TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH- KTNN --- TRẦN THỊ NHỚ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THỂ LỰC TRẺ EM LỨA TUỔI TỪ 3 – 5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON YÊN MỸ, XÃ YÊN MỸ, HUYỆN YÊN MÔ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH- KTNN -
TRẦN THỊ NHỚ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THỂ LỰC TRẺ EM LỨA TUỔI TỪ 3 – 5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON YÊN MỸ, XÃ YÊN MỸ,
HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý người và động vật
Người hướng dẫn khoa học
TS DƯƠNG THỊ ANH ĐÀO
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong ban chủ nghiệm khoa Sinh
và các thầy cô trong tổ bộ môn Sinh lí người và động vật đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận của mình
Tôi xin giửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu trường mầm non Yên Mỹ,
xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Tác giả khóa luận
Trần Thị Nhớ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Dương Thị Anh Đào Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác và đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Nêu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nghiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Tác giả khóa luận
Trần Thị Nhớ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.Tình hình nghiên cứu trẻ em lứa tuổi mầm non 3
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 6
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Các chỉ số nghiên cứu 11
2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số 12
2.2.3 Phương pháp xử lí số liệu 14
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15
3.1 Chiều cao đứng của trẻ em từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 15
3.1.1 Chiều cao đứng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 15 3.1.2 Chiều cao đứng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 16
3.1.3 So sánh chiều cao đứng của trẻ em theo tuổi và giới tính 17
3.1.4 So sánh chiều cao trẻ em trường mầm non Yên Mỹ với các nghiên cứu khác 19
3.2.Cân nặng của trẻ em 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 21
3.2.1 Cân nặng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 21
3.2.2 Cân nặng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 22
3.2.3 So sánh cân nặng của trẻ em từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 23
Trang 53.2.4 So sánh cân nặng của trẻ em trường mầm non Yên Mỹ với một số
nghiên cứu khác 25
3.3 Vòng ngực của trẻ em 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 27
3.3.1 Vòng ngực của trẻ em nam từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 27
3.3.2 Vòng ngực của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 29
3.3.3 So sánh vòng ngực của trẻ em từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 30
3.3.4 So sánh vòng ngực trung bình của trẻ em trường mầm non Yên Mỹ với các nghiên cứu khác 31
3.4 Vòng đầu của trẻ em 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 33
3.4.1 Vòng đầu của trẻ em nam 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 33
3.4.2 Vòng đầu của trẻ em nữ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ 34
3.4.3 So sánh vòng đầu của trẻ em từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 35
3.5 Chỉ số BMI của trẻ từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 36
3.6 Chỉ số Pignet của trẻ từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 6DANH MỤC BẲNG
Bảng 2.1.Phân bố trẻ em theo tuổi và giới tính 11
Bảng 2.2 Phân loại BMI đối với nam từ 3-5 tuổi 13
Bảng 2.3 Phân loại BMI đối với nữ từ 3-5 tuổi 13
Bảng 2.4 Phân loại chỉ số pignet 14
Bảng 3.1 Chiều cao đứng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi 15
Bảng 3.2 Chiều cao đứng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi 16
Bảng 3.3 Chiều cao của trẻ em 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 17
Bảng 3.4 So sánh chiều cao của trẻ từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ với các nghiên cứu khác 19
Bảng 3.5 Cân nặng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi 22
Bảng 3.6 Cân nặng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi 23
Bảng 3.7 Cân nặng của trẻ em từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 24
Bảng 3.8 So sánh cân nặng của trẻ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ với các nghiên cứu khác 25
Bảng 3.9 Vòng ngực của trẻ em nam từ 3-5 tuổi 28
Bảng 3.10 Vòng ngực của trẻ em nữ 3-5 tuổi 29
Bảng 3.11 Vòng ngực của trẻ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 30
Bảng 3.12 So sánh vòng ngực của trẻ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ với các nghiên cứu khác 31
Bảng 3.13 Vòng đầu của trẻ em nam từ 3-5 tuổi 33
Bảng 3.14 Vòng đầu của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi 34
Bảng 3.15 Vòng đầu của trẻ em 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 35
Bảng 3.16 Chỉ số BMI của trẻ em 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 37
Bảng 3.17 Chỉ số Pignet của trẻ em 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 39
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Chiều cao đứng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi 16 Hình 3.2 Chiều cao đứng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi 17 Hình 3.3.Chiều cao của trẻ em theo tuổi và giới tính 18 Hình 3.4 Biểu đồ so sánh chiều cao đứng của trẻ em nam trường mầm non
Yên Mỹ với các nghiên cứu khác 20 Hình 3.5 Biểu đồ so sánh chiều cao của trẻ em nữ trường mầm non Yên Mỹ
với các nghiên cứu khác 21 Hình 3.6 Cân nặng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi 22 Hình 3.7 Cân nặng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi 23 Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện cân nặng của trẻ em từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới
tính 24 Hình 3.9 Biểu đồ so sánh cân nặng của trẻ em nam trường mầm non Yên Mỹ
so với các nghiên cứu khác 26 Hình 3.10 Biểu đồ so sánh cân nặng của trẻ em nữ trường mầm non Yên Mỹ
với các nghiên cứu khác 27 Hình 3.11.Vòng ngực của trẻ em nam từ 3-5 tuổi 28 Hình 3.12 Vòng ngực của trẻ em nữ 3-5 tuổi 29 Hình 3.13 Biểu đồ thể hiện vòng ngực của trẻ em 3-5 tuổi theo tuổi và theo
giới tính 31 Hình 3.14 Biều đồ so sánh VNTB của trẻ em trường mầm non Yên Mỹ với
các nghiên cứu khác 32 Hình 3.15 Biểu đồ so sánh VNTB của trẻ em trường mầm non Yên Mỹ với
các nghiên cứu khác 33 Hình 3.16 Vòng đầu của trẻ em nam 3-5 tuổi 34
Trang 8Hình 3.18 Biểu đồ thể hiện vòng đầu của trẻ em từ 3-5 tuổi theo tuổi và theo
giới tính 36 Hình 3.19 Chỉ số BMI của trẻ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính 38 Hình 3.20 Chỉ số pignet của trẻ theo tuổi và giới tính 40
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là mầm non của gia đình, của đất nước và của cả xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước, phải gánh vác công việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng ta
“Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”[16]
Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này cầm nắm vững các đặc điểm về hình thái, thể lực, trí tuệ, tâm sinh lí của trẻ Do đó nghiên cứu đặc điểm hình thái thể lực của trẻ có một vai trò quan trọng
Thực tiễn cho thấy các chỉ số thể lực, trí tuệ con người có thể thay đổi
và phụ thuộc vào thời kì điều tra, điều kiện kinh tế xã hội và môi trường tự nhiên Do vậy các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người nói chung và của trẻ
em nói riêng cần được nghiên cứu thường xuyên và có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định
Trường mầm non Yên Mỹ nằm trên địa bàn xã Yên Mỹ, huyện Yên
Mô, tỉnh Ninh Bình Xã Yên Mỹ là một xã thuần nông, giáp ranh với vùng núi, điều kiện kinh tế còn thấp so với các xã xung quanh, trình độ dân trí chưa cao nên vấn đề dinh dưỡng chăm sóc sức khỏe chưa được quan tâm đồng bộ
Vì thế nhiều trẻ còn thấp còi, hay mắc các bệnh như đau mắt, tiêu chảy… Ở địa bàn xã thì chưa có nghiên cứu nào về hình thái thể lực của trẻ nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái thể lực của trẻ
em lứa tuổi 3 - 5 tuổi, Trường mầm non Yên Mỹ”
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng một số chỉ tiêu sinh học của trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Yên Mỹ - xã Yên Mỹ - huyện Yên Mô - tỉnh Ninh Bình
Từ đó đề ra một số kiến nghị về chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Là đề tài nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm hình thái thể lực của trẻ từ
3-5 tuổi của trường mầm non Yên Mỹ
Góp phần đề xuất kế hoạch chăm sóc trẻ em, tránh được tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ Qua đó tìm ra chế độ dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.Tình hình nghiên cứu trẻ em lứa tuổi mầm non
Thể lực của con người là khái niệm phản ánh cấu trúc tổng hợp của cơ thể, đặc biệt có liên quan chặt chẽ đến khả năng lao động, sức lao động và thẩm mỹ của con người Vì vậy các chỉ số này từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm [8]
Chiều cao đứng của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học trước cả giai đoạn hình thành khoa học nhân trắc Ý nghĩa phổ biến hơn cả của chiều cao đứng là ở chỗ được coi như là biểu hiện của thể lực và nó là một chỉ tiêu quan trọng trong các công tác tuyển chọn vào bộ đội, làm thợ trong sản xuất… [8]
Chỉ số cân nặng được thường xuyên khai thác trong các nghiên cứu thể lực của con người Cân nặng được chia làm hai phần: phần cố định chiếm 1/3 khối lượng cơ thể bao gồm xương, da, nội tạng và thần kinh… Phần không cố định chiếm 2/3 khối lượng cơ thể bao gồm khối cơ, mỡ và nước [8]
Vòng ngực được coi là một đặc trưng cơ bản của thể lực Những người đầu tiên để ý đến số đo vòng ngực là một bác sĩ lâm sàng ở đầu thế kỷ XIX, khi họ nhận thấy có sự liên quan giữa mức độ phát triển của lồng ngực và các bệnh hô hấp Cuối thế kỷ XIX vòng ngực trở thành chỉ tiêu tuyển chọn binh lính và công nhân lao động [10]
Trong mối quan hệ giữa môi trường và sức khỏe, các đặc điểm hình thái thể lực được coi là thước đo một mặt về sức khỏe, mặt khác về khả năng lao động Cùng với sự phát triển của Y học và Sinh học các công trình nghiên cứu hình thái thể lực luôn được bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử và đến nay vẫn là vấn đề thời sự, khoa học về con người nên việc nghiên cứu hình thái thể lực này càng phát triển mạnh mẽ [8]
Trang 12Mỗi giai đoạn phát triển của cá thể con người có những đặc điểm riêng
về mặt cấu tạo chức năng Chính những đặc điểm này đã xác định sự khác nhau trong quá trình phát triển giữa các lứa tuổi [11], [14]
Hiện nay có nhiều cách phân chia các thời kì phát triển cá thể của con người Các tác giả như Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan [11], Đức Minh và một
số tác giả khác [14] chấp nhận cách phân chia của Viện Hàn Lâm sư phạm Liên Xô, vì nhận thấy cách phân chia này phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của người Việt Nam và có thể ứng dụng trong hệ thống giáo dục trẻ em Viêt Nam Theo các tác giả, thì lứa tuổi mầm non gồm 2 giai đoạn: giai đoạn từ 1 – 3 tuổi (giai đoạn tuổi thơ sớm hay tuổi vườn trẻ) và giai đoạn từ 3 – 6 tuổi (giai đoạn tuổi thơ đầu hay tuổi mẫu giáo) Ở mỗi giai đoạn, sự phát triển của trẻ có những đặc điểm riêng
Đặc điểm nổi bật của trẻ từ 1- 3 tuổi là sự phát triển và hoàn chỉnh hóa các hệ cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh Trẻ em trong giai đoạn này được làm quen với nhiều loại thức ăn và đồ vật khác nhau của môi trường Kết quả của sự tiếp súc đa dạng đó không chỉ dẫn tới những thay đổi
về mặt hình thái thể lực mà cả sự phát triển trí tuệ cũng thay đổi [11]
Đặc điểm của trẻ em từ 3- 6 tuổi là chiều cao và khối lượng cơ thể phát triển chậm hơn giai đoạn trước Tốc độ tăng vòng đầu cũng chậm hơn [11] Tóm lại chức năng sinh học và xã hội cơ bản của trẻ em lứa tuổi mầm non là sinh trưởng và phát triển
Nhiều công trình nghiên cứu về thể lực đã cho thấy sự khác nhau giữa trẻ
em thành phố và trẻ em nông thôn, giữa nam và nữ Trên thực tế sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể và môi trường [13]
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hình thái và thể lực là những đặc điểm sinh thể quan trọng Phản ánh một phần thực trạng của cơ thể và đặc biệt liên quan chặt chẽ đến khả năng
Trang 13lao động thẩm mỹ của con người Vì vậy đã từ lâu hình thái và thể lực đã được
nhiều nhà y học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu
Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm khi nghiên cứu con người là hình thái Từ thế kỉ thứ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực [12] Sau này các nhà khoa học giải phẫu kiêm họa sĩ thời phục hưng Leonard De Vinci, Mikenlangielo, Raphael… đã tìm hểu rất kĩ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa lên tác phẩm hội họa Mối quan hệ giữa hình thái và môi trường cũng được nghiên cứu sớm mà đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và
Volanski
Những nghiên cứu tăng trưởng và phát triển của trẻ em đầu tiên vào khoảng thế kỉ XVIII Quyển sách đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao ở người “Waschtum der menschen in die lange” của J.A.Stoeller được xuất bản
ở Magdeburg (Đức) vào năm 1729, trước khi có sách giáo khoa bệnh học trẻ
em của Rosen von Rosenstein(1753) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa có
số liệu đo đạc cụ thể
Rudolf Martin, người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua 2 tác phẩm nổi tiếng: “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước cơ thể, cho đến nay vẫn được
sử dụng [19], [25]
Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross-Sectional Study) là phương pháp được dùng phổ biến do ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện được trên nhiều đối tượng cùng một lúc Đây là nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng ở trẻ em được trình bày trong luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert Halle (Đức) năm 1754 Trong đó đã trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao và các đại lượng khác của một loạt trẻ trai và trẻ
Trang 14gái từ 1 đến 25 tuổi tại trại trẻ mồ côi hoàng gia ở Berlin và một số nơi khác ở Đức
Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao được thực hiện bởi Philibert Guseneau de Montbeilard ở con trai của mình từ năm 1759 – 1777 [21] Trong 18 năm liên tục, mỗi năm đo được 2 lần cách nhau 6 tháng Đây là một phương pháp tốt nhất đã được ứng dụng cho điến ngày nay Sau đó còn có chương trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Calschule ở Đức, H.P.Bowditch ở Mỹ, Paul Godin ở Pháp,… Năm 1977, hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới
1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước
Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh thái học của người Đông Dương” của P.Huard và Đỗ Xuân Hợp (1942), Đỗ Xuân Hợp (1943) [20] được xem là những công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam
Những công trình nghiên cứu về hình thái thể lực đã được trình bày trong hội nghị tổng kết về hằng số sinh học ở người Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào năm 1972, do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ trì Trong hội nghị này, các tác giả Việt Nam đã thống nhất các phương pháp cụ thể khi đo các chỉ số của con người và tổng kết các kết quả nghiên cứu của các tác giả và được tập hợp lại trong quyển “Hằng số sinh học người Việt Nam” xuất bản năm 1975 do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên [23]
Năm 1974 cuốn “Nhân thái học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam” của Nguyễn Quang Quyền ra đời [17] Nó được coi là một cuốn sách đầu tay cho những người nghiên cứu nhân thái học đầu tiên ở Việt Nam
Từ sau năm 1975, các công trình nghiên cứu hình thái, thể lực con người được phát triển rộng trên toàn quốc, kể cả một số vùng dân tộc ít người
Trang 15Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy trong 6 tháng đầu sau đẻ mô hình tăng trưởng của trẻ em ở các nước không phân biệt chủng tộc gần như nhau Từ 6 tháng tuổi trở đi thì tốc độ tăng trưởng của trẻ em nước ta nói riêng và các nước nghèo nói chung chậm hơn trẻ em các nước phát triển, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng của trẻ Đến cuối năm thứ nhất, chiều cao tăng thêm 24cm, cân nặng tăng thêm 6kg Từ năm thứ hai đến năm thứ năm cân nặng và chiều cao vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm hơn so với những năm đầu, cân nặng mỗi năm tăng từ 1,3 – 1,8
kg, chiều cao tăng từ 5-8 cm Trẻ trai phát triển nhanh hơn trẻ gái [3]
Năm 1976-1989, Vũ Thị Chín nghiên cứu về các chỉ số phát triển sinh
lý, tâm lý của trẻ em từ 0-3 tuổi và xây dựng được biểu đồ phát triển về chiều cao cân nặng của trẻ [4]
Năm 1977, theo đề tài KX – 07 – 07 của Lê Nam Trà làm chủ biên
“Bàn về đặc điểm tăng trưởng của người Việt Nam” đưa ra nhận xét: Nhìn chung các kích thước cơ thể (cân nặng, chiều cao, vòng đầu…) đều tăng dần theo tuổi Vì giai đoạn này là giai đoạn lớn đều, từ 4 tuổi trở đi thì có sự khác nhau về cân nặng giữa nam và nữ là có thật [19]
Năm 1989 Thẩm Thị Hoàng Điệp và cộng sự [7] đã nghiên cứu chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới… trên 8000 người Việt Nam từ
1 – 55 tuổi ở ba miền Bắc – Trung – Nam Các tác giả nhận thấy có quy luật gia tăng về chều cao của người Việt Nam, tăng 4cm/20 năm
Năm 1992, Trần Triết Sơn và cộng sự [24] chọn ngẫu nhiên 165 sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Hà Nội để nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể lực Kết quả cho thấy, thể lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình,
và có chiều cao trung bình (nam là 162,9 cm và nữ là 155,5 cm) cao hơn sinh viên Việt Nam cùng lứa tuổi
Trang 16Năm 1993, Bùi Văn Đăng và cộng sự [6] tiến hành nghiên cứu thể lực của 1221 sinh viên Đại học Y Thái Bình (thuộc tám tỉnh đồng bằng bắc bộ) Kết quả cho thấy, các chỉ số thể lực của sinh viên Y Thái Bình tương đương với số liệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam 1975” [23]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [18] đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái của người Việt Nam từ 1-25 tuổi ở Nghệ Tĩnh Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng bằng Bắc Bộ Tác giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái thể lực theo giới tính Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người
Năm 1994, Nguyễn Hữu Choáng và cộng sự [5] đã nghiên cứu thể lực của nam thanh niên quận Hồng Bàng, Hải Phòng qua đợt khám nghĩa vụ quân
sự Các tác giả cho thấy, từ 18 đến 25 tuổi, sự phát triển chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của nam thanh niên quận Hồng Bàng, Hải Phòng đã chững lại hay vẫn còn tăng nhưng mức độ không đáng kể
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng [9] đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoạn 1981 – 1985” trên 13223 người thuộc cả ba miền của đất nước Kết luận của công trình nghiên cứu này
là người Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao (trung bình là 163 cm
ở nam và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới, nhẹ cân, có phần trên của thân thuộc loại trung bình, hơi dài Một số chỉ số nhân trắc hình thái có số đo trung bình tăng dần từ Bắc vào Nam
Năm 1991-1995, qua các nghiên cứu dọc (của Thẩm Hoàng Diệp, Trần Đình Long và cộng sự, Nguyễn Công Khanh và cộng sự) và các nghiên cứu ngang của (Cao Quốc Việt và cộng sự, Trần Văn Dần và cộng sự) trên học
Trang 17sinh Hà Nội và một số tỉnh phía bắc có thể nêu lên nhận xét như sau về sự tăng trưởng của trẻ em lứa tuổi 6 – 17 tuổi
Chiều cao đứng trung bình hằng năm của trẻ trai từ 4,5 – 5 cm và con gái từ 3,5 – 4,5 cm Cân nặng trung bình của con trai là 3kg/năm và của con gái là 2,5 kg/năm Mức tăng trưởng về chiều cao và cân nặng của trẻ em thành phố và thị xã cao hơn trẻ em nông thôn
Năm 1996, Trần Đình Long và cộng sự [15] qua nhiều nghiên cứu đặc điểm sự phát triển cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường học ở Hà Nội
đã cho thấy, từ 17 đến 18 tuổi sự phát triển của cơ thể của cả hai giới đều chậm lại rõ rệt hoặc chững lại
Từ năm 1995 – 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và cộng sự nghiên cứu trên
10339 trẻ em từ 1 – 36 tháng tuổi và 11985 trẻ em từ 37 – 72 tháng tuổi tại
Hà Nội, Hà Tây, Hà Bắc, Ninh Bình, Nam Hà Kết quả cho thấy từ 5 – 72 tháng tuổi, mức tăng chiều cao nhanh hơn so với mức tăng cân nặng [3]
Năm 1998, Nguyễn Kỳ Anh và cộng sự [1], sau khi đối chiếu so sánh các kết quả nghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra nhận xét rằng thanh niên Việt Nam lớp tuổi từ 14 – 18 ở nữ và 16 – 18 ở nam lớn chậm hơn so với các lớp tuổi trước đó
Năm 1998, Vũ Thanh Bình [2] nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực
và chức năng sinh lý của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương 1 đã nhận thấy, sinh viên ở đây có thể lực tốt hơn sinh viên các trường đại học khác và thuộc loại tốt so với sinh viên Việt Nam nói chung Có thể coi những khác biệt này là do đặc trưng thể lực của sinh viên năng khiếu và tác động của việc rèn luyện thể chất ở tốc độ cao
Trong quyển “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90-thế kỷ XX” do GS.TS.Lê Ngọc Trọng làm tổng biên tập đã tổng kết toàn
bộ kết quả nghiên cứu trong 6 năm về các giá trị sinh học của người Việt Nam
Trang 18và đã phần nào nêu lên được quy luật tăng trưởng hình thái và thể lực của trẻ
em Việt Nam nói riêng và của người Việt Nam nói chung [22]
Từ năm 1998 – 2000, Trần Thị Loan [13], [14] nghiên cứu trên trẻ em
Hà Nội từ 6 – 17 tuổi cho thấy, các chỉ số chiều cao cân nặng của trẻ em lớn hơn so với các kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỉ 80 trở về trước và so với trẻ em Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của trẻ em
Nhìn chung, thì có rất nhiều các công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái, thể lực người Việt Nam Các công trình này đều nói lên hình thái thể lực phụ thuộc vào điều kiện sống, địa bàn nghiên cứu, thời gian nghiên cứu… và có sự biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính
Trang 19CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 209 trẻ em trường mầm non Yên Mỹ, xã Yên Mỹ, huyện Yên
Mô, tỉnh Ninh Bình có độ tuổi từ 3-5 tuổi, có trạng thái tâm lý và sức khỏe bình thường, không có dị tật bẩm sinh và bệnh mãn tính Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính như sau
Bảng 2.1.Phân bố trẻ em theo tuổi và giới tính
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu
Trang 202.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số
Chiều cao đứng
Được đo từ gót chân sát mặt đất đến đỉnh đầu Học sinh đứng ở tư thế
nghiêm trên nền phẳng, hai gót chân chạm vào nhau, hai tay buông thẳng, bàn
tay úp vào mặt ngoài của đùi, mắt nhìn thẳng Bốn điểm: chẩm, mông, lưng, gót chạm vào thước đo
Trọng lượng cơ thể
Dụng cụ để đo là loại cân đồng hồ của Trung Quốc có độ chính xác đến 0,1 kg Khi cân học sinh phải bỏ giầy, dép, áo khoác và đứng vào giữa bàn cân Đơn vị đo là kilogam
Vòng ngực trung bình
Dụng cụ để đo vòng ngực trung bình là thước dây bằng vải của Trung Quốc có vạch chia tới 1mm Khi đo tiến hành vòng dây phía sau vuông góc với cột sống, sát bả vai, phía trước qua mũi ức sao cho chu vi thước đo tạo thành nằm trên mặt phẳng ngang song song với mặt đất Tiến hành đo khi học sinh hít vào tối đa và thở ra tối đa sau đó lấy trung bình cộng của hai đơn vị này Đơn vị đo vòng ngực trung bình là centimet
Trang 21Center for Chronic Disease Prevention and Health Promotion) gọi tắt là CDC,
của Mỹ để so sánh và đánh giá mức độ gầy béo của cơ thể
Bảng 2.2 Phân loại BMI đối với nam từ 3-5 tuổi
17.2
13.7 – 16.8
13.5 – 16.8 Từ 5- 85 Bình thường
17.2 - 18.3
16.8 – 18.0
16.8 – 18.2 Từ 85 - 95 Nguy cơ
béo phì
≥ 18.3 ≥ 18.0 ≥ 18.2 Trên 95 Béo phì
Trang 22Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng của trẻ em theo khuyết nghị của tổ chức y tế thế giới WHO theo ba chỉ tiêu sau:
Cân nặng theo tuổi Chiều cao theo tuổi Cân nặng theo chiều cao
Chỉ số pignet đƣợc tính theo công thức
Pignet = chiều cao đứng (cm) - [cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)]
So sánh chỉ số pignet của trẻ so với chỉ số pignet theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền và cộng sự [19] để đánh giá thể lực
Bảng 2.4 Phân loại chỉ số pignet
STT Chỉ số Pignet Phân loại
Trang 23CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Chiều cao đứng của trẻ em từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ
Chiều cao đứng là một trong những chỉ số hình thái cơ bản phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể Các nghiên cứu cho thấy chiều cao đứng thay đổi theo tuổi, giới tính, chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và ngoại cảnh
Sau khi tiến hành đo chiều cao đứng của 209 trẻ 3 – 5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ tôi đã thu được kết quả như sau:
3.1.1 Chiều cao đứng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của trẻ em nam lứa tuổi mầm non
Tổng 105 Tăng trung bình / năm 6,27
Số liệu bảng 3.1 cho thấy chiều cao của trẻ em nam có xu hướng tăng dần theo tuổi Cụ thể là chiều cao của trẻ em nam tăng từ 94,97±2,74 cm lúc 3 tuổi lên 101,66±3,96 cm lúc 5 tuổi Tuy nhiên, chiều cao của trẻ em nam tăng
Trang 24không đều theo lứa tuổi Mức tăng chiều cao của trẻ em nam ở giai đoạn từ 3 tuổi lên 4 tuổi là 6,68 cm, nhưng điến giai đoạn từ 4 tuổi lên 5 tuổi mức tăng của chiều cao giảm xuống còn 5,86 cm
Hình 3.1 Chiều cao đứng của trẻ em nam từ 3-5 tuổi
3.1.2 Chiều cao đứng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi trường mầm non Yên Mỹ
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của trẻ em nữ lứa tuổi mầm non 3-5 tuổi được thể hiện ở bảng 3.2 và hình 3.2
Bảng 3.2 Chiều cao đứng của trẻ em nữ từ 3-5 tuổi
4 32 101,34 ± 4,37 7,87 P(3,4)>0,05
5 36 106,92 ± 3,97 5,57 P(4,5)>0,05 Tổng 104 Tăng trung bình / năm 6,72
Số liệu bảng 3.2 cho thấy, chiều cao của trẻ em nữ có xu hướng tăng dần theo tuổi Chiều cao của trẻ em nữ tăng từ 93,47±2,81 cm lúc 3 tuổi đến
Trang 25106,92±3,97 cm lúc 5 tuổi Nhƣ vậy, từ 3 đến 5 tuổi chiều cao của em nữ tăng thêm 13,44 cm, tăng trung bình 6,72 cm/năm
Hình 3.2 Chiều cao đứng của trẻ em nữ 3-5 tuổi
3.1.3 So sánh chiều cao đứng của trẻ em theo tuổi và giới tính
Kết quả so sánh chiều cao của trẻ em lứa tuổi mầm non từ 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính đƣợc thể hiện qua bảng 3.3 và hình 3.3
Bảng 3.3 Chiều cao của trẻ em 3-5 tuổi theo tuổi và giới tính
Trang 26106,92 cm Tuy nhiên sự khác biệt về chiều cao của trẻ em theo giới tính là không đáng kể (p > 0,05) Tốc độ tăng trưởng chiều cao đứng ở trẻ em nam
và nữ là không giống nhau Cụ thể là ở nam từ 3 lên 4 tuổi tăng 6,68 cm từ 4 lên 5 tuổi tăng 5,86 cm , ở nữ từ 3 lên 4 tuổi tăng 7,87 cm từ 4 lên 5 tuổi tăng 5,57 cm
Tốc độ tăng chiều cao của trẻ em nữ lớn hơn so với trẻ em nam Tuy nhiên mức độ chênh lệch không đáng kể Điều này cho thấy, từ 3-5 tuổi chưa
có sự khác biệt về tốc độ phát triển chiều cao giữa nam và nữ Ở giai đoạn 3-4 tuổi tốc độ tăng chiều cao của trẻ em cao hơn ở giai đoạn 4-5 tuổi Điều này
có thể giải thích như sau: trẻ tăng chiều cao theo tuổi nhưng tốc độ tăng giảm dần theo các năm và đến tuổi dậy thì chiều cao lại tăng vọt do nội tiết tố thay đổi nhưng sau dậy thì chiều cao không tăng nữa
Hình 3.3 Chiều cao của trẻ em theo tuổi và giới tính
Trang 273.1.4 So sánh chiều cao trẻ em trường mầm non Yên Mỹ với các nghiên cứu khác
Bảng 3.4 So sánh chiều cao của trẻ em 3-5 tuổi trường mầm non Yên
Mỹ với các nghiên cứu khác
Giới tính
Tuổi Hằng số sinh học
Người Việt Nam (HSSH)1975 [23]
Gía trị sinh học người Việt Nam Thập kỉ 90 (GTSH) [22]
Chẩn tăng trưởng của trẻ em toàn Thể Giới
2006
Trần Thị Nhớ