GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH văn hóa tâm LINH tại QUẦN THỂ DI TÍCH đền TRẦN, xã TIẾN đức, HUYỆN HƯNG hà, TỈNH THÁI BÌNH Bản khóa luận đầy đủ và khá chi tiết tính cho đến tháng 5 2016. tất cả mọi số liệu là chính xác theo thống kê có đính kèm và xác nhận của địa phương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA DU LỊCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH:VIỆT NAM HỌC
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN TRẦN, XÃ TIẾN ĐỨC, HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH
THÁI BÌNH
Cán bộ hướng dẫn : THS NGUYỄN GIANG NAM
Mã số sinh viên : 0741390059
Hà Nội, 5-2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hình thành ý tưởng, tím kiếm tài liệu, khảo sát thực
tế cho tới khi hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình từ lãnh đạo, ban ngành trong huyện, người dân tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà cũng như gia đình, bạn bè và người thân của tôi.
Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Nguyễn Giang Nam- giảng viên khoa Du lịch trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội, người
đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới đồng chí Nguyễn Công Khanh- Trưởng phòng Văn hóa – thông tin huyện Hưng Hà, anh Lê Tiến Dũng – cán bộ phòng Văn hóa – thông tin huyện Hưng Hà, bác Cao Thanh Bốn- Phó ban quản lý di tích tại đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng
Hà đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu, tài liệu có liên quan trong việc thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô giáo trong khoa Du lịch trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội - những người đã truyền đạt kiến thức hữu ích về du lịch, dạy bảo tôi trong suốt 4 năm học qua- làm cơ sở cho tôi thực hiện luận văn này.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi có thể hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2016
Sinh viên Trần Thị Dung
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
:
DANH M C B NG BI U ỤC BẢNG BIỂU ẢNG BIỂU ỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu khách sạn, nhà nghỉ huyện Hưng Hà 60
Trang 4Bảng 2.2: Danh sách nhân lực du lịch tại quần thể đền Trần, xã Tiến Đức 63Bảng 2.3: Số lượng khách du lịch đến tham quan tại đền Trần, xã Tiến Đức,huyện Hưng Hà 65Bảng 2.4: Doanh thu tiền công đức, cúng tiến tại quần thể di tích đền Trần, xãTiến Đức, huyện Hưng Hà 69Bảng 2.5: Các hạng mục quần thể di tích đền thờ, lăng mộ các vua Trần xãTiến Đức- huyện Hưng Hà 71
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
MỞ ĐẦU 7
Chương 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH 11
1.1 Các khái niệm cơ bản 11
1.1.1 Khái niệm văn hóa 11
1.1.2 Khái niệm Tâm linh 12
1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh 13
1.1.4 Một số biểu hiện của văn hóa tâm linh 13
1.2 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa tâm linh 16
1.2.1 Quan niệm về du lịch văn hóa 16
1.2.2 Quan niệm về du lịch văn hóa tâm linh 17
1.2.3 Điểm đến của du lịch văn hóa tâm linh 23
1.2.4 Cơ sở vật chất, kỹ thuật của du lịch văn hóa tâm linh 24
1.2.5 Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh 24
1.2.6 Khách du lịch với mục đích văn hóa tâm linh 25
1.2.7 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch văn hóa tâm linh 26
1.3 Đặc điểm hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam 29
1.4 Kết luận chương 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA, TÂM LINH TẠI QUẦN THỂ ĐỀN TRẦN XÃ TIẾN ĐỨC, HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 33
2.1 Khái quát chung về Triều đại nhà Trần trong lịch sử phong kiến Việt Nam và ảnh hưởngtới vùng đất Thái Bình 33
2.1.1 Lịch sử triều đại nhà Trần 33
Trang 62.1.2 Ảnh hưởng của triều đại nhà Trần tới mảnh đất Long Hưng, Thái Bình
35
2.2 Khái quát chung về quần thể đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 39
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 39
2.2.2 Hệ thống các công trình 41
2.3 Thực trạng giá trị văn hóa, tâm linh của quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 43
2.3.1 Giá trị tâm linh, tinh thần 43
2.3.2 Giá trị văn hóa lịch sử, huyền thoại 48
2.3.3 Giá trị nghệ thuật 53
2.3.4 Giá trị tự nhiên, không gian, cảnh quan, môi trường 56
2.4 Thực trạng hoạt động du lịch tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 58
2.4.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật 58
2.4.2 Đội ngũ nhân lực phục vụ du lịch 62
2.4.3 Tổ chức quản lý khai thác 63
2.4.4 Thị trường và khách du lịch 64
2.4.5 Doanh thu du lịch 68
2.4.6 Đầu tư và quy hoạch du lịch 69
2.4.7 Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch 72
2.4.8 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà 74
2.5 Kết luận chương 2 78
Chương 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG QUA KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA, TÂM LINH TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN TRẦN, XÃ TIẾN ĐỨC HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH 79
3.1 Căn cứ đề xuất các giải pháp 79
Trang 73.1.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại khu di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà,
tỉnh Thái Bình 79
3.1.2 Quan điểm phát triển du lịch tâm linh 83
3.1.3 Các định hướng phát triển 83
3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 85 3.2.1.Giải pháp về quản lý khai thác và phát huy các giá trị trong phát triển du lịch……… 85
3.2.2.Giải pháp phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật 89
3.2.3.Giải pháp phát triển nhân lực 90
3.2.4.Giải pháp xây dựng các tuyến du lịch và sản phẩm du lịch đặc trưng……… 91
3.2.5.Giải pháp quảng bá, xúc tiến và liên kết phát triển du lịch 96
3.2.6.Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 98
3.3.Kết luận chương 3 101
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 109
Trang 8MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những di tích ghi dấu về các nhânvật, sự kiện lịch sử quan trọng đã xảy ra trong quá khứ Ở các di tích đó cũngthường có những lễ hội riêng vừa là tưởng niệm một sự kiện trọng đại củacộng đồng hay tưởng nhớ một thủ lĩnh có công lớn với đất nước hoặc với tôngiáo mà mình thờ phụng
Đất nước Việt Nam ta đã trải qua biết bao thế kỉ đấu tranh chống giặcngoại xâm và xây dựng bảo vệ đất nước Trải qua nhiều triều đại, nhiều nhànước được hình thành, có biết bao anh hùng dân tộc đã trở thành huyền thoại
và đi sâu vào đời sống tâm linh của người dân Việt Nam ta Những công trìnhkiến trúc được xây dựng để thờ phụng những người có công với nước với dân,những ngôi đền được xây dựng gắn liền với đó là những lễ hội được tổ chức
để tưởng nhớ và bày tỏ lòng thành kính, biết ơn
Nằm ở Đông Bắc Bộ, tuy còn là một tỉnh nghèo, chưa phát triển vềcông nghiệp và ngành du lịch, song tỉnh Thái Bình đang từng bước phát triểnvới hoạt động du lịch tâm linh bởi nơi đây là vùng đất có mật độ các di tíchlịch sử- văn hóa vào loại cao nhất trong cả nước Dựa vào những lợi thế đó,những năm gần đây Thái Bình đang rất tích cực đầu tư và quảng bá cho hoạtđộng du lịch của mình, đặc biệt là du lịch văn hóa tâm linh Trong số đó, đáng
kể nhất là các dự án đầu tư, tu bổ Quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức ,huyện Hưng Hà- nơi tôn miếu linh thiêng của một dòng họ, nơi lưu giữ dấutích về một vương triều oai hùng trong lịch sử Việt Nam, đó là vương TriềuTrần
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, nhà Trần( 1226-1400)giữ một vị trí quan trọng và mang những dấu ấn không phai mờ trong lịch sửViệt Nam cũng như những ảnh hưởng đáng kể tới vùng đất Thái Bình Ngaysau ngày thành lập, nhà Trần đã chấm dứt được tình trạng hỗn loạn của xã hội
Trang 9Đại Việt vào cuối thời Lý, củng cố và xây dựng bộ máy chính quyền từ trungương đến địa phương, lập lại trật tự chính trị xã hội, chăm lo phát triển kinh
tế, văn hóa Trong khoảng thời gian 170 năm tồn tại, tiều đại nhà Trần đã lãnhđạo quân dân Đại Việt lập nên nhiều chiến công hiển hách, đánh thắng bacuộc chiến tranh xâm lược của quân Mông-Nguyên, một đế chế hùng mạnhlúc bấy giờ
Qua các cuộc khảo cổ học và nghiên cứu, các nhà sử học và các nhàkhoa học đã đi đến một kết luận rằng, huyện Hưng Hà - Thái Bình ngày nay,nơi tọa lạc quần thể di tích đền Trần và lăng mộ các vị vua đầu Triều Trần,không chỉ là quê hương 4 đời của họ Trần kể từ đời Trần Cảnh( Trần TháiTông), mà còn là đất phát tích, sáng nghiệp của vương triều Trần
Hiện nay, UBND tỉnh Thái Bình đã và đang quy hoạch để quần thể ditích này trở thành điểm du lịch văn hóa- tâm linh, một thương hiệu của tỉnh
Chính từ những điểu trên, tôi quyết định chọn đề tài: Phát triển du lịch
thông qua khai thác giá trị văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nhằm tìm hiểu ý nghĩa
của quần thể di tích này đối với một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộcViệt Nam, cũng như những giá trị của quần thể di tích này đối với sự pháttriển du lịch của tỉnh Thái Bình Qua đó mong muốn giới thiệu tới mọi ngườimột điểm đến tâm linh tại tỉnh Thái Bình
2.Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp phát triển du lịch thông qua khai thác giá trị vănhóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần , xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnhThái Bình
Trang 103.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh
- Khảo sát thực trạng khai thác giá trị văn hóa tâm linh ở quần thể
di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà , tỉnh Thái Bình và phát triển
du lịch
- Đề xuất biện pháp phát triển du lịch thông qua khai thác giá trịvăn hóa tâm linh tại đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà , tỉnh Thái Bình
4.Đối tượng nghiên cứu.
Mối quan hệ giữa khai thác giá trị văn hóa, tâm linh và hoạt động kinhdanh du lịch tại đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà , tỉnh Thái Bình
6.Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: để xây dựng khung lý thuyếtcủa đề tài
- Phương pháp điều tra: để thu thập số liệu thực tế
- Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh: để xử lý kết quả điềutra
Trang 117.Cấu trúc khóa luận
Với những mục đích và lý do kể trên, ngoài phần mở đầu và các phụ lục,
đề tài cảu tôi bao gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh
- Chương 2: Thực trạng khai thác giá trị văn hóa, tâm linh tại Quần thể ditích đền Trần, Xã Tiến Đức, Huyện Hưng Hà, Tỉnh Thái Bình
- Chương 3: Biện pháp phát triển du lịch thông qua khai thác giá trị vănhóa, tâm linh tại quần thể di tích Đền Trần, Xã Tiến Đức Huyện Hưng Hà,Tỉnh Thái Bình
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DU LỊCH VĂN HÓA TÂM
LINH
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.Khái niệm văn hóa
Ngày nay, danh từ văn hóa có nhiều cách giải thích khác nhau Mỗihọc giả ở mỗi quốc gia ở mỗi thời kỳ khác nhau đều có những lý giải khônghoàn toàn giống nhau Nhưng mọi người đều thừa nhận văn hóa là một hiệntượng xã hội và có phạm trù lịch sử
Trong ghi chép của mình, Hồ Chí Minh đã dẫn một định nghĩa vềvăn hóa như sau: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài ngườimới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phát luật, khoahọc, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày vềmặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hoá Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạtcùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng vớinhững nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [ 12,tr.431]
Mới đây nhân dịp phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hóa(1988-1997), tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốcUNESCO đã đưa ra định nghĩa mới về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể các hệthống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần của xãhội Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cảphương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng” Như vậy, văn hóa được hiểu là hệ thống những giá trị vật chất và tinhthần do con người sáng tạo ra và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.Bản chất của văn hóa chính là sự khác biệt
Các đặc trưng cơ bản của văn hóa là: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử vàtính nhân sinh
Trang 131.1.2 Khái niệm Tâm linh
Trong Từ điển Tiếng Việt, tâm linh được giải thích theo 2 nghĩa: “1 –Khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quanniệm duy tâm 2 – Tâm hồn, tinh thần, thế giới tâm linh”
Trong sách “Tâm linh Việt Nam”, tác giả Nguyễn Duy Hinh quanniệm: “Tâm linh là thể nghiệm của con người (tâm) về cái Thiêng (linh) trong
tự nhiên và xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền lôgíc khôngphân biệt thiện ác.” [5,tr.52]
Một quan niệm khác của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “Vănhóa tâm linh” về tâm linh như sau: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trongcuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôngiáo” Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở nhữngbiểu tượng, hình ảnh, ý niệm [3,tr.14]
Như vậy, từ các quan niệm trên đây, ta có thể tạm hiểu về tâm linhnhư sau:
- Tâm linh là một hình thái ý thức của con người
- Tâm linh là những gì trìu tượng, cao cả, vượt quá cảm nhận của tư duythông thường và gắn liền với niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tínngưỡng hay tôn giáo của mỗi người Những nhận thức của con người về thếgiới xung quanh (vũ trụ, xã hội, v v ) có thể phân thành hai loại: Một loại cóthể kiểm nghiệm, chứng minh bằng thực nghiệm, bằng lý trí, bằng lô gích, đó
là loại gọi là thuộc lĩnh vực khoa học Loại thứ hai chỉ có thể nhận thức đượcbằng trực giác của từng người chứ không thể chứng minh bằng thực nghiệmhoặc bằng lý trí, đó là lĩnh vực tâm linh
- Tâm linh là ngưỡng vọng của con người về những biểu tượng, hình ảnhthiêng liêng
Trang 141.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh
“Văn hóa tâm linh là một mặt hoạt động văn hóa xã hội của con
người, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất hoặc tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ (e dè, sợ hãi hay huyền diệu) của con người” [5,tr.27]
Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hữu hình, văn hóa vô hình vàvăn hóa hành động:Văn hóa hữu hình là những giá trị văn hóa vật chất, đó lànhững kiến trúc nghệ thuật, những không gian thiêng liêng (đền đài, nhà thờ,đình chùa…), hay những biểu tượng thiêng liêng (những pho tượng Phật…).Văn hóa vô hình là những giá trị được biểu hiện thông qua những nghi lễ, lễthức, ý niệm thiêng liêng của con người về tôn giáo, tín ngưỡng
Văn hóa hành động là sự thể hiện hữu hình hóa những ý niệm vô hình, đó lànhững chuyến hành hương, những lần đi đến đền lễ thần, đến chùa lễ Phật đểcầu bình an trong cuộc sống
1.1.4 Một số biểu hiện của văn hóa tâm linh
Tâm linh trong đời sống cá nhân
Đời sống tâm linh không phải ở đâu xa lạ mà ở ngay trong niềm tinthiêng liêng của mỗi con người Tuy nhiên đời sống tâm linh không phải lúcnào cũng bộc lộ, mà đời sống tâm linh của con người chỉ xuất hiện khi hoàncảnh thiêng, thời gian thiêng xuất hiện Ví như khi mùa xuân đến là thời gianthiêng cho những người đi lễ chùa Hương, đời sống tâm linh trong họ đượctái hiện Khi đến quê Bác hay vào lăng viếng Bác, hoàn cảnh ấy dấy lên trong
ta mãnh liệt hơn niềm tin thiêng liêng nhớ ơn Người Thời khắc chuyển giaomột năm của đất trời cũng dễ khiến con người nảy sinh những cảm xúc huyềndiệu Kiều bào xa xứ trước hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng cũng nảy sinh những
ý niệm về Tổ quốc thiêng liêng…
Trang 15 Tâm linh trong đời sống gia đình
Văn hóa tâm linh có những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạngtrong đời sống gia đình của người Việt Phổ biến nhất là phong tục thờ cúng
tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân trong gia đình Trong đó, bàn thờ tổ tiênchính là biểu tượng thiêng liêng nhất, lôi cuốn người ta quây quần, đoàn tụ,nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị thiêng liêng chuyền giao cho con cháu.Ngày xưa nhân dân ta có câu “sống về mồ mả, ai sống về cả bát cơm có nghĩa
là cái cần cho sự tồn tại của con người trong gia đình không phải chỉ có bátcơm mà còn phải có cả phần thiêng liêng nữa, đó là mồ mả, bát hương thờcúng ông bà, tổ tiên Đó chính là những biểu tượng thiêng liêng có sức mạnhtruy ền lệnh, tập hợp to lớn trong mỗi gia đình, gia tộc xưa nay
Tâm linh trong đời sống cộng đồng làng xã
Ở phạm vi cộng đồng làng xã, văn hóa tâm linh người Việt thể hiện
ở tục thờ cúng thành hoàng, các vị thần, các vị tổ sư, các vị anh hùng đã cócông với nước, các danh nhân văn hóa… Do ảnh hưởng của các tôn giáo,người Việt tổ chức xây đền chùa, miếu mạo, nhà thờ, giáo đường…và thựchành các nghi lễ cầu cúng Nhiều công trình hiện vật liên quan đến văn hóatâm linh đã trở thành những di sản văn hóa, lịch sử quý giá và trở thànhnhững điểm du lịch hấp dẫn Nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa vùngmiền, dân tộc
Tâm linh với tổ quốc giang sơn
Trước đây, trong quan niệm phong kiến, biểu tượng về sự thốngnhất đất nước được thể hiện thông qua việc đúc cửu đỉnh, trên đó trạm khắcđầy đủ hình sông núi của 3 miền đất nước, đặt thờ ở thái miếu nhà Nguyễntrong kinh thành Huế Trong cuộc kháng chiến đánh Mỹ, ta thường nói dântộc Việt Nam đã chiến thắng bằng cả sức mạnh bốn ngàn năm lịch sử, sứcmạnh truyền thống Ngày nay, trong mỗi cuộc lễ nghi, hội nghị ta kiến lậpbàn thờ Tổ quốc Đó chẳng phải là cái vô hình trìu tượng mà chính là hình
Trang 16ảnh thiêng liêng về giang sơn tổ quốc… Những năm gần đây giỗ tổ HùngVương đã trở thành ngày hội lớn trong cả nước Thật hiếm có dân tộc nàotrên thế giới có một ý niệm rõ rệt vềQuốc tổ như Việt Nam Đó là mộttruyền thống tốt đẹp rất đáng tự hào, là dịp nhắc nhởmỗi người Việt Nam vềlòng tự hào và trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc Vấn đề đặt ra là làm saođừng để kinh tế thị trường vô tình “gặm nhấm”, dần làm mất đi những hìnhảnh, biểu tượng thiêng liêng đó trong ý thức con người hôm nay và các thế hệtiếp theo.
Tâm linh trong nghệ thuật
Tâm linh trong nghệ thuật là những hình ảnh biểu tượng thiêng liêng
nào đó được thể hiện trong tác phẩm làm khơi dậy những cảm xúc cao quýcủa con người Muốn được như vậy nhà sáng tạo nghệ thuật phải thực sự cóđời sống tâm linh, cảm thụ đối tượng muốn sáng tạo ra trong tác phẩm đến độthiêng liêng nhất
Có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật mà ở đó con người cảm nhận đượcnhững giá trị thiêng liêng mà tác giả muốn truyền tải như những bức tranh
về phốcổ Hà Nội của họa sĩ Bùi Xuân Phái hay như tác phẩm truyện Kiềucủa Nguyễn Du, Hịch Tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, chèo Quan Âm ThịKính Hay như chính sự thăng hoa trong niềm tin thiêng liêng về Chúa, vềthần Phật đã để lại biết bao giá trị kiến trúc nghệ thuật: nhà thờ Phát Diệm– Ninh Bình, nhà thờ Phú Nhai – Nam Định, gác chuông chùa Keo ở TháiBình, các pho tượng Phật tổ ở chùa Tây Phương –Hà Nội…
Như vậy, văn hóa tâm linh có những mặt tích cực không thể phủnhận trong đời sống cộng đồng Đó là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữtruyền thống, giáo dục lòng nhân ái, vị tha, ý thức hướng thiện Văn hóa tâmlinh là chỗ dựa về mặt tinh thần, xoa dịu những đau thương mất mát, đem lạiniềm tin vào những điều tốt đẹp, cao cả, thiêng liêng, giúp con người chiếnthắng nỗi sợ hãi trước cái chết, đem lại sự thanh thản, cân bằng cho tâm hồn
Trang 17Chính yếu tố văn hóa tâm linh đã tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền vănhóa cộng đồng, dân tộc.
1.2 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa tâm linh
1.2.1 Quan niệm về du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch kết hợp giữa văn hóa và dulịch
Theo từ điển Tiếng Việt “du lịch vă hóa”nghĩa là “đi chơi để trải
nghiệm cái đẹp”.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Du lịch văn hóa bao
gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn,về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (chương 1, điều 4) thì: “Du lịch
văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
Theo TS Trần Thúy Anh: “Du lịch văn hóa là một loại hình chủ
yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”.
Như vậy, có thể hiểu du lịch văn hóa là một loại hình du lịch dựa
vào việc khai thác các tài nguyên nhân văn của một vùng, một quốc gia nhằmthỏa mãn những nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của con người khi đi du lịch Dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch văn hóa, các loại hình du lịch vănhóa được chia thành: du lịch lễ hội; du lịch tôn giáo; du lịch tham quan ditích, danh thắng; du lịch khai thác các loại hình nghệ thuật truyền thống; dulịch làng nghề; du lịch tham quan các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa…
Trang 181.2.2 Quan niệm về du lịch văn hóa tâm linh
Quan niệm
Du lịch tâm linh không phải là một vấn đề mới mẻ mà thực chấthoạt động du lịch tâm linh đã có mặt cách đây hàng trăm năm trên khắp thếgiới Mọi người vẫn quen dùng từ hành hương để nói về chuyến đi củamình Trong các chuyến hành hương đó, ngoài mục đích tín ngưỡng tâmlinh, người đi hành hương còn được thưởng ngoạn những cảnh đẹp kỳ thúcủa thiên nhiên, được tiếp cận với những phong tục tập quán của đời sống
cư dân địa phương và được hưởng các tiện ích của dịch vụ
Thượng tọa Thích Đạo Đạo trong đề tài tham luận Hoằng pháp với
vấn đề du lịch tâm linh cho rằng: “Du lịch tâm linh tìm hiểu văn hóa, giá trị
truyền thống Thăm viếng bằng tâm trí, trái tim Nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng vềcái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh Nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm linh, cụ thể đối với Phật giáo chúng ta là hiểu hơn về chân lý giải thoát, giá trị chân thực của cuộc sống hiện tại”.
Cựu tổng thống Ấn Độ, tiến sĩ Abdul Kalam thì cho rằng: “Du lịch
tâm linh có nghĩa là thăm viếng bằng trái tim”.
Trong bài phát biểu tại Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sựphát triển bền vững diễn ra tại Ninh Bình ngày 21 – 22/11/2013, ông Nguyễn
Văn Tuấn, Tổng cục trưởng, Tổng cục Du lịch Việt Nam cho rằng: “Xét về
nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con
Trang 19người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác”.
Như vậy, du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm
linh –tín ngưỡng Đây là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống của con người,nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn
Du lịch văn hóa tâm linh phải lưu ý các điểm sau:
- Du lịch văn hóa tâm linh là loại hình du lịch văn hóa nhưng khai tháccác đối tượng tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh vào hoạt động du lịch nhằm thỏamãn các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tham quan, tìm hiểu và nâng cao nhậnthức của du khách
- Hoạt động của du lịch văn hóa tâm linh phải dựa trên nguyên tắc tôntrọng và gìn giữ các giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trịtinh thần, thông qua hoạt động du lịch để bảo tồn các di tích có ý nghĩa tínngưỡng tôn giáo như: chùa, đình, đền, nhà thờ…hay các nghi lễ truyền thống,các lễ hội và giá trị văn hóa nghệ thuật, ẩm thực… Vì đó là đối tượng chínhtạo nên sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn du khách
Mục đích
Mục đích của du lịch văn hóa tâm linh giúp du khách có thể thựchiện mục đích kết hợp du lịch và tâm linh, tức là ngoài những mục đích dulịch thuần túy là tham quan các di tích, danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡngtrong thời gian du lịch, khách du lịch còn tham gia vào các lễ hội truyềnthống, thỏa mãn nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng của mình
- Tham quan: Trong du lịch văn hóa tâm linh khách du lịch có thểtrực tiếp chiêm nghiệm, tham quan, nghiên cứu cảnh quan, kiến trúc, mỹthuật, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các di vật gắn với điểm du lịch tâmlinh… Tìm hiểu văn hóa gắn với lịch sử tôn giáo và lối sống bản địa, nhữnggiá trị di sản văn hóa gắn với điểm tâm linh
Trang 20Các đối tượng tham quan của du lịch văn hóa tâm linh không phụ thuộc vàothời gian mà có thể tổ chức quanh năm Du khách có thể tham gia vào chuyếnhành trình vào bất cứ thời điểm nào mà họ mong muốn.
- Tham dự lễ hội: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồngdiễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằmnhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp đểbiểu hiện cách ứng xửvăn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh vàcon người trong xã hội”
Đến với lễ hội khách du lịch được tham gia trực tiếp vào các hoạtđộng tôn giáo với không khí náo nhiệt và sống động Thông qua các thành tố
cơ bản của lễhội bao gồm các nghi lễ, nghi thức thờ cúng, tế lễ, trang phục,
ẩm thực, tục hèm và trò diễn dân gian…mà du khách có thể cảm nhậnđược giá trị văn hóa một cách sống động, tăng thêm tình đoàn kết cộngđồng, hơn nữa du khách còn tìm thấy ở lễhội bản thân mình, quên đi những
áp lực của cuộc sống đời thường Một số lễ hội tín ngưỡng, dân gian nổitiếng ở Việt Nam như: lễ hội đền Hùng, lễ hội Thánh Gióng, hội chùaHương (Hà Nội), hội Phủ Dầy, hội đền Trần (Nam Định), lễ hội vía Bà TâyNinh, lễ hội Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ Vu Lan, lễ Nô en, lễ Phục Sinh…Tuy nhiên, du lịch lễ hội có đặc trưng cố định về thời gian, hay nói cách khác
là có tính mùa vụ Du khách chỉ có thể tham gia vào loại hình du lịch này tạinhững thời điểm đã được ấn định
- Tôn giáo, tín ngưỡng: Để tổ chức chương trình du lịch văn hóa tâmlinh phải hội tụ đủ những yếu tố như: địa điểm, con người và niềm tin.Trong đó, địa điểm tâm linh được xem là yếu tố quan trọng nhất Du khách đi
du lịch văn hóa tâm linh để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáohay tìm hiểu nghiên cứu tôn giáo Một địa điểm du lịch tâm linh có xuất xứ
từ cội nguồn dân tộc, mang yếu tốtín ngưỡng tôn giáo sẽ góp phần nâng caonhận thức của mỗi cá nhân đối với các giá trị của tôn giáo, tín ngưỡng Với
Trang 21hình thức du lịch văn hóa tâm linh, khách du lịch không chỉ đơn thuần để vuichơi, thăm thú các danh lam thắng cảnh mà như đang thực hiện một cuộchành hương về vùng đất thiêng và tìm kiếm nơi trú ngụbình yên, thanh thảncho tâm hồn Đa số du khách đến chùa, thắng cảnh, thắng tích để cho tâmhồn mình được thanh thản và thoát tục Du lịch tâm linh mang lại giá trịcủatình yêu thương con người thật sự cho chính bản thân cá nhân đó, đồng thờimỗi cá nhân lại mang đến sự bình an, an lạc cho những người xung quanh.
Đó là mục đích cao nhất của hành trình du lịch văn hóa tâm linh
du lịch Họ tựlựa chọn điểm đến, phương tiện, đến các dịch vụ khác Trongtrường hợp này họthường chỉ sử dụng các dịch vụ tại điểm đến: trônggiữ xe, đồ đạc, thuê các vật dụng, ăn uống, nghỉ ngơi…
- Hình thức tập thể: Do du lịch là một trong các hoạt động của cá nhânnhằm mục đích hòa mình vào tập thể nên đại đa số các chuyến đi mang tínhtập thể Sinh viên, học sinh đi theo lớp, cán bộ công nhân đi theo cơ quan,người dân đi theo hội đồng niên, hội phụ nữ, hội người cao tuổi… Đi theohình thức này tập thể khách thường có người đại diện (trưởng đoàn) chịutrách nhiệm về tất cả các dịch vụ, hoạt động của chuyến đi Riêng đối với loạihình du lịch văn hóa tâm linh, người trưởng đoàn còn phải đại diện thựchiện các nghi lễ tại điểm du lịch: dâng hương, hoa quả… Các cá nhântrong đoàn đều ràng buộc mình vào tập thể Do vậy, đoàn khách có tính tổchức rất cao
Trang 22Căn cứ theo mục đích chuyến đi thì có 2 hình thức của du lịch vănhóa tâm linh là:
- Du lịch kết hợp tham quan: Du khách đi chơi, ngắm cảnh, trênđường đi có viếng cảnh các điểm du lịch văn hóa tâm linh
- Du lịch hành hương: Đây là một hình thức du lịch tâm linh cao độ,
số lượng người tham gia chưa nhiều và chưa phổ biến, phần lớn nhữngngười tham gia loại hình này đều đã có những giác ngộ nhất định Ví dụ nhưnhiều Phật tử hàng năm thường tổ chức đi du lịch về nguồn gốc xuất tíchcủa đạo Phật như du lịch hành hương về xứ Ấn Độ, Nêpan nơi có di tích “tứđộng tâm” của Phật Thích ca
Vai trò của du lịch văn hóa tâm linh
Với bản chất của du lịch văn hóa tâm linh là khai thác các đối tượngtôn giáo, tín ngưỡng tâm linh vào hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn các nhucầu tín ngưỡng, tôn giáo, tham quan, tìm hiểu và nâng cao nhận thức của dukhách, việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh sẽ có những tác động tích cực:
- Về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, du lịch văn hóa tâm linh mang đếncho du khách cái nhìn bao quát về bối cảnh lịch sử ra đời và phát triển củacác tín ngưỡng tôn giáo, bên cạnh các giá trị thẩm mỹ về nghệ thuật, kiếntrúc của các di tích, công trình, kiến trúc
Bên cạnh đó, hoạt động du lịch tâm linh giúp cho khách du lịch có cơ hội xácđịnh niềm tin của mình đối với một tôn giáo tín ngưỡng cụ thể Niềm tin đó
sẽ giúp cho du khách cảm nhận được giá trị thiêng liêng gắn với các biểutượng cụ thể của các di tích, danh thắng
- Về mặt xã hội, khác với các loại hình du lịch khác, hoạt động du lịchvăn hóa tâm linh không đơn giản chỉ là vãn cảnh hay tìm hiểu một nền vănhóa khác Triết lý đạo Phật cũng như các tôn giáo khác là sống tốt đời đẹpđạo Do đó, sau chuyến đi du lịch nhiều du khách có thể có những thay đổi về
tư duy và hành xửtrong cuộc sống, tháo gỡ được cảm xúc khổ đau, vun
Trang 23buồn, tâm thành hướng thiện và phát triển tinh thần minh triết Du lịchvăn hóa tâm linh mang lại những trải nghiệm thanh tao cho du khách,nhận thức và tận hưởng những giá trị về tinh thần giúp cho con người đạt tới
sự cân bằng, cực lạc trong tâm hồn như theo triết lý từ, bi, hỷ, xả của đạoPhật… Những giá trị ấy có được nhờ du lịch tâm linh và đóng góp quantrọng vào sự an lạc, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho dânsinh Làm trỗi dậy đời sống giác ngộ của khách du lịch tại những địa danhtâm linh là mục tiêu của các chuyến du lịch tâm linh
Tham gia vào hoạt động du lịch tâm linh, mọi người đều như nhautrong vai trò của một tín đồ, không phân biệt thành phần xã hội, giai cấp,không phân biệt sang hèn, giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội… Du lịch văn hóatâm linh có thể giúp cho mỗi người gỡ bỏ đi “vai diễn kẻ lạ mặt”(L‟estranger – chữ của Albert Camus) để sống hòa hợp tự nhiên như tất cảmọi chúng sinh trên mặt đất
- Về phương diện kinh tế du lịch, hoạt động du lịch văn hóa tâm linhgóp phần tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở vùng nôngthôn nơi tỷ lệđói nghèo còn cao, góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồngdân cư, phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyềnthống, vì vậy góp phần phát triển bền vững từ góc độ văn hóa và xã hội dulịch
Với những tác động tích cực trên, việc đẩy mạnh phát triển hoạt động
du lịch văn hóa tâm linh sẽ có vai trò rất quan trọng trong phát triển du lịchbền vững ởViệt Nam Ngoài việc thúc đẩy kinh tế du lịch, phát triển kinh tếdịch vụ, du lịch văn hóa tâm linh nếu được phát triển lành mạnh, đúng hướngcòn mang lại nhiều giá trị truyền thống, những giá trị tinh thần, những giá trịvăn hóa lịch sử Đặc biệt trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, cuộcsống càng xô bồ, thì con người càng hướng tới đức tin Những đức tin
Trang 24lành mạnh sẽ giúp con người hướng thiện, loại dần các ác, đem đến sự anlành của tâm hồn con người trong xã h ội đầy biến động.
1.2.3 Điểm đến của du lịch văn hóa tâm linh
Theo quan điểm Marketing:“Điểm đến du lịch là một địa điểm mà
chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”
Đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, điểm đến du lịch lànơi tập trung một loại hình du lịch văn hóa tâm linh nào đó phục vụ du lịch.Thông thường, điểm đến này thường gắn với các di tích gắn với tôngiáo (như văn miếu, chùa, nhà thờ…), và các di tích gắn với tín ngưỡng(đình, đền, miếu, phủ )
1.2.4 Cơ sở vật chất, kỹ thuật của du lịch văn hóa tâm linh
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm: cơ sở vật chất của ngành
du lịch (hệthống cơ sở ăn uống, vui chơi, giải trí…là yếu tố trực tiếp đối vớiviệc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng cho
du khách; cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân kháctham gia phục vụ du lịch (giao thông, bưu chính, điện nước…) Những yếu tốnày có ý nghĩa rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác tàinguyên, phục vụ khách du lịch, đồng thời góp phần quyết định độ dài thờigian lưu trú và mức chi tiêu của du khách
Đối với khách du lịch văn hóa tâm linh thì cơ sở vật chất kỹthuật phải có những điều kiện phục vụ đặc trưng riêng, với cơ sở ăn uống thì
có thể đó là các nhà hàng ăn chay, ăn kiêng…, với cơ sở lưu trú thì cần trangtrí, bày trí trang thiết bịtrong phòng, buồng khách sạn sao cho phù hợp vớitừng đối tượng khách theo tín ngưỡng, tôn giáo…tuy nhiên vẫn phải đảm bảođược 4 yêu cầu chính: mức độ tiện nghi, mức độ thẩm mỹ, mức độ vệ sinh vàmức độ an toàn
Trang 251.2.5 Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh
Theo Luật du lịch Việt Nam (điều l4 chương 1): “Sản phẩm
du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.
Theo quan điểm Marketing: “Sản phẩm du lịch là những
hàng hóa và dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút
sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch”.
Các yếu tố của sản phẩm du lịch bao gồm: điểm thu hútkhách; khả năng tiếp cận của điểm đến; các tiện nghi và dịch vụ của điểmđến; hình ảnh của điểm đến; giá cả hàng hóa, dịch vụ của điểm đến
Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh mang những đặc điểm củasản phẩm du lịch văn hóa: Có tính bền vững, bất biến cao; Mang nặng dấu ấncủa cộng đồng dân cư bản địa, nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa, tinhthần của cư dân bản địa; Sản phẩm mang nặng định tính, khó xác định địnhlượng, giá trị của sản phẩm mangtính vô hình, thể hiện qua ấn tượng, cảmnhận
1.2.6 Khách du lịch với mục đích văn hóa tâm linh
Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng khách dulịch là nhân tố quyết định Nếu không có khách du lịch thì các nhàkinh doanh du lịch không thể kinh doanh được Như vậy nếu nhìn trên góc
độ thị trường thì khách du lịch chính là “cầu thị trường”, còn các nhà kinhdoanh du lịch là “cung thị trường”
Vậy khách du lịch là gì?
Theo Luật du lịch (Chương 1, điều 4): “Khách du lịch là người đi
du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để thu nhập ở nơi đến”.
Trang 26Theo PGS.TS Trần Đức Thanh thì: “Du khách là những người từ
nơi khác đến với/ hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần, hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ăn uống…”
Như vậy, có thể khái quát khách du lịch văn hóa tâm linh là:
- Khách di du lịch với mục đích là văn hóa tâm linh và mang đầy đủcác yếu tố của khách du lịch Khách có thể đi với động cơ là nghỉ ngơi,phục hồi tâm sinh lý, hay đi với mục đích tham quan, nghiên cứu, học tập vềvăn hóa hoặc kết hợp với mục đích khác như công vụ, hội nghị, hội thảo
- Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm dulịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởngniệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc, gắn kết vớivăn hóa truyền thống, lối sống địa phương Ở đó, du khách tiến hành cáchoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế,chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội…
1.2.7 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch văn hóa tâm linh
Di sản văn hóa (bao gồm vật thể và phi vật thể) được xác định là bộphận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người Đó là tài sản quýgiá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do cáctác động của các yếu tố ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiếntranh; sự phát triển kinh tếmột cách ồ ạt; sự khai thác không có kiểm soát chặtchẽ; sự buôn bán trái phép đồ cổ; sự mai một truyền thống đạo đức do giaolưu, tiếp xúc và cuối cùng là việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp,không theo đúng những chuẩn mực khoa học…đang là mối nguy cơ đốivới các di sản văn hóa Bởi vậy, việc bảo tồn, khôi phục, gìn giữ những tàisản quý báu đó vừa là nhu cầu tự thân, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với hoạtđộng du lịch Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đang là
Trang 27mối quan tâm của tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đangpháttriển và hội nhập như Việt Nam
Tuy nhiên,đây cũng lại là một vấn đề rất nhạy cảm vì tài nguyên disản văn hóa mang những đặc điểm rất riêng biệt, đa dạng và dễ bị tổn thương,
ở nhiều nơingười ta đã và đang làm mất giá trị, thậm chí “giết chết” di tíchtrong quá trình trung tu.Nguyên nhân của mọi sự sai lầm đều xuất phát từnhận thức lệch lạc, trong đại bộ phận các trường hợp là do quá coi trọng việcphát triển kinh tế, đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết Nguyên nhân thứ hai là
sự thiếu hiểu biết về bảo tồn văn hóa, người ta nỗ lực làm lại mới hoàn toànnhiều thành phần thậm chí cả một hạng mục công trình mà không hề biếtrằng như thế di tích đã bị xóa sổ, thay vào đó là một hình ảnh phỏng dựng
“vô hồn” của di tích Do đó, quá trình bảo tồn di sản văn hóa phải được thựchiện nghiêm túc, có bài bản, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về di tích
đó một cách thấu đáo, đồng thời phải được giám sát một cách cẩn trọng.Càngkhông nên coi công tác bảo tồn và trùng tu di tích là một loạt những côngthức hay mô hình sẵn có mang tính vạn năng, cứng nhắc Ngược lại, trongcông tác bảo tồn và trùng tu di tích, các chiến lược cụ thể, những mô hình,nguyên tắc mang tínhchất lý thuyết phải được vận dụng linh hoạt tuỳ thuộcvào điều kiện lịch sử, nét đặc thù và các mặt giá trị tiêu biểu của những ditích cụ thể theo thứ tự ưu tiên như sau:
Thứ nhất, ưu tiên hàng đầu là bảo vệ và phát huy các mặt giá trị tiêu biểucủa di tích (giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học và những chức năngtruyền thống cũng như công năng mới của di tích)
Thứ hai, áp dụng mọi biện pháp có thể để bảo tồn và trùng tu, tạođiều kiện lưu giữ lâu dài và chuyển giao yếu tố nguyên gốc và tính chân xáclịch sử của di tích cho thế hệ tiếp theo– những người sẽ có các điều kiện vậtchất và kỹ thuật chắc chắn là hơn hẳn chúng ta, có thể đưa ra những phương
án bảo tồn thích hợp hơn.Thứ ba,việc bảo tồn và trùng tu còn phải đảm bảo
Trang 28duy trì được những chức năng truyền thống của di tích Bởi vì, những chứcnăng truyền thống đó sẽ tạo cho di tích khả năng đáp ứng được nhu cầu sửdụng của thời đại.
Từ những điều trình bày ở trên, trong chiến lược bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa cần thực hiện những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chỉ can thiệp tối thiểu tới di tích, nhưng cần thiết lập một cơ chế
duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ để đảm bảo cho di tích được ổnđịnh lâu dài
Thứ hai, di tích có thể sử dụng và phát huy phục vụ nhu cầu xã hội theo
những chuẩn mực khoa học đã được xác định Sử dụng và phát huy các mặtgiá trị của di tích cũng chính là biện pháp bảo tồn có hiệu quả nhất
Thứ ba, bảo tồn di sản văn hóa phải triển khai song song và phục vụ cho sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại, phát triển phải kết hợp với bảotồn disản văn hóa
Theo luật Di sản văn hóa (chương 1, điều 4) thì bảo tồn di sản văn hóagồm các hoạt động sau:
1 Sưu tập: là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc disản văn hoá phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theonhững dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhucầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội
2 Kiểm kê di sản văn hóa: là hoạt động nhận diện, xác định giá trị vàlập danh mục di sản văn hóa
3 Thăm dò, khai quật khảo cổ: là hoạt động khoa học nhằm pháthiện, thu thập, nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảocổ
4 Bảo quản di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế nhữngnguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn
Trang 29có của di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vậtquốc gia.
5 Tu bổ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh: là hoạtđộng nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danhlam thắngcảnh
6 Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh: là hoạtđộng nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bịhuỷ hoại trên cơ sở các cứliệu khoa học về di tích lịch sử - văn hoá, danh lamthắng cảnh đó
1.3 Đặc điểm hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam
Sự đặc thù khác biệt của du lịch tâm linh ở Việt Nam so với các nơikhác trên thế giới có thể nhận thấy là:
- Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin Trong đó ở Việt Nam,Phật giáo có số lượng lớn nhất và cùng tồn tại với các tôn giáo khác nhưThiên Chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo… Triết lý phương Đông, đức tin, giáopháp, những giá trịvật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trìnhtôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình vănhóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng của mục tiêu hướng tới của dulịch tâm linh
- Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân nhữngvịanh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (ThànhHoàng) trởthành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớnguồn Mới đây, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã đượcUNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện nhân loại
- Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòngtộc, tri ân, báo hiếu đối với bậc sinh thành
- Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinhthần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời
Trang 30sống tinh thần Đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó làThiền phái Trúc lâm Yên Tử.
- Du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tốlinh thiêng và những điều huyền bí (tín ngưỡng thờ Mẫu)
Trong những năm gần đây, du lịch tâm linh tại Việt Nam đã có bướcphát triển, tuy nhiên phần lớn các tour du lịch đến các danh lam thắng cảnh,chùa chiền chỉ theo dạng hành hương vào mùa lễ hội Nói một cách khác,hình thức du lịch này chỉ dừng lại ở việc du lịch tín ngưỡng chứ chưa hoàntoàn là du lịch tâm linh Với du lịch tâm linh, nó bao hàm cả hành trình tìmkiếm các giá trị văn hóa truyền thống lẫn tìm lại chính mình Với họ, cácthánh tích, Phật tích là những nơi giác ngộ, nơi có thể trao tặng cho họ cácthông điệp tuyệt vời, chứa đựng sự hòa hợp giữa con người với thế giới.Viếng một ngôi chùa, thắp một nén nhang thành tâm cầu nguyện và nghe sưthầy giảng kinh trong không gian tĩnh tại giúp con người bình tâm và thanhthản, tạm quên đi những giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi, những sức éptrong cuộc sống thường nhật Du lịch thường phải đi lại, di chuyển từ điểmtham quan này đến các điểm khác, trong khi tâm linh, tín ngưỡng lại là nhữngyếu tố tĩnh tại, nằm sâu bên trong mỗi con người Du lịch tâm linh chính là
sự kết hợp cả hai yếu tố này, như có âm có dương, có tĩnh có động Mụcđích của du lịch văn hóa tâm linh như đã trình bày ở trên là tham quan, tínngưỡng tôn giáo và tham dự lễ hội Thời điểm lễ hội là thời gian thu hútkhách du lịch nhiều nhất
Trên thế giới,có những lễ hội đã được quốc tế hóa, góp phần xây dựngthương hiệu du lịch và đưa hình ảnh quốc gia đó đi khắp nơi nhưng vẫn giữđược các giá trị nguyên bản của mình như lễ hội té nước trong dịp lễ cổtruyền Songkran ở Thái Lan hay trong lễ hội Chol Chnam ở Campuchia, lễhội Carnaval ởBraxin, lễ hội bia ở Đức, lễ Phục sinh, lễ Nô en…
Trang 31Còn ở Việt Nam, trong nhiều năm trở lại đây, nhiều tỉnh, thành phốtrong cả nước thường xuyên tổ chức những lễ hội, những sự kiện văn hóahoành tráng trong các dịp lễ, Tết hoặc trong các dịp kỷ niệm những sự kiệntrọng đại của đất nước và địa phương, nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức vănhóa, đời sống tín ngưỡng, tâm linh của người dân và để phục vụ phát triển
du lịch Ðể phục vụ các lễ hội, nhiều di sản văn hóa phi vật thể, nhất là các lễhội truyền thống, đã được phục dựng, tái hiện rất quy mô, góp phần làm cho
"bức tranh lễ hội" ở Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng
Ngược lại, do thiếu hiểu biết về di sản văn hóa, do xu hướng thươngmại hóa và chính trị hóa hoạt động lễ hội nên việc phục dựng, tái hiện các lễhội truyền thống đã có những bất cập, tạo nên những hệ lụy không mong đợi,gây phản ứng xấu trong dư luận và cộng đồng Thực tế cho thấy ngoài một số
ít thành công như Quảng Nam, Đà Nẵng còn lại hầu hết gây hiệu ứng ngược,không những không nâng cao sự chi tiêu của du khách mà còn gây mất anninh trật tự, cuộc sống cộng đồng bị xáo trộn
Trang 321.4 Kết luận chương 1
Du lịch văn hóa tâm linh đang là một hình thức phát triển rất mạnh ởnhiều nơi trong đó có Việt Nam Du khách đi theo loại hình du lịch nàythường tìm đến các đình, chùa, các thắng tích tôn giáo, tín ngưỡng để vãncảnh, cúng bái, cầu nguyện Tại đây, du khách hòa vào dòng tín đồ để cảmnhận vẻ yên bình, thanh thản, tĩnh tâm Du lịch tâm linh luôn gắn với đức tin
và hướng thiện Nó khai thác yếu tố tín ngưỡng tôn giáo,tín ngưỡng dân gianhoặc lịch sử dân tộc Một địa điểm hành hương có xuất xứ từ cội nguồn dântộc, mang yếu tố tín ngưỡng tôn giáo sẽ đem lại niềm tin cho du khách vềsức mạnh nội tâm, tìm đến sự an lạc trong tâm hồn và thăng hoa trong cuộcsống hướng thiện Đây cũng chính là mục đích cao nhất của hành trình dulịch văn hóa tâm linh
Ngoài ra, hoạt động của loại hình du lịch này phải dựa trên nguyên tắctôn trọng và gìn giữ các giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trịtinh thần, thông qua hoạt động du lịch để bảo tồn các di tích có ý nghĩa tínngưỡng tôn giáo như: chùa, đình, đền, nhà thờ…hay các nghi lễtruyền thống,
lễ hội, văn hóa nghệ thuật, ẩm thực…Vì đó là đối tượng chính tạo nên sảnphẩm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn du khách
Trang 33Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA, TÂM LINH TẠI QUẦN THỂ ĐỀN TRẦN XÃ TIẾN ĐỨC, HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH VÀO HOẠT ĐỘNG
Những năm cuối thế kỷ XII, triều Lý bắt đầu suy vong do các vua lênngôi khi còn nhỏ tuổi và chết yểu( Lý Thần Tông thọ 23 tuổi, Lý Anh Tôngthọ 40 tuổi, Lý CaoTông thọ 38 tuổi, Lý Huệ tông thọ 33 tuổi, ) do đó quyềnhành rơi vào tay ngoại tộc vốn lắm kẻ gian tham, bất tài, hại dân Vào cuốithời Lý, các quý tộc quan lại họ Trần nổi lên như một thế lực lướn có cônggiúp nhà Lý bình định thiên hạ
Năm 1209, khi tong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạylên Quy Hóa, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ.Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần
Lý Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ QuáchBốc( thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý tở lại kinh đô Cậu ruột củaTrần Thị Dung là Tô Trung Từ đã được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ
Trang 34Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm
1211, tức vua Lý Huệ Tông Ông đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làmnguyên phi Lúc này, Tô Trung từ được phong làm Thái úy phụ chính
Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị thái hậu họ Đàm khống chế, nênmọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưngkhông có học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán Vìthế chính sự ngày một đổ nát Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản,
tự tập bè đảng ở Hồng Châu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không thế chếngự nổi Năm 1216, trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông
đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùng với Trần Thị Dung trốn đến nơi đóng quâncủa Trần Tự Khánh( Con trai thứ của Trần Lý) Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụthuộc vào thế lực anh em họ Trần
Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều ủy quyền cho TrầnThủ Độ khi ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân Là người có mưu, quyếtđoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúaChiêu Thánh, rồi cắt tóc đi tu vào chùa Chân Giáo Liền sau đó, Trần Thủ Độthu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai của Trần Thừa là TrầnCảnh lên 6 tuổi Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Lý ChiêuHoàng đã nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị với vịvua đầu tiên là Trần Thái Tông-Trần Cảnh
Ngay sau khi thành lập, nhà Trần đã chấm dứt được tình trạng hỗnloạn của xã hội Đại Việt vào cuối thời Lý, củng cố và xây dựng bộ máy chínhquyền từ Trung ương đến địa phương, lập lại trật tự chính trị, xã hội, chăm lophát triển kinh tế, văn hóa
Đại phá quân Mông- Nguyên:
Một trong những chiến công lừng lấy nhất của vương triều nhà Trần
đó là ba lần đánh thắng quân Mông- Nguyên, thế lực hung hãn nhất lúc bấygiờ vào năm 1258,1285 và 1287
Trang 35Mông – Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới Những nơingười Mông bại trận lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Indonesiađều có biển cả ngăn cách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủynên mới bị thua trận Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lụcTrung Hoa, chung đường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà ngườiMông vẫn không đánh chiếm được Một đế quốc đã bao trùm cả đại lục Á-
Âu mà không lấy nổi một dải đất bé nhỏ ở phía Nam Có so sánh tương quanlực lượng với kẻ thù và vị trí địa lý với những quốc gia làm được điều tương
tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến công 3 lần đánh đuổi quân Mông –Nguyên của nhà Trần
Những võ công oanh liệt của quân dân Đại Việt chống quân xâm lượcMông- Nguyên thế kỷ XIII cùng với công lao của nhà Trần trong việc thốngnhất đất nước, ổn định và phát triền kinh tế- văn hóa- xã hội đã đưa vươngtriều Trần lên vị trí là một trong những triều đại có đóng góp lớn nhất đối với
sự phát triển của lịch sử dân tộc và trong công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ
Tổ quốc Và nhà Trần cũng được coi là thời kỳ vàng son của văn minh ĐạiViệt, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam
2.1.2 Ảnh hưởng của triều đại nhà Trần tới mảnh đất Long Hưng,
1995 và Hội nghị “ Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn vàquê hương Nam Định” năm 2000, đều được tổ chức ở Nam Định
Trang 36Theo Giáo sư sử học Lê Văn Lan trong bài Bàn về đất phát tích nhà
Trần: “ theo một cách hiểu thông thường: đất phát tích của dòng họ là nơi mà
tổ tiên trực tiếp của dòng họ ấy sinh sống Và căn cứ vào thực tiễn đời sống
cổ truyền của dân tộc cùng văn minh đất nước, thì từ lâu đã hình thành mộttiêu chí dựa trên quy luật của mối liên quan hữa cơ giữa nơi sống và nơi chết
của người xưa: Sống ngâm da, chết ngâm xương, để đời sau có thể nhận ra
nơi sống của đời trước ở chính chỗ chỉ còn lại dấu vết ký gửi thân xác của họ.Tha ma, nghĩa địa trở thành chỗ để xác định nơi đã sống của một công đồng,
còn mộ tổ thì chính là một điểm chuẩn để có thể tìm kiếm đất phát tích của một dòng họ, một gia đình, là vì như vậy.” ( Nhà Trần và con người thời
Trần, Viện sử học, hội khoa học lịch sử Việt Nam, Sở VHTT&DL tỉnh Thái
Bình tái bản, 2010, tr.27)
Tài liệu chính sử cổ nhất nói về cội rễ nhà Trần là Đại Việt sử ký toànthư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê Trong quyển V, mở đầu Kỷ nhàTrần, viết” Có người tên Kinh đến hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường sinh
ra Hấp, Hấp sinh Lý, Lý sinh ra Thừa đời đời làm nghề đánh cá Vua là conthứ của Thừa, mẹ họ Lê, sinh ngày 16/6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8 triềuLý” ( Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH, H.1998,T2,tr.7) Theo đoạn tríchnày, Trần Kinh là ông tổ đời thứ 5 tính từ Trần Cảnh( Trần Kinh – Trần Hấp-Trần Lý – Trần Thừa – Trần Cảnh) đã đến ở hương Tức Mặc, phủ ThiênTrường tức là vùng Mỹ Lộc, Nam Định ngày nay và bốn đời làm nghề đánhcá
Năm 1209, một sự kiện lịch sử vào những năm cuối vương triều Lý,trong buổi loạn lạc Quách Bốc, đã được các văn bản sử học ghi chép như mộttài liệu đương đại: “ Hoàng thái tử Sảm( tức Lý Huệ Tông sau này) đến thônLưu Gia ở Hải Ấp nghe tiếng con gái của Trần Lý có nhan sắc, bèn lấy làm
vợ Nhà Trần Lý nhờ có nghề đánh cá nên giàu, người quanh vùng theo về,nhân có quân chúng, cùng nổi lên làm giặc Thái tử đã lấy con gái của Lý,
Trang 37trao cho Lý tước minh tự, phong cho cậu người con gái ấy là Tô Trung Từlàm điện tiền chỉ huy sứ” ( Đại Việt sử ký toàn thư,T1, t.334)
Như vậy, muộn nhất là từ đời Trần Lý đã sinh sống ở thôn Lưu Gia,Hải Ấp và vẫn tiếp tục nghề đánh cá Mặt khác, sách Đại Nam nhất thống chí
có chép: “ Mộ tổ nhà Trần ở xã Tiến Đức,Thái Đường, Hưng Nhân”, tức thônTam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay, cùngvới một truyền thuyết nói rằng Trần Hấp đã được một thầy địa lý tìm cho gòhỏa tinh để táng mộ cha mình là Trần Kinh Theo thầy địa lý, ngôi mộ đượctáng ở một thế đất mà sau này trong họ sẽ có người do nhan sắc mà lấy đượcthiên hạ Quả nhiên sau này, Trần Thị Dung đã được làm hoàng hậu, và nhờ
đó thế lực nhà Trần bắt đầu lớn mạnh cho tới khi Trần Cảnh được Lý ChiêuHoàng nhường ngôi, chính thức là vị vua đầu tiên của nhà Trần
Cũng ở Đại Việt sử ký toàn thư quyển VI phần viết năm 1299: “Thượng hoàng ( Trần Nhân Tông) từng ngự cung Trùng Quang, vua ( TrầnAnh Tông) đến chầu, có Quốc công Quốc Tuấn đi theo Thượng hoàng nói: “Nhà ta vốn người hạ lưu, đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường xăm hìnhrồng vào đùi, neeos nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ ra khôngquên gốc.” Đây là một đoạn sử, chép lời vị nhân vương lớn, lại có sự chứngkiến của Quốc công Quốc Tuấn và đương kim hoàng đế nên hàm chứa nhiềuthông tin hiển minh
Vì thế có thể khẳng định rằng nhà Trần gốc vùng biển, nói đúng hơn làgốc dân chài vùng ven biển Vì nghề gốc là chài lưới, chỗ ở không ổn định,nay đây mài đó, đâu cũng là nhà nên chưa kể đến việc phát tán các chi họ- chỉtính dòng trực hệ cũng có sự lưu động, phiêu bạt của tổ tiên nhà Trần Hoàntoàn có thể tin tưởng là tổ thứ nhất họ Trần( Trần Kinh) đầu tiên cư ngụ ở TứcMặc( Hà Nam Ninh) như Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều gia phả, thần phảchép Tuy nhiên, cũng hoàn toàn đúng là đến đời tổ thứ hai( Trần Hấp) thì dolối sống của nghề chài, thêm với sức hút của thuật phong thủy, họ Trần đã dời
Trang 38sang Thái Đường và phụ cận (Thái Bình) để rồi ở đó và từ đó các đời tổ thứ
ba, thứ tư( Trần Lý, Trần Thừa) cùng anh em con cháu họ hàng là Trần Thịdung, Trần Tự Khánh, Tô Trung Từ, và các thế lực trực thuộc, bước vàochính trường, thành công Và cũng có ít nhất một trong các vị vua khai sángnhà Trần( Trần CẢnh- Trần Thái Tông) sinh ra ở đây Vì vậy, có thể nói rằngLong Hưng là đất phát tích của nhà Trần
Giáo sư Lê Văn Lan cũng đưa ra một công thức có dạng vẻ toán học
để lý giải cho hiện tượng văn hóa này:
Đất lăng mộ = Đất phát tích
Theo GS: Các vua nhà Lý chết ở Thăng Long đều đưa về chôn ở châu
Cổ Pháp( phủ Thiên Đức), cùng Bắc Ninh ngày nay Các vua nhà Lê cũngchết ở Thăng Long và đều được đem về an táng ở Lam Sơn ( Lam Kinh)thuộc huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hóa bây giờ Cổ Pháp là đất phát tích nhà
Lý, Lam Sơn là đát phát tích nhà Lê, đó là điều không cần tranh cãi Văn hóahọc- lịch sử học đúc kết: các triều Lý, Lê đưa các nhà vua của mình về đấtphát tích an táng là để biểu thị ý thức nhớ nguồn và hành động về nguồn, ýthức và hành động truyền thống của Việt Nam Nhà Trần, tồn tại giữa nhà Lý
và nhà Lê, không và không có biểu hiện gì ngoại lệ Vì vậy ý nghĩa hoàn toàn
có thể rút ra được ở đây là: Chọn phủ Long Hưng làm nơi xây cất lăng mộcủa các vị vua đầu của mình, triều Trần đã tự bộ lộ và kahwngr định rằng đất
phát tích của mình là ở đây ( GS Lê Văn Lan, Bàn về đất phát tích nhà Trần,
Nhà Trần và con người thời Trần, 2010,tr32)
Năm 1277, hoàng đế đầu tiên của nhà Trần: Trần Thái tông, mất ởcung Vạn Thọ, thành Thăng Long Thái Tông được đưa đi chôn ở ChiêuLăng Năm 1288, tháng 4 sách Đại Việt sử ký toàn thư nói đến Chiêu LĂngnhư sau: “ Hai vua ( Thánh Tông và Nhân Tông từ Bạch Đằng) trở về phủLong Hưng Ngày 17, đem các tướng của giặc bị bắt la Tích Lệ Cơ Ngọc và
Ô Mã Chi làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng
Trang 39Nhà nghiên cứu mỹ thuật học Nguyễn Du Chi trong sách “ Mỹ thuậtđời Trần đã đúng khi viết: “ Nhìn chung vào đầu thời Trần, việc an táng cácvua thường được tổ chức ở vùng phủ Long Hưng( Thái Đường và Thâm Độngthuộc huyên Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay.)”.
Từ đó có thể thấy rằng, sau khi nắm giữ vương quyền, các vị vua Trầnchọn Thăng Long làm kinh thành, chọn Tức Mặc là nơi xây dựng hành cung,nhưng đã chọn Long Hưng là nơi xây miếu của các vị vua đầu triều Trần,cùng một số hoàng hậu và công chúa Bởi Long Hưng là nơi đặt mộ tổ, là đấtphát tích- sáng nghiệp- dựng nghiệp của nhà Trần
2.2 Khái quát chung về quần thể đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng
Hà, tỉnh Thái Bình
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Mỗi triều đại phong kiến thường tôn lên hai thứ giá trị cao nhất, coi
là hai mục tiêu có ý nghĩa cốt tử ngang nhau đối với vận mệnh của vươngtriều đó là: tôn miếu và xã tắc
Xã tắc là đất đai, cượng vực cộng với sức dân trăm họ, đó là cái sởhữu của vương triều Xã tắc an hay nguy- nghĩa là đất đai vương quốc hìnhyên hay xâm lấn, lòng dân thuận hay oán- thì vương triều vững hay nghiêng.Tôn miếu là lăng tẩm cùng đền miếu thờ tổ tiên và các tiên đế, tiên hậu- theoquan niệm của vương triều là khí thiêng, ân trạch, là lực lượng tinh thầnthiêng liêng để thống trị tinh thần cả trăm quan, trăm họ Tôn miếu hưng hayphế, mồ mả tổ tiên an toàn hay bị đào bới thì vương triều vinh hay nhục Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn có nhấn mạnh: “Không những
xã tắc, tôn miếu của ta bị người khác dày xéo, mà mồ mả cha mẹ các ngươicũng bị đào bới”
Xét trên khía cạnh đó, thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng
Hà hay Thái Đường mà thời Trần gọi là hương Tinh Cương, phủ Long Hưng
là nơi đặt mộ tổ, là đất phát tích và sau đó đã được các vua Trần chọn làm nơi
Trang 40xây dựng tôn miếu, du sau khi lên ngôi, Thăng Long được chọn làm kinh đô
và Tức Mặc là nơi xây dựng hành cung để nghỉ ngơi
Các vị vua nhà Trần chọn Long Hưng làm nơi dựng lăng miếu vì nơiđây không những là nơi đặt mộ tổ- đất phát tích của dòng họ, mặt khác còn vìLong Hưng có một vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông , phát triển kinh tếcũng như quân sự Long Hưng là bãi biển mới được bồi đắp do phù sa cácsông lớn, nhất là sông Hồng tạo nên Do đó đất đai màu mỡ, sản xuất nôngnghiệp phát triển Là nơi sông nhiều, thuận lợi cho nghề sông nước, cho giaothông vận tải, sản xuất nông nghiệp
Do nhiều lý do mà trước đây khu di tích này đã bị hủy hoại Song cùngtừng được tu tạo và duy trì trong cá triều đại sau đó Sau khi cuộc Hội thảo vàkhai quật khảo cổ học chứng minh Tam Đường là đất phát tích nhà Trần, khu
di tích này đã nhận được rất nhiều sự quan tâm từ các cấp nhằm tái tạo lại nó.Năm 1990, Khu di tích đã được Bộ Văn hóa- thông tin, thể thao và Du lịchcông nhận là Khu Di tích Khảo cổ học và Di tích Lịch sử Quốc gia
Ngay sau khi xếp hạng, được sự giúp đỡ của Bộ VHTT & DL vàUBND tỉnh , Sở VHTT & DL đã chỉ đạo Bảo tàng tỉnh bước đầu khôi phụcnơi thờ các vị vua Triều Trần trên di chỉ khảo cổ này, nhằm mục đích tôn vinhmột triều đại oanh liệt trong lịch sử dân tộc, nhằm khẳng định vai trò, vị trícủa đất Tam Đường và cả vừng đất Thái Bình là nơi đặt mộ tổ, đất phát tích,quê hương thứ hai của vua Trần, vùng hậu phương lớn của nhà Trần trong balần kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên
Năm 1992, Bảo tàng Thái Bình đã xây dựng một công trình kiến trúc
gỗ lim kết cấu chữ nhất, không có hậu cung, 7 gian, mái chảy, hồi văn 5 đấu,
vì kèo chống đấu hoa sen, nguyên là một ngôi đình cũ, được tôn dựng làm nơithờ các vị vua Trần Vị trí ngôi đền ấy nằm ở phía Bắc đường liên xã, quay vềhướng Nam, cách đường 50m