MỤC LỤCMỞ ĐẦU Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI TỘI CHỐNG NGƯỜI THI 1.1 Nội dung lý luận quyền công tố và kiểm sát điều tra 101.2 Khái niệm
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HUY HOÀNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
THEO THẨM QUYỀN CỦA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
Người hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN TẤT VIỄN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI TỘI CHỐNG NGƯỜI THI
1.1 Nội dung lý luận quyền công tố và kiểm sát điều tra 101.2 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
1.3 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátđiều tra các vụ án chống người thi hành công vụ 16
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ
BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
24
2.1 Khái quát tình hình đặc điểm trong công tác phòng chống tộiphạm của lực lượng Bộ đội biên phòng 242.2 Tình hình đặc điểm tội chống người thi hành công vụ liênquan tới quân nhân lực lượng Bộ đội biên phòng 272.3 Đặc điểm của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng 382.4 Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátđiều tra của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng trongđiều tra các vụ án chống người thi hành công 41
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG
60
3.2 Giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả, chất lượng thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra 643.3 Giải pháp về công tác tổ chức cán bộ. 74
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đấu tranh chống và phòng chống tội phạm là cuộc đấu tranh lâu dài phứctạp và có không ít khó khăn, đòi hỏi phải có sự nỗ lực và phối hợp chặt chẽ củacác ngành các cấp trong đó các cơ quan tố tụng là lực lượng nòng cốt Viện kiểmsát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí rất quan trọng trong hoạt độngthực hiện chức năng cũng như trong quan hệ phối kết hợp đấu tranh chống tộiphạm Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thìViện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạtđộng tư pháp, bảo đảm cho mọi tội phạm phải được phát hiện, điều tra, xử lýtheo quy định của pháp luật; khắc phục triệt để tình trạng oan, sai và bỏ lọt tộiphạm Kiểm sát hoạt động tư pháp được thực hiện trong nhiều giai đoạn khácnhau của tố tụng hình sự, trong đó công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử có
vị trí đặc biệt quan trọng, giữ vị trí trung tâm trong hoạt động công tác kiểm sátđấu tranh phòng chống tội phạm Chức năng và quyền hạn của Viện kiểm sátnhân dân đã được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2014, tuy nhiên không phải cán bộ, kiểm sát viên nào cũng hiểu một cáchđầy đủ, toàn diện các quy định của pháp luật Khi hiểu không đầy đủ, nhận thứcđơn giản một chiều sẽ dẫn đến hành động thiếu chuẩn xác và không đạt hiệuquả
Điều 40, Điều 50 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: Các Việnkiểm sát quân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức trongquân đội nhân dân Việt Nam để thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp trong quân đội Trong những năm qua với vị trí, vai trò, nhiệm vụ vàchức năng của mình trong hệ thống các Viện kiểm sát quân sự, Viện kiểm sátquân sự Bộ đội biên phòng đã góp phần không nhỏ trong việc phòng ngừa, ngănchặn và xử lý có hiệu quả nhiều loại tội phạm trong phạm vi thẩm quyền củamình Trong các loại tội phạm đã được xử lý phải kể đến tội chống người thi
Trang 4Lực lượng Bộ đội biên phòng quản lý một địa bàn biên giới rộng, phức tạp.Tình hình chính trị ở những khu vực biên giới ngày càng có chiều hướng phứctạp Có những lúc, những nơi trở thành điểm nóng về tình hình an ninh chính trị.Các loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội đang có chiều hướng gia tăng, gây hậuquả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phươngkhu vực biên giới cũng như đã tạo nên những bức xúc trong nhân dân và dư luận
xã hội Thực tiễn hoạt động bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia của lựclượng Bộ đội biên phòng, cán bộ chiến sĩ Bộ đội biên phòng thường xuyên phảitiếp xúc với nhiều loại tội phạm trên khu vực địa bàn biên giới
Hành vi chống người thi hành công vụ và tội phạm chống người thi hànhcông vụ là một trong những loại hành vi và tội phạm mà lực lượng Bộ đội biênphòng luôn luôn phải xử lý Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủquyền an ninh biên giới quốc gia nhiều trường hợp, nhiều lý do cán bộ chiến sỹ
Bộ đội biên phòng đã gặp phải sự cản trở, chống đối từ phía người dân, ngườiphạm tội Đặc biệt có những vụ chống người thi hành công vụ diễn biến phứctạp cả về quy mô và tính chất Các vụ việc chống người thi hành công vụ diễn rangày càng nghiêm trọng, nhiều vụ ngang nhiên, công khai, trắng trợn Có những
vụ, đối tượng tấn công lại ngay cả khi lực lượng chức năng nổ súng cảnh cáo
Có nhiều vụ tội phạm hành hung lực lượng chức năng, giải cứu đồng bọn, cướplại tang vật, gây thương vong cho cán bộ chiến sỹ Bộ đội biên phòng làm nhiệm
vụ Một vài vụ xảy ra do nhận thức pháp luật của nhân dân địa bàn biên giớicòn hạn chế Tình trạng này không chỉ trở thành nỗi lo thường trực đối với lựclượng trực tiếp làm nhiệm vụ như lực lượng Bộ đội biên phòng mà còn đối vớicác lực lượng khác đang làm nhiệm vụ trên địa bàn biên giới như: công an, hảiquan, cảnh sát biển, kiểm lâm, quản lý thị trường…Những hành vi của các đốitượng phạm tội là thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật và trật tự xã hộicủa một nhóm người thiếu ý thức
Nhận thức và quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày02/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong những năm quaViện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng tiến hành công tác hoạt động thực
Trang 5hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có nhiều chuyển biếntích cực Với số lượng các vụ án hình sự được khởi tố, điều tra truy tố, xét xửnhanh chóng, kịp thời, đảm bảo sự nghiêm minh, đúng người, đúng tội đúngpháp luật Đồng thời không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đã gópphần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn biên giới.Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra các vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án chống người thi hànhcông vụ vẫn còn có những hạn chế, khó khăn nhất định như: chưa phát huy hếtvai trò, quyền hạn trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra, đồng thời có một số quy định của pháp luậtchưa có hướng dẫn cụ thể nên ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động này củaViện kiểm sát Những tồn tại xảy ra trong quá trình thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án chống người thi hànhcông vụ nói riêng xuất phát từ nhiều nguyên nhân Nguyên nhân chủ yếu là dopháp luật tố tụng hình sự còn nhiều bất cập, năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghềnghiệp, vận dụng pháp luật, áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra của Điềutra viên, Kiểm sát viên còn yếu, dẫn đến sai sót trong vụ án hình sự; mặt khác dođịa bàn đảm nhiệm của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng chưa phù hợpnên khi xảy xử lý tình hình vi phạm và tội phạm gặp nhiều khó khăn và khôngkịp thời.
Từ thực tế của loại tội phạm Chống người thi hành công vụ liên quan tớiquân nhân Bộ đội biên phòng và thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra của loại tội phạm này nên học viên đã chọn nghiên cứu đề tài
“Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra đối với các vụ án Chống người thi hành công vụ thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát quân
sự Bộ đội biên phòng” thuộc chuyên nghành hình sự và tố tụng hình sự, làm đề
tài Luận văn Thạc sỹ Luật
2 Tình hình nghiên cứu:
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là hai chức năng
Trang 6văn thạc sỹ viết về hai chức năng này của Viện kiểm sát nhân dân
Từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan nghiêncứu vấn đề gần với đề tài và chỉ nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụnhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về Thực hành quyền công tố và kiểm sáthoạt động điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ mà người thi hànhcông vụ thuộc lực lượng Bộ đội biên phòng; có nhiều bài báo đã công bố trên
các tạp chí nghiên cứu chuyên nghành (Tạp chí Tòa án, Tạp chí Viện kiểm sát,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Công an nhân dân)…
đã đề cập đến tình hình và phân tích nguyên nhân, nêu giải pháp phòng vàchống tội phạm chống người thi hành công vụ Song chưa có đề tài, công trìnhnghiên cứu nào trực tiếp nghiên cứu một cách hệ thống và trực tiếp vào công tácthực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều trathuộc Bộ đội biên phòng
Do vậy, luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu vấn đề này ở cấp độthạc sỹ Các công trình nghiên cứu đã được thực hiện là nguồn tư liệu cho họcviên thực hiện luận văn thạc sỹ của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là trên cơ sở nghiên cứu pháp luật
về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nói chung đánh giá thực trạngviệc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án thuộc thẩmquyền của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng, đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án chống người thi hành công vụ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu như trên luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứugồm các nội dung chủ yếu:
- Làm rõ cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp trong tố tụng hình sự
Trang 7- Nghiên cứu các quy định về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn tronghoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, đặc biệt là hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra tội chống người thi hành công vụ.
- Đánh giá thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra tối chống người thi hành công vụ theo thẩm quyền của Viện kiểm sát quân
sự Bộ đội biên phòng Đồng thời phân tích làm rõ những mặt làm được vànhững tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
- Đề ra các giải pháp để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra cac vụ án chống người thi hành công vụ thuộc thẩmquyền của lực lượng Bộ đội biên phòng
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận hoạt động thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra Đồng thời nghiên cứu thực tiễn thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án chống người thi hànhcông vụ thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát bộ đội biên phòng
Đối tượng của hoạt động thực hành quyền công tố trong đề tài là tội phạmchống người thi hành công vụ, đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra là cáchoạt động xảy ra trong quá trình điều tra vụ án chống người thi hành công vụ.Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là hoạt động thực hành quyềncông tố và kiểm sát điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ thuộc thẩmquyền của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng trong khoảng thời gian từnăm 2009 đến năm 2014
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm cơbản của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sáchhình sự, về vấn đề cải cách tư pháp thể hiện trong các văn kiện của Đại hội ĐảngVIII, IX, X, XI và các Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số49/NQTW ngày 26/5/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ
Trang 8Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu đề tài tácgiả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích,tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương phápquy nạp; phương pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng
về các vấn đề được nghiên cứu trong luận văn
5 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã nghiên cứu chuyên sâu một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềhoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án chống ngườithi hành công vụ thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biênphòng
- Luận văn đã đánh giá phân tích những hạn chế, tồn tại trong hoạt độngcủa Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng khi thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ thông qua đó đề xuấtcác giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát quân sự
Bộ đội biên phòng trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều trađối với tội chống người thi hành công vụ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Phân tích có hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về thựchành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án Chống người thi hành công vụthuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát Bộ đội biên phòng
- Làm rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng trongquá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát điều tra các vụ án chống người thi hànhcông vụ
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ điều tra viên, kiểm sát viêntrong lực lượng Bộ đội biên phòng để quá trình giải quyết vụ án hình sự chốngngười thi hành công vụ được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm ba chương:
Trang 9Chương 1: Cơ sở lý luận của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra của các vụ án chống người thi hành công vụ
Chương 2 Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra của Viện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng trong điều tra các vụ án chốngngười thi hành công vụ
Chương 3 Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ củaViện kiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng
Trang 10Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
1.1 Nội dung lý luận về quyền công tố và kiểm sát điều tra
Trong lịch sử lập hiến của Nhà nước ta (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959)lần đầu tiên Hiến pháp năm 1980 khi quy định về chức năng nhiệm vụ của Việnkiểm sát nhân dân tại Điều 138 đã đưa ra cụm thuật ngữ mới “thực hành quyềncông tố” Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 1981 cũng nhắc lại cụm từ “thực hành quyền công tố” Như vậy, từ thờiđiểm này đã xuất hiện hai khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền côngtố” trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân từ đó đến nay Gần đây nhất,Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện sát nhân dân năm 2014 cũng vẫn giữnguyên các khái niệm này Trong khoa học tố tụng hình sự, trong hoạt động thựctiễn của nghành kiểm sát cũng như trong khoa học pháp lý nảy sinh nhu cầu tấtyếu về nhận thức các khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố”.Nhận thức đúng đắn về khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền côngtố” không chỉ có giá trị về mặt lý luận giúp ta hiểu rõ hơn đầy đủ hơn về chứcnăng, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước, trong tố tụnghình sự mà còn có một ý nghĩa thực tiễn rất to lớn
- Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn với bản chất Nhà nước, nó
tồn tại trong bất kì các kiểu Nhà nước nào.Từ khi “Quyền công tố” được ghinhận trong Hiến pháp 1980 đã trở thành một vấn đề pháp lý gây ra sự tranh luậngiữa các nhà khoa học pháp lý, cũng như giữa các cán bộ thực thi pháp luật ởnước ta.Theo từ điển Luật học giải thích “Quyền công tố” là “quyền của Nhànước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”
Việc làm sáng tỏ nội dung “Quyền công tố” không chỉ có ý nghĩa quantrọng về mặt lý luận mà có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn trong xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật cũng như cải cách hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật ởnước ta Trong thời gian trước đây cũng như hiện nay, khi Hiến pháp 2013 và
Trang 11Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 (có hiệu lực từ 1/6/2015) quan điểm
về “Quyền công tố” – chức năng công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự
có nhiều quan điểm khác nhau Có thể nêu các quan điểm khác nhau đó như sau:
Quan điểm thứ nhất: quan điểm này đồng nhất quyền công tố với hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Quan điểm này khẳng định Viện kiểmsát chỉ có một chức năng duy nhất trong tố tụng hình sự là thực hành quyền công
tố, trong đó bao gồm cả hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Cơ sở củaquan điểm này là nội dung Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981 và năm 1982 Cách hành văn bố cục của Điều luật này đã tạo cơ sở để
khẳng định: hoạt động thực hành quyền công tố cũng giống như hoạt động kiểm
sát hoạt động tuân theo pháp luật Cả hai hoạt động này đều được thực hiện bởicác khâu công tác kiểm sát giống nhau
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước truy tố kẻ tội
phạm ra trước Tòa án để xét xử và buộc tội bị cáo tại phiên tòa.Những ngườitheo quan điểm này không nhất trí việc gắn liền quyền công tố của Viện kiểmsát với một số quyền năng luật quy định cho Viện kiểm sát ở giai đoạn điều tratrong tố tụng hình sự Quan điểm này cho rằng một số quyền như: quyền khởi tố
vụ án, quyền khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn không phải làquyền hạn riêng của Viện kiểm sát Mà trong một số trường hợp các Cơ quanđiều tra, Tòa án cũng có một số quyền năng như vậy Từ cơ sở lý luận đónhững người theo quan điểm này cho rằng: “ Khi truy tố kẻ phạm tội ra trướcTòa thì chỉ có Viện kiểm sát nhân dân các cấp mới có ” và “không một cơquan nào có thể thay thế Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyềncông tố” Về cơ bản nội dung của quan điểm này thể hiện: quyền công tố làquyền duy nhất thuộc về Viện kiểm sát nhân dân và không một cơ quan nào cóthê thay thế được; quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát nhân dân thực hiệntrong tố tụng hình sự (cụ thể là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm); quyền công tố làquyền truy tố người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự ra trước Tòa án và đạidiện cho Nhà nước buộc tội (duy trì công tố) người có hành vi gây nguy hiểm
Trang 12quan điểm này chính là quan điểm về hoạt động của Viện kiểm sát trong kiểmsát xét xử hình sự (Viện kiểm sát duy trì công tố trước phiên tòa) đã tồn tại trongnghành kiểm sát trước khi có Hiến pháp 1980.
Quan điểm thứ ba: Quan điểm này xuất phát từ những quyền tố tụng đặc
biệt của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự và một số quyền dân sự để kháiniệm quyền công tố Khái niệm này nêu rõ “Hai mặt kiểm sát việc tuân theopháp luật và thực hành quyền năng (như quyết định bắt, giam, trả tự do, truy tố,buộc tội tại phiên tòa, kháng nghị các bản án ) gắn chặt với nhau, hỗ trợ lẫnnhau và hợp thành quyền công tố Nếu hiểu theo cách này thì bản thân hoạt độngkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự hoặc tố tụng dân sự củaViện kiểm sát chỉ là bộ phận cấu thành của quyền công tố Ngoài ra hiểu theocách này thì bản thân công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểmsát trong tố tụng hình sự bị tách rời khỏi các quyền năng cụ thể, mà thiếu nhữngquyền năng này thì hoạt động của Viện kiểm sát không còn là giá trị
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa giao cho Viện kiểm sát nhân dân Tối cao thực hiện theo luật định; Đó làquyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra Cơ quanxét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật Những ngườiđưa ra quan điểm này cho rằng trong khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa, kháiniệm quyền công tố được xác định dựa trên công tố Nhà nước, công tố xã hội và
tư tố Nội dung quyền công tố là “tổng hợp các biện pháp pháp lý được tiếnhành dưới sự liên kết chặt chẽ với nhau trong hoạt động tố tụng của Viện kiểmsát Quyền công tố là một quyền năng của Viện kiểm sát nhân dân nhằm thựchiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hình sự và dânsự” Quan niệm này đã xóa bỏ ranh giới đặc thù giữa hai lĩnh vực tố tụng dân
sự và tố tụng hình sự đồng thời cũng xóa nhòa đặc thù của Viện kiểm sát tronglĩnh vực đó Mặt khác với khái niệm quyền công tố ở góc độ nội dung như vậyhoàn toàn không cải thiện được nhận thức về quyền công tố
Nhìn tổng thể các quan điểm trên cho thấy mỗi nhóm quan điểm lý giảitrên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta, các quan điểm này
Trang 13đều thể hiện tính hợp lý Tuy nhiên, các quan điểm này hoặc là quá mở rộng,hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công tố như: đồng nhất quyền công tố vớichức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật; coi quyền công tố là một quyềnnăng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng hình sự; coi quyền công tố là quyền truy tố kẻ phạm tội ra trướcTòa án và thực hiện buộc tội tại phiên Tòa hình sự sơ thẩm Hạn chế của cácquan điểm này là chưa phân định rõ được khái niệm, bản chất, nội dung, phạm
vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việctuân theo pháp luật
Trên cơ sở Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 có thể cho rằng: Quyền công tố theo quy định của pháp luật Việt Nam là
quyền Nhà nước giao cho Viện kiểm sát để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội đó trước phiên Tòa.
- Thực hành quyền công tố
Hiến pháp năm 1959 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân lần đầu tiên
đã hình thành lý luận về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, Luật tổ chứcViện kiểm sát nhân dân đã thể hiện Viện kiểm sát nhân dân không chỉ có chứcnăng thực hành quyền công tố mà còn thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuântheo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và lĩnh vực tư pháp
Tại Điều 38 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi và Điều 1 Luật tổ chức Việnkiểm sát nhân dân năm 2002 quy định “Viện kiểm sát nhân dân có chức năngkiểm sát tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố theo Hiến pháp và phápluật” Khái niệm thực hành quyền công tố ngày càng được thể hiện rõ và được
đề cập nhiều trong các văn bản của Đảng, Chính phủ và các văn bản pháp luậtkhác
Tại Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 hai chức năng “thựchành quyền công tố” và “ kiểm sát hoạt động tự pháp” đã được khẳng định là haichức năng cơ bản của Viện kiểm sát Tại khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Việnkiểm sát nhân dân đã khẳng định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của
Trang 14nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi gải quyết tin báo tốgiác tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố,xét xử vụ án hình sự”.
Như vậy, trên cơ sở các quy định hiện hành thấy rằng: Thực hành quyềncông tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng các quyền năng pháp lý theo luật
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội nhằm đảmbảo cho việc truy tố tội phạm được công bằng, nghiêm minh, đúng người, đúngtội, đúng pháp luật
- Kiểm sát điều tra có nguồn gốc từ thuật ngữ “kiểm sát việc tuân theo
pháp luật” Tuy nhiên kiểm sát việc tuân theo pháp luật có phạm vi nhiều hơn,đối tượng nhiều hơn, còn đối tượng của kiểm sát điều tra của kiểm sát điều trachỉ có hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra
Từ điển Luật học năm 1999 cho rằng: kiểm sát điều tra là “ công tác kiểmsát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra và các Cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”
Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có chức năng giám sát các hoạtđộng điều tra Hoạt động giám sát này được thể hiện qua các hoạt động kiểm sátviệc khởi tố, kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, kiểm sát việc khámnghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, hỏi cung bị can, đối chất… hoặckiểm sát điều tra việc thông qua kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của nội dung,hình thức các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Ngoài các hoạt động trên Viện kiểmsát còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tiến hành tốtụng như: bị can, người làm chứng, luật sư, người giám hộ, người giámđịnh….để bảo đảm quyền của họ, đồng thời bảo đảm cho việc điều tra vụ ánđược khách quan
Có thể thấy rằng mục đích của hoạt động kiểm sát điều tra là nhằm bảođảm cho các hoạt động của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thực hiện đúng cácquy định của pháp luật, pháp hiện kịp thời những thiếu sót, vi phạm để đề nghịkhắc phục sửa chữa đồng thời chông bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Trang 15Từ những lập luận trên có thể hiểu: Kiểm sát điều tra là việc Viện kiểm
sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật toàn bộ các hoạt động xảy ra trong quá trình Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra nhằm bảo đảm cho việc điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật chống bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.
1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ
Trong điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ chức năng củaViện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra Đây làviệc Viện kiểm sát thực hiện quyền năng pháp lý theo luật định để truy cứu tráchnhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ ratrước Tòa án để xét xử đồng thời trong quá trình điều tra vụ án, Viện kiểm sátcăn cứ vào quy định cua pháp luật Viện kiểm sát giám sát cơ quan điều tra khi
Cơ quan này tiến hành các hoạt động điều tra nhằm tìm ra sự thật khách quancủa vụ án Cho đến thời điểm hiện nay Viện kiểm sát là cơ quan Nhà nước duynhất nước ta được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tracác vụ án hình sự
Hoạt động thực hành quyền công tố là nhằm mục đích đảm bảo cho hoạtđộng điều tra vụ án được đúng luật, đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh chomọi công dân.Hoạt động kiểm sát điều tra là nhằm mục đích đảm bảo cho mọihoạt động điều tra vụ án được thực hiện đúng quy định của pháp luật, chốnglàm oan người vo tội, bỏ lọt tội phạm Hai hoạt động thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra có quan hệ đan xen lấn nhau và có mối quan hệ hữu cơ vớinhau
Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án chốngngười thi hành công vụ có điểm khác biệt cơ bản là hoạt động thực hành quyềncông tố là hoạt động mang tính chủ động còn kiểm sát điều tra là hoạt độngmang tính bị động, vì chỉ khi nào Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điềutra thi Viện kiểm sát mới tiến hành các hoạt động kiểm sát các hoạt động của
Trang 16Từ những vấn đề nêu trên có thể khái quát: Hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát trong điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ là việc Viện kiểm sát thực hiện quyền năng pháp lý theo luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ nhằm đảm bảo việc truy tố được công bằng, nghiêm minh, đúng người, đúng tội đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật toàn bộ các hoạt động xảy ra trong quá trình Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra đảm bảo cho hoạt động điều tra được đúng luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
1.3 Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ
1.3.1 Khái niệm tội phạm chống người thi hành công vụ
- Khái niệm người thi hành công vụ
"Người thi hành công vụ" là thuật ngữ thường được sử dụng khi nhắc đến
"công vụ" Thuật ngữ "Công vụ" trong tiếng Việt thể hiện những hoạt động củaNhà nước cũng như các tổ chức phục vụ nhân dân Công vụ cũng có thể đượcđịnh nghĩa là hoạt động phục vụ lợi ích công do Nhà nước đài thọ hoặc tạo điềukiện, hoặc công việc được thực hiện vì Chính phủ hay nhân danh Chính phủ Từkhái niệm "công vụ" như trên, có thể hiểu "người thi hành công vụ" là người thihành việc công Theo quy định của pháp luật, có thể phân chia người thi hànhcông vụ theo những nhóm người chính sau đây: Người thi hành công vụ lànhững người đại diện quyền lực nhà nước; Người thi hành công vụ là nhữngngười có chức vụ quyền hạn có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức điều hành, quản lý hành chính trong các cơ quan hoặc tổ chức chínhtrị xã hội, trong bộ máy của Đảng, Mặt trận Tổ quốc…; Người thi hành công vụ
là nhóm những người giữ chức vụ quyền hạn có liên quan đến việc thực hiệnchức năng, nhiệm vụ tổ chức sản xuất kinh doanh trong các cơ quan và tổ chứckinh tế, doanh nghiệp nhà nước; Người thi hành công vụ còn là nhóm nhữngngười dân được giao nhiệm vụ tuần tra, canh gác giữ gìn an toàn trật tự xã hội
Trang 17(thanh niên cờ đỏ, thanh niên xung kích, dân quân tự vệ, dân phòng được huyđộng làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh…).
Dựa trên những quan điểm đã phân tích, có thể đưa ra khái niệm "ngườithi hành công vụ" như sau: Người thi hành công vụ là những người được giaotrách nhiệm để tiến hành một công vụ nhất định nhằm bảo đảm thực hiện chứcnăng của nhà nước, duy trì trật tự, sự ổn định của xã hội Những người này dobầu cử, được bổ nhiệm, do hợp đồng hoặc một hình thức khác có hưởng lươnghoặc không hưởng lương và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm
vụ được giao
- Khái niệm "chống người thi hành công vụ"
Khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó, các quan hệ xã hội ngàymột phức tạp, thì tất yếu sẽ có những hành vi chống người thi hành công vụ củanhững người muốn lựa chọn cách thức thỏa mãn nhu cầu trái với lợi ích của toàn
xã hội Các hành vi của công dân nhằm ngăn cản hoặc chống lại việc thực hiệnnhiệm vụ của những người được Nhà nước giao cho thẩm quyền giả quyếtnhững công việc nhất định – theo quy định của pháp luật đều được coi là hành vichống người thi hành công vụ Qua nghiên cứu, hành vi chống người thi hànhcông vụ tuy đa dạng nhưng đều có những đặc điểm như sau: đó là hành vi nguyhiểm cho xã hội, hành vi lệch chuẩn vì chủ thể của hành vi đã thực hiện điều nhànước, pháp luật ngăn cấm; hành vi chống người thi hành công vụ xâm hại tớinhiều quan hệ xã hội được nhà nước, pháp luật bảo vệ; hành vi chống người thihành công vụ được thực hiện với lỗi cố ý và với những động cơ, mục đích khácnhau; các hình thức của hành vi chống người thi hành công vụ rất đa dạng, tất cảnhững động cơ, mục đích trên đều được thể hiện thông qua những hành vi sau:chống đối; cản trở; uy hiếp và đe dọa; chủ thể của hành vi chống người thi hànhcông vụ là bất kì ai mà quyền lợi của họ bị hạn chế bởi người thi hành công vụhoặc vì lý do công vụ, hoặc họ là người đang bảo vệ một lợi ích bất hợp pháptránh khỏi sự can thiệp của những người thực thi công vụ
Từ các phân tích như trên, có thể đưa ra khái niệm "chống người thi hành
Trang 18uy hiếp người thi hành công vụ xảy ra trước, trong hoặc sau khi người thi hànhcông vụ thực hiện công vụ bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặccác thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ, trảthù người thi hành công vụ, đe dọa người khác hoặc để ép buộc người thi hànhcông vụ thực hiện hành vi trái pháp luật
Các hành vi chống lại việc thực hiện công vụ là những hành vi có tínhchất nguy hiểm cho xã hội và được coi là tội phạm và được quy định trong Bộluật hình sự Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 Bộluật hình sự, Chương XX: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, Bộ luậthình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:
“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn kháccản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thựchiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.”
- Đặc điểm pháp lý của tội chống người thi hành công vụ
* Khách thể của tội phạm Tội chống người thi hành công vụ xâm phạm đến
hoạt động bình thường của Cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội trong quản lýhành chính Nhà nước thông qua việc tác động trực tiếp đến người thi hành công
vụ đang thực hiện công vụ được giao Đây là một trong những khách thể quantrọng, đó là: Trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính của Cơ quan nhànước, là sự hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước Người đang thihành công vụ là đối tượng tác động của tội phạm này Thông qua việc tác độnglên người thi hành công vụ dẫn đến việc người đó không thực hiện đầy đủ bình
Trang 19thường công vụ của họ, người phạm tội gây thiệt hại cho trật tự quản lý hànhchính và trật tự công cộng Do đó, tội chống người thi hành công vụ còn có thểxâm phạm đến sức khỏe của người đang thi hành công vụ hoặc một số quan hệ
xã hội khác
*Mặt khách quan của tội phạm Tội chống người thi hành công vụ là tội có cấu
thành hình thức, được coi là hoàn thành kể từ khi người phạm tội có một trongnhững hành vi sau đây nhằm vào người thi hành công vụ:
Dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc
ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, hành vi này thường gắn với cáctrường hợp cụ thể như sau:
Dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc
ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, hành vi này thường gắn với cáctrường hợp cụ thể như sau: Dùng sức mạnh vật chất, có thể kết hợp với việc sửdụng công cụ, phương tiện tấn công trực tiếp tác động vào cơ thể người đang thihành công vụ như: đấm, đá, đâm, chém, dùng gậy phang, xe quần áo, phù hiệu,trói, bắn, xô đẩy, vật lộn nhằm khống chế, cản trở người thi hành công vụ thựchiện công vụ của họ; Dùng sức mạnh vật chất tấn công nhằm buộc người thihành công vụ phải trả lại tang vật phạm pháp, hủy hóa đơn xử phạt hoặc khônglàm những việc chức năng, nhiệm vụ của
Đe dọa dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của
họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật thường gắn với trường hợp
cụ thể như sau: Dùng cử chỉ lời nói chữ viết để uy hiếp và thể hiện với ngườithi hành công vụ hoặc thân nhân của người thi hành công vụ về ý đồ của mình sẽdùng sức mạnh vật chất hoặc dùng công cụ, phương tiện tấn công để cản trởngười thi hành công vụ khiến người thi hành công vụ sợ hãi phải chấm dứt việcthực thi công vụ Đe dọa dùng vũ lực ép buộc người thi hành công vụ thực hiệnhành vi trái pháp luật cũng được thực hiện như hành vi trên; từ đó khiến ngườithi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc không làm nhữngnhiệm vụ thuộc chức năng nhiệm vụ của mình
Trang 20Dùng thủ đoạn khác là một dạng biểu hiện khác trong hành vi khách quancủa tội chống người thi hành công vụ Việc xác định “ dùng thủ đoạn khác”nhằm cản trở người thi hành công vụ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi tráipháp luật cần được hiểu là ngoài hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng lực như
đã phân tích ở trên ngươi phạm tội còn thực hiện hành vi khác như: tự gâythương tích, giả thương tích ; đe dọa tố cáo bí mật đời tư, đe dọa gây thiệt hại
về tài sản, danh dự, nhân phẩm thông qua các hình thức như bôi nhọ, vukhống cán bộ đòi hối lộ hoặc nhằm gây sức ép về mặt tinh thần hoặc cho uốngthuốc mê, tân dược khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiểnhành vi để cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc nhằmtác động đến người thi hành công vụ để buộc họ phải thực hiện hành vi trái phápluật hoặc không làm những việc thuộc chức năng nhiệm vụ của mình; Đối vớihành vi “dùng thủ đoạn khác” của người phạm tội có đạt được mục đích haykhông đạt được mục đích hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấuthành tội phạm
Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tộichống người thi hành công vụ Tuy nhiên, trên thực tiễn cho thấy các cơ quantiến hành tố tụng chỉ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này khihành vi chống người thi hành công vụ dẫn đến công việc, nhiệm vụ, nghĩa vụcủa người thi hành công vụ bị gián đoạn, không thực hiện được hoặc gây nhữnghậu quả nghiêm trọng
Ngoài dấu hiệu về hành vi, các dấu hiệu trong mặt khách quan kháckhông phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm; tuy nhiên, những dấuhiệu này có ý nghĩa bổ sung cho các dấu hiệu thuộc hành vi khách quan hoặc cáctình tiết có yếu tố định khung hình phạt, như nghĩa vụ phải thi hành của người
có hành vi chống người thi hành công vụ; trách nhiệm của người thi hành công
vụ theo quy định của pháp luật
* Mặt chủ quan của tội phạm Lỗi của người phạm tội chống người thi
hành công vụ là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ hành vi củanình là chống người thi hành công vụ, thấy trước hậu quả của hành vi đó và
Trang 21mong muốn hậu quả xảy ra Động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong mặtchủ quan của tội phạm này Người phạm tội có hành vi chống người thi hànhcông vụ xuất phát từ động cơ nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiệncông vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.
* Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội này là người đạt độ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự
* Hình phạt Theo quy định tại điều 257 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ
sung 2009 người phạm tội có thể bị cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặcphạt tù từ sáu tháng đến ba năm (khoản 1); phạt tù từ hai năm đến bảy năm khi
có một trong các tình tiết định khung tăng nặng như có tổ chức; phạm tội nhiềulần; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây hậu quả nghiêm trọnghoặc tái phạm nguy hiểm quy đinh tại khoản 2 của điều này Trong đó, tình tiế
“gây hậu quả nghiệm trọng” cần được hiểu là hành vi phạm tội đã gây ảnhhưởng tiêu cực đến uy tín của Nhà nước, gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhànước, tổ chức, cá nhân, gây cản trở nghiêm trọng việc thực hiện các chính sách
Trang 22kiểm sát phải thận trọng, khách quan trong việc xem xét đánh giá chứng cứ, tàiliệu trước khi ban hành các quyết định tố tụng.
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nóichung và các vụ án chống người thi hành công vụ nói riêng được Viện kiểm sáttiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật Tốtụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm cá biệt hóa các quy địnhcủa pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Mục đích của hoạt động này là truycứu trách nhiệm hình sự đối với phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm pháp
lý do các chế tài pháp luật hình sự đặt ra
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra ở giai đoạn điều tra các vụ
án chống người thi hành công vụ đòi hỏi sự linh hoạt của kiểm sát viên và phảituân thủ một cách nghiêm ngặt chặt chẽ, phải thận trọng khách quan trong việcxem xét đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong vụ án để có những quyết địnhchính xác
- Hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
và kiến nghị khởi tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nguồn căn cứ để kịp thờiphát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm
để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Tráchnhiệm của Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố, không làm oan người vô tội, chống bỏ lọt tội phạm
- Việc đánh giá chứng cứ trong hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra đối với các vụ án chống người thi hành công vụ nhất là các vụ
án có đông đối tượng tham gia thì việc xác định sự thật khách quan, phân loạiđối tượng cầm đầu, xúi giục, kích động là hết sức khó khăn Chính vì vậy đòihỏi kiểm sát viên cần phải thận trọng, khách quan và tỉ mỉ trong việc nghiêncứu, đánh giá chứng cứ
Trang 23Kết luận Chương 1
Nhận thức đúng đắn và đầy đủ về cơ sở lý luận của hoạt động thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát quân sự nói chung và Việnkiểm sát quân sự Bộ đội biên phòng nói riêng (nằm trong hệ thống tổ chức củaViện kiểm sát nhân dân) trong điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ
là một vấn đề quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này Tộichống người thi hành công vụ được cấu thành bởi bốn yếu tố: khách thể, kháchquan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm Nhận thức được dấu hiệu đặc trưng
và dấu hiệu đặc thù của mỗi yếu tố sẽ hình thành nên khái niệm tội chống ngườithi hành công vụ Việc phân biệt các tội phạm có dấu hiệu chống người thi hànhcông vụ trên cơ sở dấu hiệu pháp lý đặc trưng và điển hình sẽ tránh trường hợp
áp dụng pháp luật trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều trakhông chuẩn xác Hoạt động điều tra là một trong những hoạt động vô cùngquan trọng trong quá trình giải quyết vụ án chống người thi hành công vụ nó cótác động to lớn tới hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra chínhvậy tác giả đã nêu khái quát có phân tích các khái niệm liên quan đến chủ thể,đặc điểm của hoạt động điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ vànhững vấn đề cần chứng minh trong điều tra các vụ án chống người thi hànhcông vụ
Nhận thức đúng đắn về cơ sở lý luận về quyền công tố, thực hành quyềncông tố, kiểm sát điều tra tác giả có nêu quan điểm khái niệm thực hành quyềncông tố và kiểm sát điều tra các vụ án chống người thi hành công vụ Nội dunghoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn điều tracác vụ án chống người thi hành công vụ có vai trò quan trọng
Trang 24Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
2.1 Khái quát tình hình đặc điểm trong công tác phòng chống tội phạm của lực lượng Bộ đội biên phòng
Lực lượng Bộ đội biên phòng quản lý đường biên giới trên đất liền dài4.653.543km đi qua 435 xã, phường thị trấn thuộc 103 huyện, thị xã, thành phốcủa 25 tỉnh biên giới tiếp giáp với ba nước là Trung Quốc, Lào và Campuchia.Khu vực trên đất liền có 47 dân tộc sinh sống, trong đó biên giới Việt Nam –
Trung Quốc 1.449.566km đi qua 7 tỉnh của Việt Nam (từ Điện Biên đến Quảng
Ninh) tiếp giáp với 2 tỉnh của Trung Quốc (Vân Nam và khu tự trị Choang Quảng Tây) Khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc có 168 xã, phường, thị
trấn thuộc 34 huyện, thị xã; có 9 cửa khẩu (trong đó có 4 cửa khẩu quốc tế).
Biên giới Việt Nam – Lào dài 2.067km, qua 10 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với
10 tỉnh của Lào Khu vực biên giới có 151 xã, phường, thị trấn thuộc 35 huyện
thị xã, có 14 cửa khẩu (trong đó có 7 cửa khẩu quốc tế) Biên giới đất liển Việt
Nam – Campuchia dài 1.137km, qua 10 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với 10 tỉnhcủa Campuchia Khu vực biên giới có 109 xã, phường, thị trấn; có 20 cửa khẩu
(có 20 cửa khẩu quốc tế) Lực lượng Bộ đội biên phòng quản 3.260km bờ biển,
với vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2, trong đó vùngbiển Việt Nam tiếp giápvới 7 nước và vùng lãnh thổ, với 112 cửa sông 22 vịnh , 53 cảng biển, có trên
3000 hòn đảo lớn nhỏ (bao gồm hai quần dảo Trường Sa, Hoàng Sa) trong đó có
47 đảo có dân cư sinh sống Khu vực biên giới biển có 589 xã, phường, thị trấnthuộc 126 huyện của 28 tỉnh, thành phố với 21 dân tộc sinh sống Các địa bàn dolực lượng Bộ đội biên phòng quản lý phần lớn có đặc điểm tự nhiên, xã hội rấtkhó khăn, phức tạp, địa hình chủ yếu là núi cao, rừng rậm, khí hậu, thời tiết khắcnghiệt dân cư thưa thớt; có nhiều cửa khẩu và đường tiểu ngạch qua biên giới
Cư dân trên địa bàn chủ yếu là người dân tộc thiểu số; đời sống còn nhiều khókhăn, trình độ dân trí còn thấp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu.Tình hình
Trang 25kinh tế - xã hội trên các địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng thiếuđồng bộ; trình độ nhận thức về chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, nhận thức
về pháp luật của đại bộ phận nhân dân vẫn còn thấp
Bên cạnh những đặc điểm về cư dân, văn hóa, xã hội còn phải kể đến việcthực hiện chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, nhiều khu kinh tếcửa khẩu, khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ hình thành, thu hút nhiều doanhnghiệp ở trong và ngoài nước đến đầu tư và du khách tham quan, du lịch Vớiquy luật, phát triển kinh tế sẽ kéo theo nhiều hệ lụy phức tạp về an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; bên cạnh đó khu vực biên giới là địa bànnhạy cảm luôn xuất hiện nhiều băng nhóm hoạt động mang tính xã hội đen ở cáckhu vực cửa khẩu, đường tiểu ngạch, khu kinh tế mở gây nhiều phức tạp về anninh trật tự Hoạt động ở các khu du lịch, bãi tắm ven biển có nhiều diễn biếnkhó lường: trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, gây rối trật tự công cộng, mua bánngười…Đáng chú ý là các đường dây mua bán ma túy đưa từ nước ngoài vàoViệt Nam, tình trạng buôn bán lẻ ma túy diễn biến rất phức tạp; buôn bán vũkhí, vật liệu nổ, động vật hoang dã, thực phẩm không rõ nguồn gốc, thuốc tândược giả … gây phức tạp về an ninh trật tự khu vực biên giới Trên vùng biểntình trạng tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt trộmhải sản gây mất an ninh trên vùng biển; dùng chất nổ, kích điện khai thác hải sảngây mất an ninh trật tự và hủy hoại môi trường biển; tình trạng buôn lậu, gianlận thương mại trên biển Hoạt động của các loại tội phạm rất đa dạng về đốitượng, phương thức thủ đoạn, tinh vi xảo quyệt có tổ chức chặt chẽ, thườngxuyên thay đổi phương thức thủ đoạn hoạt động Quá trình ngăn chặn, đánh bắtcác đối tượng trên địa bàn biên giới thì tính chất chống đối của các loại tội phạmcàng cao, càng liều lĩnh Hầu hết khi bị phát hiện các đối tượng đều có hành vichống trả hết sức quyết liệt; nhiều đối tượng rất manh động liều lĩnh, dùng vũkhí nóng gây thương vong cho cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng Các đốitượng khác có hành vi hô hào kích động quân chúng nhân dân cản trở lực lượng
Bộ đội biên phòng gây khó khăn cho việc làm nhiệm vụ của các lực lượng chức
Trang 26Trong những năm qua, nhận thức rõ trách nhiệm đồng thời quán triệt quanđiểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, với quyết tâmchính trị cao lực lượng Bộ đội biên phòng đã dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy Bộ tưlệnh Bộ đội biên phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo, tích cực đấu tranh ngăn chặn triệtphá nhiều chuyên án lớn, bắt giữ nhiều loại tội phạm góp phần quan trọng vàokết quả đấu tranh phòng chống tội phạm trong cả nước Từ năm 2009 đến năm
2014 các đơn vị Bộ đội biên phòng đã bắt giữ xử lý 64.709 vụ, 100.784 đốitượng, gải cứu 923 nạn nhân, tiếp nhận 515 nạn nhân trong 840 vụ, 938 đốitượng buôn bán người; thu giữ trên 995, 52kg hêroin; 88,796 kg và 753.774 viên
ma túy tổng hợp; gần 500 kg nhựa, qua rthuoocs phiện; trên 6.740 kg cầnsa;273.037 tấn than; 3.688,5 tấn quặng titan, 44.564,5 tấn qặng sắt; hơn 7.000tấn xăng dầu; 12.855,14 tấn đường; 56.097 kg lá thuốc lá và 1.848.331 báothuốc lá các loại; 8.929 kg động vật hoang dã; 9.114 tấn ngà voi, sừng động vật;22,55 kg vàng, 23 kg bạc, 18,9 tấn pháo nổ, 6.641,02kg thuốc nổ, 21.722 kíp nổ,
1037 súng, gần 7000 viên đạn và 326, 9 kg đạn cac loại; thu giứu nhiều phươngtiện hàng hóa và tiền mặt bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ khác… tổng giá trịhàng hóa thu và tạm giữ ước tính khoảng 1.037 tỷ đồng Việt Nam
Đấu tranh, ngăn chặn tội các loại tội phạm khác trên khu vực biên giới lànhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của lực lượng Bộ đội Biên phòng Hiện nay,việc thực hiện nhiệm vụ này đang có nhiều khó khăn, phức tạp, đòi hỏi Bộ độibiên phòng phải phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp
vụ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Bảo vệ an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới là một nội dung quan trọng trong nhiệm
vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia mà Đảng, Chính phủ giao cho
Bộ đội biên phòng - với vai trò là lực lượng chuyên trách, nòng cốt Xuất phát
từ đặc điểm, tình hình trên và trước yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ chủquyền, an ninh biên giới, ngăn chặn các loại tội phạm lực lượng Bộ đội biênphòng đã triển khai nghiêm túc, đồng bộ các kế hoạch công tác nghiệp vụ, mở
hồ sơ điều tra cơ bản địa bàn trọng điểm, tuyến, lĩnh vực và sưu tập ngoại biênđảm bảo đúng tiến độ, chất lượng Việc triển khai công tác nghiệp vụ cơ bản đã
Trang 27đạt kết quả trờn cỏc mặt: hoạt động phũng, chống cỏc tệ nạn xó hội và cỏc loạitội phạm khỏc Điều đú, một lần nữa khẳng định vị trớ, vai trũ quan trọng của Bộđội biờn phũng trong cụng tỏc chống tội phạm trờn cỏc tuyến biờn giới trong tỡnhhỡnh mới.
Những kết quả, tuy cũn khiờm tốn so với yờu cầu đặt ra và thực tế của tỡnhhỡnh, song đó gúp phần ngăn chặn cú hiệu quả cỏc loại tội phạm ở khu vực biờngiới, đặc biệt là trong lĩnh vực đấu tranh với cỏc hành vi cú dấu hiệu của tộichống người thi hành cụng vụ đối với cỏc cỏ nhõn và cỏc tổ chức tội phạm
2.2 Tỡnh hỡnh đặc điểm tội chống người thi hành cụng vụ liờn quan tới quõn nhõn lực lượng Bộ đội biờn phũng
Tỡnh hỡnh chống lực lượng Bộ đội biờn phũng khi thi hành cụng vụ đangdiễn ra rất nghiờm trọng với tớnh chất manh động, cụn đồ, hung hón, thể hiệnthỏi độ coi thường kỷ cương, phỏp luật, gõy thương vong khụng nhỏ cho cỏn bộchiến sĩ Bộ đội biờn phũng khi thi hành cụng vụ, ảnh hưởng đến sự thi hànhđỳng đắn của cụng vụ đặt ra
Từ năm 2009 đến 2014 cỏc vụ ỏn cú dấu hiệu liờn quan tới hành vi chốngngười thi hành cụng vụ là quõn nhõn lực lượng Bộ đội biờn phũng ngày càng cúchiều hướng tăng dần Mặc dự lực lượng Bộ đội biờn phũng là lực lượng vũtrang nũng cốt trong việc thực thi phỏp luật, bảo vệ phỏp luật, vừa là người bảo
vệ quyền và lợi ớch hợp phỏp của nhõn dõn Kết quả nghiờn cứu cho thấy nhữngvựng cú cửa khẩu và cú sự giao lưu thương mại lớn giữa hai nước là những nơithường hay xảy ra cỏc hành vi chống người thi hành cụng vụ như: cỏc Cửa khẩu
biờn giới (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Quảng Trị…); cỏc cửa khẩu biờn giới Tõy Nam (Tịnh Biờn, Mộc Bài…); ngoài ra cũn phải kể đến tuyến biển, cỏc đối tượng
cú hành vi chống người thi hành cụng vụ trờn cỏc vựng biển Số vụ phạm tộichống ngời thi hành công vụ xảy liờn quan tới người thi hành cụng vụ là Bộ độibiờn phũng cú sự tăng giảm khỏc nhau, không theo một quy luật cụ thể nào, hơnnữa mức độ và hậu quả do loại tội phạm này gây ra ngày càng nguy hiểm Hành
vi phạm tội không chỉ dừng lại ở những lời nói xúc phạm, chửi bới, ném gạch đá,
Trang 28nguy hiểm nh dao, mã tấu… chống trả gây trọng thơng thậm chí làm tử vongmột số cán bộ chiến sĩ khi đang thi hành công vụ
Qua phân tích cỏc vụ chống ngời thi hành công vụ đối với cán bộ, chiến sĩ
Bộ đội biờn phũng trong 5 năm qua (2009 đến 2014) thấy tội phạm chống ngườithi hành cụng vụ xảy ra ở cỏc lĩnh vực nh sau:
- Chống người thi hành cụng vụ trong khi đang hoặc đó cú hành vi phạm tội nghiờm trọng khỏc
Tỡnh trạng buụn lậu, hàng giả và gian lận thương mại cú nhiều diễn biếnphức tạp trờn tất cả cỏc tuyến biờn giới của nước ta Địa bàn hoạt động chủ yếucủa bọn buụn lậu vẫn là cỏc cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu, cỏc đường tiểumạch trờn biờn giới Cỏc mặt hàng nhập lậu chủ yếu là những loại bị đỏnh thuếcao, buộc phải kiểm định chất lượng như điện tử, quần ỏo, linh kiện mỏy múc,cỏc loại bị cấm như phỏo nổ, đồ chơi bạo lực nguy hiểm…Trong khi đú, hiệntượng xuất lậu qua biờn giới chủ yếu là khoỏng sản (than, quặng, xăng dầu ) cỏcmặt hàng lõm sản (gỗ quớ, động vật quớ hiếm…) Đối tượng tham gia buụn lậungày càng cú thủ đoạn tinh vi Chỳng múc nối với nhau tạo thành những đườngdõy, tổ chức chặt chẽ trong và ngoài biờn giới để vận chuyển hàng húa Khi bịphỏt hiện, bắt giữ chỳng khụng ngại kớch động, lụi kộo nhõn dõn trờn địa bànbiờn giới để cướp hàng
Từ năm 2009 đến 2014, lực lượng Bộ đội biờn phũng An Giang trong quỏtrỡnh làm nhiệm vụ chống buụn lậu, hàng giả và gian lận thương mại đó cú xử lýnhiều hành vi chống người thi hành cụng vụ Cỏc đối tượng buụn lậu hàng húavào nội địa để đưa đi cỏc tỉnh khỏc rất đa dạng như: thuốc lỏ, đường cỏt, cần sa,
ma tỳy, ma tỳy đỏ… với thủ đoạn ngày càng tinh vi, khú phỏt hiện và đối tượngvận chuyển thường là phụ nữ và trẻ vị thành niờn Với phụ nữ, họ thường cấtgiấu hàng ở nơi kớn đỏo trờn người, gõy khú khăn cho việc kiểm tra của Bộ độibiờn phũng Khi đối tượng vận chuyển là nam giới, họ thường cất giấu hàngtrong giày, dộp, mũ thay vỡ cất giấu trong hành lý như trước đõy Chớnh vỡ vậy,lực lượng kiểm tra phải nắm bắt thụng tin chớnh xỏc từ người dõn địa phươngCampuchia mới thực hiện bắt được Ngoài ra, những đối tượng buụn lậu thường
Trang 29sử dụng xuồng nhỏ có lắp máy của xe hơi để vận chuyển hàng, nên dù lực lượngbiên phòng dùng canô 80 mã lực cũng không thể đuổi bắt Đồng thời, khi lựclượng truy bắt chỉ từ 5 – 7 người thì bọn chúng chống trả trở lại, gây thương tíchcho cả người và thiệt hại phương tiện
Khoảng 22h ngày 19/10/2014, theo tin báo của quần chúng, tổ kiểm soátbuôn lậu Hải quan Bắc Đai phát hiện đại lý bán lẻ xăng dầu của bà Trần BạchTuyết, thuộc ấp 2, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang, đang lén lút bán
30 can xăng (khoảng 900 lít) để xuất lậu sang Campuchia Các nhân viên kiểmsoát yêu cầu chủ hàng về trụ sở Chi cục hải quan Bắc Đai để làm việc Tuynhiên, đối tượng buôn lậu không chấp hành mà kéo khoảng 30 người cùng trên
10 chiếc xuồng đến chống trả lại lực lượng hải quan Thấy tình hình phức tạp, tổkiểm soát đã rút về trụ sở Chi cục Hải quan Bắc Đai và nhờ Đồn biên phòng 937tiếp ứng Sự việc chưa dừng ở đấy, khoảng 40 đối tượng cùng kéo đến Chi cụcHải quan Bắc Đai dùng gậy gộc và gạch đá đập phá phương tiện và trụ sở củachi cục, hành hung nhân viên hải quan Gần một tiếng sau, nhờ sự tiếp ứng củacông an xã Nhơn Hội, bộ đội biên phòng, đám đông mới được giải tán Tuynhiên, chỉ một lát sau, một số đối tượng lại kéo đến đồn Biên phòng 937 lấy cớquậy phá, dùng vật dụng và chai lọ ném vào đồn Các đối tượng quá khích trên
là những kẻ chuyên xuất lậu xăng dầu sang Campuchia
Tại Đồng Tháp, chỉ tính riêng trong năm 2012 và 8 tháng đầu năm 2013,lực lượng Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng đấu tranh bắt hơn 200 vụ trị giá hànghóa khoảng 3 tỷ đồng, chủ yếu là thuốc lá, đường cát và một số mặt hàng khácnhư ma túy, cần sa… Trong những tháng cuối năm 2014, Bộ chỉ huy Bộ độibiên phòng tỉnh Đồng Tháp đã phối hợp với công an và các đơn vị có nhiệm vụtriển khai nhiều đợt cao điểm, đã bắt và khởi tố 2 vụ chống người thi hành công
vụ, do đó mà tình hình chống người thi hành công vụ đã được kiềm chế khôngcòn manh động như trước kia
Tại tỉnh Tây Ninh thì bất cứ cuộc chiến chống tội phạm ma túy, mua bánngười hay buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa đều gian nan, vất vả, lâu dài
Trang 30tỉnh Tây Ninh thời gian gần đây tạm lắng xuống nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ,nhất là trước, trong và sau Tết Nguyên đán Hàng hóa buôn lậu vận chuyển tráiphép qua biên giới Tây Ninh chủ yếu là thuốc lá ngoại, rượu ngoại vì chênhlệch giá cao, vì nhu cầu tiêu thụ trong dịp Tết tăng lên cho nên, đối tượng buônlậu tìm mọi mánh khóe, thủ đoạn nên cuộc chiến chống buôn lậu càng giannan” Nếu bị bắt, chúng “ bỏ của chạy lấy người”, hoặc tùy vào tương quan lựclượng mà chúng cướp lại hàng hóa, chống người thi hành công vụ, giải thoát chođối tượng bị bắt Vào lúc 2 giờ sáng ngày 25/11/2014, thượng úy Vũ Ngọc Hải(TSV, Phòng chống TPMT BĐBP Tây Ninh), trung úy Bùi Đình Trung (lái xeđồn BPCKQT Mộc Bài) đã truy bắt hai đối tượng vận chuyển trái phép thuốc látrên đường về phía ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận Đối tượng đã bỏ hàng, trốnchạy Hai chiến sỹ mang tang vật về đồn Lợi dụng đêm khuya, đường hẻm,chúng gọi đồng bọn, chặn đường hai chiến sỹ, liều lĩnh cướp hàng hóa, đánhngười Nhờ đề phòng cảnh giác và kịp thời thông tin cho đồng đội hỗ trợ, nênđối tượng bị bao vây bắt gọn
Điển hình là vụ việc xảy ra vào đêm ngày 10.12.2014, các đối tượng buônlậu đã dùng gậy gây thương tích đại uý Nguyễn Đức Long – Đội trưởng Đội đặcnhiệm phòng chống tội phạm ma tuý BĐBP Tây Ninh Tổ công tác do đại uýLong và huấn luyện viên chó nghiệp vụ Lê Thanh Liêm sử dụng môtô đi khảosát tình hình buôn lậu tại khu vực đám mía gần chốt Cầu Sắt thuộc Đồn Biênphòng cửa khẩu quốc tế Mộc Bài quản lý Khi đến đây, 1 đối tượng lạ mặt từtrong đám mía đi ra, thấy tổ công tác, liền bỏ chạy về hướng biên giới Kiểm tratrong đám mía, phát hiện 2 bao tải đựng thuốc lá, tổ công tác đưa tang vật rađường, đồng thời điện thoại cho chốt Cầu Sắt đề nghị cử 1 chiến sĩ ra hỗ trợ Khiđang đưa 2 bao thuốc lá về chốt, đột nhiên xuất hiện 3 đối tượng, tay lăm lămgậy gộc lao vào tấn công tổ công tác Mặc dù đại uý Long đã sử dụng súng đạncao su bắn 3 phát, nhưng đối tượng vẫn lao vào dùng gậy đánh vào người và tayanh, làm văng khẩu súng Khi đó, chiến sĩ Lê Công Bằng thuộc chốt Cầu Sắtchạy môtô đến, cùng với anh Liêm tiếp ứng, chống trả lại các đối tượng và dìu
Trang 31đại uý Long đứng dậy Lúc này, xuất hiện thêm 4 đối tượng đến giật 2 bao thuốc
lá, lấy đi 2 môtô của lực lượng Biên phòng chạy về phía biên giới
Tại biên giới Long An với đặc điểm địa hình bằng phẳng, sông liền sông,người dân hai bên biên giới thường xuyên qua lại làm ăn, sản xuất theo phongtục tập quán, nên các đối tượng xấu thường lợi dụng điều này để hoạt động.Trong năm 2014, Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục tăng cường lực lượng tuần tra,canh gác, phát hiện bắt giữ và xử lý 326 vụ/309 đối tượng
Trước đó, vào ngày 7 và 8/10/2014 tỉnh Tây Ninh cũng xảy ra 2 vụ đốitượng xuất lậu xăng dầu chống người thi hành công vụ, xảy ra tại cửa khẩu XaMát và Kà Tum Hàng chục kẻ buôn lậu đã liều lĩnh tấn công cảnh sát kinh tế
và Bộ đội biên phòng hòng cướp lại tang vật, gây thương tích cho một số cán bộ
Bộ đội biên phòng và cán bộ cảnh sát của Phòng cảnh sát Kinh tế, Công an tỉnhTây Ninh
Ngày 14/5/2014 tại công trường dự án FORMOSA, Khu kinh tế VũngÁng, tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra vụ biểu tình trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng,chống người thi hành công vụ Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Hà Tĩnh đãđiều động 718 cán bộ chiến sỹ, 119 lượt phương tiện xử lý kịp thời, dứt điểm.Qua đó, lực lượng chức năng đã bắt, triệu tập trên 100 đối tượng có liên quan;khởi tố, tạm giam 37 đối tượng; thu hồi nhiều tang vật, tài sản trả lại cho Công
ty FORMOSA Chỉ tính riêng năm 2014 lực lượng Bộ đội biên phòng Hà Tĩnh
đã tham mưu, xử lý có hiệu quả 4 vụ gây rối trật tự công cộng, chống người thihành công vụ, coi thường pháp luật
- Chống người thi hành công vụ trong khi đang đấu tranh chống tội phạm ma túy
Trong những năm gần đây, trước diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm
về ma tuý, các lực lượng đấu tranh chống tội phạm về ma tuý gồm: lực lượngCông an, Hải quan, Cảnh sát biển và đặc biệt là lực lượng Bộ đội biên phòng đãtriển khai các biện pháp nghiệp vụ, mở nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp Nhờ
đó, tỷ lệ phát hiện, bắt giữ tội phạm được tăng lên; đã xoá bỏ hàng ngàn tụ điểm
Trang 32ma túy phức tạp trong nội địa; phát hiện và triệt phá nhiều tổ chức, đường dâytội phạm ma túy lớn, xuyên quốc gia, liên quan đến quốc tế.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm sử dụng vũ khí nóng chống lại các lực lượng
đấu tranh chống tội phạm về ma tuý (lực lượng thi hành công vụ) lại diễn biến
phức tạp, có chiều hướng tăng gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho các lựclượng Năm 2010 là năm tội phạm sử dụng vũ khí nóng chống lại các lực lượngchức năng diễn ra quyết liệt nhất, gây thiệt hại lớn nhất về người và tài sản chocác lực lượng Bộ đội biên phòng làm 03 đồng chí cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biênphòng bị hy sinh và nhiều đồng chí bị thương Qua nghiên cứu, phân tích các vụtội phạm sử dụng vũ khí nóng chống lại lực lượng chức năng trong những nămqua cho thấy bản chất, hành vi sử dụng vũ khí nóng của các đối tượng khôngdiễn ra độc lập mà luôn gắn chặt với hành vi phạm tội; trong đó mục đích chínhcủa hành vi này là nhằm làm tê liệt, giảm sức chiến đấu của các lực lượng chứcnăng, từ đó có thể ngăn chặn, cản trở hoạt động nghiệp vụ của các lực lượng.Đây là đặc điểm chính, cơ bản nhất và chi phối, quyết định các đặc điểm khác.Điển hình về hành vi chống người thi hành công vụ trong khi đang đấu tranh
chống tội phạm ma túy
Ngày 31/7/2010, Thượng úy Lù Công Thắng – Trợ lý trinh sát ngoại biênphòng Phòng chống tội phạm ma túy BĐBP Sơn La đã hi sinh trong lúc đấutranh chuyên án ma túy Trước đó theo kế hoạch, lực lượng phòng Phòng chốngtội phạm ma túy BĐBP Sơn La phối hợp với lực lượng của Cục Phòng chống tộiphạm BĐBP, đồn biên phòng Pả Khôm thực hiện chuyên án tấn công tội phạm
ma túy trên biên giới Khi xác định 3 đối tượng nằm trong chuyên án xuất hiệntại địa bàn xã Chiềng Tương, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn La cùng một gói hàngnghi là ma túy, theo lệnh chỉ huy, Thượng úy Lù Công Thắng đã cùng đồng độitiếp cận khống chế 1 đối tượng.Thấy bị phát hiện, các đối tượng đã phảnkháng quyết liệt để bỏ chạy và bắn vào đội hình của lực lượng đánh án Với tinhthần đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm, Thượng úy Lù Công Thắng
đã cùng đồng đội truy đuổi Các đối tượng này vẫn ngoan cố bỏ chạy và bắn trảtrong khoảng cách rất gần Trước tình huống nguy nan đó, Thượng úy Lù Công
Trang 33Thắng đã lao thân mình để đỡ đạn cho đồng đội phía sau mình và anh đã bịthương rất nặng Lợi dụng tình thế đó, đối tượng đã bỏ trốn vào rừng sâu, lựclượng đấu tranh chuyên án đã thu được tại hiện trường 1 súng K59 và 6 bánhheroin
Vụ án xảy ra vào trưa 13/10/2013 tại địa bàn bản Na Hinh, xã Mường Nhà,huyện Điện Biên Chiến sĩ Lù Văn Hinh (35 tuổi, quê Na Lay, thị xã MườngLay, Điện Biên) cấp bậc Thượng úy, là trinh sát viên thuộc Phòng phòng chốngtội phạm ma túy Bộ đội biên phòng tỉnh Sau khi nhận được thông tin do quầnchúng nhân dân cung cấp về các đối tượng buôn bán ma túy hoạt động tại đây,phòng Phòng chống Ma túy cử tổ công tác 5 người làm nhiệm vụ.Tổ công tác đãmật phục tại bản Na Hinh Khi thấy hai đối tượng khả nghi đi xe máy xuất hiện,trinh sát Hinh đã yêu cầu kiểm tra các đối tượng Bất ngờ một đối tượng rút daođâm thẳng vào người Hinh Đối tượng còn lại cũng manh động, điên cuồngchống trả tổ công tác Mặc dù bị thương nặng, trinh sát Hinh vẫn cố gắng truybắt, khống chế đối tượng đã đâm mình Các đồng đội đi cùng phải nổ súng bắncảnh cáo khống chế đối tượng còn lại.Trong quá trình khống chế đối tượng,Hinh bị thương nặng nhất, với ba vết dao đâm thấu phổi, hai đồng đội khác cũng
bị thương vì bị đối tượng đâm Do vết thương nặng, mất nhiều máu, Hinh đã hisinh trên đường đi cấp cứu Hai đồng đội bị thương Khám người hai đối tượng
bị bắt giữ, lực lượng chức năng thu giữ 40 gam heroin cùng 400 viên ma túytổng hợp Cả hai đối tượng là Thào Chứ Dơ (34 tuổi) và Thào Súa Công (15tuổi) đều là người Mông, thường trú tại bản Phì Cao, xã Phình Giàng, huyệnĐiện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Ngày 21/5/2013, tổ công tác của Đồn Biên phòng Tân Thanh gồm 3 chiếnsĩ: Trung uý Ngô Văn Vinh (tổ trưởng) và các đồng chí Phạm Khánh, HoàngToản triển khai phục bắt tội phạm buôn bán, vận chuyển ma tuý trên địa bàn xãTân Thanh, huyện Văn Lãng Khoảng 12h, tổ công tác phát hiện 2 đối tượngHoàng Văn Trường (28 tuổi) và Hoàng Văn Thịnh (30 tuổi), cùng trú tại xã TânThanh, có dấu hiệu khả nghi Trường đi trước, cách Thịnh khoảng 20m, mỗi tên
Trang 34công anh Khánh và Toản bắt giữ tên Trường; Trung uý Vinh chịu trách nhiệmbắt giữ tên Thịnh Khi bắt giữ Trường, tổ công tác thu được 1 khẩu súng thểthao, có 4 viên đạn trong băng kẹp đạn Trung uý Vinh đuổi theo đối tượngThịnh thì xảy ra nổ súng Thịnh dùng súng thể thao bắn lại quyết liệt Trung uýVinh có sử dụng súng, bắn 3 viên đạn gây ngất nhưng đối tượng Thịnh đã nhanhchân ẩn nấp Sau khi đã khống chế được Trường, quân nhân Khánh chạy đến hỗtrợ thì đã thấy Trung uý Vinh bị thương ở ngực, gục xuống tảng đá, còn đốitượng Thịnh đã bỏ trốn, mang theo súng Đồn Biên phòng Tân Thanh đã tổ chứcđưa Trung uý Vinh đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơnnhưng do vết thương quá nặng, đến 14h cùng ngày, Trung uý Vinh đã hy sinh.Ngay sau đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp cùng Công an tỉnh tổ chứcđiều tra làm rõ vụ việc và truy bắt tên Hoàng Văn Thịnh
- Chống người thi hành công vụ khi đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát
Ngày 14/10/2012 thực hiện kế hoạch truy bắt các đối tượng có lệnh truy nãtrên địa bàn biên giới xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé, do Công an tỉnh ĐiệnBiên chủ trì, Ban chỉ huy Đồn Biên phòng Sen Thượng cử hai cán bộ, chiến sĩcủa đơn vị tham gia tổ công tác, trong đó có Thượng úy Lương Minh Năm.Nhận lệnh của trên, Thượng úy Năm nhanh chóng lên đường làm nhiệm vụ Saumột ngày luồn rừng, vượt suối, tối 14 - 10 - 2012, tổ công tác liên ngành gồm 4chiến sĩ Công an tỉnh Điện Biên và hai cán bộ của Đồn Biên phòng Sen Thượngphát hiện ở gần khu vực giữa mốc 9 và mốc 10 trên tuyến biên giới Việt Nam -Trung Quốc xuất hiện một nhóm người lạ mặt đang tìm đường vượt biên.Khoảng 4 giờ sáng 15 - 10 - 2012, khi tổ đang khẩn trương triển khai đội hình,thì bất ngờ nhóm người trên nổ súng vào tổ tuần tra Thượng úy Lương MinhNăm bị thương vào tay và đùi, máu ở các vết thương tuôn xối xả, nhưng anh vẫn
cố cắn răng chịu đựng, cố lết đến băng bó cho các chiến sĩ công an cũng đang bịthương, rồi anh ngất đi do mất máu quá nhiều Mặc dù đã được đồng chí, đồngđội đưa đi cấp cứu kịp thời và được các thầy thuốc của Trung tâm Y tế huyện
Trang 35Mường Nhộ tận tỡnh cứu chữa, nhưng do vết thương quỏ nặng và mất nhiềumỏu, Thượng ỳy Lương Minh Năm đó hy sinh.
- Chống người thi hành cụng vụ mà đối tượng là người nước ngoài
Trong những năm gần đõy tỡnh hỡnh tội phạm chống người thi hành cụng
vụ liờn quan đến yếu tố nước ngoài ngày càng diễn biến phức tạp Người nướcngoài phạm tội ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như tớnhchất, mức độ và thủ đoạn phạm tội
Đặc biệt phải kể đến vụ ỏn xảy ra hồi 4 giờ 20 ngày 18/4/2014 một nhúm
16 người Trung Quốc gồm 10 nam, 4 nữ và 2 trẻ em đó nhập cảnh trỏi phộp vàoViệt Nam qua khu vực cửa khẩu Bắc Phong Sinh Trờn đường thõm nhập nộiđịa, cỏc đối tượng này bị cơ quan chức năng của Việt Nam phỏt hiện, bắt giữ vàdẫn giải ra cửa khẩu để tiến hành làm cỏc thủ tục trao trả lại phớa Trung Quốctheo quy định và thụng lệ quốc tế Khoảng 12 giờ cựng ngày, trong khi đang làmthủ tục, một vài người đàn ụng của nhúm lợi dụng sơ hở của cỏc lực lượng chứcnăng đó manh động cướp sỳng và bẻ gẫy chõn bàn làm việc, xả sỳng tấn cụng,khống chế lực lượng biờn phũng Việt Nam, khiến một chiến sỹ biờn phũng ViệtNam hy sinh ngay tại chỗ, buộc lực lượng biờn phũng Việt Nam phải thực hiệncỏc biện phỏp tự vệ chớnh đỏng Mặc dự lực lượng chức năng phớa Việt Nam vàTrung Quốc đó kờu gọi, thuyết phục cỏc đối tượng giao nộp vũ khớ và đầu hàngnhưng cỏc đối tượng vẫn kiờn quyết cố thủ, đập phỏ trụ sở của lực lượng biờnphũng, buộc lực lượng chức năng phải dựng cỏc biện phỏp nghiệp vụ để tiếpcận, khống chế và bắt giữ Cỏc đối tượng đó chống trả lực lượng biờn phũng,đồng thời tự gõy sỏt thương, một số nhảy lầu tự tử và tự sỏt Sự việc trờn đókhiến 7 người thiệt mạng, trong đú cú 2 chiến sỹ biờn phũng Việt Nam (Thiếu tỏNguyễn Minh Đói và Thiếu ỳy Lờ Vũ Việt Khỏnh) và một số người bị thươngtrong đú cú 4 chiến sỹ biờn phũng Việt Nam
* Đặc điểm của tội phạm chống ngời thi hành công vụ đối với cán bộ, chiến sĩ Bộ đội biờn phũng
Tội phạm chống ngời thi hành công vụ đối với lực lượng Bộ đội biờn
Trang 36biển, đối tượng bị tấn công chủ yếu là lực lợng Bộ đội biờn phũng Thủ đoạn củatội phạm thờng là dùng lời nói, đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực để tấncông lại ngời đang thi hành công vụ khi họ can thiệp không theo ý muốn củachúng Hầu hết bọn tội phạm là nam giới, không nghề nghiệp, có trình độ vănhóa thấp, ít hiểu biết và có thói quen coi thờng pháp luật
- Giai đoạn chuẩn bị gây án Một trong những đặc điểm của tội phạm
chống ngời thi hành công vụ đối với cán bộ, chiến sĩ Bộ đội biờn phũng là côngkhai dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hay dùng thủ đoạn khác cản trở, épbuộc ngời thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật Giai đoạn này thờng
đợc thể hiện nh sau:
+ Trờng hợp đối tợng phạm tội có ý thức chống lại và có hành vi chuẩn bịchống lại từ trớc thì đối tợng có sự chuẩn bị các phơng tiện cần thiết cho việcthực hiện hành vi chống lại ngời thi hành công vụ nh: chuẩn bị sẵn dao, gậytrong ngời hoặc các loại vũ khí khác, khi ngời thi hành công vụ xuất hiện thì đốitợng chống lại ngay Trờng hợp này thờng xảy ra ở những vụ án chống ngời thihành công vụ kốm theo tội danh khác, chống để tẩu thoát hay che giấu một tộiphạm khác
+ Trờng hợp những hành vi bộc phát sử dụng những loại công cụ sẵn cótrong ngời hoặc trong phơng tiện mang theo để chống ngời thi hành công vụ khi
có sự can thiệp của ngời thi hành công vụ vào vi phạm của đối tợng và giải quyết
vi phạm không theo ý muốn của đối tợng
- Giai đoạn gây án Thực tiễn hoạt động điều tra đã tổng kết và chứng minh
rằng diễn biến hành vi gây án của tội phạm chống ngời thi hành công vụ thờngxảy ra nhanh chóng, bất ngờ mà ngời bị tấn công không ngờ đợc rằng mình sẽ bịtấn công và đợc thể hiện ở các bớc sau đây:
+ Về việc tiếp cận ngời thi hành công vụ để tấn công: Đối với loại tộiphạm này, đối tợng thờng không tìm kiếm ngời thi hành công vụ để thực hiệnhành vi phạm tội nh một số tội phạm khác mà thực tế đối tợng và ngời thi hànhcông vụ có sự tiếp xúc trực tiếp công khai, đôi khi đang tiến hành giải quyết xử
lý hành vi vi phạm của đối tợng Điều này đợc thể hiện trong hầu hết các vụchống ngời thi hành công vụ xảy ra trong những năm qua Chỉ có một số ít vụphạm tội đối tợng có sự chuẩn bị sẵn trớc công cụ, phơng tiện khi thấy lực lợngthi hành công vụ xuất hiện là chúng lao vào tấn công ngay
+ Hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực cũng nh những hành động kháctrong giai đoạn gây án trong thực tế hoạt động điều tra cho thấy thờng đợc thểhiện ở các trờng hợp sau:
Trang 37+ Có hành vi chống lại ngay khi ngời thi hành công vụ xuất hiện và tuyên
bố lý do hoặc ngời thi hành công vụ giải quyết vi phạm của đối tợng mà khôngtheo ý muốn của đối tợng hay ngời thân, bạn bè của đối tợng có vi phạm Trờnghợp này thờng xảy ra ở những vụ án chống ngời thi hành công vụ kèm theo cáctội danh khác, hoặc việc chống lại ngay tức khắc ngời đang thi hành công vụnhằm tẩu thoát, khi ngời phạm tội đang mang hàng cấm hay che giấu tội phạmkhác trớc đó…
+ Có hành vi chống lại ngời thi hành công vụ sau khi đã có những hành vi
nh đe dọa, mua chuộc nhng không thành Trờng hợp này đối tợng biết đợc những
vi phạm của mình Nhng sau khi ngời thi hành công vụ giải quyết xử lý việc viphạm đó không theo ý muốn của đối tợng thì ngay sau đó đối tợng liền có hành
động đe dọa, nếu ngời thi hành công vụ vẫn không qiải quyết theo yêu cầu của
đối tợng thì đối tợng có hành vi chống lại ngay tức khắc để nhằm cản trở hoặcchạy trốn Mặt khác, sau khi đã mua chuộc ngời thi hành công vụ nhng ngời thihành công vụ vẫn giải quyết xử lý hành vi theo đúng pháp luật quy định thì ngờiphạm tội có hành vi chống lại ngay sau khi đã mua chuộc không thành
+ Có hành vi chống trả lại ngời thi hành công vụ khi đối tợng bị ngời thihành công vụ truy đuổi Trờng hợp này đối tợng đã có hành vi vi phạm, khi ngờithi hành công vụ yêu cầu dừng lại hay đuổi bắt là lập tức chúng chống trả lại để
đào thoát
Sau khi gây án đối tợng thờng nhanh chóng rút khỏi hiện trờng bằng cácphơng tiện nh xe máy, ô tô… Có trờng hợp ngời bị hại kêu cứu, quần chúng nhândân xung quanh hỗ trợ đuổi bắt thì ngời phạm tội đã dùng vũ khí trong tay chốngtrả quyết liệt, gây thơng tích cho nhiều ngời đuổi bắt
- Thủ đoạn che giấu tội phạm Ngoài những đặc điểm chung giống các
lọai tội phạm khác, sau khi gây án đối tợng phạm tội chống ngời thi hành công
vụ thờng có những hành vi che giấu tội phạm nh: nhanh chóng tìm cách rút khỏihiện trờng gây án, khi bị bắt thờng có lời khai đổ lỗi cho ngời thi hành công vụ,
đổ lỗi cho đồng bọn hoặc khai hợp lý các dấu vết nh bị ngã…Có trờng hợp trongquá trình chống ngời thi hành công vụ, đối tợng còn có hành vi vu khống chorằng họ bị ngời thi hành công vụ ức hiếp để kêu cứu nhằm lôi kéo sự ủng hộ củanhững ngời xung quanh Hoặc đối tợng khai không biết ngời mà đối tợng chốnglại là ngời đang thi hành công vụ nhằm làm nhẹ tội hơn cho chúng
- Địa điểm xảy ra các vụ án chống ngời thi hành công vụ chủ rất đa dạng vàphức tạp, ở bất kỳ chỗ nào có sự xuất hiện của ngời thi hành công vụ làm nhiệm
Trang 38hiểm trở… Thời gian gây án xảy ra vào bất cứ thời gian nào kể cả ban ngàycũng nh ban đêm, nó phụ thuộc vào thời gian tiến hành công việc của ngời thihành công vụ và sự can thiệp của ngời thi hành công vụ khi giải quyết xử lýnhững vi phạm của đối tợng
2.3 Đặc điểm của Viện kiểm sỏt quõn sự Bộ đội biờn phũng
Cựng với đổi mới về kinh tế, trong những năm gần đõy Đảng và Nhà nước
đó chỳ trọng tăng cường cụng tỏc lónh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực cải cỏch tưphỏp để tiếp tục củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ mỏy nhànước, xõy dựng nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa của dõn, do dõn và vỡdõn Nội dung và yờu cầu của cải cỏch tư phỏp được thể hiện trong nhiều vănbản của Đảng và Nhà nước Nghị quyết số 08/NQ – TƯ ngày 02/11/2002 của Bộ
Chớnh trị về “ Một số nhiệm vụ trọng tõm cụng tỏc tư phỏp trong thời gian tới”.
Trờn cơ sở kết quả một số năm thực hiện Nghị quyết 08, ngày 02/6/2005 Bộ
Chớnh trị cú Nghị quyết 49/NQ – TƯ “Về chiến lược cải cỏch tư phỏp đến năm
…về mụ hỡnh tổ chức cỏc cơ quan tư phỏp trong quõn đội, cần nghiờn cứu tổ
chức Tũa ỏn quõn sự, Viện kiểm sỏt quõn sự, Cơ quan điều tra, thi hành ỏn trong quõn đội phự hợp với tổ chức của Nhà nước, đặc thự của quõn đội và theo đỳng quy định của phỏp luật”.
Việc đổi mới hệ thống tổ chức và thẩm quyền của Viện kiểm sỏt quõn sựcỏc cấp đỏp ứng yờu cầu cải cỏch tư phỏp gắn với yờu cầu xõy dựng Quõn độinhõn dõn cỏch mạng, chớnh quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong thời kỳ mớiđồng thời được thực hiện trờn cơ sở quỏn triệt những quan điểm chỉ đạo, chủtrương của Đảng về cải cỏch bộ mỏy Nhà nước núi chung và cải cỏch hệ thống
cơ quan tư phỏp ở nước ta núi riờng, hướng tới mục tiờu xõy dựng Nhà nướcphỏp quyền Xó hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự của dõn, do dõn, vỡ dõn Đổi
Trang 39mới hệ thống quân sự các cấp đòi hỏi phải tinh gọn, đồng bộ, tiếp thu có chọnlọc tinh hoa của mô hình các cơ quan công tố và Viện kiểm sát quân sự các nướctrên thế giới hiện nay và phù hợp với thực tiễn của quân đội ta Ngoài ra cònphải đảm bảo cho Viện kiểm sát quân sự các cấp thực hiện tốt chức năng vànhiệm vụ của một đơn vị quân đội.
Xuất phát từ qui định của pháp luật, Viện kiểm sát quân sự là một bộ phậncủa ngành Kiểm sát nhân dân, cũng đồng thời với tư cách là một cơ quan trựcthuộc các đơn vị Quân đội nên có những đặc thù nhất định Các Viện kiểm sátquân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức trong Quân độinhân dân Việt Nam để thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp trong Quân đội Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát quân
sự có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xãhội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷluật và sức mạnh chiến đấu của quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước; của tậpthể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của quânnhân, công chức, công nhân quốc phòng và của các công dân khác; bảo đảm đểmọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợppháp của quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng và của công dân khácđều phải được xử lý theo pháp luật
Theo kết luận số 79/- KL/TƯ ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị thì mô hình
tổ chức của Viện kiểm sát quân sự được xác định “Cần bố trí số lượng đơn vị và
địa hạt tư pháp của Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và cấp khu vực tương ứng với số lượng địa hạt tư pháp của Tòa án quân sự cấp quân khu và cấp khu vực tương tự như mô hình của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực với Viện kiểm sát nhân dân khu vực”
Căn cứ vào chức năng của Viện kiểm sát được quy định trong Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhândân, Nghị quyết số 82/2014/QH 13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội về việc thihành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Căn cứ đặc thù về nhiệm vụ chính