Hiện nay việc sản xuất cây con ở các vườn ươm cây giống ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, các vườn ươm ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng có các loài chủ yếu như Keo, Mỡ, Thông, Bạch đàn
Trang 1QUÁCH THỊ HOE
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BỆNH HẠI CÂY MỠ
(manglietia glauca bl) TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN
ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2015
Trang 2QUÁCH THỊ HOE
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BỆNH HẠI CÂY MỠ
(manglietia glauca bl) TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN
ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN
Ngành : Lâm học
Mã số : 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG KIM TUYẾN
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện trong thời gian từ 2014 đến 2015 Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nào khác, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Người viết cam đoan
Quách Thị Hoe
Trang 4Trước tiên, tôi xin đặc biệt cảm ơn TS Đặng Kim Tuyến, người hướng dẫn luận văn cao học, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, phòng Đào tạo Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sĩ
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của ban quản lý vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để tôi thực tập tại vườn ươm cây giống của trường và giúp tôi có một địa điểm thực tập tốt nhất
Thái Nguyên, tháng … năm 2015
Sinh viên
Quách Thị Hoe
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa của đề tài 4
5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 4
5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học bệnh cây 5
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 11
1.2.1 Nghiên cứu về bệnh cây ở trên thế giới 11
1.2.2 Nghiên cứu về bệnh cây ở Việt Nam 14
1.2.2.1 Nghiên cứu về bệnh cây 14
1.2.2.2 Nghiên cứu bệnh hại cây mỡ (Manglietia glauca BL.) 19
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
1.4 Tài nguyên đất 21
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Nội dung nghiên cứu 23
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc 23
2.2.2 Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp kết hợp với nghiên cứu
thực nghiệm 24
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
2.2.4 Phương pháp tổng hợp thông tin, số liệu phân tích kết quả nghiên cứu 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Kết quả khảo sát, xác định bệnh hại chính tại khu vực nghiên cứu 32
3.1.1 Tình hình vệ sinh vườn ươm và kết quả điều tra sơ bộ 32
3.1.2 Thành phần bệnh hại cây mỡ và xác định bệnh hại chính trong giai đoạn vườn ươm 33
3.1.2.1 Kết quả điều tra thành phần bệnh hại cây Mỡ và xác định bệnh hại chính trong giai đoạn vườn ươm 33
3.1.2.2 Bệnh thán thư lá Mỡ 33
3.1.2.3 Bệnh thối cổ rễ 35
3.1.3 Đánh giá tình hình phân bố bệnh cây 35
3.2 Kết quả khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc đối với bệnh hại chính ở cây Mỡ tại vườn ươm 39
3.2.1 Bệnh thối cổ rễ cây Mỡ 39
3.2.1.1 Mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ trước khi sử dụng thuốc 39
3.2.1.2 Mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 1 40 3.2.1.3 Mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 2 41 3.2.1.4 Mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 3 42 3.2.1.5 So sánh hiệu lực của thuốc và tìm ra loại thuốc có hiệu quả cao nhất 46
3.2.2 Bệnh thán thư lá Mỡ 47
3.2.2.1 Mức độ hại của bệnh thán thư lá Mỡ trước khi sử dụng thuốc 47
3.2.2.2 Mức độ hại của bệnh thán thư lá Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 1 48
Trang 73.2.2.3 Mức độ hại của bệnh thán thư lá Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 2 50
3.2.2.4 Mức độ hại của bệnh thán thư lá Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 3 51
3.3.2.5 So sánh hiệu lực của thuốc và tìm ra loại thuốc có hiệu quả cao nhất 56
3.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến mức độ gây hại của bệnh hại chính cây mỡ ở vườn ươm 57
3.3.1 Ảnh hưởng của tuổi cây chủ đến sự phát sinh và phát triển của bệnh 57
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến sự phát sinh và phát triển của bệnh hại 58
3.3.3 Ảnh hưởng của điều kiện che bóng đến sự phát sinh phát triển của bệnh 58
3.3.4 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sự phát sinh phát triển của bệnh 59
3.4 Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh thối cổ rễ, bệnh thán thư lá Mỡ và đề xuất một số biện pháp phòng trừ 60
3.4.1 Đặc điểm phát sinh phát triển của bệnh hại chính cây Mỡ ở vườn ươm 60
3.4.2 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ 63
3.4.2.1 Biện pháp phòng trừ chung 63
3.4.2.2 Biện pháp phòng trừ cho bệnh thán thư 66
3.4.2.3 Biện pháp phòng trừ cho bệnh thối cổ rễ 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
1 Kết luận 67
2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các loại thuốc thử nghiệm đối với bệnh thối cổ rễ 25
Bảng 2.2 Các loại thuốc thử nghiệm đối với bệnh thán thư lá mỡ 25
Bảng 2.3 Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 30
Bảng 3.1: Bảng thống kê thành phần bệnh hại cây mỡ trong
giai đoạn vườn ươm 33
Bảng 3.2: Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm bệnh trước khi sử dụng thuốc (P%) 36
Bảng 3.2a: Bệnh thối cổ rễ 36
Bảng 3.2b: Bệnh thán thư 36
Bảng 3.3: Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm bệnh trước khi sử dụng thuốc (P%) 36
Bảng 3.3a: Bệnh thối cổ rễ 36
Bảng 3.3b: Bệnh thán thư 37
Bảng 3.4: Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm bệnh trước khi sử dụng thuốc (P%) 38
Bảng 3.4a: Bệnh thối cổ rễ 38
Bảng 3.4b: Bệnh thán thư 38
Bảng 3.5: Kết quả điều tra mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ trước khi sử dụng thuốc 40
Bảng 3.6: Kết quả điều tra mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 1 40
Bảng 3.7: Kết quả điều tra mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 2 42
Bảng 3.8: Kết quả điều tra mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 3 42
Bảng 3.9: Tổng hợp kết quả điều tra mức độ hại của bệnh thối cổ rễ cây Mỡ trước và sau phun thuốc 43
Bảng 3.10: Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 44
Trang 10Bảng 3.11: Tỉ lệ tăng giảm bệnh hại rễ ở các công thức (%) 45
Bảng 3.12: So sánh hiệu lực của thuốc sau 3 lần phun 46
Bảng 3.13: Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh thán thư lá Mỡ trước khi sử dụng thuốc 48
Bảng 3.14: Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh thán thư lá Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 1 49
Bảng 3.15: Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh thán thư lá Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 2 50
Bảng 3.16: Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh thán thư lá Mỡ sau khi sử dụng thuốc lần 3 51
Bảng 3.17: Tổng hợp kết quả điều tra mức độ hại của bệnh thán thư lá Mỡ trước và sau phun thuốc 52
Bảng 3.18: Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 53
Bảng 3.19: Tỉ lệ tăng giảm bệnh hại lá ở các công thức (%) 55
Bảng 3.20: So sánh hiệu lực của thuốc sau 3 lần phun 56
Bảng 3.21: Ảnh hưởng của tuổi cây đến mức độ bị hại bệnh thối cổ rễ và bệnh thán thư 57
Bảng 3.22: Ảnh hưởng của mật độ đến mức độ bị hại bệnh thối cổ rễ và bệnh thán thư 58
Bảng 3.23: Ảnh hưởng của ánh sáng đến mức độ bị hại bệnh thối cổ rễ và bệnh thán thư 59
Bảng 3.24: Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến mức độ bị hại bệnh thối cổ rễ và bệnh thán thư 60
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Hình ảnh cây mỡ bị bệnh thán thư lá 34
Hình 3.2 Hình ảnh cây mỡ bị bệnh thối cổ rễ 35
Hình 3.3 Hình ảnh cây Mỡ trước khi phun thuốc trị bệnh thối cổ rễ 39
Hình 3.4 Hình ảnh cây Mỡ sau khi phun thuốc trị bệnh thối cổ rễ lần 2 41
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện sự suy giảm của bệnh qua các lần phun 44
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn tác động của các loại thuốc đến bệnh thối cổ rễ cây Mỡ sau các lần phun 45
Hình 3.7 Hình ảnh cây Mỡ bị bệnh thán thư trước khi phun thuốc 47
Hình 3.8 Hình ảnh cây Mỡ sau khi phun thuốc lần 1 48
Hình 3.9 Hình ảnh cây Mỡ sau khi phun thuốc lần 2 50
Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện sự suy giảm của bệnh qua các lần phun 53
Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn tác động của các loại thuốc đến bệnh thán thư lá Mỡ sau các lần phun 54
Hình 3.12 Cây mỡ con bị thối cổ rễ 62
Hình 3.13 Lá cây mỡ bị bệnh Thán thư 63
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng được xem là "lá phổi" của trái đất, là hơi thở của sự sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài người, việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta Có thể nói rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: Cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…, ngoài ra nó còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng
Nhưng với thực trạng hiện nay diện tích rừng của nước ta đang bị thu hẹp dần cả về số lượng và chất lượng ở mức báo động Trong quá trình sinh trưởng và phát triển thực vật nói chung và rừng trồng nói riêng không chỉ chịu ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng, độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ không khí … mà chúng còn bị tác động của các yếu tố sinh vật khác như sự tàn phá của sâu hại, sự cạnh tranh của các cá thể thực vật cùng loài hay khác loài và đặc biệt là sự ký sinh của các vi sinh vật trên các cơ quan của thực vật, làm thay đổi chức năng hay biến dạng, ảnh hưởng đến từng bộ phận hay toàn bộ cây, thậm chí làm chết cây, từ đó làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm, gây thiệt hại về kinh tế Ngoài ra khi rừng được trồng trên một diện tích lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài nên rất dễ bị sâu, bệnh gây hại phát sinh phát triển
Vì vậy Đảng và nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng một cách bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu
Trang 13gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà máy xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ khác
Để đạt được kết quả tốt của việc trồng rừng thì điều quan trọng nhất ở đây là phải tạo được nhiều cây giống tốt, khoẻ mạnh, không bị sâu hại và không có mầm bệnh Muốn có được như vậy thì ngoài việc chọn được hạt giống tốt, bảo quản hạt giống tốt đối với những cây có khả năng tái sinh bằng hạt, những phương pháp xử lý trước khi gieo ươm… thì việc phòng trừ sâu bệnh hại ở giai đoạn vườn ươm là không thể thiếu được, nếu thực hiện được vấn đề đó thì tổn thất do sâu bệnh hại gây ra sẽ giảm xuống một cách đáng kể Trên thực tế tổn thất do sâu bệnh gây ra lớn hơn rất nhiều lần tổn thất do các tác hại tự nhiên khác
Hiện nay việc sản xuất cây con ở các vườn ươm cây giống ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, các vườn ươm ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng có các loài chủ yếu như Keo, Mỡ, Thông, Bạch đàn, tuy nhiên đã có rất nhiều dịch bệnh hại xảy ra, cây con bị chết hàng loạt do bệnh thối cổ rễ cây con, bệnh thán thư ở cây Mỡ, bệnh rơm lá thông, bệnh phấn trắng hại keo, gỉ sắt keo…
Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và ảnh hưởng của môi trường đến sự phát sinh, phát triển bệnh cây từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh cho cây con ở vườn ươm là rất cần thiết, luôn trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phòng trừ bệnh hại ở vườn ươm, rừng trồng để đạt được năng suất trong trồng rừng và phát triển rừng
Để góp phần sản xuất cây con đạt chất lượng cao phục vụ cho công tác trồng rừng thì việc chăm sóc, điều tra xác định nguyên nhân gây bệnh, nghiên
Trang 14cứu quá trình phát sinh, phát triển của bệnh và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại cây giai đoạn vườn ươm là không thể thiếu, vừa có ý nghĩa khoa học
và có ý nghĩa thực tiễn lớn
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về bệnh hại cây rừng nói
chung và bệnh hại cây con vườn ươm nói riêng, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số bệnh hại cây Mỡ (Manglietia glauca bl) trong giai
đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
- Đánh giá đặc điểm phát sinh phát triển và mức độ gây hại của một số bệnh hại chính cây Mỡ trong giai đoạn vườn ươm
- Khảo nghiệm một số biện pháp phòng trừ và đề xuất các biện pháp kỹ thuật trong phòng trừ bệnh hại chính cây Mỡ trong giai đoạn vườn ươm
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số loại bệnh hại chính trên cây Mỡ
(Manglietia glauca bl.) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên
Nghiên cứu 2 loại bệnh hại chính trên cây mỡ là bệnh thán thư lá và bệnh thối cổ rễ
4 Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu
Vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
* Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 8 /2014 đến tháng 5/ 2015
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số bệnh hại chính trên cây Mỡ ở giai đoạn vườn ươm là bệnh thán thư lá và bệnh thối cổ rễ
Trang 155 Ý nghĩa của đề tài
5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Vườn ươm đang có một số bệnh xuất hiện cần có biện pháp phòng trừ
để cây xuất vườn tốt hơn
- Quá trình thực hiện đề tài giúp tôi nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học về bệnh cây rừng
- Nắm được đặc điểm, quá trình phát sinh phát triển của bệnh hại cây Mỡ
- Nắm vững phương pháp điều tra đánh giá bệnh hại cây lâm nghiệp ở vườn ươm
- Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng
trừ bệnh hại cây con ở vườn ươm nói chung và bệnh hại cây Mỡ nói riêng
5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Quá trình thu thập số liệu giúp bản thân tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất
- Nắm được các triệu trứng bệnh thường gặp ở vườn ươm và cách nhận biết cây bị bệnh trong thực tế sản xuất cây giống
- Các biện pháp đề xuất mà đề tài đưa ra có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất và nhân rộng để phòng trừ bệnh hại cây Mỡ ở vườn ươm
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học bệnh cây
Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu sản xuất cây nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, giữa ý thức hệ duy vật và duy vật Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm
Bệnh cây rừng là một loại tác hại tự nhiên vô cùng phổ biến Bệnh hại thường làm cho cây sinh trưởng kém, lượng sinh trưởng gỗ hàng năm giảm xuống, một số bệnh hại có thể làm cho cây chết, thậm chí có thể chết hàng loạt Nước ta đã xảy ra các loại bệnh như: Khô cành Bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên Huế 500 ha, bệnh khô xám lá thông, bệnh rơm lá thông, bệnh vàng lá Sa mu, bệnh khô cành Phi lao… đã gây ra những nghiêm trọng trong sản xuất lâm nghiệp ở nước ta, hàng năm chúng gây ra những tổn thất rất lớn cho nền kinh tế, không những thế chúng còn gây ra ảnh hưởng đến môi trường sinh thái (Trần Văn Mão,1997) [17]
Theo cách hiểu thông thường, bệnh cây là khoa học nghiên cứu về cây
bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những lý do sinh vật cũng như không phải sinh vật Bệnh cây là kết quả tác động của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện bên ngoài Cách hiểu trên giúp chúng ta nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng cá thể Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên đây chưa cho phép giải quyết một cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây Trong hoạt động thực tế của mình, người làm công tác bệnh cây phải giải quyết các nhiệm vụ có liên quan đến những tập đoàn có cây lớn, vi sinh vật gây bệnh, trong những
Trang 17khoảng không gian nhất định, thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau
Khoa học bệnh cây có các nhiệm vụ chính:
- Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó xác định các biện pháp bảo vệ cây làm cho năng suất cây trồng ở mức cao và ổn định
- Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến: Bón phân, chế độ nước, mật độ cao… Trong sản xuất không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch
- Giải quyết vấn đề bệnh cây góp phần tạo điều kiện cho việc hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh tế lớn (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Để có thể hoàn thành được các nhiệm vụ trên đây, khoa học bệnh cây
có các nội dung:
- Nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây bệnh: Nguyên nhân gây bệnh thường rất nhiều và rất phức tạp, trong thực tế nhiều trường hợp cùng một nguyên nhân nhưng gây ra những biểu hiện bệnh rất khác nhau, ngược lại
có những trường hợp nhiều nguyên nhân cùng gây ra một triệu chứng bệnh rất giống nhau Biểu hiện bệnh có thể có một hoặc một số nguyên nhân chủ yếu
và một số nguyên nhân thứ yếu Nhầm lẫn vai trò và vị trí các loại nguyên nhân có thể dẫn đến những kết luận và hành động sai lầm Có xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì các công việc tiếp tục sau đó mới có cơ sở chắc chắn và chính xác Muốn phòng trừ bệnh, bảo vệ cây có hiệu quả, tránh lãng phí và các hậu quả tiêu cực khác, không thể không xác định nguyên nhân gây bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
- Phát hiện các quy luật phát sinh, phát triển và hình thành của dịch của bệnh cây: Bệnh cây phát sinh và phát triển theo những quy luật nhất định Các quy luật đó phụ thuộc vào tình trạng và đặc điểm của tập đoàn vi sinh vật gây
Trang 18bệnh, cây chủ và điều kiện bên ngoài Khoa học bệnh cây phải nắm được các quy luật đó Công tác dự tính, dự báo và phòng trừ bệnh đều phải dựa trên quy luật này mới đảm bảo kết quả tốt được (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
- Tìm hiểu bản chất, đặc điểm và các quy luật chống chịu của bệnh cây: Nói chung, khi cây bị nguồn bệnh xâm nhập thường có những biểu hiện phản ứng và hoạt động chống lại để tự vệ Trong tự nhiên hiện tượng này thường xảy ra và đó là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài giữa vi sinh vật gây bệnh và cây chủ Nắm được các đặc điểm chống chịu bệnh của cây ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để không ngừng củng cố, làm tăng lên để ngăn ngừa mọi tác hại của bệnh, đồng thời tìm cách đưa ra các đặc điểm đó vào các giống cây mới Các đặc điểm chống chịu bệnh thường chỉ được phát huy trong những điều kiện chăm sóc, kỹ thuật canh tác và khí hậu, đất đai nhất định Công tác chọn lọc, lai tạo các giống chống bệnh cũng như tiến hành các biện pháp phòng trừ chỉ có thể đạt kết quả thật tốt khi nắm được các quy luật này (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
- Nghiên cứu, xác định các phương pháp phòng trừ bệnh: Phòng trừ bệnh cây có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách có những
ưu điểm và nhược điểm của nó Vì vậy, mỗi phương pháp thường chỉ phát huy tác dụng cao nhất trong những điều kiện nhất định Trong thực tế sản xuất, những biện pháp riêng rẽ thường không đảm bảo, bảo vệ tốt cây chống bệnh và cần phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau mới giải quyết được bệnh Nhiệm vụ của khoa học bệnh cây là tìm ra các hệ thống tổng hợp các biện pháp bảo vệ cây chống bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
- Thực chất công tác phòng trừ bệnh cây không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh Việc làm đó chỉ có ý nghĩa khi bảo vệ được cây, góp phần làm tăng năng suất, giữ năng suất cây ở mức cao nhất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Phương hướng chủ yếu của công tác bảo vệ thực vật là tác động các biện
Trang 19pháp khác nhau trong một hệ thống hợp lý có cơ sở và căn cứ đầy đủ, nhằm điều khiển toàn bộ sinh quần đồng ruộng, rừng cây, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng tốt nhất, bệnh hại không thể phát triển được, đảm bảo tạo ra khối lượng nông lâm sản cao nhất, có phẩm chất tốt nhất Cho đến nay, khoa học bệnh cây đã đạt được nhiều kết quả lớn, và đã có hệ thống kiến thức có khả năng hạn chế đến mức thấp những tác hại của bệnh cây Tuy nhiên, những kiến thức đó chỉ có thể trở thành sức mạnh thực tế, khi những người trực tiếp sản xuất nắm vững được nó, và vận dụng tốt trong hoạt động sản xuất hàng ngày (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Mục đích cuối cùng của khoa học bệnh cây là tìm ra những giải pháp
có hiệu quả, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của bệnh, bảo vệ cây, làm cho cây sinh trưởng, phát triển cho năng suất và phẩm chất tốt Trên ý nghĩa đó, công tác phòng trừ bệnh cây không thể chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh mà việc tiêu diệt nguồn bệnh chỉ có ý nghĩa khi làm cho năng suất cây trồng không bị ảnh hưởng, giải phóng được nguồn bệnh và giữ được mức ổn định trong mọi trường hợp.(Weber,1973) [38]
Phòng trừ bệnh cây phải được thực hiện trên nguyên tắc tổng hợp, toàn diện và chủ động Biện pháp tổng hợp là áp dụng nhiều phương pháp khác nhau trong một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý Trong hệ thống đó các biện pháp bổ xung cho nhau, phát huy kết quả lẫn nhau tạo nên những tác động và sức mạnh tổng hợp phát huy mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây loại trừ tác hại của bệnh Tổng hợp còn nhằm phát huy đến mức cao mọi điều kiện
có thể có ở các cơ sở sản xuất, không tự giới hạn trong những loại biện pháp nhất định nào đó Do tính chất và chiều hướng tác động của các biện pháp khác nhau cho nên khi áp dụng một hệ thống gồm nhiều biện pháp sẽ nhằm tác động lên vi sinh vật gây bệnh, tác động lên cây, tác động lên môi trường sống của cây và vi sinh vật gây bệnh Hệ thống biện pháp tổng hợp bảo vệ cây
Trang 20chống bệnh cần được áp dụng một cách phân hóa phù hợp với điều kiện cụ thể từng nơi và từng lúc Áp dụng phân hóa trên cơ sở khoa học, có phân tích đầy đủ các yếu tố và quy luật sinh thái của từng địa phương, đảm bảo cho hệ thống tổng hợp nâng cao được hiệu quả kinh tế và thiết thực (Đường Hồng Dật,1979) [8]; [13]
Phòng trừ bệnh cây bao gồm nhiều biện pháp khác nhau Có những biện pháp có tác dụng phòng, bảo vệ cây, có biện pháp có tác dụng trừ một số loại bệnh cụ thể, chúng bao gồm 6 biện pháp chủ yếu: Kỹ thuật lâm sinh gồm các biện pháp canh tác, tổ chức và quản lý kinh doanh rừng; chọn giống cây chống chịu bệnh; kiểm dịch thực vật; sinh vật học; vật lý cơ giới và hóa học (Đặng Vũ Cẩn và cs, 1992) [3]
Hệ thống tổng hợp phòng trừ bệnh cây phải mang tính chất toàn diện Tuy nhiên, từng thời gian, ở từng địa phương thường có một số loại bệnh hại giữ vị trí chủ yếu, gây hại lớn nhất Vì vậy cần xác định các loại bệnh chủ yếu
và hệ thống tổng hợp các biện pháp phải tập trung giải quyết các loại bệnh chủ yếu, đồng thời kết hợp giải quyết các loại bệnh hại khác một cách hợp lý, khoa học Tính chất toàn diện không những không thể hiện ở đối tượng tác động mà các biện pháp bảo vệ cây không những đòi hỏi phải tiến hành ngoài đồng mà còn phải được thực hiện ở cả trong kho tàng, trong quá trình cất trữ, chế biến bảo quản, chuyên chở… Các biện pháp bảo vệ cây không những phải tiến hành trực tiếp trên cây mà còn phải thực hiện cả trong đất, trong không khí và trong môi trường sống của cây (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Công tác phòng trừ bệnh cây chỉ có thể đảm bảo mang lại kết quả tốt khi được tiến hành một cách chủ động Chủ động trước hết có nghĩa là dùng nhiều biện pháp tác động khác nhau, điều khiển toàn bộ hệ sinh thái đồng ruộng, làm sao loại trừ được tác hại của bệnh cây, tạo ra được năng suất cây trồng cao nhất Cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để điều khiển cây trồng Muốn
Trang 21điều khiển được phải nắm chắc các đặc điểm của cây, nắm đầy đủ các đặc điểm tốt cũng như nhược điểm Trên cơ sở đó dùng các biện pháp khác nhau như chế
độ canh tác, phân bón, chế độ nước… phát huy đến mức cao nhất các đặc tính chống chịu bệnh của cây Cần điều khiển quá trình sinh trưởng phát triển của cây, làm sao để cho giai đoạn yếu chống chịu bệnh của cây không trùng với thời gian nguồn bệnh sinh sản và phát triển mạnh Tùy theo tình hình phát sinh
và tích lũy của nguồn bệnh mà điều khiển tốc độ cũng như quá trình phát triển của bệnh cây, làm sao tạo ra những trạng thái quan hệ giữa cây và ký sinh dẫn tới năng suất cây trồng cao nhất (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Bên cạnh việc điều khiển cây trồng áp dụng nhiều biện pháp điều hòa
số lượng và mật độ vi sinh vật gây bệnh, giữ chúng dưới mức có khả năng gây
ra những thiệt hại có ý nghĩa kinh tế Đối với một số loại vi sinh vật gây bệnh, khi điều kiện cho phép, cần tận dụng những biện pháp điều khiển cho giai đoạn yếu chống chịu của cây không gặp giai đoạn sinh sản và lây lan mạnh của vi sinh vật gây bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Để chủ động phòng trừ bệnh cây cần điều khiển các yếu tố trong môi trường sống tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây phát triển và tạo điều kiện ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh Có thể sử dụng các biện pháp như: Mật độ, khoảng cách, hướng luống, tỉa cành, bấm ngọn… để điều khiển
độ thoáng, dùng chế độ nước để điều khiển độ ẩm, dùng phân hữu cơ, vôi…
để điều khiển chế độ nhiệt (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Như vậy để loại trừ tác hại của bệnh cây phải tiến hành trên các hướng: Phòng bệnh, tránh bệnh, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh, bồi dưỡng cây sau khi
bị bệnh Các biện pháp phòng bệnh là những biện pháp được áp dụng để bảo
vệ cây chống sự xâm nhiễm và gây hại của bệnh trước khi xuất hiện bệnh trên cây, Trị bệnh hay là chữa bệnh là những biện pháp nhằm tiêu diệt vi sinh vật
Trang 22gây bệnh khi chúng đã xuất hiện trên cây để giải phóng cho cây khỏi nguồn bệnh và cứu chữa các bộ phận cây đã bị bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [8]
Đối với cây con trong vườn ươm chủ yếu có độ tuổi < 12 tháng tuổi và
là giai đoạn rất mẫn cảm với điều kiện môi trường Lý do là lúc này cây con
có tỷ lệ hóa gỗ chưa cao, sức đề kháng với môi trường còn yếu, thân cây mềm, lá cây còn non nên tạo điều kiện cho nguồn bệnh dễ xâm nhập gây nên các bệnh: Hại lá, hại rễ, hại thân…[31]
Bên cạnh đó, cây rừng muốn sinh trưởng tốt cần phải có điều kiện thích hợp về mọi mặt vì mỗi loài cây đều sinh trưởng trong những điều kiện nhất định Sự trao đổi chất của cây rừng trong quá trình hoạt động sinh lý do đặc điểm di truyền và biến dị luôn biến động dưới tác động của môi trường như, khí tượng đất đai… Nếu các điều kiện đó không phù hợp với điều kiện sống bình thường trong giới hạn chịu đựng nhất định thì cây sẽ phát sinh ra những thay đổi về sinh lý cấu tạo, phá vỡ sự thống nhất bên trong của cây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây gây ra những hiện tượng bệnh lý làm thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội và môi trường
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Nghiên cứu về bệnh cây ở trên thế giới
Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn
Năm 1874 ở châu Âu, Robert Harting (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được Kể từ đó đến nay trên thế giới đã
có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.H.Hapting nhà
Trang 23bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970),
đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh
Đầu thế kỉ XVIII có nhiều giả thiết cho rằng bệnh cây là do nấm gây ra, năm 1711 người ta đã tìm ra mối quan hệ giữa nấm phấn đen với biện pháp
xử lí hạt giống Dillen (1719), Minichi (1725) nhà phân loại thực vật đã đưa nấm vào bảng phân phối (Weber (G.F), 1973 [38]
Cũng trong thời kì này các vấn đề về sinh thái bệnh cây, miễn dịch cây trồng đã được nghiên cứu đến và giải quyết được những nhu cầu cơ bản trong sản xuất đương thời Đến thế kỉ XIX các nhà khoa học bệnh cây do nấm gây
ra Những người có cống hiến nghiên cứu quyết định là bác học người Đức Anton Đơbari (1831 - 1888), nhà bác học người Nga Voronin (1838 - 1903)… Ngay từ năm 1953 Anton Đơbari đã công bố các tài liệu nghiên cứu lịch sử nấm than đen, nấm gỉ sắt, nấm mốc sương Qua đó khẳng định luận điểm của mình là nấm kí sinh không phải là hậu quả mà là nguyên nhân gây bệnh cây Ông là người đầu tiên dùng phương pháp lây bệnh nhân tao để xác
minh nấm Phytophthorainfstans là sinh vật gây nấm mốc sương khoai tây đã
phá hủy khủng khiếp ở Châu Âu (Weber (G.F), 1973) [38]
Từ giữa thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XIX: Đây là thời kì xác nhận bản chất vật gây bệnh Khoa học bệnh cây rừng được xem như một phân nhánh của khoa học bệnh cây Người đã sáng lập ra môn khoa học bệnh cây rừng là Robert Hartig trong khi nghiên cứu bệnh cây rừng lần đầu tiên ông đã phát hiện ra sợi nấm trong gỗ và mối quan hệ giữa hình thành thể quả nấm đến hiện tượng mục gỗ Cho đến nay có nhiều bệnh cây rừng xuất hiện, trong tất
cả vật gây bệnh thì nấm chiếm số lượng lớn nhất tới 83% gồm các bệnh hại lá, thân, cành, rễ và năm 1882 ông đã viết cuốn bệnh cây rừng đầu tiên (Gibson (I.A.S), 1979) [35]
Trang 24Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX được xem là thời kì phát triển tương đối của khoa học bệnh cây Thời kì này các nhà bác học tập chung vào phân loại bệnh cây và điều tra mức độ bị hại, sau đó nghiên cứu biện pháp phòng trừ các loại bệnh chủ yếu và người đầu tiên đề cập đến những chủng loại và mức độ bị hại liên quan đến sinh lí cây rừng, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh là G.Hapting (1940 - 1970) nhà bệnh lí cây rừng người Mỹ Trong thời
kì này ngoài việc phát hiện nấm là vật gây bệnh, các nhà khoa học còn phát hiện ra virut do Ivanopski (1864 - 1927), vi khuẩn do Berin (1938 - 1916) (Gibson (I.A.S), 1979) [35]
Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L Roger (1953) đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong đó có một
số bệnh hại lá của thông, keo, bạch đàn (Roger,1953) [36]
Từ đầu thế kỉ XX đến nay: Đây là thời kì phát triển cao độ của khoa học bệnh cây rừng là thời kì vận dụng duy vật biện chứng trong việc nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh, các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của vật gây bệnh và tìm ra biện pháp phòng trừ có hiệu quả nhất Những năm thập kỉ
1950 nhiều nhà bệnh lí cây rừng đã tập trung xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng bệnh và đặc biệt hơn vấn đề này đã được các nước Đông Nam Á quan tâm trong đó có cả Việt Nam
Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển là do sự đòi hỏi thực tiễn sản xuất nông lâm nghiệp Ngay từ thời đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động đã thông qua thực tiễn sản xuất và những kinh nghiệm của mình
để phát hiện và có biện pháp phòng trừ bệnh hại nguy hiểm
Thuốc bảo vệ thực vật ra đời từ đầu thế kỉ XVIII, nguồn gốc ra đời xuất
Trang 25phát từ loài sâu hại cây nông nghiệp, biện pháp chủ yếu để chống lại các loài sinh vật gây hại này là biện pháp hóa học, tuy nhiên biện pháp này chưa có ý nghĩa thực tiễn nhưng bắt đầu từ thế kỉ XIX cùng với sự phát triển của ngành hóa học và sinh hóa cùng nhiều môn khoa học khác như sản xuất nông lâm nghiệp đã ảnh hưởng đến việc sử dụng những biện pháp hóa học chống lại những sinh vật có hại cho cây trồng Vào những năm 1820 người ta đã dùng thủy ngân clorua (HgCl2) để bảo vệ gỗ Năm 1848 lưu huỳnh được dùng để
chống bệnh sương bột nấm Eviryphaceae gây nên, hỗn hợp đồng sunfat và
vôi bắt đầu được dùng Đến cuối thế kỉ XIX biện pháp hóa học chống sâu bệnh hại phát triển nhanh chóng Những sự phát triển của chúng mang tính tự phát (Weber (G.F), 1973) [38]
Sau cách mạng tháng 10 Nga thành công, công nghiệp bắt đầu điều chế với lượng cần thiết Cuối năm 1930, để hướng dẫn bảo vệ thực vật ủy ban liên hiệp toàn cầu các liên bang chống sâu bệnh được thành lập, một mạng lưới cơ quan hóa học nghiên cứu các biện pháp hóa học bảo vệ thực vật được ra đời (Trần Văn Mão, 1997) [17]
Các công tác được tiến hành ở việc bảo vệ thực vật, toàn liên bang (1932) đã tổ chức ở Matxcova, tổ chức này bắt đầu chế tạo thuốc phun ở dạng lỏng, thuốc bột và dụng cụ xử lí ) (Trần Văn Mão, 1997) [17]
John Boyce năm 1961 xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology)
đã mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada (John Boyce,1961) [34]
1.2.2 Nghiên cứu về bệnh cây ở Việt Nam
1.2.2.1 Nghiên cứu về bệnh cây
Ở nước ta khoa học bệnh cây rừng phát triển muộn hơn, trong thời kỳ Pháp thuộc nền sản xuất lâm nghiệp còn nghèo nàn lạc hậu phân tán mang tính chất cá thể ít có nhà khoa học nghiên cứu về bệnh cây
Trang 26Bệnh cây ở Việt Nam rất phổ biến, các cây trồng ít nhiều đều bị bệnh Song khoa học bệnh cây cũng như khoa học bệnh cây rừng nước ta lại được bắt đầu muộn hơn so với thế giới Mặc dù trong thời kỳ thuộc Pháp, một số nhà khoa học bệnh cây đã có những công trình nghiên cứu đến các loại nấm gây bệnh cây rừng, cây gỗ và cây cảnh, nhưng môn khoa học bệnh cây rừng
có điều kiện phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003) [18]
Khí hậu Việt nam cũng đem đến không ít những khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp như: Những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây rừng, cũng là những thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, lan tràn sâu bệnh hại thực vật Nạn dịch sâu ăn lá, sâu đục thân, nấm cổ rễ… phát sinh hầu hết ở khắp nơi, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lâm nghiệp (Vương Văn Quỳnh và cs, 1996) [22]
Ở giai đoạn vườn ươm, cây con đang trong thời gian sinh trưởng mạnh
và cây con còn bị ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài nên thời gian này cây dễ bị nhiễm bệnh Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc và các vi sinh vật phát triển Trong quá trình bị bệnh cây bị biến đổi về các mặt sinh lý, giải phẫu và hình thái gây ra những tác hại đối với cây con ở vườn ươm, rừng trồng và rừng tự nhiên, sự thay đổi đó diễn ra liên tục Cây bị bệnh quá trình thay đổi
về sinh lý là nguyên nhân của sự thay đổi về giải phẫu, hình thái, và sự thay đổi về hình thái cũng chính là bệnh thể hiện ở triệu trứng Mỗi một loại bệnh cây đều có những đặc trưng triệu trứng riêng biệt và là một căn cứ quan trọng
để chuẩn đoán bệnh cây (Trần Văn Mão, 1993) [15]
Do thực vật và vật gây bệnh đều chịu tác động của môi trường xung quanh nên cả hai bị môi trường khống chế Tính chống chịu của cây và tính xâm nhiễm của vật gây bệnh tùy thuộc vài điều kiện môi trường Trong quá
Trang 27trình tác động lẫn nhau giữa cây và vật gây bệnh nếu điều kiện môi trường có thuận lợi cho cây chủ và không có lợi cho vật gây bệnh quá trình gây bệnh có thể kéo dài hoặc ngưng lại Ngược lại, nếu môi trường thuận lợi cho vật gây bệnh, quá trình gây bệnh mới có thể phát triển thuận lợi Cây chủ, vật gây bệnh và môi trường luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và là cơ sở của sự phát sinh phát triển bệnh cây, ba nhân tố này luôn biến động theo thời gian và không gian cho nên mối quan hệ tương hỗ giữa chúng không ngừng phát triển Chỉ cần tìm hiểu sâu sắc mối quan hệ động thái của ba nhân tố trên mới
có thể nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây và mới có thể đề
ra được giải pháp phòng trừ chính xác (Trần Văn Mão, 2003) [18]
Năm 1960, khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam Việt Nam, Hoàng Thị My đã đề cập đến một số bệnh hại lá, chủ yếu là bệnh gỉ sắt, phấn trắng, nấm bồ hóng… có thể nói từ sau cách mạng tháng 8/1945 nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1945), nước ta xây dựng một nền nông - lâm nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa Với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ
Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng; trong đó có khoảng 600 loài nấm mục
gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ; trên 50 loài cây rừng bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể Trên cơ sở nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đề xuất biện pháp phòng trừ một số bệnh hại thân, cành, lá (Trần Văn Mão,1993) [15]
Trang 28Từ năm 1971 với nhiều công trình nghiên cứu của mình, Trần Văn Mão
đã bắt đầu công bố một số bệnh cây như quế, trẩu, sở, hồi… ông đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và phương pháp phòng trừ một số bệnh hại lá Các tác giả Nguyễn Sỹ Giáo, Đỗ Xuân Quý, Phạm Xuân Mạnh… đã nghiên cứu trên lá keo phát hiện ra một số loại bệnh hại như: Cháy lá, phấn trắng (Trần văn Mão,1997) [17] Nhiều chuyên gia nước ngoài như ấn Độ, Mỹ đã từng đến Việt Nam nghiên cứu về bệnh hại lá keo như: Hodge (1990), Zhon (1992), Sharma (1994) và công bố trong báo cáo chuyên
đề bệnh cây ở Hà Nội
Hiện nay ở nước ta đã có các cơ quan về lâm nghiệp có các bộ phận chuyên trách về phòng trừ sâu bệnh hại như Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Viện điều tra quy hoạch rừng và các Trung tâm bảo vệ rừng (Trần Văn Mão, 1997) [17]
Các bệnh đốm lá, gỉ sắt, khô héo gây tổn thất lớn Do vậy cần phải có biện pháp phòng trừ như chọn giống, chọn vườn ươm, gieo đúng thời vụ, xới xáo, diệt cỏ, tướii nước, bón phân hợp lý, che bóng kịp thời thì sẽ giảm được nhiều khả năng lây lan xâm nhiễm của bệnh tạo điều kiện cho cây con phát triển tốt (Trần Văn Mão, 1993) [15]
Qua đó các nhà khoa học đã đề ra một số biện pháp phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng ở vườn ươm như bệnh: lở cổ rễ, nấm thân, phấn trắng, rơm lá thông có hiệu quả cao tạo điều kiện cho cây con phát triển tốt (Trần Công Loanh, 1992) [14]
Biện pháp phòng trừ chủ yếu là triệt để nguồn bệnh, thường xuyên theo dõi, kiểm tra vườn ươm, rừng trồng kịp thời phát hiện bệnh để có những biện pháp cắt bỏ lá bệnh, chặt bỏ cành nhánh rậm rạp (Trần Văn Mão, 2003) [18]
Song song với việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh hại rừng thì các cán bộ nghiên cứu và giảng dạy môn bệnh cây rừng đã có mối quan hệ
Trang 29rộng rãi với các cơ quan nghiên cứu bệnh cây rừng các nước trên thế giới để tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để phòng trừ bệnh cây phát huy được tác dụng bảo vệ tài nguyên rừng hiện tại và tương lai (Trần Văn Mão, 1995) [16]
Đến nay khoa học bệnh cây rừng ngày càng đáp ứng nhu cầu kinh doanh lâm nghiệp Việc nghiên cứu tìm hiểu đặc tính sinh vật học, sinh thái học của mỗi loài bệnh là một vấn đề quan trọng, nó là cơ sở lý luận để đưa ra biện pháp phòng trừ hiệu quả Các công trình nghiên cứu về bệnh hại cây con
ở vườn ươm, các tác giả đã có kết luận ở giai đoạn vườn ươm cây con chủ yếu mắc phải một số bệnh như: phấn trắng lá keo, cháy lá, khảm lá, thối cổ rễ Trong đó, bệnh thối cổ rễ là khá phổ biến và thường bị hại nặng nhất (Trần Văn Mão, 1993) [15]
Bệnh hại cây trồng đã áp dụng từ năm 1950 Số lượng các loại thuốc ngày càng tăng, biện pháp hoá học ngày càng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông lâm nghiệp Với ngành Lâm nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật chủ yếu được sử dụng để phòng trừ sâu bệnh hại ở vườn ươm, rừng mới trồng hoặc khi xuất hiện dịch bệnh lớn Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trong nhiều năm qua đã hợp tác với Khoa Lâm nghiệp và Lâm sản thuộc Tổ chức Khoa học và Công nghệ Australia nghiên cứu về bệnh cây bạch đàn và có nhiều đợt điều tra về bệnh hại cây keo và xác định sinh vật gây bệnh trên nhiều vùng trong cả nước cho thấy bệnh hại cây rừng chủ yếu là do các loài nấm gỉ sắt, nấm phấn trắng, nấm bồ hóng gây nên, ngoài ra còn một số loại vi khuẩn gây bệnh khô ngọn, khô cành (Phạm Quang Thu, 2002) [26]
Ở vườn ươm bệnh thối cổ rễ cây con là rất phổ biến, nấm gây bệnh sống ở trong đất, có khả năng thích ứng với môi trường lớn, phân bố rộng rãi nên rất khó phòng trừ Do vậy cần có biện pháp kỹ thuật phòng trừ như chọn đất vườn ươm, gieo ươm đúng thời vụ thì sẽ giảm được nhiều khả năng lây lan xâm nhiễm của bệnh, tạo điều kiện thuận lợi giúp cây con phát tirển tốt (Trần Văn Mão,1993) [15]
Trang 30Ở giai đoạn cây con vẫn còn non sức đề kháng còn yếu, khi gặp điều kiện bất lợi cây thường mắc bệnh nặng hơn và giảm dần khi tuổi cây tăng Các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện cây bị sâu bệnh hại không những kém giá trị về sử dụng mà ở giai đoạn gieo ươm giảm tỷ số lượng cây con do làm cây con yếu và chết hàng loạt, nếu không có biện pháp phòng trừ kịp thời thì nhiều bệnh cây con còn lây lan đến các cây ở rừng trồng làm giảm tỷ lệ sống của cây rừng (Trần Văn Mão,1993) [15]
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954) Nước ta xây dựng một nền nông nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây, chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tổ chức, có điều kiện để đi sâu hơn tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ (Phạm Quang Thu, 2003) [28]
Ngày nay khoa học bệnh cây rừng ngày càng phát triển bằng việc hoàn thiện cơ sở lý luận và đưa ra những phương pháp phòng trừ bệnh hữu hiệu Nhờ đó đã làm giảm bớt những thiệt hại gây ra đối với tài nguyên rừng Nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều bệnh nghiêm trọng mà chúng ta chưa có biện pháp giải quyết triệt để Cũng có nhiều bệnh có lúc, có nơi được dập tắt nhưng trong điều kiện mới lại gây ra dịch trở lại Cho nên vấn đề bệnh cây rừng hôm nay vẫn phải được thừa kế những kết quả nghiên cứu trước đây trên những cơ sở lý luận và phương pháp phòng trừ để sáng tạo và phát triển cho việc áp dụng phòng trừ bệnh cây trồng của ngày mai
1.2.2.2 Nghiên cứu bệnh hại cây mỡ (Manglietia glauca BL.)
Cây mỡ được phân bố và trồng tập trung ở vùng Đông Bắc như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Bắc, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang Ngoài ra mỡ còn được trồng ở Hương Sơn - Hà Tĩnh
Trang 31Gỗ Mỡ được trồng làm nguyên liệu giấy sợi và trong xây dựng: Làm cột, kèo nhà, làm đồ mộc, bàn ghế, giường, tủ, công nghệ dán lạng, bút chì Cây mỡ cũng là cây trồng chính cho vùng đông Bắc Tuy nhiên cây mỡ cũng
là đối tượng của nhiều loại bệnh hại [1]
Đối với rừng trồng, các bệnh hại cây mỡ chủ yếu do bệnh tầm gửi mỡ gây ra và rất dễ nhận biết, bệnh đốm lá mỡ có xuất hiện, nhưng ở mức độ bệnh rất nhẹ không ảnh hưởng đến cây trồng Có thể phòng trừ bằng cách chặt
bỏ cành bệnh [2]
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Điều kiện dân sinh - kinh tế xã hội
* Dân số - lao động
Xã Quyết Thắng có tổng số dân là 10.474 người, người dân nơi đây đa số sống chủ yếu dựa vào nghề sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi, hoạt động dịch vụ và đi làm thuê ngoài trong những lúc nông nhàn Trình độ dân trí ở đây tương đối cao nhưng tỷ lệ hộ sống dựa vào ngành nông nghiệp vẫn còn cao
Số lao động trong độ tuổi là khoảng 5523 người chiếm 59,92% trong tổng số nhân khẩu của toàn xã
* Giao thông- thủy lợi
- Giao thông
Xã Quyết Thắng có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, các tuyến đường liên xã đều được nhựa hóa, hệ thống liên thôn đều được bê tông hóa tiện cho việc đi lại Tuy nhiên chất lượng một số tuyến đường còn thấp nên gây khó khăn trong việc trao đổi mua bán hàng hóa của người dân
- Thủy lợi
Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn do vậy chủ yếu chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn hệ thống kênh đào Núi Cốc, Suối và hồ, ao trên địa bàn, phục vụ cơ bản cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Trang 32Ở đây người dân sống phần đa là sản xuất nông lâm nghiệp, vì vậy công tác thủy lợi được chính quyền xã cùng với nhân dân rất quan tâm và đầu
tư Toàn xã xây dựng được 15km kênh mương đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất Hiện nay các thôn xóm cũng đã và đang tiến hành xây dựng những đoạn kênh mương còn lại nhằm đảm bảo cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông lâm nghiệp đạt hiệu quả tốt
- Dịch vụ: Hiện nay dịch vụ đang có sự phát triển đi lên Nhìn chung kinh tế của xã vẫn chưa cao, quy mô sản xuất chưa lớn và chưa có kế hoạch
cụ thể, rõ ràng đây là một điểm hạn chế của xã Trong xã chưa phát triển tương đối giữa các ngành, mức sống của người dân vẫn chưa đồng đều
Trong những năm gần đây mức sống của người dân tăng lên rõ rệt Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư và phát triển đặc biệt là hệ thống giao thông, thủy lợi là lĩnh vực quan trọng để phục vụ về các mặt của đời sống, kinh tế, xã hội của nhân dân trong xã
1.4 Tài nguyên đất
Đất đai của xã Quyết Thắng được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ Nhóm đất phù sa chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồi đắp bởi sản phẩm phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gian
Trang 33được chia thành Đất phù sa không được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ
Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitic trên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ,
dễ bị sói mòn, rửa trôi
Nhóm đất Feralit: phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn
Đất khu vực vườn ươm là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụng nhiều năm Đất
là đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ pH của đất thấp, đất nghèo mùn Đất có độ màu mỡ thấp nên cây con sinh trưởng và phát triển mức trung bình, đôi khi có cây phát triển thấp
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
+ Khảo sát xác định bệnh hại chính tại khu vực nghiên cứu
- Tình hình vệ sinh vườn ươm
- Điều tra thành phần bệnh hại, xác định bệnh hại chính
- Đánh giá tình hình phân bố bệnh cây
+ Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc đối với bệnh hại chính cây mỡ:
- Bệnh thối cổ rễ
- Bệnh thán thư
+ Ảnh hưởng của một số yếu tố đến mức độ gây hại của bệnh hại chính cây
mỡ ở vườn ươm
- Ảnh hưởng của tuổi cây chủ đến tỷ lệ và mức độ bị bệnh
- Ảnh hưởng của mật độ đến sự phát sinh và phát triển của bệnh
- Ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sự phát sinh, phát triển của bệnh
- Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sự phát sinh, phát triển của bệnh + Một số đặc điểm phát sinh phát triển của bệnh hại chính và đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh hại
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc
Điều tra thành phần bệnh hại, chuẩn đoán nguyên nhân gây bệnh, thống
kê thành phần bệnh hại, xác định bệnh hại chính và nguyên nhân gây bệnh cây mỡ giai đoạn vườn ươm
Trong qua trình điều tra chúng tôi đã kế thừa một số tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu tỉnh Thái
Trang 35Nguyên: Đất đai, dân số, địa hình, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, những tài liệu nghiên cứu về cây mỡ, tình hình bệnh hại và các loại bệnh hại cây mỡ
ở giai đoạn vườn ươm và kết quả giám định tên vật gây bệnh kết hợp với tra cứu tài liệu của các nhà khoa học (Trần Văn Mão, Phạm Quang Thu, Đào Hồng Thuận) [33]
2.2.2 Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp kết hợp với nghiên cứu thực nghiệm
* Bước 1: Điều tra sơ bộ
Các dụng cụ gồm có: Thước dây, địa bàn, cọc, dao, bảng biểu, giấy bút, bình phun, xô chậu, kính hiển vi, kính lúp, các loại thuốc hóa học đem thử nghiệm , hệ thống bảng biểu điều tra bệnh hại ở vườn ươm đã chuẩn
bị sẵn
- Tiến hành quan sát toàn bộ khu vực vườn ươm, tình hình sinh trưởng
phát triển của cây trồng
- Khảo sát, điều tra sơ bộ về tình hình phân bố bệnh cây và đánh giá mức độ nhiễm bệnh chung của cây trong địa bàn khu vực vườn ươm
Để điều tra tình hình phân bố bệnh của mỗi ODB tiến hành điều tra số cây trong ô và xác định số cây nhiễm bệnh, kết quả điều tra ghi vào mẫu bảng trong phần phụ lục
Sau khi có số liệu khảo sát sơ bộ về tình hình các loại bệnh hại trên cây mỡ chúng tôi tiến hành lập ngẫu nhiên một số ODB trên các luống gieo
để đánh giá tần xuất xuất hiện của từng loại bệnh để có cơ sở xác định bệnh hại chính
- Tần xuất xuất hiện:
< 5%: Không phổ biến
Từ 5% - 15%: Ít phổ biến
> 15% - 25%: Phổ biến
> 25%: Rất phổ biến
Trang 36- Đánh dấu những loài cây bị bệnh nặng, những khu vực, luống bị bệnh
và những loại bệnh hại chủ yếu
* Bước 2: Bố trí thí nghiệm:
- Đối với phương pháp hóa học: Mỗi luống gieo lập 5 ô dạng bản để
áp dụng biện pháp thử nghiệm, diện tích mỗi ô là 1m2 Trên ô thí nghiệm ứng với 1 công thức là 1 loại thuốc hóa học, mỗi công thức có 3 lần nhắc lại (Đặng Kim Tuyến, 2000) [32], Nguyễn Thế Nhã, Trần văn Mão, 2001) [20]
Bảng 2.1 Các loại thuốc thử nghiệm đối với bệnh thối cổ rễ
thuốc
Ngày sản xuất Nhà sản xuất
1 Daconil 75WP Chlorothalonil 75% Bột 05/09/2014 Công ty TNHH Việt
Bảng 2.2 Các loại thuốc thử nghiệm đối với bệnh thán thư lá mỡ
STT Tên thuốc Hoạt chất Dạng
thuốc
Ngày sản xuất Nhà sản xuất
Trang 37- DaconilR 75wp là thuốc dạng bột hòa nước, phổ tác dụng rộng, trừ được nhiều loại bệnh trên cây trồng: phấn trắng, đổ ngã cây con, mốc sương, đốm lá, thán thư, đạo ôn, khô vằn Hiệu lực trừ bệnh cao, kéo dài
- CuO50SC (Đồng đỏ) là thuốc nước, trị nhiều loại bệnh do nấm: thán thư, phấn trắng, đốm đen, gỉ sắt, đốm vòng, đốm nâu, mốc lá
- Vidoc 30BTN là thuốc dạng bột thấm nước trị các bệnh gỉ sắt, phấn trắng, nấm hồng, thán thư, thối gốc rễ, đốm lá, ghẻ sẹo…
- Zineb80WP là thuốc là thuốc dạng bột thấm nước trị bệnh nội hấp, xông hơi, hiệu quả cao với nhiều loại bệnh như: phấn trắng, thán thư, gỉ sắt, đốm lá, mốc nâu…
Điều tra đánh giá tình hình phân bố bệnh cây trên mỗi công thức thí nghiệm
Trong quá trình phát sinh phát triển chúng tôi đã theo dõi chi tiết mức
độ gây hại ở mỗi công thức bằng phương pháp điều tra tỷ mỷ
Bước 3: Điều tra tỷ mỷ
Điều tra mức độ gây hại trên các ODB trong mỗi công thức thí nghiệm + Đối với bệnh thối cổ rễ thì điều tra tất cả số cây trong ODB Đếm số cây bị hại và tổng số cây trong ODB
+ Đối với bệnh thán thư lá mỡ thì tại ODB cứ cách 2 hàng điều tra một hàng trong hàng điều tra tất cả số cây, trên cây điều tra tất cả số lá
Để điều tra mức độ bị hại của lá ta dựa vào cơ sở phân cấp mức độ bệnh hại lá làm 5 cấp sau:
Cấp 0: lá không bị hại
Cấp I: < 25 % diện tích lá bị hại
Cấp II: từ 25% đến 50% diện tích lá bị hại
Cấp III: > 50% - 75 % diện tích lá bị hại
Cấp IV: trên 75 % diện tích lá bị hại
Sau khi có số liệu về tình hình phân bố bệnh cây chúng tôi tiến hành thu thập số liệu về mức độ gây hại của bệnh
Trang 38Để có số liệu đối chứng cho công thức sử dụng thuốc trước khi phun thuốc, chúng tôi tiến hành thu thập số liệu về mức gây hại trên các công thức thí nghiệm có sử dụng thuốc và ô đối chứng không phun thuốc theo phương pháp điều tra đánh giá mức độ bệnh hại lá ở vườn ươm Cứ 10 ngày sau phun thuốc tiến hành điều tra mức độ hại của bệnh trên mỗi công thức
Đánh giá mức độ gây hại của bệnh hại chính cây mỡ trong giai đoạn vườn ươm
Tất cả các thí nghiệm đều được bố trí với 3 lần nhắc lại tại 3 điểm nghiên cứu
Đề tài sử dụng hệ thống bảng biểu phù hợp với phương pháp điều tra đánh giá sâu bệnh trong lâm nghiệp, Đặng Kim Tuyến, 2008 [36]
- Theo dõi ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự phát sinh phát triển của bệnh chính cây mỡ ở vườn ươm
* Ảnh hưởng của tuổi cây chủ đến sự phát sinh phát triển của bệnh
Lập các ODB với kích thước 1m2
có độ tuổi cây khác nhau Mỗi cấp đặt 3 ODB, đầu luống, giữa luống, cuối luống Trên các ODB tiến hành phân cấp bị bệnh cho các cây trong ODB và tính toán mức độ bị hại
* Ảnh hưởng của mật độ đến sự phát sinh và phát triển của bệnh
Lập các ODB với kích thước 1m2
có mật độ cây xếp khác nhau 300 cây, 400 cây, 500 cây Mỗi cấp đặt 3 ODB, đầu luống, giữa luống, cuối luống
Trên các ODB tiến hành phân cấp bị bệnh cho các cây trong ODB và tính toán mức độ bị hại
* Ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sự phát sinh phát triển của bệnh
Lập các ODB có kích thước là 1m2 ở các luống cây Mỡ có điều kiện che bóng 50%, 75% và che 100% (che hoàn toàn) Mỗi cấp đặt 3 ODB, đầu luống, giữa luống, cuối luống Trên các ODB tiến hành phân cấp bị bệnh cho các cây trong ODB và tính toán mức độ bị hại
Trang 39* Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sự phát sinh phát triển của bệnh
Lập các ODB có kích thước là 1m2 ở các luống Mỡ có chế độ chăm sóc tốt (Làm cỏ xới đất, phá váng,tưới nước, bón phân, tỉa thưa, đảo bầu, nhổ bỏ cây
bị bệnh) và không chăm sóc tốt (Tưới nước, làm cỏ, đảo bầu) Trên các ODB tiến hành phân cấp bị bệnh cho các cây trong ODB và tính toán mức độ bị hại
Tất cả các số liệu điều tra sẽ được ghi chép vào các mẫu biểu tương ứng (Trần công Loanh, Trần văn Mão 2001, Phạm quang Thu 2008 [30], Đặng Kim Tuyến 2012 [35] được trình bày trong phần phụ lục của luận văn
Trang 40Để đánh giá mức độ bị hại ở các công thức thí nghiệm dựa trên cơ sở sau
V: là trị số của cấp hại tương ứng
Để đánh giá mức độ bị hại ở các công thức thí nghiệm dựa trên cơ sở sau
R < 25%: hại nhẹ