I. “ĐẨY MẠNH CNH – HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC” LÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY:1. Khái quát chung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và kinh tế tri thức.1.1. Kinh tế tri thức:Về mặt khoa học, khái niệm “kinh tế tri thức” đã được nhiều nhà khoa học đề cập tới. Đến nay, đã có gần chục định nghĩa, nhưng chưa có một định nghĩa nào được coi là hoàn chỉnh, có giá trị phổ biến. Biết rằng, cách mạng khoa học và công nghiệp hiện đại thường được gọi là cách mạng tri thức, đã, đang tạo ra những thay đổi to lớn, sâu sắc trong sản xuất kinh doanh, trong tiêu thụ, lối sống, cách tổ chức quản lý và mọi mặt của đời sống xã hội. Lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt dựa vào năng lực tri thức của con người là một đặc trưng cơ bẩn của thời đại ngày nay. Tất nhiên các nền kinh tế truyền thống dù ít, dù nhiều đều dựa vào tri thức, nhưng trong thời đại ngày nay thì tri thức đã trở thành một yếu tố của sản xuất , quan trọng hơn cả tài nguyên và vốn. Vì thế, trong kinh tế tri thức đích thực thì mỗi lĩnh vực kinh tế, không chỉ là các ngành công nghệ thông tin, công nghệ cao, đều trở thành ngành kinh tế dựa vào tri thức.Như vậy, “kinh tế tri thức là kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, các hoạt động kinh tế được thực hiện dựa trên nền tảng tri thức, tri thức chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm xã hội”.Phát triển kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu khách quan; lôi cuốn tất cả các quốc gia. Các nước phát triển đi tới kinh tế tri thức là quá trình phát triển tự nhiên. Các nước đi sau phải nắm bắt các thành tựu mới của khoa học và công nghệ và kinh nghiệm các nước đi trước, đề ra chiến lược phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước. 1.2. Phát triển kinh tế tri thức là tất yếu lịch sử. Lao động sản xuất bao giờ cũng phải dựa vào tri thức, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít. Kinh tế nông nghiệp, khởi đầu cách đây khoảng mười ngàn năm, phải dựa nhiều vào hiểu biết về canh tác, chăn nuôi, thời tiết… tức là những tri thức cơ bản về nông nghiệp. Nhưng lúc đó đất đai, lao động thủ công lại quan trọng hơn, nên tri thức chỉ đóng vai trò thứ yếu.Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công nghiệp cơ giới xuất hiện và phát triển mạnh, dựa vào các tri thức cơ học cổ điển để chế tạo ra máy móc cơ khí phục vụ sản xuất . Nhưng để hình thành được thị trường hàng hoá kinh tế công nghiệp cổ điển thì tài nguyên và vốn (tư bản) lại quan trọng hơn nên tri thức cơ học cổ điển cũng chỉ có vai trò thứ yếu.Đến khoảng giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cổ điển hết tiềm năng phát triển và bắt đầu suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, chiến tranh huỷ diệt đe doạ thường xuyên… Trong bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại xuất hiện và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri thức khổng lồ, rất mới và vô cùng phong phú về thế giới vật chất vĩ mô và vi mô, với thuyết tương đối và thuyết lượng tử. Lực lượng sản xuất mới được hình thành dựa trên nguồn lực chủ yếu là tri thức, tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh mà điển hình là máy tính điện tử (máy điện toán) mô phỏng não người.
Trang 1I “Đẩy mạnh CNH – HĐH gắn với phát triển kinh tế tri HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức” là con đờng phát triển tất yếu của Việt Nam hiện nay:
1 Khái quát chung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và kinh tế tri thức.
1.1 Kinh tế tri thức:
Về mặt khoa học, khái niệm “kinh tế tri thức” đã đợc nhiều nhà khoa học đề cập tới Đến nay, đã có gần chục định nghĩa, nhng cha có một định nghĩa nào đợc coi là hoàn chỉnh, có giá trị phổ biến Biết rằng, cách mạng khoa học và công nghiệp hiện đại thờng đợc gọi là cách mạng tri thức, đã,
đang tạo ra những thay đổi to lớn, sâu sắc trong sản xuất kinh doanh, trong tiêu thụ, lối sống, cách tổ chức quản lý và mọi mặt của đời sống xã hội Lực l-ợng sản xuất phát triển nhảy vọt dựa vào năng lực tri thức của con ngời là một
đặc trng cơ bẩn của thời đại ngày nay Tất nhiên các nền kinh tế truyền thống
dù ít, dù nhiều đều dựa vào tri thức, nhng trong thời đại ngày nay thì tri thức
đã trở thành một yếu tố của sản xuất , quan trọng hơn cả tài nguyên và vốn Vì thế, trong kinh tế tri thức đích thực thì mỗi lĩnh vực kinh tế, không chỉ là các ngành công nghệ thông tin, công nghệ cao, đều trở thành ngành kinh tế dựa vào tri thức
Nh vậy, kinh tế tri thức là kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, các hoạt“
động kinh tế đợc thực hiện dựa trên nền tảng tri thức, tri thức chiếm tỷ trọng
Phát triển kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu khách quan; lôi cuốn tất cả các quốc gia Các nớc phát triển đi tới kinh tế tri thức là quá trình phát triển tự nhiên Các nớc đi sau phải nắm bắt các thành tựu mới của khoa học và công nghệ và kinh nghiệm các nớc đi trớc, đề ra chiến lợc phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nớc đi trớc
1.2 Phát triển kinh tế tri thức là tất yếu lịch sử
Lao động sản xuất bao giờ cũng phải dựa vào tri thức, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít Kinh tế nông nghiệp, khởi đầu cách đây khoảng mời ngàn năm, phải dựa nhiều vào hiểu biết về canh tác, chăn nuôi, thời tiết… tức tức
là những tri thức cơ bản về nông nghiệp Nhng lúc đó đất đai, lao động thủ công lại quan trọng hơn, nên tri thức chỉ đóng vai trò thứ yếu
Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công nghiệp cơ giới xuất hiện và phát triển mạnh, dựa vào các tri thức cơ học cổ điển để chế tạo ra máy móc cơ khí phục vụ sản xuất Nhng để hình thành đợc thị trờng hàng hoá kinh tế công nghiệp cổ điển thì tài nguyên và vốn (t bản) lại quan trọng hơn nên tri thức cơ học cổ điển cũng chỉ có vai trò thứ yếu
Trang 2Đến khoảng giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cổ điển hết tiềm năng phát triển và bắt đầu suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, chiến tranh huỷ diệt đe doạ thờng xuyên… tức Trong bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại xuất hiện và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri thức khổng lồ, rất mới và vô cùng phong phú
về thế giới vật chất vĩ mô và vi mô, với thuyết tơng đối và thuyết lợng tử Lực lợng sản xuất mới đợc hình thành dựa trên nguồn lực chủ yếu là tri thức, tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh mà điển hình là máy tính điện tử (máy điện toán) mô phỏng não ngời
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất mới này đã dẫn tới một hình thái kinh tế mới Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri thức, sự lan truyền và quảng bá nhanh tri thức đa vào ứng dụng là động lực chủ yếu của tăng trởng kinh tế, tạo ra của cải, tạo ra việc làm cho tất cả các ngành kinh
tế Nhà kinh tế học P.F.Durker gọi đó là nền kinh tế tri thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử dụng chính thức của Ngân hàng thế giới Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức Tài nguyên và vốn dù quan trọng vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu
Nh vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con ngời là
động vật duy nhất có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản xuất
và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức là chính Bởi vậy, kinh tế tri thức là một lịch sử tất yếu
1.3 Công nghiệp hoá:
Công nghiệp hoá (industrializati8on) là quá trình biến đổi xã hội và kinh tế từ một xã hội nông nghiệp (hay tiền công nghiệp), trong đó tích luỹ t bản trên đầu ngời rất thấp, lên xã hội công nghiệp Đó là một bộ phận của quá trình hiện đại hoá rộng lớn hơn Quá trình biến đổi xã hội và kinh tế đó gắn liền với quá trình đổi mới công nghệ, nhất là các cuộc cách mạng kỹ thuật
Quá trình đó liên quan với quá trình biến đổi hành chính, chính trị, ý thức t tởng và mọi mặt của đời sống xã hội loài ngời
Trong hai thế kỷ qua công nghiệp hoá gắn liền với sự phát triển chủ nghĩa t bản đã làm cho kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ, khoa học và công nghệ bùng nổ, lực lợng sản xuất loài ngời bớc lên thang bậc mới, của cải tạo
ra tăng lên hàng trăm lần, đem lại sự cờng thịnh cho nhiều quốc gia; nhng
đồng thời cũng gây ra nhiều quả nan giải cho loài ngời: cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trờng sống, khoảng cách giàu nghèo giữa các nớc tăng hàng trăm lần, cùng với nạn đói nghèo, sự bất công xã hội, sự suy giảm văn hoá,
đạo đức … tức Công nghiệp hoá t bản chủ nghĩa đang khoét sâu các mâu thuẫn
Trang 3của thời đại Mô hình công nghiệp hoá đó không còn phù hợp với thời đại ngày nay, chính chủ nghĩa t bản cũng phải đại điều chỉnh
1.4 Hiện đại hoá:
Hiện đại hoá (modernization) là một quá trình thờng đợc hiểu là quá trình biến đổi xã hội thông qua công nghiệp hoá, đô thị hoá và những biến đổi xã hội khác nhằm làm thay đổi cuộc sống con ngời Đó là quá trình biến đổi xã hội từ trình độ nguyên sơ lên trình độ phát triển và văn minh ngày càng cao Công nghiệp hoá là một bớc đi, một giai đoạn trên con đờng hiện đại hoá
Các thuyết về hiện đại hoá thờng đi sâu nghiên cứu ảnh hởng của các biến đổi xã hội đến sự phát triển và tiến bộ xã hội, họ không chỉ chú trọng vào quá trình biến đổi mà còn cách biến đổi nh thế nào, có liên quan đến cấu trúc xã hội và văn hoá cũng nh tính nâng động và khả năng thích nghi công nghệ mới
Trong chiến lợc công nghiệp hoá nớc ta, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá để nhấn mạnh tính hiện đại, tiến bộ, văn minh, sử dụng công nghệ mới, phơng pháp mới, nhất thiết không lặp lại mô hình công nghiệp hoá của các nớc đi trớc
2 Phát triển kinh tế tri thức là con đờng tất yếu của Việt Nam hiện nay:
Phát triển kinh tế tri thức là xu thế tất yếu của mọi nền kinh tế, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hội Một trong những đặc điểm nổi bật của thế giới hiện nay đó là cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển
nh vũ bão đã tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hoá có ảnh hởng sâu rộng đến
sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chiến lợc phát triển kinh tế tri thức theo những cách thức riêng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nớc Các nớc phát triển tập hợp thu hút lao động trí tuệ, thành tựu khoa học công nghệ ở nhiều nớc, nghiên cứu sâu vào lĩnh vực năng lợng mới, vật liệu mới, hoá sinh học, khám phá vũ trụ… tức để phát triển nền kinh tế Các nớc đang phát triển chọn hớng đi tắt, tạo động lực phát triển nhanh nhằm rút ngắn khoảng cách đối với các nớc phát triển
Sau 20 năm đổi mới thế và lực của đất nớc ta đã mạnh hơn nhiều, tuy
“từng bớc phát triển” nhng một số thành phần của kinh tế tri thức nh công nghệ thông tin, internet, điện thoại di động,… tức trong giai đoạn 2001 – 2008
đã phát triển khá nhanh Nhiều nớc phát triển nh Trung Quốc, Hàn Quốc, Phần Lan, ấn Độ… tức biết kết hợp phát triển kinh tế tri thức đều đạt tốc độ tăng
Trang 4tởng kinh tế khá cao Do đó, tranh thủ thời cơ mà bối cảnh quốc tế tạo ra, kết hợp nỗ lực với các thuận lợi bớc đầu về phát triển kinh tế tri thức Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng ta khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” Kinh tế tri thức hay kinh tế dựa trên tri thức là một vấn đề mới hiện nay
Nội dung của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức trong những năm tới đợc Nghị quyết Đại hội X chỉ rõ:
- Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế vốn tri thức của con ngời Việt Nam với tri thức mới của nhân loại
- Coi trọng cả số lợng và chất lợng tăng trởng kinh tế trong mỗi bớc phát triển của đất nớc, ở từng vùng, từng địa phơng, trong từng dự án kinh tế -xã hội
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ
- Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực nhất là các ngành, lĩnh vực có sức cạnh tranh cao
Xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế nớc ta, Đảng ta đề ra chiến lợc phát triển kinh tế tri thức gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
Đảng ta chỉ rõ: Phát triển kinh tế “ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm Con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nớc đi trớc, vừa có những bớc tuần tự; vừa có bớc nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nớc, tận trung mọi khả năng để đạt trình độ công nghiệp tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học Trung thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bớc phát triển kinh tế tri
Nớc ta muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá thì dứt khoát phải tận dụng những cơ hội do sự phát triển của khoa học công nghệ tạo ra Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thực chất là việc đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại ở tất cả các ngành, các lĩnh vực
Đại hội X xác định trong những năm tới cần: tranh thủ cơ hội thuận“
lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nớc ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của
Trang 5Việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lợng cao cho phát triển kinh tế tri thức, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá có vị trí hàng đầu; sự nghiệp giáo dục - đào tạo có vị trí đặc biệt quan trọng Đảng ta khẳng định:
phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
“
đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con
Giáo dục đào tạo cần đổi mới mạnh mẽ theo hớng phát triển kinh tế tri thức Thực hiện đổi mới mục tiêu, nội dung, phơng pháp dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử… tức Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến Nội dung chơng trình giáo dục phải
có tính hệ thống, toàn diện, gắn liền với thực tế cuộc sống, làm cơ sở cho việc tiếp thu các tri thức khoa học tiên tiến hiện đại trên thế giới Việc trang bị lý thuyết phải kết hợp với các hoạt động thí nghiệm thực hành, làm cho ngời học
tự chiếm lĩnh tri thức, tự rút ra những kết luận khoa học Phát huy tối đa năng lực t duy độc lập, sáng tạo của ngời học Kết hợp hình thức tự luận và trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá; xét duyệt hành tích học tập kết hợp với tổ chức thi trong việc tuyển sinh vào các trờng… tức
Cùng với giáo dục - đào tạo, lĩnh vực khoa học công nghệ có vai trò to
lớn trong việc phát triển kinh tế tri thức ở nớc ta Đảng ta đã chỉ rõ: phát“
triển khoa học và công nghệ cùng với sáng tạo giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và là động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
cứu, các công viên khoa học, các khu công nghệ cao, có tiềm lực mạnh ngang tầm khu vực, quốc tế u tiên phát triển các ngành công nghệ cao nh công nghệ thông tin, điện tử, công nghệ sinh học… tức Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học, đãi ngộ nhân tài, tạo lập thị trờng khoa học Tổ chức đào tạo, phát triển số lợng, nâng cao chất lợng đội ngũ cán
bộ khoa học Tích cực hợp tác quốc tế trên lĩnh vực khoa học Xây dựng quan
hệ hợp tác giữa các nhà khoa học với các doanh nghiệp, gắn công tác nghiên cứu khoa học với các hoạt động sản xuất kinh doanh Tăng cờng công tác nghiên cứu khoa học Tổ chức tốt các hoạt động phổ biến kiến thức khoa học, chuyển giao công nghệ, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học công nghệ… tức
Phát triển nhanh các ngành kinh tế có hàm lợng tri thức cao sẽ tạo ra
đ-ợc kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng nhanh năng suất và hiệu quả lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế là điều kiện để hình thành nền kinh tế tri thức
Trang 6Thực hiện chủ trơng từng bớc phát triển kinh tế tri thức Kinh tế nớc ta những năm gần đây đã xuất hiện những mô hình phát triển dựa vào tri thức đó
là những ứng dụng khoa học công nghệ của ngành bu chính viễn thông, các cơ
sở trồng hoa dựa trên cơ sở công nghệ cao ở Đà Lạt, những kết quả ứng dụng công nghệ mới trong ngành thuỷ sản, công nghiệp đóng tàu biển… tức
Thực tế cho thấy khi chúng ta phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, in-tơ-nét, mạng viễn thông kỹ thuật số, điện thoại di động… tức tức là phát triển một bộ phận của kinh tế tri thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại hoá, ở trình độ cao, nhiều lĩnh vực của công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, dịch
vụ Do đó việc kết hợp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh
tế tri thức vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu trong đổi mới
Theo kinh nghiệm của nhiều nớc, phát triển kinh tế tri thức phải tập trung nguồn lực vào bốn hớng chính sau đây:
Thứ nhất, Nhà nớc phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách kinh tế
năng động, rộng mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu quả những tri thức mới Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho nở rộ doanh nghiệp mới làm
ăn phát đạt Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả, tránh phiền hà, tham nhũng Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần tăng sức cạnh tranh
Thứ hai, tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và
truyền thông, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao dẫn đầu này Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, phổ biến và sáng tạo tri thức
Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và chia
sẻ ứng dụng những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh tranh cao
Thứ t, xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các doanh
nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, các trờng đại học, các tổ chức t vấn và các
tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo những mục tiêu đã xác định Họ phải thờng trực tiếp cận các kho thông tin, tri thức của thế giới đợc liên tục chất đầy, để tích cực “tiêu hoá” chúng và thích nghi hoá cho các nhu cầu của mình và từ đó sáng tạo ra công nghệ cao mới
Bốn hớng trên đây thờng đợc xem nh bốn trụ cột xây dựng kinh tế tri thức mà lãnh đạo Nhà nớc phải chỉ đạo mới có thể thành công
Phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi phải mở rộng hợp tác, giao lu quốc tế, xây dựng xã hội thông tin, xã hội học tập… tức Quá đó trình độ mọi mặt của con ngời sẽ đợc nâng cao Mọi ngời sẽ tiếp cận đợc với văn minh nhân loại, kiến thức con ngời đợc mở mang hơn, tầm nhìn sâu rộng hơn, có lối sống văn hoá
Trang 7hơn, con ngời phát triển toàn diện hơn, đó là những biểu hiện để đạt tới mục tiêu “Dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Thực hiện thành công đờng lối của Đại hội X, chúng ta nhanh chóng vợt qua kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiếp cận ngay với công nghiệp có trình độ hiện đại cao của kinh tế tri thức Nh vậy, đã rút ngắn đáng kể đợc thời gian và bắt kịp nhịp của thời đại Chính vì vậy, phát triển kinh tế tri thức là con đờng tất yếu của Việt Nam hiện nay
Trang 8II công nghiệp hoá - hiện địa hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở huyện gia lâm - Hà Nội từ năm 2001 đến nay.
Gia Lâm là huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, nằm phía Đông Bắc thành phố, trớc khi thực hiện Nghị định số: 132/2003/NĐ-CP ngày 26/11/2003 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính, huyện có
35 xã, thị trấn, diện tích tự nhiên 174,5km2, dân số trên 37 vạn ngời Từ ngày 1/1/2004 thực hiện Nghị định 132, Gia Lâm hiện có diện tích là 114 km2, dân
số trên 22,7 vạn ngời Sau khi chia tách địa giới hành chính, tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn huyện gặp nhiều khó khăn, hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế đợc chuyển về quận Long Biên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp tăng, nông dân chiếm 70% dân số toàn huyện, trong đó có một số xã thuần nông nh Lệ Chi, Trung Mầu, Dơng Quang
Thực hiện đờng lối đổi mới, dới sự lao động trực tiếp của Ban Thờng vụ Huyện uỷ, Đảng bộ và nhân dân trong Huyện tranh thủ thời cơ nắm vững và vận dụng các nội dung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đặc biệt là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức hớng vào nông nghiệp nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hớng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn công nghiệp chế biến với thị tr-ờng Thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế biến, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệp, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trờng tự nhiên Vì vậy, toàn huyện đã giành đợc những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu của huyện hàng năm tăng bình quân trên 10% trong đó công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản bình quân 17,5%, nông nghiệp bình quân 4%, thơng mại dịch vụ tăng bình quân 15%; cơ cấu các ngành kinh tế: công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 54,3%, Thơng mại – dịch vụ chiếm 23,4%, nông nghiệp – thuỷ sản chiếm 22,3%
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XIX về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng huyện Gia Lâm phát triển toàn diện, bền vững Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức đợc Đảng bộ huyện chỉ đạo thực hiện các vấn đề sau:
Trang 9- Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, chú ý phát triển kinh tế t nhân Đổi mới tổ chức, quản lý gắn phát triển kinh tế tri thức với những nội dung thiết thực phù hợp, hiệu quả và chất lợng cao
- Phát triển kinh tế trang trại gắn với kinh tế tri thức, trớc hết là ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất , tạo ra sản phẩm hàng hoá có hàm lợng tri thức cao, có khả năng cạnh tranh và dịch vụ trên thị trờng khu vực và thế giới
- Đẩy mạnh hơn nữa việc cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá và thông tin hoá trong mọi hoạt động kinh tế và đời sống xã hội
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội một cách đồng bộ ở huyện và xã, thị trấn, khu công nghiệp và địa bàn nông nghiệp nông thôn
- Khẩn trơng quy hoạch vùng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và u tiên phát triển kinh tế tri thức trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực có tiềm năng lợi thế
- Gắn phát triển kinh tế lành nghề với du lịch
- Tăng cờng bồi dỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực lao động
ở nông thôn, trớc mắt cần nắm vững nguồn nhân lực và có kế hoạch đào tạo nghề, chuyển đổi nghề cho các vùng nông thôn, khu công nghiệp theo hớng ứng dụng các tri thức mới vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý… tức nhằm
đạt chất lợng sản phẩm ngày càng cao
- Đẩy nhanh tốc độ xây dựng các vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến có trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, tạo ra sản phẩm hàng hoá có hàm lợng chất xám cao, đủ sức cạnh tranh, dịch
vụ trên thị trờng
Từ hớng chỉ đạo trên từ năm 2004 – 2008 đã thu hút đợc nhiều nhà
đầu t, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu t lớn đã đăng ký điều kiện trên địa bàn huyện đồng thời nhân dân trong huyện đã nỗ lực phấn đấu, áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng các làng nghề với phong trào mỗi làng một nghề, một sản phẩm điển hình nh làng nghề gốm sứ Bát Tràng: may da, quỳ vàng Kiêu Kỵ, nghề thuốc Ninh Hiệp, rau sạch ở Lệ Chi, Văn Đức, Đặng Xá… tức
Sau 5 năm tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm
2008 huyện Gia Lâm đã đạt đợc những kết quả nổi bật trên nhiều lĩnh vực Trong đó: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn phát triển nhanh và mạnh về cả số lợng và quy mô, từng bớc nâng cao chất lợng hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến năm 2008 đã
Trang 10có hơn 220 doanh nghiệp, doanh nghiệp có số vốn trên 1 tỷ đồng chiếm 73%, mức đầu t tăng thêm hàng năm trên 23%, nhiều doanh nghiệp và hộ sản xuất
đã chủ động đầu t chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, tuyển dụng cộng nhân trong có trình độ cao, bám sát thị trờng, từng bớc nâng cao chất lợng, hiệu quả sản xuất kinh doanh Các ngành nghề truyền thống đợc mở rộng và phát triển, ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nội bộ ngành, sản phẩm xuất khẩu tăng, sản phẩm chế biến chiếm vị trí quan trọng Các dự án phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung đợc triển khai thực hiện tích cực nh Khu công nghiệp vừa và nhỏ Phú Thị, khu công nghiệp thực phẩm Haproo, cụm công nghiệp Ninh Hiệp, làng nghề Bát Tràng, Kiêu Kỵ… tức Sản xuất nông nghiệp – thuỷ sản đợc phát triển, cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch đúng hớng, trong đó tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng nhanh từ 48,4% năm
2005 lên 57,3% năm 2008, đàn bò sữa phát triển với gần 5.000 con, chăn nuôi lợn đợc đẩy mạnh với trên 84.000 con, nuôi trồng thuỷ sản đợc mở rộng và áp dụng các tiến bộ khoa học vào chăn nuôi, trong đó có 15ha nuôi tôm càng xanh, 21ha nuôi cá chim trắng, 25ha nuôi cá rô phi đơn tính góp phần nâng cao giá trị thu nhập trên 1ha nuôi trồng thuỷ sản tăng 2,5 lần so với năm 2005 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao có chuyển biến, trong đó
84 phơng án đợc duyệt với diện tích chuyển đổi trên 500 ha, đã xuất hiện những khu đồng trị giá trên 100 triệu đồng/ha/năm Các vùng sản xuất tập trung đợc hình thành theo quy hoạch nh vùng chăn nuôi bò sữa, vùng chăn nuôi lợn nạc, vùng trồng rau an toàn, vùng trồng lúa cao sản, vùng trồng cây
ăn quả… tức Đặc biệt các ngành nghề đã áp dụng việc chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất và hỗ trợ chế biến sản phẩm
Mặt khác, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, do yêu cầu, nội dung, phơng pháp khác với yêu cầu, nội dung, phơng pháp của quá trình phát triển kinh tế tri thức, vì vậy trong chỉ đạo thực tiễn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức huyện đã đặt
ra những bớc đi, phơng thức phù hợp với điều kiện thực tế của Huyện, nhằm tạo điều kiện cho sự gắn kết hai quá trình phát triển nhanh, bền vững và đạt hiệu quả cao nhất
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức trên địa bàn huyện Gia Lâm, đợc thực hiện một cách toàn diện và sâu sắc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX: “Phát huy thành tựu 20 năm đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của