Nghiên cứu “ảnh hưởng của chuồng nuôi đến sức sinh sản của bò sữa và sức sống của bê Holstein và Jersey” được tiến hành từ tháng 102010 đến tháng 82011, tại Trung tâm Nghiên cứu động vật trường đại học Aarhus, Đan Mạch.
Trang 1ảnh hưởng của chuồng
nuôi đến sức sinh sản của
bò sữa và sức sống của bê Holstein và Jersey
Trang 2TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu “ảnh hưởng của chuồng nuôi đến sức sinh sản của bò sữa và sức sống của bê Holstein và Jersey” được tiến hành từ tháng 10/2010 đến tháng 8/2011, tại
Trung tâm Nghiên cứu động vật trường đại học Aarhus, Đan Mạch
● Tổng sổ bò khảo sát: 121 con bò, trong đó :
● 77 bò Holstein (54 con đã đẻ nhiều lứa và 23 con đẻ lứa đầu)
● 44 bò Jersey (31 con đã đẻ nhiều lứa và 13 con đẻ lứa đầu)
● Qua quá trình loại thải, những bò dành hơn 12 giờ trong chuồng thai sản trước khi
đẻ và đẻ không được trợ cấp được đưa vào nghiên cứu này (39 con bò đã đẻ nhiều lứa 15 bò đẻ lứa đầu) Chúng đã được quan sát từ 6 giờ trước khi đẻ cho đến 6 giờ sau khi đẻ Thời gian từ khởi đầu của cơn co bụng nhịp nhàng (định nghĩa là chuyển dạ giai đoạn II), thời gian từ một túi nước ối có thể nhìn thấy, và thời gian
từ chân bê có thể nhìn thấy cho đến khi sinh của bê đã được ghi lại Hơn nữa, những con bò độ trễ để đứng lên sau khi sinh đã được ghi lại Bê đã được quan sát trong 6 giờ đầu tiên sau khi sinh và khoảng thời gian nỗ lực đứng dậy, đứng thành công lần đâu tiên, và đến bú lần đầu tiên thành công đã được ghi nhận Bò trước đây đặt trong chuồng rơm, bê ra ngoài nhanh hơn một khi chân của bê đã nhìn thấy được so sánh với bò trước để tự do Bò đã đẻ nhiều lứa đứng sớm và liếm bê của nó sớm sau khi sinh, bò đẻ chuồng rơm cũng đứng dậy và bú sớm hơn so với
bê của bò Jersey trước đây để tự do Bò Holstein trước đây nằm trong chuồng rơm
có xu hướng đứng lên sớm hơn so với bò Holstein trước đây để tự do Những kết quả này gợi ý rằng , cho bò ở trong chuồng riêng có lót rơm cho bò nằm 1 thời gian dài có thể đẻ tạo thuận lợi cho quá trình đẻ, ảnh hưởng đến sức sống bê cần điều tra thêm
Trang 3A MỞ ĐẦU
A. Mục lục
B. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 2 Đối tượng nghiên cứu
3 Phương pháp thí nghiệm
C. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Kết quả
2 Thảo luận
D. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Trang 4B MỞ ĐẦU
Giai đoạn chuyển đổi xung quanh đẻ là khoảng thời gian quan trọng trong cuộc sống của một con bò sữa (Grummer, 1995; Mulliganvà Doherty, 2008) , làm sao tăng lợi ích trong chăn nuôi và giảm bớt gánh nặng trong quá trình chăm sóc quản lí Khoảng cách mà những con bò được di chuyển trước khi đẻ là một mối quan tâm, và các nhà sản xuất thời gian gần đây đã bắt đầu để thực hiện chuồng cận tiếp giáp với thai sản,chuồng để các con bò được di chuyển một khoảng cách ngắn hơn khi sắp đẻ Tuy nhiên, di chuyển con
bò quá gần thời gian đẻ đã được chứng minh làm gián đoạn quá trình đẻ (Proudfoot et
al., 2013) Trong một số trường hợp, những deep-bedded straw pack (DS, chuồng kín trải lớp rơm dày) như một sự thay thế freestalls (FS, chuồng nuôi tự do), bởi vì bò dành
nhiều thời gian hơn nằm trên DS so với FS (Phillips và Schofield, 1994; Fregonesi et al ,.2009) Có thể do thoải mái hơn khi nằm trên rơm dày, lớp rơm trải dày cũng giúp cho việc đứng lên nằm xuống của bò dễ dàng hơn Bò sữa nằm xuống trong khảng thời gian dài hơn và thay đổi tư thế thường xuyên hơn trên các bề mặt mềm so với bề mặt cứng (Tucker et al., 2003; Calamari et al., 2009) Hơn nữa, một lớp trải dày cho bò nằm có thể cải thiện sức khỏe chân và móng (Phillips và Schofield, 1994; Weary và Taszkun, 2000; Livesey etal., 2002) và giảm sự xuất hiện của sự què quặt (Cooket al., 2004).Các cơ hội cho bò sữa nằm xuống và đứng lên một cách an toàn và thoải mái có thể ngày càng quan trọng trong những tuần chuẩn bị đẻ, do sự phát triển thai nhi, cũng như vào ngày sinh bê, khi bò trở nên bồn chồn hơn (Lidfors et al, 1994 ; Campler etal., 2014), các vận động cũng có lợi, bởi vì vận động giúp quá trình sinh sản diễn ra dễ dàng hơn Kết quả tương
tự cũng được báo cáo ở lợn nái (Hale et al, 1981 ;Ferket và Hacker, 1985) cũng như ở người (Clapp,1990; Prather et al, 2012) Sinh sản dễ cũng ảnh hưởng đến sức sống bê và sức khỏe của chúng, vận động khó khăn hoặc kéo dài làm tăng nguy cơ thai chết lưu và
tử vong của bê (Murray và Leslie, 2013) và làm giảm sức sống bê (Barrier et al, 2012)
Vì vậy, chuồng nuôi có tác động rất lớn đối với việc sinh sản của bò và sức sống của bê Sức sống của bò con có thể được đánh giá thông qua:-Nhìn tổng thể, có thể đứng bú ngay sau khi sinh là một dấu hiệu sức sống của bê con (Barrier et al., 2012)
Hiệu quả tiềm năng của chuồng nuôi DS so với FS trong khoảng thời gian trước đẻ và sức sống bê chưa được điều tra Mục đích của nghiên cứu này là để điều tra tác động của
DS và FS khi cho bò mẹ vào ở 4 tuần trước ngày đẻ dự kiến,về quá trình đẻ và sức sống của bê ở bò sữa Holstein và Jersey Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng ở trong chuồng DS
Trang 5trong suốt 4 tuần trước khi đẻ so với chuồng FS sẽ dẫn đến tăng tính dễ đẻ và cải thiện sức sống bê
C NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Th ờ i gian và đị a đ i ể m nghiên c ứ u
Thời gian
Thí nghiệm thực hiện từ 10/2010 đến 8/2011
Địa điểm
Tại trung tâm nghiên cứu gia súc, đại học Aarhus, Đan mạch
2 Đố i t ượ ng nghiên c ứ u
77con bò sữa Hostein( gồm 54 con đã từng đẻ, 23 con đẻ lần đầu) và 44 con bò sữa Jesey( 31 con đã từng đẻ, 13 con đẻ lần đầu) được sử dung để tiến hành thí nghiệm
3 Ph ươ ng pháp thí nghi ệ m
a Động vật, chuồng trại, chăm sóc
● Bò tắt sữa 8 tuần trước khi sinh, đối với bò đã từng đẻ thì BW=698kg ( bò Hostein) và đạt mức 511kg (bò Jessey), còn đối với bò đẻ lần đầu thì BW=633 (bò Hostein) và BW=449 (bò Jersey)
● Trong lượng bò con sau khi sinh đạt 44kg (Hostein) và 32kg ( bò Jersey) Chỉ những con khỏe mạnh về mặt lâm sàng mới được sử dụng để tiến hành thí nghiệm
● Những con bò trong cùng một giống thì đc nuôi trong cùng một chuồng có màn che bên hông và Freestalls kích thước:1.85 m × 1.35 m (bò Hostein) và1.65 m × 1.20 m,(bò Jersey) , và được phủ một lớp mùn cưa
● Những lối đi có sàn bê tông (thanh = 15 cm, khoảng cách= 4 cm), lối đi được làm sạch bằng robot làm sạch tự động) (Lely Discovery, Lely Hold-ing, Maassluis, the Netherlands)
● Những máng nước tự làm đầy và máng ăn tự động (Insentec B.V, Marknesse, the Netherlands) thì được sử dụng ở mỗi chuồng ngoại trừ những chuồng nuôi bò đẻ
● Thức ăn xanh được cung cấp mỗi buổi sáng và bổ sung 3 lần từ 6 giờ sáng đến 12 giờ tối Máng thức ăn được dọn sạch ít nhất 2 lần 1 tuần (hoặc nhiều hơn nếu thức ăn cần thay đổi khi thời tiết ấm áp)
b Bố trí thí nghiệm
● Bò đã tắt sữa được cho vào 1 chuồng riêng biệt có các điều kiện được mô tả như
Trang 6trên và ở trong các chuồng giống nhau suốt 8 tuần trước ngày đẻ dự kiến
● Trong cùng 1 giống, bò được phân bố vào 1 trong 2 nghiệm thức chuồng trại:
freestalls (FS) và deep-bedded straw pack (DS), bò ở nghiệm thức FS được di
chuyển đến chuồng thai sản với freestalls giống hệt nhau và cùng điều kiện chuồng trại được miêu tả bên trên
● Bò trong nghiệm thức DS được đưa đến 1 trong 2 chuồng với kích thước mỗi cái
là 13.6 m × 7.0 m, bao gồm vùng nằm rơm(10.0 m × 7.0 m, độ sâu ít nhất = 0.5 m) và khu vực cho ăn (3.6 m × 7.0 m), với sàn bê tông (thanh = 15 cm, khoảng cách = 4 cm),5 ngăn thức ăn tự động và bồn nước tự đầy
● Bò Holstein và Jersey ở nghiệm thức nghiên cứu FS được nuôi trong nhóm chuồng tách biệt, nhưng ở nghiệm thức DS thì chúng được nuôi cùng nhau vì số lượng bò Jersey nhỏ hơn so với Hostein và số lượng hạn chế của chuồng DS
● Chuồng DS là chuồng tiếp giáp với chuồng thai sản và khoảng cách tối đa mà bò cần di chuyển để đến đó là 10m
● Ngược lại, ở chuồng FS, bò cần di chuyển tối đa 50m để đến chuồng thai sản
● Các nhóm bò của cả hai nghiệm thức có sức sống, năng lượng như những con bò mới bước vào thời gian tiến hành thí nghiệm là 4 tuần trước ngày đẻ dự kiến
● Mật độ nuôi được giữ ở mức 2 bò/máng trong cả 2 nghiệm thức; 1 bò/1 freestalls
ở nghiệm thức FS và 10 bò/chuồng ở nghiệm thức DS
● Dựa vào ngày đẻ dự kiến và thể chất cũng như hành vi của bò mẹ (dây chằng vùng chậu giãn nở, căng bầu vú và bồn chồn, lo lắng), bò đc chuyển đến chuồng thai sản
● Mục đích của việc này là chuyển bò vào chuồng sinh sản gần ngày sinh thực tế, không có sự gián đoạn nào trong quá trình sinh sản và đảm bảo không có bất kì bê con nào sinh ra ngoài chuồng thai sản
● Biện pháp này dẫn đến bò được chuyển đến trước 1 vài ngày(1-5) so với ngày đẻ thực tế do sự chênh lệch giữa ngày đẻ dự kiến và ngày đẻ thực tế
● Chuồng thai sản (4,0 m × 3,1 m) có sàn bê tông với 26-mm tấm cao su hai lớp (18-mm cao su cứng và 8 mm mềm) và bên trên phủ rơm vụn dày
c Các chỉ tiêu theo dõi
Bò cái cho ăn tự do được tự do uống nước từ các máng uống tự động, và thức ăn mới được cung cấp vào mỗi sáng lúc 7h, và được làm đầy 3 lần trong ngày 12h, 16h và 20h Máy ảnh (loại TCVVD-600, MONACOR, Bremen, Đức) đã được bố trí trên mỗi bãi nhốt riêng và một chương trình phân tích video (MSH-Video, M.Shafro và Công ty, Riga, Latvia) đã được sử dụng để lập hồ sơ hoạt động cho
bò cái và bê riêng Đối với mỗi bò, tư thế liên tục được ghi lại Ngoài ra, thời gian (phút) từ quan sát đầu tiên cho đến khi bê được sinh ra đã được ghi lại: dấu hiệu đầu tiên quan sát thấy là các cơn co thắt nhịp nhàng của cơ bụng (xác định bắt đầu chuyển dạ giai đoạn II), quan sát đầu tiên túi ối ngoài âm hộ của con bò, và quan
Trang 7sát đầu tiên chân của bê bên ngoài âm hộ của con bò Các hoạt đông của bò mẹ và
bê con trong quá trình sinh sản được ghi nhận lại trong bảng 1
Các trường hợp sinh sản ở bò mẹ: (1) dễ dàng, không hỗ trợ; (2) dễ dàng với sự
hỗ trợ (kéo nhẹ không đeo găng tay); (3) sự hỗ trợ đáng kể (sử dụng dây chuyền sản khoa hoặc dụng cụ nâng bê ); (4) hỗ trợ đáng kể của bác sĩ thú y, và (5) mổ lấy thai Hoạt động của bê đã được ghi nhận từ khi sinh ra (thời điểm sinh được xác định khi bê bị đẩy ra ngoài toàn bộ hoặc hông của bê bị đẩy ra ngoài, để lại hai chân sau bên trong ống sinh) cho đến khi chúng đứng thành công hoặc rời khỏi khu sinh sản (10-18 h sau khi sinh) Sức sống của bò được đánh giá bằng 4 thay đổi thời gian chờ: (1) thời gian từ khi sinh ra đến sự nỗ lực đứng đầu tiên của bê, (2) thời gian từ khi sinh ra đến khi đứng thành công đầu tiên, (3) thời gian từ khi sinh ra đến nỗ lực bú đầu tiên, và (4) thời gian từ khi sinh ra cho sự kiện bú thành công đầu tiên
Tất cả các dữ liệu được thu thập từ các bản ghi video liên tục Hai quan sát viên được đào tạo và có kinh nghiệm ghi lại tất cả các thay đổi hoạt động của bê, và 1quan sát viên có kinh nghiệm ghi nhận các thay đổi hoạt động của con bò cái Trước khi bất kỳ dữ liệu được thu thập, 2 quan sát viên ghi lại một mẫu của các video lại với nhau để thành lập một video cơ sở cho tất cả sự quan sát hoạt động của bê
Trang 8D KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 K ế t qu ả
● Bò cái
Bò cái đã được ở DS trong 4 tuần cuối cùng trước khi sinh sản đã sinh sản nhanh hơn (29 phút từ khi chân bê lần đầu tiên được quan sát thấy cho đến khi sinh) được so sánh với bò ở trong FS (48 phút)
Bò Jersey liếm bê của chúng sớm sau khi đẻ được so sánh với bò Holstein, giá trị trung bình là 30s cho bò Jersey và 60 s cho bò Holstein
Bò nhiều lứa liếm bê của chúng sớm sau khi sinh sản được so sánh với bò sinh lứa đầu giá trị trung bình sau khi chuyển đổi là 27 s cho bò nhiều lứa và 73 s cho bò sinh lứa đầu
Bò nhận sự hỗ trợ đẻ có xu hướng liếm bê của chúng sớm hơn bò không được hỗ trợ, giá trị trung bình sau khi chuyển đổi là 25 s cho bò với sự hỗ trợ sinh sản và 81s cho bò không hỗ trợ sinh sản
Bò Holstein DS có xu hướng đứng sớm sau khi sinh bê so với FS Holstein giá trị trung bình sau khi chuyển đổi là 44 s cho bò DS và 109 s cho bò FS
Bò nhiều lứa có xu hướng đứng sớm hơn bò Holstein sinh lứa, giá trị trung bình sau khi chuyển đổi là 54 s cho bò Holstein nhiều lứa và 89 s cho bò Holstein đẻ con so
Bò nhiều lứa Jersey có xu hướng đứng sớm sau khi đẻ hơn bò Jersey đẻ đầu, giá trị trung bình sau khi chuyển đổi là 27 s cho bò Jersey nhiều lứa và 220 s cho
bò Jersey đẻ con so
Mười bốn con bò Holstein cần trợ đẻ so sánh với 4 con bò Jersey và thấy không có sự khác biệt giữa phương pháp điều trị hoặc giống Không có sự tương tác của việc điều trị hay giống ở khoảng thời gian từ lúc bắt đầu co bóp nhịp nhàng cho đến khi đẻ;độ dài giai đoạn chuyển dạ II [trung bình (khoảng): 114 phút hoặc thời gian thấy được nhau thai bò con xuất hiện 60 phút Động vật Freestall
Trang 9thường được chuyển đến khu sinh sản trước khi đẻ [4 (3-5) ngày ] so với các động vật DS [2 (1-3) ngày; P <0,05], nhưng chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể trong thời gian di chuyển giữa các giống
● Bê:
Sự tương tác điều trị × giống ở bê con gắng đứng lên sau khi sinh (F1,61= 7.38, P = 0,01;Hình 2), trong đó DS Jersey, FS Holstein, và DS Holstein đứng dậy sớm hơn sau khi sinh so với bê FS Jersey
Trang 10Hình 2
Sự tương tác điều trị × giống về việc bú muộn sau sinh,bê FS Holstein sau sinh bú sớm so
với bê FS Jersey (F1,56= 4.05, P =0,05; Hình 3)
Hình 3
Bê sinh ra mà không có sự trợ đẻ có xu hướng đứng sớm hơn bê sinh ra với sự trợ đẻ (2,7 ± 0,2 so với 3,1 ± 0,1phút, P = 0,09); thời gian trở lưng là 14,9 phút cho bê không cần sự trợ đẻ và 22,2 phút cho bê cần trợ đẻ
Trang 11Không có sự khác biệt về thời gian cho nỗ lực bú lần đầu ở bất kể giống hoặc điều trị [16 (11-32) phút; P> 0,10]
Trang 122 Th ả o lu ậ n
Bò được nuôi trong chuồng với (DS) trong 4 tuần cuối cùng trước khi đẻ thì có khoảng thời gian từ khi xuất hiện chân bê con đến khi được sinh ra ngắn hơn so với động vật đặt trong (FS) Ở bò Holstein,bò DS có xu hướng đứng sớm hơn bò FS Điều này cho thấy rằng,chuồng bò khô ráo với DS tốt hơn là trong FS trong 4 tuần cuối cùng trước khi đẻ
có thể tác động tích cực về tiến độ ở giai đoạn cuối đẻ
Bò cái
Bò ở DS có thời gian nhìn thấy chân bê ngắn hơn so với bò FS.Trung bình ước tính từ khi nhìn thấy chân bê đến khi đẻ là khoảng 19 phút ở bò trong DS ngắn hơn so sánh với
bò nuôi trong FS trước khi đẻ.Tất cả các con bò đã đẻ trong chuồng rơm riêng,do đó bất
kỳ sự khác biệt là do chuồng ở trước đây (FS hoặc DS) Trong 4 tuần cuối trước khi đẻ,bò trong DS thay đổi tư thế từ đứng sang nằm thường xuyên hơn so với bò FS (Campler năm 2014), làm sáng tỏ rằng chuồng với DS ít bị hạn chế về thay đổi tư thế hơn so với chuồng nuôi FS Những thay đổi tư thế thường xuyên hơn và tăng vận động trong DS có thể cải thiện cơ bắp của con bò,điều đó có thể giải thích thời gian đẻ ngắn hon của bò trong DS Điều này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu ở người (Prather et al., 2012; Szumilewicz et al., 2013; Domenjoz et al., 2014)
Các khoảng thời gian từ khi chân bê lọt ra đến khi đẻ ra tương tự như trong Schuenemann et al (2011),người báo cáo thời gian trung bình 40 phút từ khi nhìn thấy chân bê đến khi ra ngoài là không có sự trợ đẻ,tương tự như báo cáo củaBarrier et al (2012), đã báo cáo thời gian trung bình 55phút nhìn thấy chân bê đến khi sinh ra Mặc dù thời gian này ở bò DS ngắn hơn,nhưng chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt khi bắt đầu giai đoạn đẻ thứ hai hoặc trong thời gian nhìn thấy túi ối từ khi cho đến khi sinh Điều này có thể được giải thích bởi những trường hợp khó khăn để xác định từ việc ghi hình, trong khi chân bê dễ dàng phát hiện.Uớc tính của chúng tôi thời gian của giai đoạn
đẻ 2 là khoảng 110 phút,cao hơn so với những phát hiện của Schuenemann et al (2011),
đã báo cáo thời gian