ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRƯƠNG THỊ NGA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRƯƠNG THỊ NGA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NAM ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Đức Văn
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục, các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng khoa học, Khoa Quản lý giáo dục, Phòng Sau Đại học, các khoa, phòng ban của nhà trường đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Từ Đức Văn - người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng chí cán bộ, giảng viên và sinh viên trường CĐSP Hà Nam đã ủng hộ, cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi vô cùng cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã luôn quan tâm, động viên, hỗ trợ về thời gian, tinh thần và vật chất cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do hạn hẹp về thời gian và điều kiện nghiên cứu, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo; các anh, chị đồng nghiệp để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2016
Tác giả
Trương Thị Nga
Trang 5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình, sơ đồ, biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lí giáo dục và quản lý nhà trường 12
1.2.3 Tự học 13
1.2.4 Học chế tín chỉ 16
1.3 Hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 19
1.3.1 Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên 19
1.3.2 Vai trò của tự học 20
1.3.3 Hình thức tổ chức dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 22
1.3.4 Hoạt động tự học của sinh viên 24
1.4 Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 27 1.4.1 Kế hoạch hoá hoạt động tự học của sinh viên 28
1.4.2 Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động tự học của sinh viên 28
1.4.3 Lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động tự học của sinh viên 29
1.4.4 Kiểm tra hoạt động tự học của sinh viên 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 32
1.5.1 Yếu tố khách quan 32
Trang 61.5.2 Các yếu tố chủ quan 34
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH
Bookmark not defined
2.2 Giới thiệu về quá trình nghiên cứu thực trạng Error! Bookmark not defined
2.2.1 Mục tiêu khảo sát: Error! Bookmark not defined 2.2.2 Địa bàn, đối tượng khảo sát: Error! Bookmark not defined 2.2.3 Nội dung khảo sát Error! Bookmark not defined 2.2.4 Phương pháp khảo sát Error! Bookmark not defined
2.3 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam Error! Bookmark not defined
2.3.1 Thực trạng nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của hoạt động tự học
Error! Bookmark not defined 2.3.2 Thực trạng động cơ tự học của sinh viên Error! Bookmark not defined 2.3.3 Thực trạng về nội dung tự học của sinh viên Error! Bookmark not defined 2.3.4 Thực trạng về kỹ năng tự học của sinh viên Error! Bookmark not defined 2.3.5 Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên Error!
Bookmark not defined
2.3.6 Đánh giá thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư
phạm Hà Nam Error! Bookmark not defined
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam Error! Bookmark not defined
Trang 72.4.1 Thực trạng kế hoạch hoá hoạt động tự học của sinh viênError! Bookmark
not defined
2.4.2 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý hoạt động tự học của sinh viên Error!
Bookmark not defined
2.4.3 Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động tự học của sinh viên Error!
Bookmark not defined
2.4.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của sinh viên Error!
Bookmark not defined
2.4.5 Đánh giá công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng
Sư phạm Hà Nam Error! Bookmark not defined
Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO
CHỈ ERROR! BOOKMARK
NOT DEFINED
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp Error! Bookmark not defined
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu Error! Bookmark not defined 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống Error! Bookmark not defined 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả Error! Bookmark not defined 3.1.4.Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi Error! Bookmark not defined
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉError! Bookmark not
3.2.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên phát huy tính tích cực,
chủ động học tập của sinh viên Error! Bookmark not defined
Trang 83.2.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập thúc đẩy hoạt động tự học của
sinh viên Error! Bookmark not defined 3.2.5 Đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ Error!
Bookmark not defined
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện phápError! Bookmark
not defined
3.4 Mối liên hệ giữa các biện pháp Error! Bookmark not defined Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
1 Kết luận Error! Bookmark not defined
2 Khuyến nghị Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC 105
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hình thức tổ chức dạy học 22
Bảng 2.1: Kết quả xếp loại học lực của sinh viên (%) Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.2 Trình độ giảng viên Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.3: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của tự họcError! Bookmark not defined.
Bảng 2.4: Thực trạng động cơ tự học của sinh viên Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.5: Thực trạng nội dung tự học của sinh viên Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.6: Thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng tự học của sinh viênError! Bookmark not defined.
Bảng 2.7: Kết quả đánh giá điều kiện CSVC đảm bảo choHĐTH của sinh viênError! Bookmark not defined Bảng 2.8: Thực trạng về địa điểm tự học của sinh viênError! Bookmark not defined.
Bảng 2.9: Thực trạng thời gian tự học của sinh viên Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.10: Thực trạng kế hoạch xây dựng đề cương chi tiếtError! Bookmark not defined.
Bảng 2.11: Thực trạng hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch tự họcError! Bookmark not defined.
Bảng 2.13 Thực trạng đánh giá các hình thức tổ chức tự học của sinh viênError! Bookmark not defined.
Bảng 2.14: Thực trạng các hoạt động của giảng viên trên lớpError! Bookmark not defined.
Bảng 2.15: Kết quả đánh giá của giảng viên về điều kiện CSVC đảm bảo cho HĐTH
của sinh viên Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.16 Sự phối hợp của các đơn vị chức năng trong quản lý HĐTH của sinh viênError! Bookmark not defined.
Bảng 2.17 Thực trạng kiểm tra việc lập kế hoạch tự học và thực hiệnkế hoạch tự học
của sinh viên Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.18 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viênError! Bookmark not defined.
Bảng 2.19 Tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viênError! Bookmark not defined Bảng 3.l Kết quả khảo nghiệm mức độ cấp thiết và khả thi của các biện phápError! Bookmark not defined.
Trang 10DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ chức năng của quản lý 11
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy - học 14 Biểu đồ 2.1 Trình độ giảng viên ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED Biểu đồ 2.2: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của tự học ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED
Biểu đồ 2.3: Thực trạng nội dung tự học của sinh viênERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
Biểu đồ 2.4: Kết quả đánh giá điều kiện CSVC đảm bảo cho HĐTH của sinh viên
ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
Biểu đồ 2.5: Thực trạng thời gian tự học của sinh viênERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
Biểu đồ 2.6: Thực trạng công tác quản lý HĐTH cuả các đơn vị chức năng ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED
Biểu đồ 2.7: Kết quả đánh giá của giảng viên về điều kiện CSVC đảm bảo choHĐTH của sinh viên ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ đánh giá giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đối với Việt Nam, bước vào thế kỉ XXI, phát triển giáo dục - đào tạo không chỉ nâng cao mặt bằng dân trí mà còn tạo ra một nguồn nhân lực có đạo đức và trí tuệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Nghị quyết 4 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của
Đảng, Nhà nước và của toàn dân Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam”.[12]
Điều này đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước thì vấn đề đổi mới phương pháp đào tạo, phương thức đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng hiện đại hoá trở thành một yêu cầu cấp bách Nghị quyết số 14/2005/ NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn
2006 – 2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo
hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”.[13] Tinh thần của Nghị quyết đã được cụ thể hoá trong Luật Giáo dục:
“Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học
tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”.[45]
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai – Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đã đề cập: “Đối với giáo dục đại học,
tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất
và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát
Trang 13Như vậy, đào tạo theo học chế tín chỉ là một yêu cầu của đổi mới giáo dục bậc đại học theo hướng hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và đuổi kịp trình độ tiên tiến của thế giới Đào tạo theo học chế tín chỉ giúp sinh viên tùy theo điều kiện, khả năng học tập của mình có thể quyết định số tín chỉ mà mình có thể hoàn thành trong một học kỳ Như vậy, sinh viên có thể rút ngắn thời gian học tập không nhất thiết phải từ ba đến sáu năm như đào tạo theo niên chế trước đây Tuy nhiên, khối lượng kiến thức nhân loại gia tăng theo cấp số nhân vì vậy nhà trường không thể cung cấp được tất cả các kiến thức
và kỹ năng cho sinh viên Để sinh viên có thể đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội thì chỉ có một con đường đó là tự mình chiếm lĩnh lấy các tri thức Đối với hình thức đào tạo theo HCTC, tự học của sinh viên là điều kiện tiên quyết, quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình đào tạo trong nhà trường Tự học là một mắt xích, yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, sự thành công của đào tạo theo HCTC Chất lượng, hiệu quả quản lí hoạt động tự học của sinh viên là động lực đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ niên chế sang tín chỉ, làm cho quá trình đào tạo theo HCTC chỉ đi vào đúng bản chất của nó: biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của người học Do vậy, nhà trường phải biết hướng dẫn sinh viên tự học và sử dụng thuần thục các kỹ năng tự học ngay khi còn ngồi trên ghế giảng đường Tổ chức tốt hoạt động tự học của sinh viên, chính là để nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Năng lực tự học của sinh viên vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo Tổ chức quản lý hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm của giáo viên, sinh viên và toàn bộ lực lượng giáo dục trong nhà trường
Trường CĐSP Hà Nam tiến hành chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2013-2014 Tuy nhiên, sau ba năm triển khai (2013- 2016) bên cạnh những kết quả đạt được còn có những khó khăn, bất cập, cho thấy chất lượng đào tạo của nhà trường chưa thực sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Trong
đó việc sinh viên chưa quen với phương pháp học mới -tự học dẫn tới kết quả học tập chưa cao, công tác quản lý hoạt động này chưa hiệu quả là một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo Đối với các sinh viên sư phạm - những giáo viên trong tương lai, tự học không chỉ để tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ trong suốt cuộc đời giảng dạy của mình mà còn để hình thành các kỹ năng tự học cho các thế hệ học sinh, đáp ứng các yêu cầu đổi mới trong giáo dục
Trang 14Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn: “Quản lý hoạt động tự học của
sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên và quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại trường CĐSP Hà Nam như thế nào?
- Cần có những biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại trường CĐSP Hà Nam như thế nào để đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ?
3 Giả thuyết khoa học
Có nhiều nguyên nhân làm cho số đông sinh viên trường CĐSP Hà Nam chưa có kết quả cao trong học tập Một trong những nguyên nhân đó là do khả năng
tự học của sinh viên và công tác quản lý hoạt động tự học cho sinh viên còn hạn chế Nếu đánh giá đúng thực trạng hoạt động tự học của sinh viên và thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên, đồng thời đề xuất được hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động tự học phù hợp, hữu hiệu thì chắc chắn sẽ nâng cao năng lực tự học của sinh viên và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
4 Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lí hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ và phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại trường CĐSP Hà Nam, trên cơ sở đó luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học sinh viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
5 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tự học của sinh viên trường CĐSP
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại trường CĐSP Hà Nam
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong
đào tạo theo HCTC
Trang 156.2 Khảo sát thực trạng hoạt động tự học của sinh viên và quản lý hoạt động tự học
của sinh viên tại trường CĐSP Hà Nam
6.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại trường CĐSP
Hà Nam
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Phạm vi về thời gian nghiên cứu: trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2013 đến
tháng 10 năm 2016
7.2 Phạm vi về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu hình thức tự học của sinh viên
thông qua sự điều khiển trực tiếp hay gián tiếp của giáo viên
7.3 Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: tại trường CĐSP Hà Nam
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu (các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo và quản lí giáo dục, các công trình, các tài liệu khoa học ) nhằm xác lập cơ sở
lí luận của đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp quan sát: Quan sát thực tiễn HĐTH của sinh viên và công tác
quản lý HĐTH của sinh viên
8.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi: bằng các phiếu trưng cầu ý kiến để khảo sát
thực trạng tự học của sinh viên và thực trạng biện pháp quản lý hoạt động tự học, mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý HĐTH đối với sinh viên đã
được đề xuất
8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn, nói chuyện trực tiếp với sinh viên,
giáo viên, cán bộ quản lý để tìm hiểu về thực trạng hoạt động tự học của sinh viên
và quản lý hoạt động tự học của sinh viên
8.2.4 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: xin ý kiến của các chuyên gia về cách xử
lý kết quả điều tra, các biện pháp quản lý đề xuất
8.3 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử
lý kết quả điều tra và khảo nghiệm
Trang 169 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư
phạm Hà Nam đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA
SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử phát triển giáo dục, ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục lỗi lạc
và tiêu biểu của nhân loại đã nhận ra tầm quan trọng của tự học Song trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau
1.1.1 Trên thế giới
Từ xa xưa, Khổng Tử (551-479 TCN) - nhà tư tưởng và nhà sư phạm nổi
tiếng của Trung Quốc khi đề cập đến việc học tập, Khổng Tử xác định “Học nhi
thời tập chí”, việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt
những điều đã học Ông nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một vấn
đề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”[35, tr.290] Ông cho rằng học mà
không nghĩ thì mờ tối, nghĩa là không học thì khó nhọc, mất công Do vậy, với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau
Thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J A Komenxky (1592 -
1670) đã khẳng định:“Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài
năng”; và “ Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…, hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” [11, tr.40]
Tsunesaburo Makiguchi (1871 -1944), nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật
Bản cho rằng: “Mục đích của giáo dục không phải là truyền đạt tri thức Nhiệm vụ
của nó là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh” [39, tr.19]
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ
XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm “Sự học
tập do người học chủ đạo” Trong hệ thống dạy học, người học vừa là chủ thể, vừa
là mục đích của quá trình học tập: “ Vị trí của người học ở trung tâm hay ngoại biên
là nét đặc trưng phân biệt hệ thống giáo dục này với hệ thống giáo dục khác.” [47]
Trong dự thảo báo cáo về con người của thế kỉ XXI, các Nhà giáo dục và nhân văn châu Âu, châu Mĩ, châu Á đều có quan điểm thống nhất: xem thái độ và kĩ
Trang 18năng ứng dụng của giới trẻ sẽ biết được diện mạo của cả lớp trẻ trong tương lai và
cả gương mặt của cả xã hội ngày mai Trong đó, các tác giả đã đưa ra bốn thái độ học tập và mười kĩ năng ứng dụng học vấn vào đời sống xã hội, một trong mười kĩ
năng đó là: Kĩ năng tự học, tự nâng cao trình độ cá nhân trong mọi tình huống
Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cánh cửa bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề tự học đã có từ xa xưa Thời phong kiến, thầy đồ dạy học thường kèm một nhóm học sinh gồm nhiều đối tượng có trình độ khác nhau Các thầy đã chú ý trình độ, đặc điểm lứa tuổi, hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục, tính cách từng đối tượng để giảng dạy phù hợp, dưới sự hướng dẫn của thầy, người học tự chiếm lĩnh kiến thức Tuy nhiên, hoạt động tự học chỉ thực sự được chú ý và
quan tâm dưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ
kính yêu của dân tộc Việt Nam là một tấm gương sáng ngời về ý chí, quyết tâm trong tự học, tự rèn luyện Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác dụng và hiệu quả to lớn của việc học tập và rèn luyện Bác cho rằng học tập giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động Đặc biệt, Bác rất nhấn mạnh đến tác dụng của tự học Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm
việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác viết: "Lấy tự học làm cốt,
do thảo luận và chỉ đạo góp vào”[41, tr.57] Như vậy, theo Bác việc tự học giữ vai
trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quả học tập Việc tự học phải xuất phát từ động lực của chính bản thân người học, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động
từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướng dẫn của nhà trường, của người thầy
Trong khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu rất công phu về vấn đề tự học như: “Quá trình dạy-tự học” do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên [52]; “ Tự học- chìa khoá vàng của giáo dục” của Phan Trọng Luận[37] Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, nhà giáo dục học khác như Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt [43], Hà Thị Đức [19], Thái Duy Tuyên [56] đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, hình thành kĩ năng tự học Tác giả Lê
Trang 19Khánh Bằng đã đưa ra một số biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo [3]
Trong tác phẩm “ Tự học – một tư tưởng lớn của Hồ Chủ Tịch về dạy học”, Nguyễn Hoàng Yến đã khái quát tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học như sau :
1 Trong tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn
2 Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời
3 Muốn tự học thành công phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại
4 Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để
tự học
5 Học đến đâu, ra sức luyện tập, thực hành đến đó [60]
Trong những năm gần đây, nhiều luận văn tốt nghiệp đại học và sau đại học cũng đã nghiên thực trạng hoạt động tự học của sinh viên hệ đào tạo, các nhà truờng khác nhau và đề xuất những biện pháp quản lý tăng cường hiệu quả hoạt động tự học Như vậy, vấn đề tự học của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, hình thành ở người học kỹ năng tự học Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp
tổ chức, quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên
Tuy nhiên, về phương diện quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường CĐSP Hà Nam thì hiện nay chưa có tác giả nào đề cập đến Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của hoạt động tự học, thực trạng quản lý hoạt động tự học tại trường CĐSP Hà Nam, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng tự học của sinh viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
Để xác định rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến đề tài
Trang 201.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Các Mác đã khẳng
định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên quy mô
rộng lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”.[38]Do vậy, có thể hiểu lao
động xã hội và quản lý không tách rời nhau Khi lao động xã hội đạt tới một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một chức năng riêng biệt Từ đó trong xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên quản lý Và mối quan hệ giữa hai bộ phận này chính là mối quan hệ quản lý
Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực khác nhau,
là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn Có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định nghĩa khác nhau:
Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là: “tổ chức, điều khiển hoạt động của một
đơn vị, cơ quan” [59]
Theo Harold Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và
sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có thể tổ chức về quản lý là một khoa học".[33, tr.33]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lí (người quản lí hay tổ chức quản lý) đến khách thể (đối tượng) quản lí về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.[16, tr.7]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[44, tr.24]
Trang 21Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mĩ Lộc: “quản lý là quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo ) và kiểm tra”.[8, tr.9]
Nói đến quản lý, người ta nghĩ đến ai quản lý ai, ở trong tổ chức nào, nhiệm
vụ, chức năng của tổ chức đó Nói đến tổ chức là nói đến cơ cấu bộ máy, tổ chức về nhân sự và tổ chức hành chính Như vậy, quản lý bao giờ cũng thực hiện trong một
tổ chức cụ thể
Như vậy, qua các khái niệm về quản lý đã trình bày ở trên, theo chúng tôi
quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều tác động đến khách thể quản lý đó chính là các chức năng quản lý Như vậy, các chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hoá hoạt động quản lý Có 4 chức năng cơ bản nhất là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Kế hoạch hoá là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất trong hệ thống chức
năng quản lý giúp nhà quản lý tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý, khoa học và tạo tiền đề cơ sở cho việc thực hiện các chức năng còn lại Lập kế hoạch là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ đó Để lập kế hoạch bao gồm có ba nội dung:
+ Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển của tổ chức
+ Nhận diện các nguồn lực của tổ chức
+ Xác định mục tiêu, biện pháp và đảm bảo những điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra
Tổ chức là sự kết hợp hoạt động của những bộ phận sao cho chúng liên kết
với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ thống, thống nhất như một cơ thể sống Đó là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ thống, thông qua đó để thực hiện các mục tiêu chung của hệ thống trên cơ
sở các nguyên tắc quản lý Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực
Trang 22Tiến trình tổ chức bao gồm việc thiết lập các bộ phận, phòng ban và xây dựng các bản mô tả công việc Vấn đề nhân sự cũng xuất phát trực tiếp từ các chức năng lập kế hoạch và tổ chức
Chỉ đạo là quá trình chủ thể quản lý sử dụng quyền lực quản lý của mình để
điều hành, tác động đến hành vi của các cá nhân, bộ phận trong hệ thống một cách
có chủ đích để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được các mục tiêu chung của tổ chức
Nội dung cơ bản của chức năng chỉ đạo là chủ thể quản lý phải thực hiện nhiệm vụ ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó Quá trình này bao gồm các hoạt động phân công, hướng dẫn, đôn đốc, động viên, thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ
Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường và
đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục Đồng thời, kiểm tra cũng nhằm tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của tổ chức Trong hoạt động quản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua chức năng kiểm tra một
cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lý sẽ tiến hành những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Vì vậy, để đánh giá được hiệu quả quản lý, người lãnh đạo cần phải thực hiện chức năng kiểm tra
Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và quyết định Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo
Hình 1.1 Sơ đồ chức năng của quản lý
Kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 231.2.2 Quản lí giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lí giáo dục (QLGD)
Có nhiều nghiên cứu về quản lý giáo dục, hiện nay các ý kiến cơ bản đồng nhất
nhau về khái niệm quản lý giáo dục:
Theo tác giả Bush T: “QLGD, một cách khái quát là sự tác động có tổ chức
và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng QLGD theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”.[35, tr.17]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất"
[44, tr.31]
Từ những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục ta có thể khái quát: QLGD
là quá trình tác động có định hướng, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý tới các thành tố của quá trình dạy học-giáo dục làm cho hệ thống giáo dục vận hành hiệu quả nhằm đạt được những mục tiêu đề ra
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia QLGD thành hai loại:
- Quản lý nhà nước về giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố)
- Quản lý nhà trường: QLGD ở tầm vi mô trong một đơn vị, một cơ sở giáo dục
1.2.2.2 Quản lí nhà trường (QLNT)
Nhà trường là một thiết chế hiện thực hóa sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống kinh tế - xã hội Nhà trường vừa là khách thể chính của mọi cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương, vừa là một hệ thống độc lập trong xã hội Chất lượng của giáo dục và đào tạo chủ yếu do các nhà trường chịu trách nhiệm QLNT là một hoạt động trung tâm của QLGD Vì vậy, khi nói đến quản lý giáo dục phải nghĩ đến QLNT cũng như hệ thống các nhà trường Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra một số khái niệm về quản lý nhà trường như sau:
Theo Phạm Minh Hạc: “QLNT là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
Trang 24dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế
hệ trẻ và với từng học sinh”.[21, tr.61]
Theo tác giả Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền: “Quản lý nhà
trường là quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể quản lý đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường đến các đối tượng quản lý: giáo viên, học sinh, các bên liên quan và huy động, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thự hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, với cộng đồng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn biến động”.[27, tr.31]
Như vậy, QLNT có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lí (có mục đích, tự giác,
hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến
QLNT bao gồm hai loại:
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường:
Đó là những tác động quản lý của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy và học tập của nhà trường; bao gồm những chỉ dẫn, quy định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường: Bao gồm các hoạt động như quản lý giáo viên, quản lý sinh viên, quản lý quá trình dạy học của giáo viên, quản lý hoạt động học tập của sinh viên, quản lý cơ sở vật chất - trang thiết bị của nhà trường, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng
1.2.3 Tự học
1.2.3.1 Quá trình dạy - học
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, dạy học bao gồm hai hoạt động: hoạt
động dạy của thầy và hoạt động học của trò: “Dạy là quá trình hoạt động của thầy,
thông qua sự truyền đạt nội dung mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra) hoạt
Trang 25Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: thầy, trò, tri thức Ba thành tố này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ quá trình dạy của thầy với quá trình học của trò làm cho dạy học cộng hưởng với tự học tạo ra chất lượng
và hiệu quả trong giáo dục
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy - học
Sự cộng tác giữa dạy và học là yếu tố duy trì, phát triển sự thống nhất, toàn vẹn của quá trình dạy học, cũng là nhân tố dẫn đến chất lượng cao của dạy học
Đỉnh cao của dạy học cộng tác là hệ dạy học tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn
1.2.3.2 Tự học
Theo tác giả Thái Duy Tuyên :“Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [57]
- Trong tác phẩm "Quá trình dạy - tự học" [52] do tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) đã luận giải vấn đề "thầy dạy, trò tự học" với các nội dung: mô hình, chu trình, quy trình, quy trình dạy - tự học, hệ phương pháp dạy - học tích cực lấy người học làm trung tâm, cần phải hướng dẫn cho người khác tự học thông qua tài liệu hướng dẫn tự học
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớp
bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt trực tiếp của giáo viên”.[58, tr.33]
Trang 26Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng
lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”.[2]
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo:“Tự học phải là công việc tự giác của mỗi
người do nhận thức đúng được vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội”
[17, tr.11]
Những quan điểm trên về tự học tuy khác nhau, nhưng đều chung bản chất
đó là sự tự giác và kiên trì cao; sự tích cực, độc lập và sáng tạo của người học trong học tập Từ những định nghĩa nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực độc lập chiếm lĩnh tri
thức của một lĩnh vực hiểu biết của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình nhằm đạt được mục đích nhất định
Hoạt động tự học được coi là hoạt động có tổ chức của người học, diễn ra dưới các hình thức khác nhau:
- Hình thức 1: Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của người dạy và
những phương tiện kỹ thuật trên lớp, trong đó người học phát huy hết những năng lực, phẩm chất như nghe giảng, ghi chép bài, phân tích, khái quát hoá để tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người dạy định hướng cho
Ở hình thức tự học này giáo viên đóng vai trò chủ đạo, do đó thông qua việc thiết kế bài giảng, giáo viên phải tạo điều kiện phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Hình thức 2: Tự học diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của người dạy, lúc
này người học phải tự sắp xếp thời gian, điều kiện cơ sở vật chất để tự học, tự củng
cố, tự đào sâu những tri thức hoặc tự hình thành những kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu của nội dung đã được hướng dẫn
Đây là hình thức tự học diễn ra ngoài giờ lên lớp dưới sự quản lý của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Các lực lượng trong nhà trường chủ yếu đóng vai trò gián tiếp thông qua yêu cầu các nội dung tự học
- Hình thức 3: Tự học độc lập nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết riêng, mở
rộng tri thức ở bên ngoài Đây là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, đòi hỏi tính tự giác cao của người học nên biện pháp quản lý tốt nhất là quản lý nhiệm vụ học tập