hàm lượng các KLN có mặt trong mỗi loại phân sử dụng ở Saudi Arabia [122] Kết quả phân tích hàm lượng Cd trong các mẫu phân lân
sử dụng ở một số quốc gia ở bảng 1.4 cho thấy, phân lân là nguồn gây ô nhiễm Cd nói riêng và KLN nói chung trong đất nông nghiệp [114]
Trong kỹ thuật trồng hoa, để cho cây hoa cứng cáp và mầu hoa đẹp người ta
đã bón một lượng lớn các phân khác nhau, trong đó có một lượng lớn phân lân, vì vậy làm tăng đáng kể hàm lượng KLN trong môi trường đất
Trang 25Bảng 1.4 Hàm lượng Cd trong các mẫu phân lân sử dụng
ở một số quốc gia trên thế giới
Loại phân: nguồn gốc đá
chứa phophat
Đất nước lấy mẫu (nơi sử dụng trồng thuốc lá)
Cd (mg/kg)
DAP: Angeri, Morocco Thổ Nhĩ Kỳ (Hy Lạp, Nga, EU) 2,78 + 4,82
SSP: Việt Nam, Lào Cai Việt Nam (Campuchia, Lào) 0,65 + 0,01
Ghi chú: DAP: Diamon phốt phát, MAP: Monoamon phốt phát
1.2.3 Ảnh hưởng của nước tưới tới hàm lượng các nguyên tố trong đất
Chất lượng nước sử dụng để làm nước tưới được nêu trong tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 39:2011 [8] Hiện nay, một số vùng nông nghiệp sử dụng nước tưới có hàm lượng một số KLN cao hơn tiêu chuẩn cho phép, dẫn đến làm gia tăng hàm lượng các kim loại này trong đất trồng trọt [23]
Chẳng hạn ở Hà Nội, sông Nhuệ được sử dụng để làm nước tưới cho một vùng rộng lớn đất nông nghiệp, trong đó có vùng trồng hoa Tây Tựu Theo các kết quả nghiên cứu giai đo ạn 2011-2012 cho thấy, chất lươ ̣ng nư ớc sông Nhuệ đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, không đáp ứng tiêu chuẩn cho sản xuất nông nghiê ̣p , các thông số phân tích đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng nước tưới QCVN 39:2011 Theo đó, Zn (213 mg/l) vượt 106,5 lần, Cu (0,328 mg/l) và Pb (0,045mg/l) gần tới giới hạn ngưỡng cho phép
Với việc sử dụng nước sông Nhuệ để làm nước tưới, hàm lượng Cu và Zn trong các mẫu đất cao hơn lượng tiêu chuẩn cho phép trong QCVN 03:2008 [11] Theo đó, hàm lượng Cu (99,2 mg/kg) và Zn (259,3 mg/kg) vượt quá tiêu chuẩn cho phép cao nhất tương ứng là 1,98 và 1,3 lần
Nghiên cứu về hàm lượng của KLN trong một số khu vực trồng rau của Hà Nội chỉ ra rằng, trừ Hg tổng số ở mẫu VN Đ04 vượt gần 7 lần mức cho phép theo
Trang 26tiêu chuẩn Hà Lan, còn lại đa số đất của các khu vực này có hàm lượng KLN nằm dưới ngưỡng cho phép; với đất trồng rau tuy nhiên các giá trị này có xu hướng tiệm cận với ngưỡng cho phép và có thể sẽ vượt ngưỡng này nếu hiện trạng canh tác lạm dụng phân hóa học và nguồn nước tưới không kiểm soát của khu vực còn tiếp diễn (bảng 1.5) [17]
Bảng 1.5 Hàm lượng KLN trong đất trồng rau ở Vân Nội (Hà Nội)
Ghi chú: * Theo tiêu chuẩn Hà Lan [187]
Việc tưới nước không hợp lý là nguyên nhân dẫn tới tình trạng tích lũy KLN trong đất nông nghiệp trong thực trạng không quản lý được các nguồn nước sử dụng trong nông nghiệp của nước ta hiện nay Nghiên cứu về ảnh hưởng của nước thải từ
mỏ Cổ Định cho thấy, việc sử dụng nguồn nước này trong nông nghiệp dẫn tới hiện trạng ô nhiễm Cr, Co và Ni với hàm lượng trong đất trồng lúa ở vùng lân cận tương ứng là 5,75, 3,75 và 5,59 mg/kg
Nghiên cứu đất ô nhiễm KLN trong khu vực Thái Nguyên cho thấy đất trong khu vực này có hàm lượng tích lũy cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép
Trang 27[97] Nguyên nhân chủ yếu do sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu với liều lượng cao trong canh tác của nông dân
1.2.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất đến tính chất hóa lý của đất
Hoạt động làm đất giúp tăng khả năng tiếp cận chất hữu cơ của vi sinh vật đất [36, 50, 55, 106] qua đó tăng quá trình giải phóng N cho đất [102] Các nhà khoa học cho rằng biện pháp lên luống vĩnh cửu kết hợp với giữ lại dư lượng sinh khối sau thu hoạch giúp vi sinh vật đất ổn định hơn, qua đó tăng cường bảo vệ C và
N so với biện pháp cày bừa thông thường [38, 109]
Trồng trọt có lên luống vĩnh cửu (luống đất có khung gỗ bao quanh với đất trồng cao hơn mặt đất bên ngoài) là một kỹ thuật làm giảm sự nhiễm mặn đất trong điều kiện có mưa [169] Kết quả nghiên cứu cho thấy, với kỹ thuật canh tác trên thì hàm lượng Na thấp hơn 2,64 và 1,80 lần tương ứng với tầng đất 0-5 cm và 5-20 cm ở các đất có lên luống vĩnh cửu so với các luống cày cấy thông thường So với làm đất truyền thống, giá trị trao đổi Na của đất Vertisol có tưới tiêu sau chín năm là thấp hơn ở biện pháp canh tác làm đất tối thiểu [88]
Ngược lại, trong trồng lúa thì việc làm đất có xu hướng giảm tích tụ muối trong vùng rễ của lúa: hàm lượng muối tích tụ lớn hơn đã ghi nhận được trên tầng đất mặt trong giai đoạn tăng trưởng cây lúa trên đất canh tác không làm đất so với trên đất canh tác thông thường [183] Và độ dẫn điện của đất (EC) thấp hơn với hệ thống canh tác truyền thống so với hệ thống canh tác không làm đất trong khu vực đất Vertisols ở miền Bắc Mexico [151] Trong một số trường hợp, ảnh hưởng bởi các hoạt động làm đất tới sự tích tụ muối trong các tầng canh tác là không thực sự
rõ ràng [59] Trong lớp đất 5-15 cm, không có sự khác biệt trong đất về độ dẫn điện giữa các phương thức làm đất [60] và lượng Na chiết ra được theo các tầng đất không phụ thuộc vào thực tiễn làm đất, hoặc nếu có thì cũng rất ít bị ảnh hưởng [69]
Tác động của sản xuất nông nghiệp bảo tồn tới tổng hàm lượng N thường phản ánh những quan sát về tổng OM do vòng tuần hoàn N luôn gắn bó chặt chẽ với vòng tuần hoàn C [42] Các nhà khoa học thấy rằng, hàm lượng nitơ tổng số cao hơn đáng kể trong cả hai phương thức canh tác không làm đất và lên luống vĩnh cửu
so với làm đất truyền thống ở vùng cao nguyên miền trung Mexico [31, 76] Đặc biệt, sự gia tăng hàm lượng nitơ tổng số trong đất canh tác với sự gia tăng số lượng rơm rạ được giữ lại trên bề mặt ruộng một cách thường xuyên [76] và một số hệ
Trang 28sinh thái nông nghiệp khác [32] Như vậy, quá trình hoàn trả sinh khối sau thu hoạch cho đất làm tăng hàm lượng nitơ tổng số một cách rõ rệt trong đất [55, 76]
Tuy nhiên, biện pháp canh tác này có thể tăng tính nhạy cảm của đất với quá trình rửa trôi hoặc phản nitrat nếu không có sự phát triển của thực vật để sử dụng các chất dinh dưỡng dễ tiêu tại thời điểm được giải phóng [48, 58, 78] Randall và Iragavarapu phát hiện thấy biện pháp làm đất thông thường gây thất thoát NO3- cao hơn khoảng 5% so với biện pháp không làm đất [148] Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tỷ lệ khoáng hoá N tăng lên khi giảm các biện pháp làm đất: khi canh tác
có làm đất trong 8 năm cho thấy hàm lượng N linh động trong đất không cày bừa lớn hơn trong đất cày bừa thông thường với cây trồng là lúa mì mùa xuân [107] Một nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự, quá trình khoáng hoá nitơ thường tăng lên trong lớp đất 0-5 cm khi cường độ làm đất giảm xuống [182]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lượng P có thể chiết rút trong đất thuộc hệ canh tác không làm đất cao hơn trong đất canh tác với các biện pháp làm đất thông thường [59, 60, 62, 68, 69, 81] Điều này rất có lợi cho thực vật khi P là một chất dinh dưỡng có khả năng hòa tan giới hạn, nhưng cũng có thể là một mối đe dọa cho các vấn đề môi trường vì khả năng rửa trôi P hòa tan trong nước chảy sẽ tăng cao [60] Một số nghiên cứu khác cho thấy, sau 20 năm không có cày đất, có thể chiết rút hàm lượng P lớn hơn 42% mức 0-5 cm, nhưng thấp hơn 8-18% ở độ sâu 5-30 cm so với đất cày bừa thông thường [82, 89, 162] Tích tụ P ở tầng mặt đất liên tục không cày bừa đã được nhiều tác giả khẳng định [61, 62, 68, 71, 81] Mặt khác, hàm lượng P cao hơn ở các lớp bề mặt của tất cả các hệ thống canh tác so với các tầng sâu hơn, nhưng nổi bật nhất trong đất không cày bừa [60]
Nhiều nghiên cứu cho thấy, đất không cày bừa có thể duy trì và tăng tính linh động của các chất dinh dưỡng, chẳng hạn như K ở tầng đất gần bề mặt đất nơi có hệ
rễ thực vật hoạt động [70] Biện pháp lên luống vĩnh viễn cho hàm lượng K cao hơn 1,65 lần trong lớp đất 0-5 cm và 1,43 lần trong lớp 5-20 cm so với canh tác lên luống thông thường khi cả hai phương thức canh tác đều kết hợp với sự duy trì tàn dư thực vật trên bề mặt [76] Các nghiên cứu khác đã cho thấy mức độ K có thể chiết rút cao hơn trong tầng đất mặt khi cường độ cày bừa giảm [91, 175], và hàm lượng K tăng trong đất không cày bừa so với đất cày bừa thông thường, nhưng tác dụng này giảm theo độ sâu [59]; và cũng đã quan sát thấy sự tích tụ trên lớp đất bề mặt của K linh động không phụ thuộc vào thực tế cày bừa hay độ sâu của đất [60, 68, 88, 116, 151]
Trang 291.2.5 Ảnh hưởng của tàn dư thực vật tới chất lượng đất
Sử dụng tàn dư thực vật như một loại phân bón hữu cơ cho đất đã có tác động đáng kể đến chất lượng đất [55, 57] Sự phân hủy chậm tàn dư thực vật của lớp phủ trên mặt đất có thể giúp giảm thiểu quá trình thẩm thấu các nguyên tố dinh dưỡng qua phẫu diện đất [34, 104] Tuy nhiên, mật độ cao hơn của các khoảng hổng trong đất có thể khiến quá trình thẩm thấu các chất dinh dưỡng hòa tan nhanh hơn
và thấm sâu hơn vào các tầng đất bên dưới tầng canh tác [69, 94]
Mặt khác, phản ứng sinh hóa của đất có thể thay đổi phụ thuộc vào khí hậu, loại đất, hệ thống cây trồng, phương thức sử dụng phân bón tại mỗi hệ sinh thái nông nghiệp và nó chi phối mạnh mẽ tới sự tồn tại và phân bố các chất dinh dưỡng trong đất [138, 146] Ví dụ, mật độ của rễ cây thường lớn hơn ở tầng đất mặt trong
hệ thống canh tác không làm đất so với canh tác truyền thống, điều này có thể dẫn đến sự tích lũy với tỷ lệ lớn các chất dinh dưỡng được đưa lên từ tầng đất bên dưới [115, 144] Như vậy, trong canh tác có sử dụng tàn dư thực vật như là loại phân bón
để bón cho cây trồng có tác động đáng kể đến phân bố và di chuyển chất dinh dưỡng trong đất [55, 57, 66, 70]
Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp che phủ đất bằng tàn dư cây trồng sau thu hoạch, cho thấy K trao đổi cao hơn trong lớp đất mặt (0-2 cm) trong trường hợp rơm lúa miến được giữ lại so với khi được loại bỏ hoàn toàn [139] Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng, K trong tầng đất 0-20 cm tăng lên đáng kể trong trường hợp giữ lại sinh khối sau thu hoạch trên mặt các luống vĩnh viễn, hiệu ứng này rõ rệt hơn đối với sinh khối lúa mì hơn so với ngô [76] Lượng lớn K được cây trồng hút thu, đặc biệt là cây ngũ cốc và mang khỏi đất đi vào sinh khối Vì vậy việc hoàn trả sinh khối sau thu hoạch có tác dụng như trả lại cho đất một lượng K đáng kể [60]
Thành phần của sinh khối tồn dư để lại trên đồng ruộng sẽ ảnh hưởng đến sự phân hủy của chúng [57, 143] Tỷ lệ C/N là một trong những tiêu chí thường được
sử dụng để đánh giá chất lượng của sinh khối tồn dư [79, 129, 177], cùng với hàm lượng N, lignin, chất poliphenol và hàm lượng C hòa tan [123, 149, 169] Trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ, hàm lượng N vô cơ từ khí quyển hoặc trong đất có thể được cố định bởi các vi sinh vật tham gia quá trình phân hủy [184] Đặc biệt là khi các chất hữu cơ có tỷ lệ C/N lớn được thêm vào đất Các nhà khoa học phát hiện
ra rằng, N tổng số trong đất có tương quan đáng kể đến khả năng phân hủy sinh khối hữu cơ và tỷ lệ C/N của tàn dư sinh khối được bổ sung vào đất [103, 138]
Trang 30Trong khi một số loài thực vật thường được sử dụng như cây che phủ có hàm lượng N và P tương đối cao thì tàn dư cây trồng thường có hàm lượng N rất thấp (khoảng 1%) và hàm lượng P (khoảng 0,1%) [132] Tàn dư cây trồng thường có hàm lượng lignin và poliphenol cao, do đó các tồn dư thực vật thường đóng vai trò quan trọng trong góp phần hình thành SOM hơn là vai trò của nguồn dinh dưỡng vô
cơ cho cây trồng [57, 131] Bên cạnh đó tàn dư thực vật còn có chứa một số các kim loại nặng ở lượng thấp, nó được coi như là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng vi lượng cho đất và cây trồng
Một phương thức khác sử dụng tàn dư thực vật làm phân bón dưới dạng đốt các tàn dư này Những báo cáo về biện pháp đốt tàn dư sinh khối sau thu hoạch cho thấy, điều này có thể tăng lượng dinh dưỡng dễ tiêu một cách tức thời trong tầng đất mặt cho cây trồng hút thu [59] Tuy nhiên, đốt tàn dư cây trồng không được coi là một hình thức bền vững do các tác động tiêu cực tới tính chất vật lý đất, đặc biệt là khi quá trình này được kết hợp với các biện pháp giảm làm đất trước khi gieo trồng [110]
1.2.6 Ảnh hưởng khi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đến hệ sinh vật đất
1.2.6.1 Ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong đất canh tác
Việc sử dụng hóa chất BVTV trong canh tác nông nghiệp sẽ dẫn đến làm ô nhiễm môi trường đất bởi các hóa chất này Tùy thuộc vào loại hóa chất BVTV mà đất có thể bị nhiễm các chất ở dạng hữu cơ và KLN hoặc cả hai loại này Đất bị ô nhiễm hóa chất BVTV gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng đất và gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định ngưỡng giá trị cho phép hàm lượng hóa chất BVTV trong môi trường đất Việt Nam đã có quy định ngưỡng hàm lượng hóa chất BVTV cho phép trong môi trường đất [10]
Đặc điểm khác nhau của mỗi hệ canh tác nông nghiệp yêu cầu sử dụng một
số loại hóa chất BVTV khác nhau trong công tác phòng chống dịch hại, và vì thế đặc thù tích lũy các dạng hóa chất này trong đất ở mỗi khu vực là hoàn toàn khác nhau Hóa chất BVTV và policlobiphenyl (PCBs) là những hóa chất phổ biến và có thể tồn tại trong đất trong nhiều thập kỷ [89, 160] Do đặc điểm kị nước, bền vững sinh học và bền vững trước các tác nhân lý hóa cao đã giúp nhóm hóa chất này tích lũy trong đất, trầm tích, sinh vật lâu hơn [53, 80, 134, 161]
Nghiên cứu tại hai khu vực nông nghiệp Alau Dam và Gongulong thuộc Bang Borno của Nigeria cho thấy, dư lượng hóa chất BVTV dạng phốt pho hữu cơ
Trang 31(dichlorvos, diazinon, chlorpyrifos và fenitrothion) đã được phát hiện trong tất cả các mẫu đất nghiên cứu Nồng độ tất cả các loại hóa chất BVTV ở độ sâu 21 - 30
cm trong các mẫu đất cao hơn ở độ sâu 0 - 10 cm; và đều cao hơn nhiều lần so với giới hạn cho phép của Liên minh châu Âu [29]
Khi so sánh hàm lượng DDT trong đất của các khu vực canh tác nông nghiệp khác nhau ở Trung Quốc đã nhận thấy, mẫu đất có hàm lượng DDT cao thường tập trung vào các mẫu từ các huyện Hannan và Xinzhou, nơi có rất nhiều các hoạt động nông nghiệp có lịch sử canh tác lâu đời [145] Khi phân tích các mẫu đất thuộc độ sâu 5, 10, 30 và 50 cm ở các khu vực canh tác thuộc Tanzania sau 5 - 14 năm, các nhà khoa học chỉ ra rằng, hóa chất BVTV được tập trung chủ yếu ở tầng sâu 0 - 10 cm
Kết quả nghiên cứu trên đất nông nghiệp thâm canh ở phía Bắc Ấn Độ về hàm lượng hóa chất BVTV cho thấy, 4,27% trong tổng số 49 mẫu đất phát hiện có dư lượng của DDT và 100% số mẫu đất có ô nhiễm chất hữu cơ bền (OCPs) là lindan, aldrin, endrin, dieldrin, p,p’-DDE, p,p’-DDD, p,p’-DDT [41]
Ở Việt Nam, các loại hóa chất BVTV đã được sử dụng từ những năm 50 -
60 của Thế kỷ trước để phòng trừ các loại dịch bệnh khác nhau Từ năm 1957 đến
1980, hóa chất BVTV được sử dụng khoảng 100 tấn/năm Những năm gần đây việc sử dụng hóa chất BVTV đã tăng đáng kể cả về khối lượng lẫn chủng loại Vào các năm cuối của thập kỷ 80, lượng hóa chất BVTV sử dụng là 10.000 tấn/năm; các năm của thập kỷ 90, lượng hóa chất BVTV sử dụng đã tăng lên gấp đôi (21.600 tấn/năm vào năm 1990), tăng gấp ba (33.000 tấn/năm vào năm 1995); đến năm 2012 là 55.000 tấn, năm 2013 là 112.000 tấn [188]
1.2.6.2 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến hệ sinh vật đất
Trong những năm gần đây thuốc hóa học đã được sử dụng nhiều và đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ cây trồng, đẩy mạnh sản xuất Tuy nhiên việc sử dụng thuốc hóa học với số lượng lớn, liên tục đã biểu hiện các mặt trái của nó như: tiêu diệt nhiều thiên địch, nhiều loại vi sinh vật có ích, tích lũy chất độc trong nông sản, gây ô nhiễm môi trường đất do tồn lưu trong đất… Tác động của mỗi loại thuốc hóa học đến hệ vi sinh vật đất là khác nhau tùy thuộc vào loại thuốc, nồng độ
sử dụng, phương pháp sử dụng…
Thuốc trừ sâu: Thuốc trừ sâu thường được chứng minh là có một tác
dụng trực tiếp đến hệ sinh vật đất lớn hơn so với thuốc diệt cỏ Các thuốc trừ sâu