ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ****** NGUYỄN THỊ THÚY THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI - NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
NGUYỄN THỊ THÚY
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
- NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN HẢI YẾN
Hà Nội - 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của đề tài 11
7 Cấu trúc của luận văn 12
NỘI DUNG 13
Chương 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 13
1.1 Thiên nhiên trong quan niệm Việt Nam thời trung đại 13
1.1.1 Quan niệm của tam giáo về quan hệ thiên – nhân 13 1.1.2 Thiên nhiên trong sáng tác văn học trung đại Việt Nam 16
1.2 Nhìn lại “nữ lưu” trong lịch sử văn chương thời trung đại Error! Bookmark not defined
1.3 Những nét phác về phê bình sinh thái và tiềm năng của nó trong nghiên
cứu văn chương Error! Bookmark not defined
1.3.1 Đôi nét về phê bình sinh thái Error! Bookmark not defined
1.3.2 Phê bình sinh thái với nghiên cứu văn chương Error! Bookmark not defined
Tiểu kết Error! Bookmark not defined
Chương 2 TOÀN CẢNH THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC CÂY BÚT NỮ VIỆT NAMTHỜI TRUNG ĐẠIError! Bookmark not defined
2.1 Sáng tác về thiên nhiên của các tác giả nữ qua những con số thống kê Error! Bookmark not defined
Trang 32.2 Thế giớ i tự nhiên - con người theo cái nhìn của tác giả nữ Error! Bookmark not defined
2.2.1 Thiên nhiên được biểu hiện qua thảm thực vật Error! Bookmark not defined
2.2.2 Thiên nhiên xuất hiện qua thế giới động vật Error! Bookmark not defined
2.2.3 Thiên nhiên chuyển vận theo bốn mùa Error! Bookmark not defined
2.2.4 Thiên nhiên danh thắng Error! Bookmark not defined
Tiểu kết Error! Bookmark not defined
Chương 3 THIÊN NHIÊN – HÌNH DUNG VÀ BIỂU TẢ CỦA NỮ GIỚI VỀ MÔI SINH TRONG VĂN HÓA THỜI TRUNG ĐẠIError! Bookmark not defined
3.1 Những khoảng thiên nhiên khuyết vắng và dôi dưError! Bookmark not
defined
3.2 Đặc điểm của chủ thể sinh thái trong thơ văn nữ Việt Nam thời trung đại
Error! Bookmark not defined Tiểu kết Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
TƯ LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1.1 Thờ i trung đại của Viê ̣t Nam , các sáng tác văn chương không chỉ thể hiện những tư tưởng lớn như yêu nước , nhân đạo qua tinh thần chống giă ̣c ngoa ̣i xâm, qua tình yêu con người ở nhiều cung bâ ̣c cảm xú c… mà còn có nhiều sáng tác về thiên nhiên Bởi tình yêu vốn có của người cầm bút với thế giới tự nhiên , và còn bởi những quan niê ̣m đă ̣c biê ̣t của thời đại đó về mối quan hê ̣ con người – tự nhiên
1.2 Thiên nhiên trở thành nguồn cảm hứng lớn trong văn chương, không chỉ
ở các bâ ̣c nam nhân của Viê ̣t Nam thời trung đa ̣i Những tác gia nữ đầy tài năng như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Ngô Chi Lan, Trương Thị Trong, Nguyễn Tĩnh Hòa… đều có nhiều đóng góp cho tiến trình vận động, phát triển của văn học nước nhà nói chung và mảng sáng tác này nói riêng Sự khác biê ̣t về giới tính hiển nhiên sẽ chi phối nhiều phương diê ̣n của sáng tác mà chủ đề thiên nhiên là một Khảo sát chủ đề này ở các cây bút nữ vì vậy sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề xung quanh thái độ của con người với thế giới tự nhiên , vai trò của tự nhiên trong tình cảm , nhâ ̣n thức của con người ; thêm nữa, tìm hiểu cách nhìn, cách phản ánh thiên nhiên ở các tác giả nữ thời trung đa ̣i còn góp phần hiểu thêm đă ̣c thù văn hoá giới của giai đoa ̣n này
1.3 Những dẫn nhập phê bình văn ho ̣c sinh thái ho ̣c gần đây vào đời sống nghiên cứu văn ho ̣c Viê ̣t Nam đã đem la ̣i nhi ều gợi ý cho việc nhìn lại thế giới tự nhiên trong văn chương Đối tượng của hình thức phê bình khá mới mẻ này là những sáng tác thể hiê ̣n thiên nhiên trong tính nguy cơ ở cuô ̣c sống bình thường của con người Nói cách khác , phê bình sinh thái tập trung chú ý vào những tác phẩm văn chương thể hiê ̣n cảm quan bất an của con người về mô ̣t môi sinh đang bi ̣ tổn thương, trong đó thiên nhiên là mô ̣t hình ảnh chủ yếu ; hoă ̣c tìm hiểu chiều sâu văn hoá , tư tưởng của cách con người hình dung thiên nhiên , tác động vào tự
Trang 5nhiên Ngoài ra, với tính chất liên ngành , phê bình sinh thái luôn có xu hướng kết hợp với những tiếp câ ̣n khác , như: giới, chủng tộc, dân tô ̣c… Đó là mô ̣t kiểu tiếp
câ ̣n hứa he ̣n những nhìn nhận khả thủ trong viê ̣c tìm hiểu sáng tác của các tác giả
nữ Việt Nam thời trung đại ở mảng thiên nhiên
Vì tất cả những lý do trên , chúng tôi chọn đề tài Thiên nhiên trong sáng tác
của các nữ tác giả Việt Nam thời trung đại – nhìn từ phê bình sinh thái với hy
vọng bổ sung thêm mô ̣t vài lý giải mới cho mô ̣t chủ điểm đã được giới nghiên cứu tìm hiểu trước đây
trong cuốn Nữ lưu văn học sử Sở Cuồng, Lê Dư đã có những đánh giá, ghi nhận
đầu tiên về các tác giả nữ trong văn học Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… Theo đánh giá của tác giả thì đây đều là những nhà thơ nữ tài năng, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn học… Đến năm 2010 Đỗ Thị Hảo cho ra
mắt cuốn Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam thì tác phẩm văn chương nữ được
nhìn nhận, sắp xếp một cách có hệ thống hơn theo tiến trình phát triển của lịch sử Trong cuốn sách này Đỗ Thị Hảo đã điểm danh mười hai gương mặt nữ tác giả trong suốt tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỳ XIX đó là: Lý Ngọc Kiều, Lê Thị Yến, Ngô Chi Lan, Đoàn Thị Điểm, Trương Thị (Ngọc) Trong, Phạm Lam Anh, Lê Ngọc Hân, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Tĩnh Hòa, Nguyễn Thị Nhược
Bích Ngoài ra còn một số công trình như: Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm,
Nguyễn Gia Thiều: tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà văn, nghiên cứu Việt Nam và thế giới (Tiến Quỳnh, 1991)… Văn học
Trang 6Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Trần Nho Thìn, 2012), cũng dành một
lượng trang viết nhất định cho tác giả nữ
Thứ nhất về lịch sử nghiên cứu thơ văn của Hồ Xuân Hương Hồ Xuân
Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm, tên tuổi của bà cũng được đặt cạnh những đại thi hào của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…Thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo, không dễ bị trộn lẫn Với số luợng sáng tác không nhiều nhưng ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX đã có nhiều chuyên luận, bài nghiên cứu, bài phân tích, bình giảng, luận văn, luận án nghiên cứu về thơ
bà Nhiều cuốn sách viết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương được tái bản nhiều lần1
Nói về thiên nhiên trong sáng tác của Hồ Xuân Hương, ngay từ những năm
1955 trong cuốn Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và giáo dục (1955)
Văn Tân đã khẳng định Hồ Xuân Hương là nhà thơ tả chân và yêu thiên nhiên
Trong cuốn Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của Lê Chí Viễn (1987) nhà nghiên cứu
Hoài Nam đánh giá Hồ Xuân Hương là một nhà thơ yêu thiên nhiên và thiên nhiên trong thơ bà là thiên nhiên luôn dồi dào sức sống2
Bên cạnh đó, nhiều luận án tiến
sĩ đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của thơ Hồ Xuân Hương như: Lý giải cái
dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ tín ngưỡng phồn thực (Đỗ Lai Thúy,
1994), Hồ Xuân Hương và nền văn hóa dân gian (Nguyễn Thị Ngọc, 1996), Tìm
hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương (Trương Xuân Tiếu,
2002) Trong đó Luận án của Trương Xuân Tiếu [45] đã giới thiệu khái quát về không gian nghệ thuật trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương theo cách phân loại thành không gian vũ trụ, không gian địa lý phong tục và không gian sinh hoạt của con người Còn tác giả Đỗ Lai Thúy với công trình Hồ Xuân Hương, hoài niệm
1 Như Hồ Xuân Hương tiểu sử văn bản - Tiến trình huyền thoại dân gian hóa của Đào Thái Tôn năm 1999, Văn học
Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của tác giả Nguyễn Lộc năm 2005, hay Hồ Xuân Hương về tác gia
và tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu (2003)…
2 Lê Trí Viễn (chủ biên) - Lê Xuân Lít - Nguyễn Đức Quyền (1987), Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, NXB Sở Giáo
dục Nghĩa Bình, tr.162
Trang 7phồn thực3
lại dùng phương pháp tiếp câ ̣n của phân tâm ho ̣c để tìm kiếm c ội nguồn
và dịch chuyển của tín ngưỡng phồn thực từ các sinh hoạt văn hoá dân gian vào hiê ̣n tượng thơ Hồ Xuân Hương Từ góc nhìn này , Đỗ Lai Thuý đã phân tích tính lấp lửng của các biểu tượng trong thơ Hồ Xuân Hương để ch ỉ ra triết lý , mỹ học phồn thực có cô ̣i nguồn dân gian trong những sáng tác này Có thể thấy, qua cách nhìn của Đỗ Lai Thuý , những hình ảnh trong thơ Hồ Xuân Hương , trong đó có hình ảnh của thế giới tự nhiên (như: Ốc nhồi, Quả mít, và chùm bài vịnh cảnh , đối đáp) tuy dựa trên những quan sát thực tế và được mô tả bằng các chi tiết cu ̣ thể nhưng chúng chủ yếu thuô ̣c về thế giới biểu tượng của sự sùng ngưỡng phồn thực
Thứ hai về lịch sử nghiên cứu thơ văn Bà Huyện Thanh Quan - tác giả nữ của
những năm đầu thế kỷ XIX Thơ bà để lại không nhiều chủ yếu là thơ Nôm viết theo thể Đường luật Giáo sư Dương Quảng Hàm nhận xét “Những bài thơ Nôm của bà phần nhiều là tả cảnh, tả tình nhưng bài nào cũng hay và tỏ ra bà là một người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức, thường nghĩ ngợi đến nhà đến nước, lời văn rất trang nhã điêu luyện” [19, tr.396-397] Qua khảo sát có thể thấy thơ
Bà Huyện Thanh Quan được quan tâm nghiên cứu từ khá sớm với nhiều cuốn sách
được xuất bản như Luận đề về Bà Huyện Thanh Quan của Nguyễn Sỹ Tế xuất bản năm 1953, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều tuyển chọn và
trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới của Tiến Quỳnh xuất bản năm 1991, Người đẹp Nghi Tàm cuộc đời
và thơ Bà Huyện Thanh Quan của Bội Tinh xuất bản năm 1996…
Khác đôi chút với Hồ Xuân Hương, thiên nhiên trong thơ Bà Huyện Thanh
Quan được các học giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Trong cuốn Bà Huyện
Thanh Quan, Đoa ̀ n Thị Điểm , Nguyễn Gia Thiều tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới (1991), soạn giả Tiến Quỳnh đã tập hợp những bài phê bình, bình luận về thơ
3 Đỗ Lai Thúy (in lần thư ́ hai, 2010) , Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, NXB Văn ho ̣c, Hà Nội.
Trang 8Huyện Thanh Quan, trong đó những bài thơ viết thiên nhiên của Huyện Thanh Quan được nhiều nhà nghiên cứu phân tích Chẳng hạn, nhà nghiên cứu Phạm Văn Diêu cho rằng “tâm hồn bà là một không gian lặng lẽ đìu hiu và thơ bà là tiếng lòng sầu muộn, những hơi thở dài chán nản” [48, tr.8] và vì thế nên khung cảnh trong thơ văn bà Huyện Thanh Quan thường là thu cảnh và chiều tà, những cảnh
mờ nhạt của cổ họa, cổ thi [48]
Một nữ tác gia nữa cũng làm tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu,
đó là Đoàn Thị Điểm Bà có biệt hiệu là Hồng Hà Nữ sĩ, một nữ sĩ tài hoa hội tụ
đủ công, dung, ngôn, hạnh, nổi tiếng về tài thơ văn đối đáp Theo các nhà văn bản
học thì bà sáng tác nhiều nhưng tản mát phần lớn, ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm
bà còn là tác giả của tập truyện Truyền kì tân phả và một số ít câu văn câu đối chữ Hán và chữ Nôm Viết về Đoàn Thị Điểm ngoài Thơ tình nữ sĩ Việt Nam (Kiều Văn tuyển chọn), Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm [12], Nữ lưu văn học sử [11] còn một số luận án như Về từ ngữ Hán Việt trong bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm của Đoàn
Thị Điểm4, Nhân vật người phụ nữ trong Truyền kì Tân phả và Lan trì kiến văn học 5 , Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị Thực Lục 6 , Không gian và thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc 7 … Tuy nhiên, xét riêng về thiên nhiên trong thơ
Đoàn Thị Điểm thì chưa thấy ai bàn luận đến
Ngoài ba nữ tác gia trên, văn học trung đại Việt Nam còn ghi nhận sự đóng góp của nhiều nữ sĩ tài hoa như: Trương Thị (Ngọc) Trong, Ngô Chi Lan, Nguyễn Thị Nhược Bích, Nguyễn Tĩnh Hòa, Nguyễn Trinh Thận… tuy nhiên do số lượng tác phẩm của các tác giả nữ này không nhiều hoặc chưa được dịch nên việc tìm hiểu về họ còn hạn hẹp
6 Nguyễn Thị Thanh Vân (2007), Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị Thực Lục, NXB ĐHSP Hà Nội
7 Phạm Thị Thanh Hải (1999), Không gian và thời gian trong Chinh phụ ngâm khúc, NXB ĐHSP Hà Nội
Trang 9Từ những lược điểm trên, có thể nhận thấy hầu hết các bài nghiên cứu, chuyên luận đều tập trung tìm hiểu thân thế, sự nghiệp, tìm hiểu khát vọng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ trong văn học, còn ở một số tác giả nữ tiêu biểu, thiên nhiên được quan tâm như một vấn đề trung gian để phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác
2.2 Lịch sử dẫn nhập và thử nghiệm tìm hiểu văn chương từ phê bình sinh thái ở Việt Nam
Được manh nha vào những năm 70 của thế kỷ XX nhưng phải đến những năm 90 của thế kỷ XX phê bình sinh thái mới thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mỹ và tiếp đó lan ra nhiều nước trên thế giới Theo Scott Slovic, phê bình sinh thái “khảo sát cặn kẽ những ngụ ý về môi trường sinh thái và quan hệ giữa con người - tự nhiên trong bất kỳ văn bản văn chương nào, kể cả
những văn bản (thoạt nhìn) dường như không để ý gì đến thế giới con người” [39]
Như vâ ̣y, phê bình sinh thái ra đời bổ sung thêm mô ̣t hướng tiếp câ ̣n văn chương ,
và hứa hẹn đem lại những gợi ý đối với việc “đọc” lại các sáng tác thời trung đại vốn hình dung mô ̣t quan niê ̣m con người hài hoà với thế giới tự nhiên
Ở Việt Nam từ sau đổi mới, giới nghiên cứu khá cởi mở trong việc tiếp thu các luồng tư tưởng, học thuyết mới nhưng đối với phê bình sinh thái thì vẫn còn
nhiều dè dặt Lí giải hiện tượng đó, Đỗ Văn Hiểu với bài viết Phê bình sinh thái –
khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012) đã chỉ ra những đặc
điểm riêng khiến phê bình sinh thái gặp trở ngại cho sự phát triển, mở rộng ở Việt Nam như: sự cách tân về tư tưởng nòng cốt, chuyển đổi từ tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” sang lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nền tảng, mang sứ mệnh mới là “nhìn nhận lại văn hóa nhân loại”, đồng thời có nguyên tắc mỹ học riêng và xác lập đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng
Những dẫn nhập về phê bình sinh thái được giới thiệu ở Việt Nam chủ yếu là
qua các bài dịch của Đỗ Văn Hiểu và Hải Ngọc như Những tương lai của Phê bình
Trang 10sinh thái và văn học [39] [40], Phê bình sinh thái cội nguồn và sự phát triển [3]…
và Trần Đình Sử với bài viết Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học
hiện nay [33] thì tư tưởng sinh thái đã được vận dụng để xem xét quan hệ giữa văn
quan trọng cho giới nghiên cứu Việt Nam vận dụng những lí thuyết của phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học Đến nay nghiên cứu văn học dưới góc nhìn sinh
thái học ở nước ta đã có những thử nghiệm với các bài viết Đọc cánh đồng bất tận
từ điểm nhìn phê bình sinh thái và Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của Đặng Thị Thái Hà, Khí quyển thơ sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ, bầu trời và những linh hồn của Nhã Thuyên… trình bày tại một số hội thảo Những
tham luận đó có ý nghĩa như mô ̣t thử nghiê ̣m tìm tòi cho một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Từ những khảo sát cu ̣ thể thế giới thiên nhiên qua ngòi bút nữ , phương thức hình dung/biểu tả thiên nhiên , người viết sẽ tìm hiểu : 1) các chủ thể sáng tạo văn chương nữ giới này quan niê ̣m như thế nào về mối quan hê ̣ thiên - nhân quen thuô ̣c đó; 2) quan hê ̣ chi phối , tương tác giữa diễn ngôn chung của mô ̣t thời đa ̣i với mô ̣t
bô ̣ phâ ̣n của nó là giới nữ
Nói cách khác, có thể coi đây là một thử nghiệm tiếp cận văn chương từ phê bình sinh thái với sự kết hợp với góc nhìn giới ở mức độ nhất định
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi tư liệu: Triển khai đề tài Thiên nhiên trong sáng tác của các nữ tác
giả Việt Nam thời trung đại - nhìn từ phê bình sinh thái, tôi sử dụng các tác phẩm
được tuyển chọn trong cuốn Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam với các tác giả nữ
như: Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Trương Thị (Ngọc) Trong, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Tĩnh Hòa… Ngoài ra, người viết cũng tham khảo các tuyển tâ ̣p thơ văn riêng biê ̣t của những nhà văn nữ tiêu biểu
Trang 11- Phạm vi vấn đề : Luận văn chỉ tâ ̣p trung tìm hiểu các sáng tác của các nhà văn nữ thời trung đa ̣i viết về thiên nhiên với tư cách mô ̣t môi trường sống chứ
không tìm hiểu toàn bộ thế giới văn thơ của họ
Trong thực tế, đề tài có phần liên quan đến một hướn g tiếp cận khác là giới
và đòi hỏi phải được xử lý cả từ góc nhìn như vậy mới thấu đáo Tuy nhiên, do khuôn khổ hạn hẹp của một tiểu luận Cao học, chúng tôi xin được gác lại đòi hỏi này, hy vọng sẽ có dịp trở lại trong một dịp khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Do đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu quy đi ̣nh , phương pháp chủ yếu của luận văn là vận dụng kết hợp giữa phương pháp văn học sử và phương pháp liên ngành để giải quyết vấn đề Đồng thời, luâ ̣n văn sẽ kết hợp phân tích, lý giải các sáng tác về thiên nhiên của giới nữ cầm bút thời trung đại Việt Nam với những gợi ý của phê bình sinh thái học (và thi thoảng với vấn đề giới)
Tất cả những tiếp câ ̣n trên sẽ được cu ̣ thể hoá thành thao tác như : phân tích, thống kê, so sánh, để từ đó có cái nhìn chi tiết , đầy đủ và chính xác các nô ̣i dung nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
Với đề tài này , Luâ ̣n văn sẽ góp phần làm rõ thêm mô ̣t vài phương diê ̣n của đời sống văn chương Viê ̣t Nam thời trung đa ̣i , như: đă ̣c điểm của nhóm tác giả nữ trong cách cảm nhận và hình dung môi trường thiên nhiên , thiên nhiên trong văn chương như mô ̣t phản chiếu của quan niê ̣m về quan hê ̣ con người [nữ] với thế giới tự nhiên
Nguy cơ sinh thái đang là vấn đề vô cùng hệ trọng liên quan đến sự tồn vong
của nhân loại Với việc nghiên cứu “Thiên nhiên trong sáng tác của các nữ tác giả
Việt Nam thời trung – nhìn từ phê bình sinh thái” chúng tôi thử nghiệm một cách
tiếp cận mới với sáng tác của các nữ tác giả trung đại Bằng việc thống kê và dựng lại bức tranh thiên nhiên của các tác giả nữ, luận văn sẽ chỉ ra các đặc điểm của
Trang 12việc thể hiện đề tài này qua cái nhìn của người viết [nữ] Và thiên nhiên ở đây sẽ được luận giải chủ yếu như một môi trường sống, thể hiện qua cách hình dung [nữ]
về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, tác động giữa con người với tự nhiên và ngược lại trong thời kì trung đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN, và danh mục TÀI LIỆU THAM KHẢO, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung Chương 2: Toàn cảnh thiên nhiên trong sáng tác của các cây bút nữ Việt Nam thời trung đa ̣i
Chương 3: Thiên nhiên – hình dung và biểu tả của nữ giới về môi sinh trong văn hoá thời trung đa ̣i
Trang 13
NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Thiên nhiên trong quan niệm Việt Nam thời trung đại
1.1.1 Quan niệm của tam giáo về quan hệ thiên – nhân
Quan niệm của Phật giáo về mối quan hệ thiên - nhân
Phật giáo, đặc biệt là Thiền tông, đã tạo nên sự hòa hợp con người và thế giới bên ngoài , trong đó có tự nhiên, xóa bỏ ranh giới ta – vật, nội tâm – ngoại cảnh, trạng thái hòa hợp đó cùng với quan niệm “đối cảnh vô tâm” được coi là chuẩn mực trong cách ứng xử với tự nhiên, xã hội Bên cạnh đó, Phật giáo coi thiên nhiên là sự bảo đảm cho trạng thái cân bằng của con người vì vậy con người phải có nghĩa vụ đối với thế giới tự nhiên Nói cách khác đây là vấn đề đạo đức sinh thái mà Phật giáo đã đặt ra cho con người
Phật giáo coi chúng sinh bình đẳng ở Phật tính Phật giáo Đại thừa xem vạn pháp đều có Phật tính Vạn pháp này không chỉ bao gồm loài vật hữu tình mà bao gồm cả thực vật, vật vô cơ không có tình cảm ý thức Đại sư Trạm Nhiên (711–782) của Thiên Thai Tông định nghĩa rõ ràng: “Loài vô tình có tính giác là chỉ sông núi, đất đai, gạch đá… không có tình cảm ý thức đều có phật tính” [17, tr.128] Thiền Tông còn nhấn mạnh hơn “Hoa vàng thơm ngát không gì chẳng phải
là Bát – nhã, trúc biếc xanh tươi há lại chẳng phải là Pháp thân” [17, tr.128] Dựa trên những nguyên lý này ta có thể thấy theo Phật giáo một cành cây, ngọn cỏ đều
có giá trị tồn tại của nó, hành vi của con người phải có lợi ích cho sự cộng tồn của vạn vật, yêu quý thiên nhiên cũng chính là bổn phận của mỗi con người
Hơn thế, Phật giáo chủ trương hiếu sinh, luôn răn bảo con người không sát sinh Theo thuyết vũ trụ học của Phật giáo thì có hàng hà sa số các thế giới và chủng loài, vì vậy mỗi con người cần phải mở rộng tấm lòng từ bi hỉ xả của mình
Trang 14với tất cả các loài dù là có nhìn thấy hay không nhìn thấy Tất cả các loài có sự sống và không có sự sống trong thiên nhiên đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, giúp đỡ nhau để sinh tồn lâu dài hơn Phật giáo vì vậy được coi là một tôn giáo thân thiện với môi trường, đề xuất một chuẩn mực đạo đức môi sinh cho con người
Quan niệm của Nho giáo về mối quan hệ thiên – nhân
Nếu Phật giáo đề xuất tư tưởng thiên nhân bất nhị (con người và thế giới sinh tồn là một) thì Nho giáo lại chủ trương con người và thiên nhân hợp nhất, coi sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên là chuẩn mực sống của nhân sinh
Nho giáo là một học thuyết đạo đức, quan tâm các quan hệ ứng xử của con người trong gia đình và xã hội như “tam cương ngũ thường”, “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”… Tuy xuất phát từ mối quan tâm đến cuộc sống xã hội của con người nhưng Nho giáo cũng có những luận bàn cụ thể về quan hệ của con người với thế giới bên ngoài, nhất là từ thời kỳ Tống Nho
Nho giáo quan niệm rằng, con người sở dĩ có vị trí hàng đầu là bởi hội tụ mọi tinh hoa của vạn vật trong trời đất "Thủy hỏa hữu khí nhi vô sinh, thảo mộc hữu sinh nhi vô tri, cầm thú hữu tri nhi vô nghĩa Nhân hữu khí, hữu sinh, hữu tri
diệc thả hữu nghĩa Cố tối vi thiên hạ quý dã" (Nước lửa có khí, nhưng không có sự
sống, cây cỏ có sự sống, nhưng không hiểu biết, cầm thú hiểu biết nhưng lại không
có nghĩa Con người có khí, có sự sống có hiểu biết lại có nghĩa Do đó con người
là quý nhất trên đời) [13, tr.11]
Đổng Trọng Thư cũng nhận thấy con người có địa vị trọng yếu giúp trời đất
mà hoàn thành vạn vật Ông khẳng định: trời, đất, âm, dương, mộc, hỏa, thổ, kim, thủy, cộng với người nữa là mười, đến đó là con số của trời Như vậy theo ông khi con người đạt được khí, có sự sống, có hiểu biết…thì con người sẽ đạt tới con số của trời tức là sự hoàn thiện, hoàn mỹ, mới trở thành người đứng đầu vạn vật [13, tr.11] Mặc dù xếp con người vào vị trí hàng đầu trong tự nhiên như vậy nhưng