Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng các loại trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn theo đánh giá của GV .... Đây cũng là lí do giúp tôi chọn đề tài Lồng ghép trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở trung
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3i
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Trần Khánh Thành, thầy đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và động viên tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả quý thầy cô đã từng giảng dạy lớp Cao học khóa 10 chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Ngữ văn Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhờ đó mà tôi đã tích lũy được những kinh nghiệm nghiên cứu vô cùng quý báu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô và cán bộ phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo tổ Văn Trường THPT Ứng Hòa B, THPT Đại Cường, THPT Hợp Thanh (Hà Nội) và các em học sinh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, nguồn động lực chính để tôi có đủ sức mạnh vượt qua mọi khó khăn trong quá trình thực hiện
đề tài
Dù đã rất cố gắng hoàn thành luận văn bằng tất cả lòng nhiệt tình và tâm huyết, song vẫn còn những thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Nga
Trang 4ii
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục bảng v
Danh mục biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Các khái niệm cơ bản 15
1.1.1 Trò chơi 15
1.1.2 Trò chơi dạy học 16
1.1.3 Tích cực hóa học tập 17
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về trò chơi dạy học và tích cực hóa hoạt động học tập 21
1.2.1 Lý luận về trò chơi dạy học 21
1.2.2 Lý luận về tích cực hóa hoạt động học tập 28
1.3 Nhận xét tổng quát về môn Ngữ văn THPT hiện nay 33
1.3.1 Mục tiêu môn học 34
1.3.2 Về cấu trúc nội dung chương trình môn Ngữ văn 35
1.3.3 Về phương pháp dạy học Ngữ văn 36
1.3.4 Về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 36
1.3.5 Hệ quả và thách thức 37
1.4 Đặc điểm của HS THPT 38
1.4.1 Đặc điểm tâm lý, tư duy 38
1.4.2 Đặc điểm về hoat động học tập 39
1.4.3 Đặc điểm thái độ học tập khi tiếp nhận môn Ngữ văn 40
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP LỒNG GHÉP TRÒ
CHƠI TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNGError! Bookmark not defined
2.1 Khảo sát thực trạng dạy học Ngữ văn ở THPT xét từ góc độ lồng ghép
trò chơi Error! Bookmark not defined
Trang 5iii
2.1.2 Địa bàn khảo sát Error! Bookmark not defined
2.1.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát Error! Bookmark not defined
2.1.4 Kết quả khảo sát Error! Bookmark not defined
2.1.5 Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng và sử dụng trò chơi
trong dạy học môn Ngữ văn Error! Bookmark not defined
2.2 Xây dựng một số trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn ở THPTError! Bookmark not defined
2.1.1 Cơ sở xây dựng và các nguyên tắc của việc thiết kế trò chơi dạy học
trong môn Ngữ văn Error! Bookmark not defined
2.2.2 Thiết kế Modul bài giảng có sử dụng trò chơi trong dạy học môn
Ngữ văn Error! Bookmark not defined
2.3 Biện pháp xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Ngữ vănError! Bookmark not defined 2.3.1 Xây dựng các bước Error! Bookmark not defined
2.3.2 Xây dựng và sử dụng các loại trò chơi dạy học phù hợpError! Bookmark not defined
2.3.3 Sử dụng trò chơi kết hợp với phương tiện, kỹ thuật dạy họcError! Bookmark not defined
2.3.4 Bồi dưỡng cho GV về nhận thức và kỹ năng xây dựng và sử dụng
trò chơi trong dạy học Ngữ văn Error! Bookmark not defined
2.3.5 Nâng cao nhận thức, hành vi và thái độ tích cực cho HS khi thực
hiện các trò chơi dạy học Error! Bookmark not defined
Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined
3.1 Cơ sở và mục đích Error! Bookmark not defined
3.2 Đối tượng thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.3 Quy trình thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.3.1 Yêu cầu Error! Bookmark not defined
3.3.2 Tổ chức dạy thực nghiệm Error! Bookmark not defined
3.4 Cách thức đo lường và đánh giá Error! Bookmark not defined
3.4.1 Cách thức đo lường Error! Bookmark not defined
3.4.2 Tiêu chí đánh giá Error! Bookmark not defined
3.5 Kết quả thực nghiệm Error! Bookmark not defined
Trang 6iv
phút - Phụ lục 4) Error! Bookmark not defined 3.5.2 Kết quả sau thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.5 Đánh giá chung thực nghiệm Error! Bookmark not defined Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
1 Kết luận Error! Bookmark not defined
2 Khuyến nghị Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 7v
Bảng 2.1: Những phương pháp dạy học chủ yếu được GV sử dụngError! Bookmark not defined
Bảng 2.2: Tỉ lệ GV nhận định về tác dụng của việc sử dụng trò chơiError! Bookmark not defined Bảng 2.3: Căn cứ xây dựng và sử dụng trò chơi của GVError! Bookmark not defined
Bảng 2.6: Thái độ của HS khi tham gia trò chơiError! Bookmark not defined
Bảng 2.7: Biểu hiện của HS khi GV tổ chức trò chơiError! Bookmark not defined
Bảng 2.8: Cách xử lý của HS khi tiếp nhận trò chơi theo đánh giá của GVError! Bookmark not defined
Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng các loại trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn
theo đánh giá của GV Error! Bookmark not defined
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra khi chưa có tác động sư phạmError! Bookmark not defined
Bảng 3.2: Mức độ biểu hiện tính tích cực trong dạy họcError! Bookmark not defined
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra lần 1 (sau khi thực nghiệm)Error! Bookmark not defined
Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra lần 2 (sau khi thực nghiệm)Error! Bookmark not defined
Trang 8vi
Biểu đồ 2.1: Tần số sử dụng trò chơi của GV theo đánh giá của HSError! Bookmark not defined Bảng 2.4: Mức độ sử dụng trò chơi theo ý kiến của HSError! Bookmark not defined
Bảng 2.5: Mức độ sử dụng trò chơi theo ý kiến của GVError! Bookmark not defined
Biểu đồ 2.2: Độ khó của trò chơi theo ý kiến của HSError! Bookmark not defined
Biểu đồ 3.1: Nhận thức của HS hai khi chƣa có tác động sƣ phạmError! Bookmark not defined Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả học tập sau 2 lần thực nghiệmError! Bookmark not defined
Trang 9Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
Trang 108
Riêng trong dạy học môn Ngữ văn hiện nay, chúng ta phải thừa nhận rằng hiện nay, học sinh ít còn hứng thú với những giờ học môn Văn, chủ yếu là học đối phó Những giờ học Đọc văn có khi chỉ là giờ thông tin kiến thức một chiều, khô cứng và nhạt nhẽo Học xong một giờ Đọc văn, học sinh thu được cái mà họ cần quá ít ỏi, thậm chí cá biệt có em không thu hoạch được gì Chính điều đó dẫn đến kiến thức thực tế về văn học của các em còn nghèo nàn, dùng từ ngữ trong giao tiếp một cách thiếu chính xác, đặc biệt trong các bài Tập làm văn thường mắc lỗi chính tả, câu văn viết chưa đúng ngữ pháp, cách diễn đạt vụng về, sáo mòn, lệ thuộc vào sách tham khảo Số lượng hồ sơ khối C thi tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trong cả nước cũng ngày một giảm
Thực tế, trong thời kì đất nước ta đang chuyển mình hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực thì cũng nảy sinh không ít những thách thức.Theo đó, đa
số phụ huynh hướng con em mình chọn những môn học tự nhiên để mong thi vào những trường thuộc các khối học A, B mà theo họ, khi ra trường, con em họ sẽ có
cơ hội làm những ngành nghề tạo thu nhập cao, có chỗ đứng vững vàng trong cuộc sống Chính điều này đã tác động không nhỏ đến tâm lí học tập của học sinh, làm cho các em giảm niềm yêu thích, hứng thú khi học những môn thuộc khoa học xã hội, trong đó có môn Ngữ văn Càng học lên lớp trên, các em càng chán học môn văn, thậm chí có thái độ bỏ bê, xem nhẹ môn học này, mặc dù các
em vẫn biết đó là môn bắt buộc phải vuợt qua trong kì thi Tốt nghiệp THPT và hơn hết đó là môn học bồi dưỡng tâm hồn trau dồi kĩ năng, nhân cách sống cho các em
Đứng trước thực trạng đáng buồn này, mỗi giáo viên khi đứng lớp giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường, không ai không khỏi có những băn khoăn, trăn trở Bên cạnh việc trau dồi, nâng cao năng lực chuyên môn vững vàng, người giáo viên dạy Ngữ văn cần thiết phải có nghệ thuật đứng lớp cao hơn, linh hoạt
Trang 119
hơn mới có thể tạo được niềm hứng thú cho học sinh, giúp các em có những thay đổi trong cách nghĩ, cách học để có được những kết quả tốt nhất đối với môn học này “Trò chơi dạy học” là sự lựa chọn của rất nhiều thầy cô trước áp lực thay đổi phương pháp dạy học để thu hút học sinh và đạt mục tiêu bài giảng Nó là chiếc cầu nối đắc lực, hữu hiệu và tự nhiên giữa GV và HS Thông qua trò chơi, ý nghĩa của nội dung bài học được truyền tải đến người nghe một cách nhẹ nhàng
nhưng đầy sâu sắc dễ hiểu Đây cũng là lí do giúp tôi chọn đề tài Lồng ghép trò
chơi trong dạy học Ngữ văn ở trung học phổ thông nhằm tạo hứng thú cho học
sinh, tích cực hóa hoạt động học tập của các em, đem lại hiệu quả học tập cao nhất
2 Lịch sử vấn đề
Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học làm phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người tiệp khắc I.A.Komenxki (1592-1670) Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.A.Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi
Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia, VR.Bexpalova, E.I.Udalsova R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp
Trang 12hệ thống trò chơi và trò chơi học tập được các tác giả đề cập đến chủ yếu nhằm củng cố kiến thức phục vụ một số môn học như: Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng, làm quen với môi trường xung quanh , rèn các giác quan chú ý, ghi nhớ, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ Các tác giả đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa phát triển của trò chơi học tập, không chỉ phát triển ở các giác quan mà phát triển các chức năng tâm lý chung của người học Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này cũng chưa đi sâu nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học dành cho quá trình nhận thức của người học
Gần đây trong tác phẩm “Trò chơi trẻ em”, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã đề cập đến trò chơi trí tuệ Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ Trong tác phẩm này, bà đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ
em Còn tác giả Trần Thị Ngọc Trâm đã thiết kế một hệ thống trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo lớn Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học Các tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập Tuy nhiên chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ
Luận văn của học viên Phạm Thị Thủy, Trường Đại học Giáo dục – ĐHQG
Hà Nội nghiên cứu đề tài: Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10
Trang 1311
trong dạy học phần thơ Đường đã đề xuất rất nhiều các phương pháp giảng dạy
theo đặc thù bộ môn, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực (trong đó có sử dụng phương pháp trò chơi), hay ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy nhằm tăng hứng thú học tập của HS Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả
sử dụng rất nhiều các phương pháp khác nhau, không tập trung chuyên sâu vào phương pháp trò chơi, và cũng chỉ tập trung ở khía cạnh thơ Đường trong chương trình Ngữ văn lớp 10, chứ không phải toàn bộ chương trình Ngữ văn ở bậc THPT
Trên Tạp chí Khoa học, ĐH Sư phạm TP HCM, số 54 năm 2014 có đăng bài viết “Phương pháp sử dụng trò chơi dạy học” của Nguyễn Thị Bích Hồng Bài viết trình bày phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học, trong đó chỉ ra 3 mức
độ sử dụng trò chơi trong dạy học tương ứng với 3 loại trò chơi, đồng thời hướng dẫn cách thức xây dựng trò chơi và phân tích những yêu cầu đối với giáo viên khi thực hiện phương pháp này Nhưng bài viết mới chỉ bước đầu chỉ ra phương pháp
sử dụng trò chơi trong dạy học nói chung, chứ không chuyên sâu vào việc lồng ghép trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn
Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trước đến nay tuy
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi dạy học Song chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc xây dựng và lồng ghép trò chơi nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong dạy học Ngữ văn ở THPT Chúng tôi lấy những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài:
Lồng ghép trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở trung học phổ thông
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu lí thuyết về trò chơi và lồng ghép trò chơi trong dạy học; các điều kiện, nguyên tắc và tác dụng khi vận dụng lí thuyết về lồng ghép trò
Trang 1412
chơi dạy học trong chương trình Ngữ văn ở THPT, luận văn đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú và tích cực hóa hoạt động học tập môn Ngữ văn cho HS ở THPT nhằm giúp HS yêu thích học môn học này Và hướng đến mục đích cuối cùng là cải tiến phương pháp dạy học, tạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi giải quyết những câu hỏi sau:
1/ Thế nào là trò chơi dạy học và điều kiện lồng ghép trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở THPT được xét trên những mặt nào?
2/ Giữa các đặc trưng của môn Ngữ văn và tâm lí học sinh THPT trong khi
học môn học này có thể tạo ra những lợi thế và khó khăn nào khi xây dựng hệ thống các trò chơi nhằm tích cực hóa hoạt động học tập?
3/ Hệ thống các biện pháp lồng ghép trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở THPT được đưa ra gồm các biện pháp nào và phải đảm bảo những nguyên tắc nào?
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Việc lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với những phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay Giải pháp này sẽ làm thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn
bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất ý kiến của mình, phát huy tư duy sáng tạo
Có nhiều cách thức góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong giờ học Văn, nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học trong môn Ngữ văn ở bậc THPT
- Mẫu khảo sát: một số tiết học trong chương trình Ngữ văn THPT (Ban cơ bản) và các GV, HS tại ba trường THPT: Ứng Hòa B, Đại Cường, Hợp Thanh (Hà Nội)
- Mẫu Thực nghiệm: được tổ chức tại 2 trường THPT Ứng Hòa B và THPT Đại Cường (Hà Nội) trên quy mô nhóm thực nghiệm có 83 HS và nhóm đối chứng có 84 HS
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Trang 1614
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các giáo viên và học sinh đang dạy và học chương trình Ngữ văn tại 3 trường: THPT Ứng Hòa B, THPT Đại Cường, THPT Hợp Thanh (Hà Nội)
- Phương pháp điều tra: Xây dựng hai loại bảng điều tra (phiếu Anket) dùng cho GV và HS để thu thập thông tin về thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm đối chứng quy trình dạy học cụ thể có vận dụng hệ thống biện pháp lồng ghép trò chơi trong dạy học Ngữ văn ở THPT đối với 4 lớp 10 tại trường THPT Ứng Hòa B và THPT Đại Cường, Hà Nội
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để xử lý kết quả thu
thập được, phục vụ cho việc phân tích, đánh giá trong quá trình nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,
bố cục luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Thực trạng và biện pháp lồng ghép trò trơi trong dạy học Ngữ văn ở trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 1715
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Thông thường con người chỉ nhớ 10% những gì họ ĐỌC, 20% những gì họ NGHE, 30% những gì họ THẤY, 50% những gì họ NGHE VÀ THẤY, 80% những gì họ NÓI, 90% những gì họ NÓI VÀ LÀM, tức là khi họ TỰ KHÁM PHÁ Vì vậy, nếu người thầy tạo được cảm xúc, sự ham thích thì động cơ và thay đổi của HS sẽ được kích thích và thúc đẩy Trò chơi không những giúp HS gần gũi, cởi mở và tạo sự chú ý của HS đối với nội dung bài giảng, mà còn khuyến khích các em tiếp thu bài một cách tự nhiên, không gượng ép và khô cứng Từ
đó, nó thúc đẩy các em hành động, áp dụng bài học vào thực tiễn
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Trò chơi
Chơi là một trong những hoạt động của con người, có mặt trong đời sống con người ở mọi lứa tuổi, mặc dù hình thức chơi thay đổi khi một người lớn lên già đi Khi chơi, cả người lớn lẫn trẻ em đều say mê, vui vẻ, thoải mái Đối với người lớn, hoạt động chơi chiếm một vị trí nhất định trong cuộc sống của họ Còn đối với trẻ mẫu giáo, hoạt động chơi là nội dung chính của cuộc sống là hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này
Hoạt động chơi là hình thái đặc biệt của sự chơi và chỉ có ở con người Quá trình chơi diễn ra ở 2 cấp độ: cấp độ hành vi và cấp độ hoạt động Với tư cách là hoạt động, sự chơi diễn ra theo nhu cầu của chủ thể, được điều khiển bởi động cơ bên trong quá trình chơi Yếu tố động cơ là căn cứ phân biệt rõ hoạt động chơi với những dạng hoạt động khác Hoạt động chơi là dạng chơi có ý thức, cả nội dung văn hóa xã hội, dựa trên các chức năng tâm lý cấp cao và chỉ có ở người, không có ở động vật “Loại hoạt động nào có cấu trúc động cơ nằm trong chính quá trình hoạt động, đó chính là hoạt động chơi” [10, tr 387]
Trang 1816
Tóm lại, hoạt động chơi cả trẻ em và người lớn đều có cùng bản chất tự nhiên, ngây thơ, vô tư vì nó là một trường hợp của chơi nhưng đây là dạng chơi ở người có ý thức, có động cơ xã hội và văn hóa, có nội dung nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ
1.1.2 Trò chơi dạy học
Có những quan niệm khác nhau về trò chơi dạy học Trong lý luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức tổ chức
và luyện tập không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi
là trò chơi dạy học Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng (gọi tắt là trò chơi có luật), trò chơi dạy học còn được hiểu là loại trò chơi có luật
có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do giáo viên nghĩ ra và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học
Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì những trò chơi giáo dục được lựa chọn
và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay học sinh tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kỹ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh khi họ tham gia trò chơi gọi là trò chơi dạy học
Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi dạy học được
tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và được định hướng vào mục tiêu, nội dung học tập
Cần lưu ý rằng, cách gọi tên trước đây là trò chơi học tập thật ra chưa chính xác, bởi vì học sinh không xây dựng và thiết kế chúng, ý tưởng và mục tiêu của trò chơi không phải do học sinh đề ra, học sinh cũng không tiến hành trò chơi mà
Trang 19Nói đến TTC có rất nhiều quan điểm khác nhau: Theo quan điểm của của
I.F.Kharlamôp:“TTC là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động” [26, tr.42] Khi bàn về TTC, nhà nhà nghiên cứu người Ba Lan- V.Ô Kôn đã đưa ra quan điểm: “TTC chúng ta quan niệm là mong muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những hiểu biết bên ngoài hoặc bên trong của sự hành động” [28, tr.37]
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra các quan điểm về
TTC: Trần Bá Hoành đã viết: “TTC là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội”
[7, tr.81]
Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức , TTC phải bao hàm các dấu hiệu sau:
- Nhu cầu tâm lý hoạt động của con người, tồn tại như một thành tố tâm lý bên trong, động lực của TTC Nhu cầu tồn tại khát vọng, nguồn gốc bên trong
Trang 2018
của TTC, hoạt động của con người, thể hiện ở sự tự nguyện hoạt động tác động vào thế giới bên ngoài, nhằm thoả mãn nhu cầu đó
- Tính chủ động trong hoạt động đối lập với tính bị động
- Nói lên kết quả của TTC hoạt động, sự thích ứng tâm lý, sự cải tạo thay đổi của chủ thể đối với thế giới xung quanh
Tóm lại, TTC nằm trong trạng thái hoạt động và biểu hiện trong những hành động, tính tích cực chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với hành động TTC có mặt tự phát và tự giác Mặt tự phát của TTC là những yếu tố tìm ẩn bên trong, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, linh hoạt trong đời sống hằng ngày Mặt tự giác của TTC là ở trạng thái tâm lý TTC có mục đích và đối tượng
rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở cách quan sát, tính phê phán trong tư duy trí tò mò khoa học Nhờ TTC tự giác con người có thể đạt được nhiều tiến bộ nhanh hơn TTC tự phát
* Tính tích cực học tập
TTC là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục.Trong hoạt động học tập, đặc trưng của TTC thể hiện ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức TTC học tập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập của người học.Trong học tập, tích cực hoá hoạt động học tập của người học là một hướng đổi mới đã được đông đảo các nhà nghiên cứu, nhà lí luận và các thầy cô giáo quan tâm và bàn tới ở nhiều khía cạnh khác nhau
Trang 2119
Dưới góc độ tâm lí học, I.F.Kharlamôp nhấn mạnh TTC học tập trong
hoạt động tư duy: “TTC nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” [26, tr.42] Tuy nhiên nhận định này có điểm đúng
nhưng chưa đủ vì bên cạnh hoạt động tư duy, TTC còn biểu hiện ở nhiều hoạt động khác Nhìn từ góc độ triết học, L.P.Aristova cho rằng: Bản chất tích cực của người lớn nói chung và trẻ em nói riêng là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, đối với sự vật hiện tượng xung quanh Như vậy, hoạt động học tập của học sinh mà thiếu thái độ cải tạo thì vẫn không được coi là TTC, hoặc học sinh cho rằng mình có cảm giác tích cực mà không thể hiện bằng hành động thì không phải là tích cực nhận thức
Tác giả Đặng Vũ Hoạt dưới góc độ triết học và tâm lí học cũng đưa ra quan điểm của mình: TTC nhận thức được đặc trưng bởi sự biến đổi năng động, liên tục bên trong của cấu trúc các mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức của chủ thể học sinh, giúp các em nâng cao chất lượng phản ánh và cải tạp chủ thể (hiện thực khách quan) theo mục đích dạy học nhất định
Tóm lại, TTC học tập - về thực chất là TTC nhận thức, là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao cácchức năng tâm lý nhằm giải quyết vấn đề học tập - nhận thức Từ đó cá nhân chiếm lĩnh được phương pháp luận, đạt mục đích nhiệm vụ học tập, đồng thời tính tự lực, sự tư duy sáng tạo và nhân cách chủ chủ thể được phát triển, hoàn thiện dần Người học trong quá trình tham gia học tập, vừa là khách thể, vừa
là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng theo mục đích nhiệm vụ của quá trình dạy học Hoạt động của người học được gọi là tích cực khi bản thân người học có tính lựa chọn đối tượng nhận
Trang 22Bàn về khái niệm TCH, tác giả Đặng Thành Hưng đã nhận định như
sau: “TCH là làm cho người đọc sống và làm việc tích cực đến mức tối đa so với tiềm năng và bản chất của mỗi người, so với những điều kiện và cơ hội thực tế mà mỗi người có được” [10, tr.191] Theo Thái Duy Tuyên “TCH là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [20, tr.281]
Xem xét TCH hoạt động học tập của học sinh trong giờ học tác phẩm
văn chương, tác giả Trịnh Xuân Vũ đưa ra quan điểm “TCH hoạt động tiếp nhận của học sinh là phải tổ chức được những “hoạt động bên ngoài” để chúng
“chuyển vào trong” “Hoạt động bên trong” khiến mỗi cá thể trò có thể hiểu được thế giới bên ngoài, thế giới tác phẩm thông qua những “hình ảnh tâm lý”, những thông tin Xử lý biến đổi những thông tin ấy mỗi cá thể trò có thể phát hiện ra nghĩa của đối tượng tác phẩm và bộc lộ “ý” của bản thân mình” [22]
TCH hoạt động học tập của HS làm nhằm nâng cao hơn hiệu quả dạy học, làm cho việc học là định hướng lớn, là một trong những mục đích cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Trang 2321
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về trò chơi dạy học và tích cực hóa hoạt động học tập
1.2.1 Lý luận về trò chơi dạy học
1.2.1.1 Cấu trúc chung của trò chơi dạy học
Trò chơi dạy học có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, nhưng về cấu trúc nó kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động
và quan hệ hiện thực Đó là cấu trúc phức tạp, gồm những thành tố sau:
- Mục đích hay chủ định chơi - nó cũng là những nhiệm vụ học tập của học sinh trong khi tham gia chơi Mục đích này chi phối tất cả những yếu tố của trò chơi Khi trò chơi kết thúc, mức độ đạt được của mục đích chơi được phản ánh ở kết quả hiện thực mà học sinh thu được và kết quả đó cũng là kết quả giải quyết các nhiệm vụ học tập - HS học được những gì cụ thể thì chính những cái đó phải thể hiện trong kết quả chơi
- Các hành động hay hành động chơi - là những hoạt động thực sự mà người tham gia trò chơi tiến hành để thực hiện vai, nhiệm vụ và vai trò của mình trong trò chơi
- Luật chơi hay quy tắc chơi là những quy định nhằm bảo đảm sự định hướng các hoạt động và hành động chơi vào mục đích chơi hay nhiệm vụ học tập, chỉ ra các mục tiêu và kết quả của các hành động, các phương thức và tính chất của hoạt động và hành động, xác định trình tự và tiến độ của các hành động, tạo
ra các tiêu chí điều chỉnh các quan hệ và hành vi của người tham gia và tiêu chí đánh giá hoạt động, hành động chơi có đáp ứng các nhiệm vụ học tập hay không
- Đối tượng hoạt động và giao tiếp là những thành tố chính của các hoạt động, tuy nhiên để đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định và thiết kế chặt chẽ, được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi