Đây là việc Viện kiểm sát nhân dân thựchiện quyền năng pháp lí theo luật định để truy truy cứu trách nhiệm hình sựngười có hành vi phạm tội về ma túy ra trước Toà án, đồng thời trong quá
Trang 1điều tra nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra được đúng luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội.
Trong điều tra vụ án ma túy, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra Đây là việc Viện kiểm sát nhân dân thựchiện quyền năng pháp lí theo luật định để truy truy cứu trách nhiệm hình sựngười có hành vi phạm tội về ma túy ra trước Toà án, đồng thời trong quá trìnhđiều tra vụ án, Viện kiểm sát nhân dân căn cứ qui định của pháp luật để giám sát
Cơ quan điềụ tra khi cơ quan này tiến hành các hoạt động điều tra nhằm tìm ra
sự thật khách quan của vụ án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt độngkhác xảy ra trong quá trình điều tra Hoạt động thực hành quyền công tố là nhằmmục đích đảm bảo cho việc điều tra vụ án được đúng luật, đảm bảo sự côngbằng, nghiêm minh cho mọi công dân, còn hoạt động kiểm sát điều tra là nhằmmục đích đảm bảo cho mọi hoạt động điều tra được thực hiện đúng qui định củapháp luật, chống làm oan người vô tội và chống bỏ lọt tội phạm
Giữa hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát điều tra có sựđan xen lẫn nhau và có mối quan hệ hữu cơ với nhau
Điểm khác biệt cơ bản giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát điều tra trongđiều tra các vụ án ma túy là thực hành quyền công tố là hoạt động mang tính chủđộng, còn kiểm sát điều tra là hoạt động mang tính bị động, vì chỉ khi nào Cơquan điều tra tiến hành hoạt động điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân mới kiểmsát hoạt động đó
2.2.2. Chủ thể, phân công, phân cấp và môi quan hệ của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
ma túy
2.2.2.1.Chủ thể, phân công, phân cấp
- Chủ thể thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án ma túy là Viện kiểm sát nhân dân, thông qua các cán bộ có thẩm quyền làViện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên
Chủ thể của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân từng cấp cụ thể là: Viện trưởng, Phó viện
Trang 2trưởng, kiểm sát nhân dân tối cao; Vụ trưởng, Phó vụ trưởng, Kiểm sát viên Vụthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy của Viện kiểm sát nhândân tối cao; Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Phòng thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh, ma túy(hoặc Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơthẩm án trật tự xã hội và an ninh, ma túy; Phòng thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự) của Viện kiểm sát nhândân cấp tỉnh; Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên tơ án hình sự củaViện kiểm sát nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Giúp việc cho Kiểm sát viên thực hiện các hoạt động tố tụng giải quyết án matuý ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Kiểm tra viên cao cấp, Kiểm tra viênchính, Kiểm tra viên và chuyên viên; giúp việc cho Kiểm sát viên Viện kiểm sátnhân dân cấp tỉnh có, Kiểm tra viên chính, Kiểm tra viên và chuyên viên; giúpviệc cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có Kiểm tra viên vàchuyên viên
Trong giải quyết từng vụ án ma túy cụ thể thì chỉ những Kiểm sát viên cótên trong Quyết định phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ
án hình sự do Thủ trưởng đơn vị phân công mới được thực hiện hoạt động thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra Đối với những vụ án ma túy phức tạp,nhiều bị can hoặc các bị can trong vụ án tạm giam ở nhiều trại giam khác nhauthì khi thực hiện các hoạt động tố tụng như phúc cung, tống đạt lệnh, cáo trạng,Thủ trưởng đơn vị có thể phân công bổ sung Kiểm sát viên hoặc người giúp việccho Kiểm sát viên tham gia các hoạt động tố tụng đó.Khi được phân công thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án ma túy, Kiểm sát viên có nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điềutra và việc lập hồ sơ của Cơ quan điều tra; đề ra yêu cầu điều tra, triệu tập và hỏicung bị can; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, người cóquyền và nghĩa vụ liên quan; kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam.Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy Kiểm sát
Trang 3viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng, Phó việntrưởng và những hành vi, quyết định của mình.
- Phân công, phân cấp.
Theo qui định tại Điều 30, Chương VII của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânthì các Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểmsát điều tra án ma túy gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các Viện kiểm sátnhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Viện kiểm sát nhân dânhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [32]
Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân địa phương khi thực hiện hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy trước hết tuân thủnguyên tắc địa danh, lãnh thổ Vụ án ma túy xảy ra thuộc địa bàn nào thì Việnkiểm sát nhân dân ở địa bàn đó thụ lí kiểm sát điều tra
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy
ở cả 3 cấp Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân luôn gắn với tổ chức của Cơ quanđiều tra, đo đó án Cơ quan điều tra ở cấp nào trực tiếp điều tra thì Viện kiểm sátnhân dân cùng cấp trực tiếp kiểm sát điều tra Sự phân công, phân cấp trong hoạtđộng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy được thểhiện trong Nghị quyết số 24/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 26/11/2003; Nghịquyết số 509/2004/NQ- UBTV QH11 ngày 29/4/2004 về việc thi hành Bộ luật
Tố tụng hình sự [55], [56]
Quyết định số 04/QĐ-VKSTC-V9 ngày 14/01/2008 của Viện kiểm sát nhân dântối cao về việc giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong hoạt động điều tra án hình sự, tại điểm 4 Điều 1:
Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy (Vụ 1C) có nhiệm
vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt độngđiều tra tội phạm về ma túy do Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C17)thuộc Bộ Công an, các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát, các cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; hoặc các vụ ánkhác được giao cho C17 trực liếp điều tra
Trang 4Phòng (hoặc bộ phận) Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sátxét xử sơ thẩm án ma túy có nhiệm vụ Ih'1'c hành quyền công tố, kiểm sát việctuân theo pháp luật trong hoạt độn 2; điều tra tội phạm về ma túy do PhòngCảnh sát điều tra tội phạm vổ mu túy (PC17) thuộc cơ quan Công an tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra thực hiện; hoặc các vụ án khác được giao cho PC17 trực tiếpđiều tra [77].
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là đơn vị có chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy do Cơ quan điều tra cấp huyện trực tiếpđiều tra Từ ngày 1/7/2009 toàn bộ các Toà án cấp huyện đã thực hiện tăng thẩmquyền xét xử các vụ án hình sự theo qui định tại Điều 170 của Bộ luật Tố tunghình sự đối với các tội có khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù và Viện kiểmsáĩ nhân dân cấp huyện cũng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án ma túy mà tội ấy có khung hình phạt đến 15 năm tù
Tóm lại, Viện kiểm sát nhân dân có sự phân công phân cấp rõ ràng trongthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy: Vụ thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra án ma tuý (Vụ 1C) Viện kiểm sát nhân dântối cao trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy
do Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C47) - Bộ Công an trực tiếp điềutra; Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm
án an ninh, ma túy (hoặc Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra,kiểm sát xét xử sơ thẩm án trật tự xã hội; Phòng thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự) Viện kiểm sát nhân dâncấp tỉnh trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy
do Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh trực tiếp điều tra;
Tổ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra các vụ án ma túy do Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túyCông an huyện trực tiếp điều tra
22.22 Quan hệ phối hợp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ ấn ma túy
Trang 5- Quan hệ phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Quan hệ phối hợp được hiểu là mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiệnchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo luật định
Thông tư tịch ngành số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 7/9/2005 củaViện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phốihợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số qui địnhcủa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã hướng dẫn thực hiện những vấn đềquan trọng trong quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra như:thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ, trái pháp ỉuật của Phó thủtrưởng Cơ quan điều tra; thay đổi Điều tra viên, Phó thủ trưởng Cơ quan điềutra; Kiểm sát viên, Phó viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát; căn cứ và hồ sơbắt người trong trường hợp khẩn cấp; thủ tục phê chuẩn bắt khẩn cấp; khởi tố,kiểm sát khởi tố
Trong điều tra, truy tố vói phạm vi trách nhiệm của mình, Viện kiểm sát nhândân giám sát hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra, thực hiện một số hoạtđộng điều tra và thực hành quyền công tố theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình
sự để loại trừ sự vi phạm pháp luật của bất kì cá nhân hoặc tổ chức nào Hoạtđộng kiểm sát điều tra nhằm phát hiện những sai sót, đưa ra biện pháp khắcphục
Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tratrong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túychịu sự chi phối bởi phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng hình sự, mỗi cơquan hoạt động tố tụng theo chức năng, nhiệm vụ của mình và hoạt động độclập Mối quan hệ này không phải là quan hệ "ngang bằng" như các cơ quan hànhchính mà phải coi đó quan hệ tố tụng hình sự
Nội dung cụ thể về quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơquan Cảnh sát điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án bao gồm phối hợp trongkhởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn; quá trình điều tra vụ án sau khi vụ án đãkết thúc điều tra bao; Viện kiểm sát nhân dân quyết định truy tố
Trang 6Hình thức phối hợp gồm: trao đổi thông tin về vụ án (bằng điện thoại, trao đổimiệng hoặc văn bản); họp giải quyết án; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn cáclệnh quyết định của Cơ quan điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệmphải thực hiện các lệnh, quyết định đó và báo kết quả cho Viện kiểm sát nhândân,
Ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có quyền đề ra các yêu cầu điềutra, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm phải thực hiện các yêu cầu đó.Hoạt động này vừa mang tính phối hợp vừa mang tính chế ước
Khi hồ sơ đã kết thúc điều tra chuyển sang Viện kiểm sát nhân dân, quan hệphối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn đượctiếp tục duy trì Phối hợp giữa hai cơ quan được thực hiện như sau:
Trong giai đoạn quyết định việc truy tố khi nghiên cứu hồ sơ phát hiện thấy
có thông tin về tội phạm hoặc người phạm tội mới, không liên quan đến thẩmquyền giải quyết của mình thì Viện kiểm sát làm văn bản nêu rõ lí do, gửi đến
Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xác minh, giải quyết theo thủ tục giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và thông báo cho Viện kiểm sát có liên quan biết[75]
Quan hệ phối với các cơ quan có thẩm quyền điều tra ban đầu.
Theo qui định tại tiểu mục b, mục 1, phần II Thông tư liên tịch số
01/2008/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BQP-BCA ngày 20/10/2008 của Việnkiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng và Bộ Công
an về quan hệ phối hợp trong một số hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ ánhình sự thì: “Cơ quan điều tra có thẩm quyền khi nhận được tố giác, tin báo vềtội phạm hoặc kiến nghị khỏi tố thuộc thẩm quyền của mình phải khẩn trươngtiến hành xác minh và thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền cùng cấp đểthực hiện chức năng kiểm sát;” [75]
Các cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra không phải là Cơquan điều tra Đây là các cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lí hành chính trongmột số lĩnh vực mà nhà nước giao cho ở những địa bàn nhất định hoặc lĩnh vựcnhất định cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi
Trang 7phạm tội được pháp luật tố tụng hình sự qui định có thẩm quyền được tiến hànhmột số hoạt động điều tra Hiện tại chưa có văn bản nào qui định về cơ chế giámsát hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền điều tra ban đầu.
Quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với cơ quan có thẩm quyền điều tra banđầu chủ yếu là quan hệ phối hợp Phối hợp trong thực hiện các hoạt động tố tụng
ở giai đoạn điều tra ban đầu bao gồm: bắt khẩn cấp và phê chuẩn bắt khẩn cấp;bắt truy nã; phê chuẩn tạm giam trong trường hợp người đang bị tạm giữ bị khởi
tố bị can; kiểm sát việc tạm giữ, gia hạn tạm giữ; khởi tố và kiểm sát khởi tố vụán; thay đổi hoặc bổ sung quyết định khỏi tố vụ án; chuyển vụ án để điều tratheo thẩm quyền được thực hiện theo hướng dẫn tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,
10 của Thông tư liên tịch số 05/2(Xb/TTLT-VKSTC-BCA-BQP [63]
Khi phê chuẩn nếu thấy tài liệu chưa đủ căn cứ để phê chuẩn, Viện kiểm sátnhân dân có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu hoặc nếu thấy cầnthiết Viện kiểm sát nhân dân có thể đề ra yêu cầu điều tra và Cơ quãĩT3ĩểu trabail đầu có trách nhiệm phải thực hiện những nội dung yêu cầu đó
- Quan hệ phối hợp với Toà ấn nhân dân.
Quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân chủ yếu là phối hợp.Quá trình giải quyết những vụ án ma túy phức tạp, án điểm, án trọng điểm, án sẽxét xử lưu động thì Kiểm sát viên đề nghị lãnh đạo đơn vị tổ chức họp liênngành và có ý kiến đề xuất giải quyết vụ án Trước khi chuyển giao hồ sơ sangTòa án, Kiểm sát viên phải kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ và vật chứng của vụ án.Nếu Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Tòa án phải giao hồ sơ trực tiếp choViện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên phải nghiên cứu kĩ hồ sơ, nếu thấy tự bổsung được thì báo cáo lãnh đạo đơn vị tự điều tra bổ sung, nếu không tự bổ sungđược thì báo cáo lãnh đạo đơn vị trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổsung
- Quan hệ phối hợp trong ngành Kiểm sát nhân dân.
Đối vói các đơn vị trong Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp thì Kiểm sát viênđược phân công kiểm sát điều tra vụ án ma túy cần phối hợp với các khâu kiểmsát giam giữ, kiểm sát xét khiếu tố để nắm thông tin liên quan đến vụ án Đối
Trang 8với các vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, án trọng điểm thì lãnh đạoViện kiểm sát nhân dân phải phân công 2 Kiểm sát viên cùng tiến hành tố tụng.Những vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp trên quyết định truy tố chuyển choViện kiểm sát nhân dân cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơthẩm thì Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có trách nhiệm trao đổi với Kiểm sátviên Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới về nội dung, ý kiến chỉ đạo về đường lốigiải quyết vụ án, thủ tục, thời hạn tố tụng, vấn đề cần chú ý.
Đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, có tình tiết phức tạp về chứng cứ, dưluận xã hội quan tâm thì lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp trên hoặc lãnh đạođơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và Kiểm sát viên thụ lí vụ án phải trựctiếp chỉ đạo hỗ trợ Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới thực hành quyền công tố vàkiểm sát xét xử sơ thẩm Trường hợp cần thiết có thể tổ chức họp mời Việnkiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân cấp dưới để thống nhất việc xử lí vụ án
trước khi chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.
Đối với các vụ án phức tạp, Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới đã họp Uỷ bankiểm sát nhưng không thống nhất được ý kiến thì gửi hồ sơ xin thỉnh thị theo quiđirửi tại Qui chế về thông tin, báo cáo, quản lí công tác trong ngành Kiểm sátnhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 198/2008/QĐ-VKSTC ngày29/4/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Viện kiểmsát nhân dân cấp trên nhận được hồ sơ xin thinh thị có trách nhiệm phải trả lờibằng công văn cho Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới [74]
2.2.3. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra cấc vụ án ma túy
Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy củaViện kiểm sát nhân dân mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự song do tính chất đặc biệtnguy hiểm của tội phạm về ma túy nên hoạt động này có các đặc điểm sau:
Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy luôn gắn với quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng về phòng, chống tội phạm ma túy.
Trang 9Thái độ đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng đối với tội phạm về ma túycủa Đảng thể hiện bằng chỉ đạo cụ thể của Bộ Chính trị tại: Chỉ thị số06-CT/TW ngày 30/11/1996 về tăng cường chỉ đạo công tác kiểm soát vàphòng, chống ma túy: “ trừng trị kịp thời và nghiêm khắc đối với những kẻ sảnxuất, buôn bán, tàng trữ, tổ chức hoặc cưỡng ép sử dụng ma túy.” Chi thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tácphòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới gắn trách nhiệm của đảngviên với tình hình tội phạm về ma túy thuộc địa bàn có trách nhiệm quản lí [18],[4].
Từ khi mới thành lập Viện kiểm sát nhân dân vào những năm 1960, lãnh đạoViện kiểm sát nhân dân tối cao đã xác định: công tác kiểm sát nhất thiết phải cóphương hướng chính trị Phương hướng chính trị chỉ đạo phương hướng nghiệp
vụ và nội dung hoạt động nghiệp vụ nhằm mục tiêu chính trị Hoạt động kiểmsát phải lấy pháp luật làm căn cứ, đồng thời phải quán triệt tư tưởng, chính sách
của Đảng Trên nền tảng tư tưởng của các bậc tiền bối, căn cứ các văn kiện
Đại hội Đảng; Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân tối cao đã chỉ đạo công tác kiểm sát phòng, chống ma túy bằng các vănbản: Chỉ thị số 04/CT ngày 18/5/1993 về việc thực hiện Nghị quyết số 06/CPvề“ phòng, chống và kiểm soát ma túy; Chỉ thị số 04/CT-VT ngày 14/6/1997 vềcông tác kiểm sát phục vụ Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị về phòng,chống và kiểm soát ma túy [18]; Kế hoạch số 46/KH-VKSTC-V1C về triển khaithực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăngcường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống ma túy [4]; các văn bản chỉ đạocông tác phòng, chống ma túy hàng năm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao
Lãnh đạo, chỉ đạo công tác này phải dựa trên quan điểm coi đấu tranh chốngtội phạm về ma túy là một bộ phận trong chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội Mặt khác, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra các vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân các địa phương luôn bám sátnội dung chỉ đạo của cấp ủy địa phương nhưng vẫn đảm bảo độc lập trong quyết
Trang 10định xử lí Các bị can trong vụ án ma túy đều bị truy tố với mức hình phạtnghiêm khắc, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng hành vi Ở các địa phương,hàng năm Viện kiểm sát nhân dân đã cùng cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọncác vụ án điểm, tổ chức xét xử lưu động để tuyên truyền và giáo dục phòng ngừatội phạm về ma túy.
Chủ thể của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
ma túy phải tuân thủ nghiêm ngặt qui định của pháp luật, mặt khác phải đảm bảo bí mật và tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra hoàn thành nhiệm vụ điều tra.
Hiến pháp năm 1992 sửa đổi và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 qui địnhchức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhândân Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Qui chế công tác thựchành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các
vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày2/1/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao qui định cụ thể nộidung của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án matúy, Luật Tương trợ tư pháp và các văn bản hướng dẫn liên quan [29], [34], [37],[76] Đây là hoạt động pháp lí của Viện kiểm sát nhân dân được Nhà nước giaoquyền theo qui định của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự người thựchiện hành vi phạm tội về ma tuý nhằm đảm bảo việc xử lí đúng người, đúng tội,đúng pháp luật và giám sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, đảm bảocho các hoạt động điều tra đó được thực hiện đúng luật, chống làm oan người vôtội và chống bỏ lọt tội phạm
Các vụ án ma túy lớn thường được lực lượng chức năng đấu tranh theochuyên án, vì vậy hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui địnhcủa pháp luật nêu trên nhưng phải tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra hoàn thành
nhiệm vụ Các vụ án có sử dụng lực lượng bí mật, có vướng mắc trong sử dụng lực lượng bí mật cần được xem xét kĩ lưỡng để có phương án tháo gỡ hợp lí.
Mặt khác, khi tiếp nhận thông tin vụ án, nghiên cứu hồ sơ để phê chuẩn, Kiểmsát viên phải tuyệt đối bí mật, không được phép cung cấp thông tin cho những
Trang 11người không có trách nhiệm giải quyết vụ án để tránh lộ thông tin bị can, đốitượng liên quan bỏ trốn hoặc tìm cách mua chuộc cán bộ.
Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ ấn ma túy phải luôn bám sát cấc hoạt động điều tra, kịp thời đề ra các nội dung yêu cầu điều tra, phát hiện và đề nghị xử lí các hành vi vi phạm theo qui định của pháp luật.
Theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình SỊT thì Viện kiểm sát có chức năngkiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra, trên cơ sở đặc điểm củađối tượng phạm tội về ma túy và đặc điểm của tình hình tội phạm ma túy ở ViệtNam cho thấy hoạt động thực thành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Việnkiểm sát nhân dân luôn phải khẩn trương, bám sát các hoạt động điều tra của Cơquan điều tra thì mới nắm được nội dung, diễn biến, tiến độ điều tra vụ án Đểgiải quyết vụ án ma túy theo qui định của tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra liêntục phải thực hiện các hoạt động điều tra kế tiếp nhau với thời hạn rất chặt chẽ,
vì vậy Kiểm sát viên phải bám sát từng hoạt động điều tra để đề ra yêu cầu điềutra cụ thể và Cơ quan điều tra có trách nhiệm phải thực hiện các yêu cầu điều trađó
Do tính chất, đặc điểm của tội phạm về ma túy nên Kiểm sát viên không đượcngồi chờ Cơ quan điều tra cung cấp thông tin, đưa tài liệu sang mà phải chủđộng phối hợp với Cơ quan điều tra Khi có thông tin về vụ án, Kiểm sát viêncần yêu cầu ngay Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu để nắm được nội dung Quátrình kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên chủ động kiểm tra, rà soát thời hạn tạmgiữ, tạm giam, thời hạn điều tra để nhắc Điều tra viên làm lệnh mới, như vậy sẽtránh được tình trạng quá hạn Khi hồ sơ đã kết thúc điều tra Viện kiểm sát raquyết định đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc truy tố bị can bằng bản cáo trạng thìKiểm sát sát viên phải thông báo cho Điều tra viên biết nắm được kết quả xử lí
-Thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
ma túy phải có kiến thức về pháp luật, về nghiệp vụ kiểm sát, các kiến thức liên quan mà tội phạm xâm hại, biết tích lũy kinh nghiệm và có kĩ năng tác nghiệp.
Thực tế cho thấy các vụ án ma túy có thể xảy ra ở khắp mọi nơi, những vụ ánỉớn xảy ra ở nhiều quốc gia, do nhiều loại đối tượng gây ra, có vụ án do nhiều bị
Trang 12can mang quốc tịch khác nhau, bị can thực hiện hành vi phạm tội bằng nhiều thủđoạn khác nhau, hành vi phạm tội của mỗi bị can cũng có tính chất mức độ khácIihau, do đó chủ thể thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátđiều tra các vụ án ma túy là Kiểm sát viên phải có kiến thức vững về pháp luật(cả pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, pháp luật các nước liên quan).Đồng thời có trình độ sâu rộng về nghiệp vụ kiểm sát để thực hiện quyền công
tố và giám sát chặt chẽ các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra Kiểm sátviên phải nhạy bén, linh hoạt trong giám sát hoạt động điều tra để phát hiện kịpthời những sai sót, vi phạm của Cơ quan điều tra và yêu cầu khắc phục Mặtkhác, nắm vững chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước đối với tội phạm về
ma túy, nghiêm khắc đối với đối tượng chủ mưu cầm đầu nhưng cũng có chínhsách hgfp lí đối với đối tượng phạm tội là người chưa thành niên, trẻ em, phụ nữ
có thai, người bị bệnh hiểm nghèo Kiểm sát viên phải kiểm sát ehặt chẽ việc
Cơ quan điều tra thực hiện chế độ đối với bị can là người nước ngoài, chủ trìtrong việc thực hiện tương trợ tư pháp Mỗi bị can có đặc điểm nhân thân khácnhau, có điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, cho nên Kiểm sát viên phải biết vậndụng linh hoạt các qui định của pháp luật để định tội, lượng hình, định khungcho phù hợp
Các qui định của pháp luật liên quan đến các chất ma túy, tiền chất, chất gâynghiện, chất hướng thần, các loại thuốc chữa bệnh có chứa chất ma túy đã rấtrhiều và phức tạp, lại thường xuyên thay đổi, đòi hỏi Kiểm sát viên phải cậpnhật liên tục Thực tế các vụ án ma túy liên quan đến nhiều lĩnh vực xã hội như:tình trang thất nghiệp, cuộc sống lam lũ, thiếu đói của đổng bào vùng cao nơi cóđiều kiên địa lí phù hợp với trồng cây có chứa chất ma túy, sự bất công bằngtrong xã hôi sư buông lỏng kiểm tra, quản lí, tâm lí thích mạo hiểm muốn thửcảm giác lạ của các loại ma túy mới của những thanh niên mới lớn Tội phạm
về ma túy đã dùng nhiều thủ đoạn để che giấu hành vi phạm tội, trong đó có cảthủ đoạn cho các chất ma túy hoặc các tiền chất phản ứng hoá học với nhau đểtạo ra chất khác không có trong danh mục chất ma túy nhằm qua mắt cơ quanchức năng Từ thực tế này cho thấy Kiểm sát viên cần phải tự tìm hiểu tích lũy
Trang 13các kiến thức xã hội cũng như kiến thức khoa học có liên quan đến ma túy đểđáp ứng yêu cầu công việc.
Kiểm sát viên phải nắm được thông tin về xử lí các vụ án ma túy để rút kinhnghiệm, tránh sai sót, vi phạm Mỗi năm, Viện kiểm sát nhân dân thụ lí Kiểm sátđiều tra trên 10.000 vụ án ma túy, mỗi vụ án xảy ra trong những điều kiện, hoàncảnh khác nhau, có thể có những vụ tương tự chứ không có vụ nào giống hệt vụnào, vì vậy đòi hỏi Kiểm sát viên phải tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năngtác nghiệp trong từng vụ án cụ thể để vụ án sau giải quyết tốt hơn vụ án trước,tránh sai sót lặp lại Bộ luật Tố tụng hình sự qui định thời hạn điều tra vụ án rấtchặt chẽ, để không vi phạm về thời hạn, các hoạt động điều tra phải khẩn trươngchính vì thế Kiểm sát viên phải thận trọng, tỉ mỉ, tinh ý, nhanh nhạy khi giám sátcác hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra thì mới phát hiện kịp thời những saisót, vi phạm của họ để yêu cầu thực hiện đúng qui định của pháp luật hoặc yêucầu khắc phục
Mặt khác, một vụ án ma túy có thể liên quan đến nhiều vụ án ma tuý khác nênKiểm sát viên phải nắm được thông tin đầy đủ để thấy được toàn cảnh hoạt độngcủa các bị can, đối tượng liên quan có biện pháp xử lí kịp thời, triệt để
Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án ma túy phải chuẩn bị phương án xử lí khi gặp điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ, giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra.
Để có được tiền và các lợi ích vật chất khác từ ma túy, đối tượng phạm tộikhông bỏ qua bất cứ thủ đoạn nào để thực hiện tội phạm đến cùng Tội phạm về
ma túy thường có quan hệ mật thiết với tội phạm về rửa tiền, tội tàng trữ và lưuhành tiền giả, tội phạm buôn bán, tàng trữ trái phép vũ khí, tội hối lộử Đối tượngphạm tội có nhiều âm mưu, thủ đoạn, vì vậy quá trình thu thập chứng cứ Việnkiểm sát nhân dân sẽ gặp không ít khó khăn như người liên quan, người làmchứng không dám khai sự thật, cung cấp các thông tin cần thiết liên quan vì sợ
sẽ bị trả thù Quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên phảichuẩn bị những phương án xử lí khi gặp điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợinhư hành vi cản trở việc thu thập chứng cứ, nhiều bị can đồng loạt phản cung,
Trang 14quá trình điều tra xuất hiện tình tiết mới gây khó khăn cho thực hiện hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, tác động tiêu cực của những người
có chức'vụ, quyền hạn mà lợi ích của họ gắn liền với hoạt động phạm tội về matúy trong vụ án đang kiểm sát điều tra Những vụ án lớn liên quan đến cán bộ,đảng viên thuộc các cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng, đòi hỏi Kiểmsát viên phải thật sắc xảo, bản lĩnh, kiên định lập trường để ứng phó với chiếnthuật "đổ bê tông", đổ tội cho đồng bọn nhằm đánh lạc hướng Kiểm sát viênhoặc những sức ép bởi những mối quan hệ xã hội không có lợi cho Kiểm sátviên Ngoài ra, Kiểm sát viên còn phải đề phòng trường hợp Điều tra viên thỏathuận với bị can để “chặt đuôi” vụ án, bưng bít thông tin về những đối tượngliên quan mà thực tế đã xảy ra
Để thực hiện các tác nghiệp cụ thể giải quyết vụ án ma tũy theo qui định của
Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản dưới luật, Kiểm sát viên phải trực tiếpđối mặt với bị can phạm tội về ma túy khi hỏi cung, lấy lời khai, tống đạt lệnh,cáo trạng, thực nghiệm điều tra đa số họ đã nghiện ma túy, trong số đó không ít
đã bị nhiễm HIV/AIDS và các bệnh dễ lây nhiễm nguy hiểm khác
2.2.4. Nội dung hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dán trong điêu tra các vụ án ma túy
2.2.3.1 Hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong
điều tra các vụ án ma tủy
-Viện kiểm sát nhân'dân thực hành quyền công tố trong khởi tố.
Điểm nổi bật của thực hành quyền công tố trong giai đoạn này là quyền yêucầu Cơ quan điều tra khởi tố, quyền khởi tố vụ án và quyền phê chuẩn quyếtđịnh khởi tố bị can của Cơ quan điều tra
Khi thực hành quyền công tố giải quyết tin báo tội phạm về ma túy, phát hiện
eó tố giác, tin báo có dấu hiệu phạm tội thì Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu Cơquan điều tra khởi tố Nếu yêu cầu của Viện kiểm sát chưa được giải quyết theothời hạn luật định thì Cơ quan điều tra phải nêu rõ lí do, hưứng giải quyết vàthông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp theo Điều 103 Bộ luật
Tố tụng hình sự Khi giải quyết tin báo tố giác, kiểm sát việc khởi tố, nếu phát
Trang 15hiện có dấu hiệu tội phạm, Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu Cơ quan điều trakhởi tố.
Viện kiểm sát nhân dân chỉ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trườnghợp Viện kiểm sát nhân dân hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quanđiều tra và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án Việc khởi tố
vụ án hình được thực hiện theo qui định tại các điều 100, 104, 105 Bộ luật Tốtụng hình sự Sau khi Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định khởi tố vụ án, khởi
tố bị can sẽ đề nghị Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra
Viện kiểm sát nhân dân thay đổi quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp thayđổi tội danh Không áp dụng việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án nếu qua điềutra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn trong cùng tội danh
đã khởi tố [63]
Đối với việc bổ sung, thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, nếu thấyquyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quanđiều tra chưa đủ căn cứ hoặc không có căn cứ thì Viện kiểm sát nhân dân có vănbản yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định hủy bỏ; nếu Cơ quanđiều tra không nhất trí và rõ ràng việc thay đổi, bổ sung này là không có căn cứthì Viện kiểm sát nhân dân có thể ra quyết định hủy bỏ
Trường hợp có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự,Viện kiểm sát nhân dân có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định Nếu
đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát ra quyết địnhthay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong thời hạn 24 giờ,
kể từ khi ra quyết định phải gửi cho Cơ quan điều tra để điều tra theo đúng quiđịnh tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự [63]
Viện kiểm sát nhân dân chỉ ra quyết định khởi tố bị can đối với trường hợpsau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà phát hiệu có người khác đã thực hiệnhành vi phạm tội trong vụ án mà chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên báo cáo Việntrưởng hoặc Phó Viện trưởng để xem xét, quyết định việc khỏi tố bị can theoqũĩđịnh tại khoản 5 Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự [76]
Trang 16Đối với việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, nếu thấy chưa rõ căn cứxác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra đã khởi tố
bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố Kiểm sát viên được phâncông thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án có thể hỏi cung bị can,lấy lời khai người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trướckhi báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được ủy quyềnxem xét, quyết định việc phê chuẩn hay hủy bỏ quyết định khởi tố bị can Cácbản cung, biên bản ghi lời khai của những người này do Kiểm sát viên lập đượcchuyển cho Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố để đưa vào vụ án
Trong phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sungquyết định khởi tố bị can, để đảm bảo việc phê chuẩn có căn cứ chính xác, Cơquan điều tra phải gửi đầy đủ, kịp thời cho Viện kiểm sát các tài liệu theo quiđịnh tại điểm 13 của Thông tư liên tịch số 05/TTLN-VKSTC-BCA-BQP ngày7/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng vềquan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiệnmột số qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 [63]
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ cấc biện pháp ngăn chặn.
Các biện pháp ngăn chặn nhằm đảm bảo cho việc tiến hành các hoạt động điềutra làm rõ các hành vi có dấu hiệu phạm tội hoặc các hành vi phạm tội Các biệnpháp này ảnh hưởng nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của công dân và nó chỉđược áp dụng khi thật cần thiết Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải đảmbảo có một trong 4 căn cứ sau: để kịp thời ngăn chặn tội phạm; khi có căn cứcho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố và xét xử; khi
có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội; khi cần đảm bảo thi hànhán
Theo qui định tại khoản 4 Điều 112 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện kiểm sátnhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn: “Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏbiên pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác;” [34],
Trang 17Viện kiểm sát nhân dân được ra các lệnh, quyết định: lệnh bắt bị can để tạmgiam, lệnh tạm giam, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trúễ quyết định phê chuẩn, khôngphê chuẩn các quyết định về áp dụng các biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điềutra.
Khi nhận được đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát nhân dân phải ra quyếtđịnh phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Nếu phát hiện tài liệu chưa đủ để quyếtđịnh phê chuẩn hoặc không phê chuẩn thì yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung Trong thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ Viện kiểm sát nhân dân thấykhông đủ căn cứ để khởi tố bị can thì trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Nếuhết thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hạn gia hạn tạm giữ, nếu không có đủ căn cứ
để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ
Trong thời hạn qui định Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó việntrưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền xem xét quyết định việcphê chuẩn và hoàn trả hồ sơ ngay cho Cơ quan điều tra Ngoài ra, Viện kiểm sátnhân dân có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh hoặc tự mình ra lệnh bắt bịcan để tạm giam khi xét thấy có đủ căn cứ và cần thiết Viện kiểm sát nhân dân
có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ (tài liệu phêchuẩn chưa rõ căn cứ) để xem xét, quyết định việc phê chuẩn [76],
Lệnh bắt khẩn cấp không cần có sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát nhândân, nhưng ngay sau khi đã thực hiện lệnh bắt, cơ quan thực hiện phải báo ngaycho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bằng văn bản kèm theo các tài liệu liênquan để Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn
Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong áp dụng, thay đổi,hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn còn được thể hiện bằng việc Viện kiểm sát nhândân ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, quyếtđịnh phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, quyết địnhhủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩnlệnh bắt bị can để tạm giam, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnhtạm giam, quyết định gia hạn hoặc không gia hạn tạm giam
Trang 18Nhận được lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn, Cơquan điều tra đã bắt giữ hoặc nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay ngườibị
bắt đến Trại tạm giam nơi gần nhất Trong thời hạn tạm giữ thì chậm nhất 12 giờtrước khi hết hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ, Cơ quan điều tra phải giao hồ sơ
đề nghị phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can và đề nghị phê chuẩn lệnh tạmgiam bị can cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và chuyển hổ sơ để xét phêchuẩn các tài liệu bổ sung để Viện kiểm sát nhân dân nghiên cứu xét phê chuẩn.Các trường hợp đã có phê chuẩn bắt giam của Viện kiểm sát nhân dân, nhưngkhông bắt được đối tượng thì Kiểm sát viên kiểm tra kĩ biên bản hoạt động tốtụng của Cơ quan điều tra để xác định rõ lí do Đối vái các bị can có đề nghị phêchuẩn của Cơ quan điều tra trong trường hợp họ đang bị tạm giữ thì chậm nhấtírong hạn 12 giờ trước khi hết hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ, Cơ quan điềutra phải giao hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và đề nghị phêchuẩn lệnh tạm giam cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp Nếu chưa đủ căn cứkhởi tố bị can, nhưng có căn cứ gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát nhân dân yêucầu Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ và gửi ngay cho Viện kiểm sát nhândân phê chuẩn
Nếu Kiểm sát viên thấy đủ căn cứ để tạm giam bị can và cần thiết phải tạmgiam bị can, nhưng Cơ quan điều tra không ra lệnh bắt tạm giam thì báo cáoViện trưởng, Phó viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ravăn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh bắt bị can để tạm giam
Các biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn theo qui địnhtại khoản 2 Điều 94 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát nhân dân cóquyền quyết định việc thay đổi hoặc hủy bỏ
Toàn bộ các văn bản, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hànhquyền công tố áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải thực hiện theo mẫu cótrong danh mục văn bản, quyết định trong công tác thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày2/1/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao [76]
Trang 19Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong quá trình Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra.
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong quá trình điều tra vụ ántheo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự bao gồm: đề ra yêu cầu điều tra; yêu
cầu Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố
Điều tra viên nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm; hủy bỏ cácquyết định không có căn cứ, trái pháp luật của Cơ quan điều tra; trực tiếp thựchiện các hoạt đông điều tra, đánh giá chứng cứ, đối chất
Theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong giai đoạn điều tra, Kiểmsát viên có quyền và trách nhiệm đề ra yêu cầu điều tra Yêu cầu điều tra củaKiểm sát viên có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả điều tra của Cơ quanCảnh sát điều tra Hiệu quả và tính kịp thời của hoạt động điều tra phụ thuộc rấtnhiều vào việc đề ra các yêu cầu điều tra Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều trakịp thời,đúng những vấn đề cần phải điều tra sẽ hạn chế được tình trạng trả điềutra bổ sung và những sai sót khác Việc đề ra yêu cầu của Kiểm sát viên phảiđược thực hiện ngay từ khi vụ án mới khởi tố và xuyên suốt quá trình điều tra.Kiểm sát viên phải phát hiện những vấn đề cần tiếp tục tiến hành làm rõ để yêucầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra như: xác minh làm rõ vai trò của đốitượng liên quan, yêu cầu xác minh về lời khai của bị can
Quá trình giải quyết vụ án, nếu phát hiện thấy Điều tra viên thuộc một trongnhững trường hợp bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng qui định tạikhoản 1 Điều 44 Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên có quyền đề nghị Thủtrưởng Cơ quan điều tra xem xét để yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thayđổi Điều tra viên Thông tư liên tịch số 05/TTLN-VKSTC-BCA-BQP ngày7/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng vềquan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiệnmột số qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã qui định thời hạn đểThủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi Điều tra viên là 3 ngày saukhi nhận được đề nghị của Kiểm sát viên hoặc văn bản yêu cầu của Viện trưởngViện kiểm sát cùng cấp Nếu xét thấy không có căn cứ để thay đổi Điều tra viên,
Trang 20Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng phải thông báo bằng văn bản nói rõ lí do choViện kiểm sát nhân dân cùng cấp biết Quyết định thay đổi Điều tra viên phảiđược gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và đưa vào hồ sơ vụ án [63].Nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì Viện kiểm sát nhân dânkhởi tố về hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của
Cơ quan điều tra: đối với các quyết định của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra
mà Bộ luật Tố tụng hình sự không qui định phải có sự phê chuẩn của Viện kiểmsát khi phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởng Cơ quan điềutra ra quyết định thay đổi, hủy bỏ Ngay sau khi ra quyết định thay đổi, hủy bỏ,
Cơ quan điều tra phải gửi các quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp vànhững người tham gia tố tụng có liên quan
Trường hợp các quyết định của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra mà Bộ luật Tốtụng hình sự qui định phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhưng chừa gửisang Viện kiểm sát, phát hiện không có căn cứ, trái pháp luật thì Thủ trưởng Cơquan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ Khi các quyết định này đã gửisang Viện kiểm sát, nhưng Viện kiểm sát chưa quyết định việc phê chuẩn thìThủ trưởng Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát để rút các quyếtđịnh này và ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ; nếu Viện kiểm sát không đồng ýthì việc thay đổi hoặc hủy bỏ theo qui định tại khoản 5 Điều 112 Bộ luật Tố tụnghình sự [76]
Đối với các quyết định của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra đã được Viện kiểmsát phê chuẩn mà phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởng Cơquan điều tra kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sátcấp trên trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ và phải gửi cho Cơ quanđiều tra để thực hiện
Thực nghiệm điều tra nhằm xác minh những tài liệu, tình tiết của vụ án có mâuthuẫn giữa thực tế khách quan với những chứng cứ có trong vụ án; qui trình sảnxuất hoặc cất giấu ma túy tại một địa điểm hoặc một đơn vị nào đó