1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam

178 500 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp lý về kế toán khoản dự phòng nợ phải trả bao gồm hoàn thiện tài khoản kế toán của tác giả chỉ áp dụng cho kế toán ở công ty kinh doanh chứng khoán

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH



ĐẶNG THỊ HỒNG HÀ

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ

TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

XÂY LẮP Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017

Header Page 1 of 166.

Footer Page 1 of 166.

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH



ĐẶNG THỊ HỒNG HÀ

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ

TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

XÂY LẮP Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

ĐẶNG THỊ HỒNG HÀ

Header Page 3 of 166.

Footer Page 3 of 166.

Trang 4

ii

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Trang

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các sơ đồ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 16

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG 16

VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 16

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN 16

1.1.1 Rủi ro và sự hình thành các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong doanh nghiệp 16

1.1.2 Nội dung, đặc điểm của các khoản dự phòng nợ phải trả 21

1.1.3 Nội dung, đặc điểm của tổn thất tài sản và dự phòng tổn thất tài sản 25

1.2 CÁC CƠ SỞ KẾ TOÁN, LOẠI HÌNH KẾ TOÁN, NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN CHI PHỐI ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN 27

1.2.1 Cơ sở kế toán 27

1.2.2 Loại hình kế toán 28

1.2.3 Các nguyên tắc kế toán chi phối đến sự hình thành các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 30

1.3 KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 34

1.3.1 Điều kiện ghi nhận các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong doanh nghiệp 34

1.3.2 Xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong doanh nghiệp 39

1.3.3 Thu nhận thông tin ban đầu về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 44 Header Page 4 of 166.

Footer Page 4 of 166.

Trang 5

iii

1.3.4 Hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản

trong doanh nghiệp 46

1.3.5 Trình bày thông tin về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trên báo cáo tài chính doanh nghiệp 51

1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN 53

1.4.1 Kế toán dự phòng và tổn thất tài sản theo trường phái kế toán các nước Anglo-Saxon 53 1.4.2 Kế toán dự phòng và tổn thất tài sản theo trường phái kế toán Châu Âu lục địa 62

1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với kế toán Việt Nam 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 65

Chương 2 66

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở VIỆT NAM 66

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở VIỆT NAM 66

2.1.1 Khái quát chung về ngành Xây dựng Việt Nam 66

2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của các doanh nghiệp xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam 74

2.1.3 Những đặc điểm của hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 76

2.2 KHUNG PHÁP LÝ VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 80

2.2.1 Giai đoạn trước khi ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam 80

2.2.2 Giai đoạn sau khi ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam 82

2.3 THỰC TRẠNG KHẢO SÁT RỦI RO ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở VIỆT NAM 85

2.4 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở VIỆT NAM 87

2.4.1 Thực trạng về ghi nhận và xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 87

2.4.1.1 Thực trạng về ghi nhận các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 87

Header Page 5 of 166.

Footer Page 5 of 166.

Trang 6

iv

2.4.1.2 Thực trạng về xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 92

2.4.2 Phương pháp kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 98

2.4.2.1 Thu nhận thông tin ban đầu về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 98

2.4.2.2 Xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán 102

2.4.2.3 Trình bày thông tin về các khoản dự phòng trên các báo cáo tài chính 103

2.5 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở VIỆT NAM 105

2.5.1 Những kết quả đạt được 105

2.5.1.1 Hệ thống các quy định pháp lý về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 105

2.5.1.2 Thực trạng kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 106

2.5.2 Những vấn đề tồn tại về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 108

2.5.2.1 Tồn tại trong các quy định pháp lý về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 108

2.5.2.2.Tồn tại về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 109

2.5.3 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 111

2.5.3.1 Do những hạn chế trong quy định pháp lý về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản ở Việt Nam 112

2.5.3.2 Do những hạn chế trong việc vận dụng kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 114

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 116

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở VIỆT NAM 117 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 117

Header Page 6 of 166.

Footer Page 6 of 166.

Trang 7

v

3.2 YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở

VIỆT NAM 121

3.2.1 Yêu cầu hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 121

3.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam 123

3.3 HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 124

3.3.1 Xây dựng, ban hành chuẩn mực kế toán về tổn thất tài sản 124

3.3.2 Hoàn thiện chế độ kế toán Việt Nam về hướng dẫn các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 126

3.4 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP Ở VIỆT NAM 127 3.4.1 Về ghi nhận các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 127

3.4.2 Về xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 134

3.4.3 Về phương pháp kế toán các khoản dự phòng 144

3.5 KIẾN NGHỊ ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 162

3.5.1 Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước 162

3.5.2 Về phía các doanh nghiệp xây lắp 164

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 166

KẾT LUẬN 167

Header Page 7 of 166.

Footer Page 7 of 166.

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh

BOT Xây dựng, vận hành, chuyển giao BMI Tổ chức nghiên cứu, đánh giá về kinh tế, tài

GAAP Nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận

FASB Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính

Trang 9

3.2 Bảng tính tỷ lệ bảo hành CTXL qua các năm của công trình

xây dựng dân dụng tại Tổng công ty xây dựng dân dụng Hà Nội

3.12 Bảng kê tổng hợp các khoản dự phòng và tổn thất tài sản 150

Footer Page 9 of 166.

Trang 10

viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

2.1 Biểu đồ 2.1 Giá trị sản xuất theo giá hiện hành của ngành

2.2 Biểu đồ 2.2 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện

phân theo thành phần kinh tế cho ngành Xây dựng 71

2.3 Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong ngành

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam kéo theo sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp (DN) Trong một môi trường cạnh tranh gay gắt, nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động, các DN sẽ không tránh khỏi việc gặp phải các rủi ro, tổn thất tài sản trong quá trình hoạt động Việc kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản có thể giúp cho DN xử lý tốt hơn với những tổn thất có thể xảy ra, từ đó DN sẽ chủ động hơn trong quản lý tài sản của mình

Dựa trên nền tảng của các chuẩn mực kế toán quốc tế, Việt Nam đã ban hành chuẩn mực và thông tư hướng dẫn về các khoản dự phòng, chưa ban hành chuẩn mực kế toán về tổn thất tài sản Tuy nhiên, so với chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới thì các quy định và hướng dẫn liên quan đến việc trích lập và hạch toán các khoản dự phòng của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, nội dung trong chuẩn mực còn chưa đầy đủ, các hướng dẫn của chuẩn mực còn trừu tượng nên dẫn đến việc vận dụng vào thực tế của các doanh DN hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong các DN hoạt động trong lĩnh vực xây lắp với những đặc thù riêng mà theo đó các khoản dự phòng và tổn thất tài sản có ảnh hưởng đáng kể trong quản lý tài sản của DN Điển hình như tài sản cố định (TSCĐ), đặc biệt là máy móc, thiết bị sử dụng trong thi công xây dựng các sản phẩm xây lắp có giá trị rất lớn có thể

bị suy giảm giá trị trong quá trình sử dụng do tác động của các yếu tố đặc thù của hoạt động sản xuất xây lắp như công nghệ thi công thay đổi, mỗi sản phẩm xây lắp có đặc điểm kỹ thuật sản xuất khác nhau,…; hay sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, thời gian sản xuất kéo dài, tổ chức quản lý sản xuất phức tạp nên dẫn đến các rủi ro khác nhau trong quá trình hoạt động sản xuất sản phẩm như rủi ro về thu hồi công nợ, rủi ro trong thực hiện hợp đồng kinh tế, rủi ro về bảo hành công trình xây lắp (CTXL),…có ảnh hưởng sống còn đến sự tồn vong và phát triển của DN xây lắp (DNXL)

Trong những năm vừa qua, mặc dù Việt Nam cũng đã có những thành công nhất định trong việc hoàn thiện hệ thống kế toán với việc ban hành hệ thống văn bản Header Page 11 of 166.

Footer Page 11 of 166.

Trang 12

2

pháp quy như luật Kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các thông tư hướng dẫn góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế của các DN và có những kết quả đáng kể Tuy nhiên, việc vận dụng hệ thống văn bản pháp quy về kế toán trong quản lý kinh tế tại các DN nói chung và các DNXL nói riêng vẫn còn những vấn đề bất cập cần tiếp tục phải hoàn thiện để nâng cao chất lượng thông tin cung cấp cho các bên liên quan Chính vì vậy, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL là vấn đề mang tính thời sự và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài

“Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình

2 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Trong thời gian gần đây, kế toán về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bàn luận sôi nổi trên các diễn đàn về các khía cạnh khác nhau do thông tin về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản luôn được xem là thông tin quan trọng trong quá trình quản lý mỗi DN và việc phản ánh đầy đủ, trung thực các khoản dự phòng và tổn thất tài sản là vấn đề khá phức tạp Trong tổng quan nghiên cứu của luận án, tác giả tập trung vào các công bố mang tính điển hình sau đây

 Về kế toán các khoản dự phòng nợ phải trả Phân biệt giữa các khoản dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng được Nguyễn Đào Tùng nghiên cứu năm 2006, bài báo đã chỉ ra sự khác biệt và cách nhận diện khoản

dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng Các nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp lý về kế toán khoản dự phòng nợ phải trả bao gồm hoàn thiện tài khoản kế toán của tác giả chỉ

áp dụng cho kế toán ở công ty kinh doanh chứng khoán; Phạm Hoài Hương (2007) trong nghiên cứu của mình đã làm rõ bản bản chất của nội dung phản ánh ở các tài khoản dự phòng theo quy định pháp lý của kế toán Việt Nam; Đoàn Vân Anh (2006) bàn đến hoàn thiện nội dung kế toán khoản dự phòng nợ phải trả trong nghiên cứu về

kế toán dự phòng phải trả về phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa: Tiếp cận từ nguyên Header Page 12 of 166.

Footer Page 12 of 166.

Trang 13

3

tắc dồn tích; Nguyễn Thị Bình (2010) chỉ ra những tồn tại trong quy định của chế độ

kế toán Việt Nam hiện hành về ghi nhận dự phòng và phương hướng hoàn thiện những bất cập đó; Mai Ngọc Anh (2012) đã nghiên cứu về phương pháp xác định các ước tính kế toán theo chuẩn mực và chế độ kế toán DN Việt Nam, tác giả đã đánh giá những ưu điểm, những hạn chế của các phương pháp đang được áp dụng phổ biến làm cơ sở để đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán và thực tế ở DN về các phương pháp xác định các ước tính kế toán Như vậy, kế toán dự phòng nợ phải trả theo quy định pháp lý hiện hành đã được các nhà nghiên cứu đề xuất các giải pháp ngày càng hoàn thiện hơn, các công trình nghiên cứu thời kỳ đầu chủ yếu tập trung vào làm rõ sự bất cập của chế độ kế toán Việt Nam về các khoản dự phòng và các công trình nghiên cứu công bố gần đây thì ngoài việc chỉ ra thêm các vấn đề bất cập đã tập trung sang các đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn quy định pháp lý của Việt Nam về các khoản dự phòng

 Về kế toán các khoản dự phòng tổn thất tài sản

Dự phòng tổn thất tài sản được Trần Tiến Hưng (2005) đề cập với góc độ Nhà nước cần có quy định bắt buộc tất cả các loại hình DN phải thực hiện việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, đồng thời phải có biện pháp quản lý chặt chẽ việc sử dụng các khoản dự phòng để xử lý nợ; Tác giả Nguyễn Viết Lợi (2006) đề cập trong nghiên cứu “Các chính sách Tài chính - Thuế - Kế toán trong xử lý các khoản dự phòng ở DN” cho rằng cần có những thay đổi trong nhận thức và quan niệm về mối quan hệ giữa các chính sách tài chính, thuế, kế toán và sự vận dụng quan niệm mới để giải quyết thực tế những nội dung đang chứa đựng những bất cập trong xử lý các khoản dự phòng ở ba loại công cụ quản lý này Về các vấn đề cụ thể trong kế toán tổn thất tài sản ngắn hạn được Bùi Hồng Thanh (2006) chỉ ra trong nghiên cứu của mình

về bất hợp lý trong quy định về thời gian trích lập dự phòng đối với các khoản nợ phải thu khó đòi và vấn đề thuế giá trị gia tăng trong dự phòng phải thu khó đòi, từ đó tác giả đưa ra phương hướng nhằm giải quyết những bất cập đó; Phan Đức Dũng (2006) đã bổ sung thêm phương pháp ước tính khi lập dự phòng nợ phải thu khó đòi Header Page 13 of 166.

Footer Page 13 of 166.

Trang 14

4

theo tỷ lệ doanh thu, theo tỷ lệ khoản phải thu và theo độ dài thời gian của khoản phải thu (tuổi nợ của khoản phải thu) do phương pháp trực tiếp vi phạm nguyên tắc phù hợp; Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Công (2007) chỉ ra rằng các khoản tổn thất thực tế do giảm giá hay các khoản dự phòng không dùng đến phát sinh trong năm

kế hoạch phải được ghi nhận vào các tài khoản phản ánh dự phòng, từ đó tác giả cũng đưa ra cách xác định chính xác chi phí và thu nhập của từng hoạt động; Phạm Thị Quyên (2008) chỉ ra rằng việc lập dự phòng tổn thất tài sản thông qua các chỉ tiêu tài chính chưa thực sự mang lại tính tin cậy, tác giả cũng cho rằng sự tổn thất của một số tài sản đầu tư được lập dự phòng chưa đầy đủ hoặc chưa được lập dự phòng và sự tác động do những tổn thất về tài sản mà không được trích lập dự phòng hoặc mức trích lập dự phòng quá thấp so với giá trị tài sản bị tổn thất làm cho người sử dụng thông tin không đánh giá chính xác tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN

 Về kế toán tổn thất tài sản Một số công trình nghiên cứu chỉ ra rằng việc vận dụng chuẩn mực kế toán

“giảm giá trị tài sản” là cần thiết đối với Việt Nam như Khúc Minh Hoàng (2004), Trần Mạnh Dũng (2010), các tác giả cho rằng các loại tài sản dài hạn của DN không nằm ngoài quy luật bị giảm giá, nên cũng cần lập dự phòng giảm giá khi cần thiết; Tác giả Trần Mạnh Dũng (2010) đã có nghiên cứu về giảm giá trị của lợi thế thương mại trên các góc độ phương pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng trình bày và tính tuân thủ của các công ty ở Hồng Kông Nhóm tác giả Tyrone M Carlin và Nigel Finch (2010), đã nghiên cứu và cung cấp bằng chứng về hành vi tùy ý trong việc thực hiện phương pháp kiểm tra tổn thất tài sản trong đó có lợi thế thương mại theo khuôn khổ chuẩn mực lập báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế, so sánh tính tuân thủ chuẩn mực tổn thất tài sản của các công ty tại Úc và New Zealand và kết luận rằng tồn tại những hành vi thiên vị trong các DN ở hai nước này khi cố tình bỏ sót chi phí tổn thất tài sản nhằm tăng lợi nhuận của DN; Khairil Faizal Khairi, Nur Hidayah Laili (Malaysia, 2012) đã nghiên cứu về tính tuân thủ và chất lượng trình bày chuẩn mực BCTC số 36 của Singapore về tổn thất tài sản trong đó có đề cập đến lợi thế thương mại kết luận Header Page 14 of 166.

Footer Page 14 of 166.

Trang 15

5

rằng phần lớn (90%) các công ty niêm yết tại Singapore không tuân thủ các yêu cầu

cơ bản của Chuẩn mực kế toán và chỉ ra rằng ý tưởng đo lường theo giá trị hợp lý của tài sản là rất tốt nhưng thực tế áp dụng vẫn còn nhiều nghi vấn

Trong nghiên cứu khác của Yina Wu (2011), tác giả sử dụng 132 quan sát về

sự ghi đảo ngược tổn thất tài sản của 53 DN hoạt động tại Châu Âu từ năm 2005 đến năm 2009, kết luận sự giảm sút về lợi nhuận trước khi ghi giảm tổn thất tài sản là động cơ của các nhà quản lý khi sử dụng việc ghi đảo ngược chi phí tổn thất tài sản; Shipan Sun (2010) đã đề cập đề cập đến việc thực hiện chuẩn mực kế toán tổn thất tài sản trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý thuyết về đặc điểm sai phạm của ghi nhận tổn thất tài sản và những giải pháp để hoàn thiện kế toán tổn thất tài sản Nhìn theo góc độ khác, nhóm tác giả Nicolae Bobitan, Diana Dumitrescu, Carmen Costuleanu (2011) cho rằng tổn thất tài sản và đánh giá lại tài sản có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau nhưng cũng có sự khác biệt nhất định, nó đều yêu cầu DN phải xác định tài sản theo giá trị hợp lý và sau đó thì thực hiện, cập nhật vào sổ sách kế toán, tuy nhiên sự khác biệt cơ bản đó là đánh giá lại thì giá trị tài sản có thể tăng lên hay giảm xuống nhưng tổn thất tài sản chỉ đề cập khi có sự sụt giảm về giá trị thị trường; Raed Muhammad Kanakriyah (2012), đã điều tra về ảnh hưởng của việc áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế số 36 vào thông tin kế toán tại Jordan và xác định xem việc áp dụng tổn thất này có ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC hay không dưới góc độ của người sử dụng BCTC và sau khi điều tra thì kết quả cho thấy rằng có

sự khác biệt đáng kể trong số những ý kiến của những người trả lời, trong đó các nhà nghiên cứu thì cho rằng chi phí tổn thất tài sản phụ thuộc vào giá trị hợp lý hơn là giá trị ghi sổ thì sẽ có nhiều thuận lợi hơn nhưng lại thiếu tính tin cậy, việc sử dụng tổn thất tài sản như một công cụ để làm sai lệch kết quả kinh doanh của DN còn Costa Marques (2012) lại coi tổn thất tài sản và tác động của nó đến kế toán DN là một khía cạnh quan trọng cần được xem xét trong kế toán và chúng ảnh hưởng đến việc ra quyết định Trong luận án của Trần Mạnh Dũng (2011), tác giả đã chú trọng đến sự suy giảm của lợi thế thương mại ở Hồng Kông Từ đó tác giả cũng chỉ ra rằng tính Header Page 15 of 166.

Footer Page 15 of 166.

Trang 16

6

tuân thủ của các công ty niêm yết là rất thấp và chất lượng trình bày là rất kém trong những năm đầu áp dụng chuẩn mực “Tổn thất tài sản” với những điều khoản chưa rõ ràng, dựa vào các sự kiện không chắc chắn trong tương lai và mang đầy ý tưởng chủ quan của DN

Về kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam

Liên quan đến kế toán tại các DNXL Việt Nam trong thời gian qua đã có một

số tác giả quan tâm nghiên cứu Hoàng Văn Tưởng (2010) nghiên cứu hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các DNXL thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam; Nguyễn Quang Hưng (2013) nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các DNXL Việt Nam; Nguyễn Thị Thanh Loan (2014) nghiên cứu hoàn thiện

kế toán doanh thu và chi phí của hợp đồng xây dựng tại các DN xây dựng công trình thủy điện ở Việt Nam Về cơ bản, các công bố này tập trung chủ yếu vào đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp về kế toán tại các DNXL trên các phần hành

kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, doanh thu, chi phí trong đó có đề tài

đề cập đến chi phí bảo hành CTXL trong các khoản mục chi phí và nêu ra nguyên tắc chung để xử lý khoản mục chi phí này nhưng không đi sâu làm rõ các nội dung

về phương pháp xác định, đánh giá, ghi nhận, công bố

Tóm lại, từ các công trình đã công bố mà tác giả được biết có thể thấy rằng các công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam tập trung vào chỉ ra sự cần thiết của việc xây dựng chuẩn mực kế toán về “tổn thất tài sản”, hoàn thiện quy định pháp lý về kế toán dự phòng nợ phải trả và dự phòng tổn thất tài sản trong quy định hiện hành Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài tập trung chủ yếu vào khảo sát việc vận dụng chuẩn mực kế toán về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản ở một số quốc gia như Hồng Kông, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Malaysia , trong đó tập trung vào việc tuân thủ các chuẩn mực về dự phòng và tổn thất tài sản của DN và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến việc lập và trình bày BCTC trong DN Như vậy, có thể thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về kế toán các Header Page 16 of 166.

Footer Page 16 of 166.

Trang 17

7

khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL, đặc biệt nghiên cứu thực nghiệm tại các DNXL ở Việt Nam Chính vì vậy, luận án sẽ tập trung nghiên cứu về dự phòng và tổn thất tài sản tại các DNXL ở Việt Nam

Kết luận rút ra từ các công trình đã nghiên cứu

Sau khi nghiên cứu các công trình đã công bố liên quan đến kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản và các công trình có liên quan đến kế toán trong các DNXL, tác giả rút ra các kết luận sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về kế toán các khoản dự phòng và tổn

thất tài sản ở Việt Nam đã đưa ra những bất cập trong phương pháp tính toán, phương pháp hạch toán, những vướng mắc khi xử lý các khoản dự phòng và tổn thất tài sản Đặc biệt, khi đề cập đến phương pháp xác định giá trị các khoản dự phòng

và tổn thất tài sản, các công bố ở Việt Nam mới chỉ đề cập đến nguyên tắc, chưa xác định được mô hình xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản cụ thể Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục giải quyết những vấn đề này, luận án đưa ra các mô hình cụ thể (như mô hình so sánh, mô hình chiết khấu dòng tiền, mô hình xác suất,….) để xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về kế toán các khoản dự phòng và tổn

thất tài sản ở Việt Nam mới chỉ nghiên cứu về nguyên tắc ghi nhận, xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản ở các DN nói chung, chưa nghiên cứu chuyên biệt những vấn đề đó trong DNXL Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài thì luận án sẽ nghiên cứu đặc điểm, đặc thù của hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến phạm

vi ghi nhận, phương pháp xác định giá trị và kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong DNXL

Thứ ba, các công trình đã công bố về cơ bản đều nghiên cứu kế toán các

khoản dự phòng và tổn thất tài sản trên nền tảng quy định của chế độ kế toán Việt Nam giai đoạn trước năm 2016 Trong thời gian tới, khuôn khổ pháp lý kế toán Việt Nam còn có nhiều nội dung phải tiếp tục thay đổi, cải cách theo hướng ngày càng Header Page 17 of 166.

Footer Page 17 of 166.

Trang 18

8

phù hợp hơn với thông lệ kế toán quốc tế và nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh hơn ở Việt Nam, vì vậy, luận án sẽ nghiên cứu các vấn đề này trong bối cảnh mới

Thứ tư, công trình nghiên cứu về kế toán trong các DNXL là các công bố tập

trung vào nội dung kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán quản trị trong DNXL,… Các công bố này chỉ nghiên cứu khoản dự phòng gắn liền với kế toán chi phí bảo hành sản phẩm ở góc độ tiếp cận sơ khai về nguyên tắc ghi nhận, luận án tiếp tục nghiên cứu các khoản dự phòng phát sinh ở DNXL như dự phòng nợ phải thu, dự phòng bảo hành CTXL, dự phòng hợp đồng có rủi ro lớn và tổn thất tài sản gắn với TSCĐ

Thứ năm, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu trên mới chỉ đề cập

trên khía cạnh khảo sát việc vận dụng chuẩn mực kế toán về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản ở một số quốc gia như Hồng Kông, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Malaysia….Trong các công trình này, các tác giả đưa ra tính tuân thủ các chuẩn mực về dự phòng và tổn thất tài sản của một số DN trên thế giới, nêu lên ảnh hưởng của chúng đến việc lập và trình bày BCTC trong DN Như vậy, có thể thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về kế toán các khoản

dự phòng và tổn thất tài sản trong các DN Vì vậy, luận án sẽ tập trung nghiên cứu

cơ sở lý luận về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DN gắn với DNXL Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Những đặc điểm cơ bản của DNXL có ảnh hưởng đến kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản là gì?

- Cơ sở kế toán và loại hình kế toán nào có ảnh hưởng đến các khoản dự phòng và tổn thất tài sản?

- Nội dung, đặc điểm và ý nghĩa cơ bản của các khoản dự phòng và tổn thất tài sản là gì?

- Nội dung của kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản là gì?

Header Page 18 of 166.

Footer Page 18 of 166.

Trang 19

- Về thực tiễn:

+ Nghiên cứu chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DN Đồng thời trình bày và phân tích rõ thực trạng về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL Việt Nam, từ đó rút ra được những ưu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế

+ Vận dụng các kết quả nghiên cứu để đưa ra đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và có lộ trình trong tương lai khi nền kinh

tế thị trường ở Việt Nam có sự phát triển ở mức độ cao hơn

+ Nghiên cứu để đưa ra những giải pháp hoàn thiện thực trạng kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam nhằm tiến tới thông Header Page 19 of 166.

Footer Page 19 of 166.

Trang 20

10

tin trình bày trên BCTC đạt được độ tin cậy, trung thực, hợp lý hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tài chính nói chung và kế toán nói riêng, đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của DN

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn

về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam Trong

đó, tác giả tập trung nghiên cứu các khoản dự phòng nợ phải trả, dự phòng tổn thất tài sản và tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian:

Luận án tập trung nghiên cứu kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam (Do Việt Nam không công bố con số thống kê cũng như thông tin cụ thể về các DN hoạt động trong lĩnh vực xây lắp trong số khoảng 500.000 DN đang hoạt động trên cả nước hiện nay, vì vậy, tác giả lựa chọn chủ yếu là các DNXL niêm yết trên TTCK làm đại diện để tập trung nghiên cứu, các DN này có quy mô hoạt động đáng kể, thông tin được cung cấp cho nhiều đối tượng liên quan nên đòi hỏi sự minh bạch, chất lượng thông tin cao hơn, chặt chẽ hơn các DN khác trong cùng lĩnh vực)

Luận án không nghiên cứu cho các DNXL nước ngoài tại Việt Nam

Các DNXL luận án nghiên cứu thực hiện với tư cách nhà thầu xây dựng mà không phải với tư cách chủ đầu tư

Ngoài ra, luận án chỉ nghiên cứu các khoản dự phòng và tổn thất tài sản đối với hoạt động xây lắp ở DNXL hoạt động độc lập, không nghiên cứu vấn đề này trong mối quan hệ hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con

+ Về thời gian: Số liệu khảo sát thực tế trong các đơn vị nghiên cứu các năm

từ năm 2011 đến năm 2016

Header Page 20 of 166.

Footer Page 20 of 166.

Trang 21

11

+ Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu nội dung về các khoản dự

phòng bao gồm: Dự phòng bảo hành CTXL, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng hợp đồng có rủi ro lớn (các khoản dự phòng khác như: Dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính, dự phòng tái cơ cấu DN do phát sinh không đáng kể, cũng không phải là hoạt động chính của DNXL, dự phòng giảm giá hàng tồn kho không phải là đặc thù của DNXL dưới góc độ nhà thầu xây dựng nên tác giả không

đi vào nghiên cứu)

Luận án tập trung nghiên cứu nội dung về tổn thất TSCĐ hữu hình (các khoản tổn thất tài sản như: Tổn thất lợi thế thương mại, tổn thất bất động sản đầu tư ghi nhận theo giá gốc, tổn thất TSCĐ vô hình do phát sinh hạn chế hoặc không phải

là tài sản đặc thù của DNXL nên luận án không tập trung nghiên cứu sâu)

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về các khoản dự phòng

và tổn thất tài sản trong các DNXL và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới để hoàn thiện quy định pháp lý về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Qua khảo sát thực trạng kế toán các khoản dự phòng và

tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam hiện nay, luận án phân tích và chỉ rõ những ưu điểm, những mặt còn hạn chế cũng như nguyên nhân cơ bản của những hạn chế đó Từ đó, luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng

và tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam, giúp cho các DN quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn

7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án đã sử dụng các phương pháp như: Phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu….các phương pháp này đều xuất phát trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử nhằm giải quyết các vấn đề liên quan một cách biện chứng và logic

Header Page 21 of 166.

Footer Page 21 of 166.

Trang 22

12

 Phương pháp thu thập tài liệu

- Tài liệu thứ cấp: Tác giả sử dụng phương pháp tìm kiếm và đọc tài liệu để

thu thập thông tin thứ cấp từ các tài liệu như giáo trình, niên giám thống kê, các kết quả nghiên cứu đã được công bố của các tác giả trong và ngoài nước trên các tạp chí khoa học có uy tín, các văn bản của Bộ Tài chính và các bộ, ban ngành liên quan, Tổng cục thống kê, tài liệu kế toán của các DNXL niêm yết được khảo sát cung cấp

- Tài liệu sơ cấp: Tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua trao đổi trực tiếp và

phỏng vấn các đối tượng có liên quan, bao gồm trao đổi trực tiếp với lãnh đạo DN (Ban Giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng kế hoạch, Trưởng phòng kỹ thuật, ), phỏng vấn trực tiếp nhân viên kế toán phụ trách phần kế toán các khoản

dự phòng và tổn thất tài sản của DN được khảo sát Đối với các công ty ở khu vực Miền Trung và miền Nam, tác giả không thực hiện phỏng vấn trực tiếp thì thông qua gửi phiếu điều tra

Nội dung thu thập thông tin gồm hai phần chính: (1)-Phần 1, thu thập các thông tin chung về DN, bao gồm: Hình thức sở hữu, mô hình tổ chức bộ máy kế toán, số lượng và trình độ học vấn của nhân viên kế toán, hình thức sổ kế toán, chế

độ kế toán áp dụng, việc sử dụng phần mềm kế toán, mô hình tổ chức bộ máy quản lý; (2)-Phần 2, thực trạng kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các

DN bao gồm: Các vấn đề liên quan đến bảo hành CTXL, ghi nhận và xử lý dự phòng nợ phải trả về bảo hành công trình; Các vấn đề liên quan đến hợp đồng có rủi

ro lớn, cách thức xác định, ghi nhận và xử lý dự phòng hợp đồng có rủi ro lớn; Căn

cứ xác định các khoản nợ phải thu khó đòi, cách thức phân loại phải thu khó đòi, cơ

sở ước tính nợ phải thu khó đòi, cách thức xử lý, ghi nhận khoản phải thu khó đòi phát sinh; Xác định, ghi nhận và xử lý tổn thất TSCĐ Các câu hỏi được thiết kế

dưới cả hai dạng là câu hỏi đóng và câu hỏi mở

Mẫu khảo sát thực trạng: Tổng thể các DNXL niêm yết trên TTCK Việt Nam bao gồm 92 DN, các DNXL này có đặc điểm cơ bản sau như sau:

Header Page 22 of 166.

Footer Page 22 of 166.

Trang 23

13

- Về đặc điểm vị trí địa lý: Miền Bắc có 52 DN, chiếm 56,5% (Hà Nội 47

DN, Hải Phòng 02 DN, Quảng Ninh 02 DN, Sơn La 01 DN); Miền Trung có 16

DN, chiếm 17,4% (Nghệ An 06 DN, Đà Nẵng 03 DN, Quảng Nam 01 DN, Bình Định 01 DN, Khánh Hòa 02 DN, Lâm Đồng 02 DN, Huế 01 DN; Miền Nam có 24

DN, chiếm 26,1% (Thành phố HCM 14 DN, Bình Dương 03 DN, Bà Rịa-Vũng Tàu

04 DN, Đồng Nai 01 DN, Tiền Giang 01 DN, An Giang 01 DN)

- Về đặc điểm quy mô DN: Quy mô vốn nhỏ hơn 50 tỷ đồng có 16 DN (10

DN quy mô vốn dưới 20 tỷ đồng); Quy mô vốn từ 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng

là 22 DN; Quy mô vốn từ 100 tỷ đồng đến dưới 500 tỷ đồng là 40 DN; Quy mô vốn

từ 500 tỷ đồng đến dưới 1.000 tỷ đồng là 08 DN; Quy mô vốn từ 1.000 tỷ đồng trở lên là 06 DN

- Về đặc điểm tuổi đời của DN: Không có DN nào thành lập dưới 5 năm;

Thành lập từ 5 năm đến dưới 10 năm có 08 DN, Thành lập trên 10 năm có 84 DN

Do các DNXL có vị trí địa lý khác nhau, phân bố rộng trên khắp cả nước nên tác giả không có điều kiện thực hiện khảo sát trực tiếp tại từng DN, việc khảo sát được tiến hành chủ yếu theo cách gửi phiếu điều tra để khảo sát thực trạng đến toàn bộ các DN trong tổng thể và lựa chọn một số DN đến khảo sát trực tiếp và thực hiện kết hợp các phương pháp khác (như quan sát, phỏng vấn sâu, )

Kết quả, số phiếu khảo sát nhận về là 79 DNXL trả lời (đạt 86%) Theo công thức xác định cỡ mẫu nghiên cứu khi biết số lượng tổng thể (tổng thể có 92 DN, với

độ tin cậy là 95% thì số DN cần khảo sát là 92/[1+(92×0,052)] =75, như vậy với 79

DN trả lời phiếu khảo sát được xem có nguồn thông tin đủ tin cậy để đưa ra kết luận Xem xét đặc điểm của 79 DN này cho thấy trọng số DN trả lời khảo sát thực

tế khá phù hợp với trọng số của tổng thể DNXL niêm yết trên TTCK, số DN ở miền Bắc là 47 DN (chiếm 59,5%), số DN ở miền Trung là 12 DN (16,5%), số DN ở miền Nam là 20 DN (chiếm 24%); Số DN có quy mô vốn nhỏ hơn 50 tỷ đồng là 14

DN (chiếm 17,7%), số DN có quy mô vốn từ 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng là 21

DN (chiếm 26,6%), số DN có quy mô vốn từ 100 tỷ đồng đến dưới 500 tỷ đồng là Header Page 23 of 166.

Footer Page 23 of 166.

Trang 24

14

33 DN (chiếm 41,8 %), số DN có quy mô vốn từ 500 tỷ đồng đến dưới 1.000 tỷ đồng là 6 DN (chiếm 7,6%), số DN có quy mô trên 1.000 tỷ đồng là 5 (chiếm 6,3%); Số DN thành lập từ 5-10 năm là 5 DN (chiếm 6,3 %), số DN thành lập trên

10 năm là 74 DN (chiếm 93,7%)

 Phương pháp xử lý dữ liệu

Số liệu sau khi thu thập được xử lý theo yêu cầu của nghiên cứu Các phương pháp chủ yếu được tác giả sử dụng trong quá trình xử lý và phân tích dữ liệu gồm:

- Phương pháp thống kê, mô tả: Phương pháp này dùng để điều tra thu thập tài liệu liên quan đến quá trình kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL, sau đó tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu

- Sử dụng Excel để thực hiện tính toán dữ liệu sơ cấp đã thu thập được thông qua khảo sát;

- Sử dụng phương pháp phân tích định tính để phát hiện các vấn đề hạn chế, đánh giá nguyên nhân dẫn đến hạn chế

- Phương pháp chuyên gia: Tác giả lấy ý kiến chuyên gia để trao đổi, tham vấn với các chuyên gia về các vấn đề liên quan đến đề tài của luận án Phương pháp chuyên gia giúp tác giả có nhận thức, hiểu biết sâu hơn về vấn đề nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp so sánh để trình bày, mô tả thực trạng; So sánh giữa thực trạng và cơ sở lý luận để suy diễn, quy nạp và trình bày kết quả nghiên cứu

8 Những đóng góp của luận án

Thứ nhất, luận án hệ thống hóa và phát triển lý thuyết về kế toán các khoản dự

phòng và tổn thất tài sản, nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các DNXL ở Việt Nam

Thứ hai, luận án khái quát tổng quan về các DNXL ở Việt Nam, khung pháp

lý làm cơ sở cho kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong DN Luận án nghiên cứu, khảo sát, phân tích thực trạng kế toán các khoản dự phòng và tổn thất Header Page 24 of 166.

Footer Page 24 of 166.

Trang 25

15

tài sản trong các DNXL ở Việt Nam, từ đó nêu ra những bất cập, tồn tại chủ yếu của

kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam

Thứ ba, luận án trình bày yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện kế toán các khoản

dự phòng và tổn thất tài sản, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các DNXL ở Việt Nam, điều kiện để thực hiện giải pháp

9 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản

trong các doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong

các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài

sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam

Header Page 25 of 166.

Footer Page 25 of 166.

Trang 26

16

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG

VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN

1.1.1 Rủi ro và sự hình thành các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong doanh nghiệp

Rủi ro là tiềm tàng, vốn có trong mỗi DN và nó phát sinh trực tiếp từ thuộc tính không thể tiên đoán của nó Nó được xem là sự không chắc chắn về việc xuất hiện của một sự kiện mà có thể có một tác động tích cực hoặc tiêu cực đến những thành tựu đạt được của mục tiêu kinh doanh Ngày nay, rủi ro đang trở thành nhân tố thứ tư của DN sau con người, quy trình và công nghệ (Dolly Dhamodiwala, 2014) Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng các DN mà thành công trong việc biến các rủi ro thành kết quả thì có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình

Trong quá trình hoạt động, DN luôn phải đối mặt với hàng loạt những sự kiện bất lợi, đó là những nguy hiểm, bất trắc phát sinh từ trong tự nhiên cũng như trong mọi lĩnh vực đời sống, tinh thần, chính trị, xã hội, lao động và sản xuất kinh doanh, Nó nằm ngoài sự mong đợi (như bão, lụt, lốc xoáy, động đất, bạo lực chính trị, đình công, khủng hoảng, lạm phát,…) Đó là những sự kiện mà con người luôn cảm thấy e ngại và không mong muốn, bởi nếu xảy ra nó sẽ gây ra thiệt hại không chỉ về vật chất mà còn về sức khỏe, tinh thần, tính mạng con người Một vấn đề đặt ra là những nguy hiểm, bất trắc đó là gì, có thể nhận thức

và kiểm soát được hay không Theo nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thì những nguy hiểm, bất trắc đó là rủi ro Rủi ro là luôn tiềm ẩn trong DN, nó xuất hiện từ nhiều các nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan Bản chất của rủi

ro được phản ánh qua những thuộc tính bên trong, nội hàm, ngoại diên, các nhân

tố ảnh hưởng đến khả năng xuất hiện, quan hệ nhân quả của rủi ro cho DN Header Page 26 of 166.

Footer Page 26 of 166.

Trang 27

17

Bản chất của rủi ro

Rủi ro bản chất là sự kiện bất trắc, không mong đợi, hết sức đa dạng, phức tạp luôn gắn liền với môi trường hoạt động của con người Có nhiều phát biểu khác nhau về rủi ro, điển hình:

Frank Knight (1921) cho rằng rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được; Theo Allan Willet (1951), rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi; Theo Irving Pfeffer (1956) rủi ro là một tổ hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác xuất; còn Marilu Hart McCarty (1986) lại có quan niệm rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được Bên cạnh các học giả, tổ chức tiêu chuẩn hóa thế giới (ISO) cho rằng rủi ro là sự kết hợp giữa xác suất xảy ra một sự kiện và những hậu quả tiêu cực của sự kiện đó Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) thì rủi ro là hậu quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự đoán được của một hành vi mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đương

“Rủi ro là các trạng thái bất thường gây ra sự tổn thất cho người bị rủi ro và những người có liên quan”

Đối với rủi ro (rủi ro xuôi) DN có thể né tránh, chấp nhận hoặc hạn chế

kết quả do rủi ro tạo ra Kết quả do rủi ro tạo ra là một tổn thất đối với DN Tổn

thất, hiểu theo cách thông thường là sự thiệt hại, mất mát, chịu ảnh hưởng bất lợi

về vật chất, tinh thần, cơ hội hoặc các mối quan hệ do rủi ro đem lại, tổn thất được đo bằng giá trị bị rủi ro Tổn thất có mối quan hệ chặt chẽ với rủi ro liên Header Page 27 of 166.

Footer Page 27 of 166.

Trang 28

18

quan đến trạng thái bất lợi và không may mắn Theo đó, rủi ro phản ánh tính chất của trạng thái (nguy hiểm, bất lợi) còn tổn thất phản ánh mặt lượng của trạng thái (mức độ thiệt hại, mất mát) có nguyên nhân do rủi ro gây lên (Vũ Trọng Lâm, 2005) Vì vậy, khi nghiên cứu tổn thất phải nghiên cứu về rủi ro, là nguyên nhân tạo ra tổn thất và ngược lại để thấy được mức độ nghiêm trọng, tác hại của rủi ro

Các loại rủi ro

Theo các cách tiếp cận khác nhau, rủi ro được phân thành chia các loại khác nhau Theo Paul Hopkin (2010), có nhiều hệ thống phân loại rủi ro được sử dụng, DN có thể vận dụng một trong số các hệ thống, bao gồm: Committee of Sponsoring Organizations of The Treadway Commission (COSO), Institute of Risk Management (IRM), FIRM Risk Scorecard, ISO 31000-BS 31100, Political Economic Sociological Technological Legal Environmental- PESTLE)

Các loại rủi ro

Chiến lược Tài chính Chiến lược Tài chính Chính trị

Hoạt động Chiến lược Chương trình Hạ tầng Kinh tế

Tuân thủ Mạo hiểm Tài chính Thị trường Công nghệ

Môi trường

(Nguồn: Hệ thống phân loại rủi ro, Quản trị rủi ro căn bản, Paul Hopkin)

Trong các hệ thống trên thì hệ thống phân loại theo IRM (Institute of Risk Management) được sử dụng phổ biến nhất Vì vậy, tác giả hướng theo cách phân loại rủi ro của IRM Theo hệ thống này, rủi ro có thể xảy ra cả bên trong và bên ngoài Bên trong, những rủi ro có thể phát sinh thông qua các hành động của nhân viên, các quyết định quản lý, sự lựa chọn các chính sách kế toán và quyết định sáp nhập hoặc khởi động một sản phẩm mới Các yếu tố bên ngoài dẫn đến những rủi ro nằm ngoài sự kiểm soát của công ty hoặc giám đốc của nó chẳng hạn như thay đổi chính trị, thay đổi quy định, các sự kiện tự nhiên, cạnh tranh, Header Page 28 of 166.

Footer Page 28 of 166.

Trang 29

19

Rủi ro tài chính Khả năng thanh khoản

(Nguồn: Chuẩn mực quản trị rủi ro Anh (London: IRM, ALARM and AIRMIC, 2002)

Nhìn theo một góc độ cụ thể hơn, các rủi ro phát sinh từ các sự kiện có thể tác động đến khả năng hoạt động liên tục của DN, bao gồm:

- Dấu hiệu về việc các chủ nợ ngừng hoặc thu hồi các hỗ trợ tài chính;

- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh bị âm thể hiện trên BCTC hay

dự báo trong tương lai;

- Đơn vị có các chỉ số tài chính xấu hơn mức bình thường;

- Lỗ hoạt động kinh doanh lớn hoặc có sự suy giảm lớn về giá trị của các tài sản được dùng để tạo ra các luồng tiền;

- Nợ tồn đọng hoặc ngừng thanh toán cổ tức;

- Không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn;

- Không có khả năng tuân thủ các điều khoản của hợp đồng tín dụng;

Header Page 29 of 166.

Footer Page 29 of 166.

Trang 30

- Ban Giám đốc có ý định ngừng hoạt động hoặc giải thể đơn vị;

- Thiếu thành phần lãnh đạo chủ chốt mà không được thay thế;

- Mất một thị trường lớn, mất khách hàng quan trọng, mất quyền kinh doanh theo hình thức cấp phép, nhượng quyền thương mại hoặc mất nhà cung cấp quan trọng;

- Gặp các vấn đề khó khăn về lao động;

- Thiếu hụt vật tư đầu vào chủ yếu;

- Xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới thành công hơn;

về rủi ro Theo khuôn mẫu về quản trị rủi ro của DN (ERM Framework), có 5 bước cơ bản để quản trị rủi ro, bao gồm: Xác định/nhận diện rủi ro, đánh giá tác động của rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro, xử lý rủi ro, giám sát và xem xét lại Header Page 30 of 166.

Footer Page 30 of 166.

Trang 31

21

rủi ro Khi nhận diện rủi ro, DN phải đảm bảo rằng tất cả các rủi ro được xác định là có khả năng được giải quyết Khi đánh giá rủi ro nhằm thảo luận về tác động của các rủi ro đối với DN và hiệu quả của nó và các giải pháp có thể thực hiện để phòng ngừa, hạn chế Khi phân tích rủi ro thì mỗi rủi ro được phân tích tùy thuộc vào tầm quan trọng, xác suất xảy ra của nó và tác động tới các chức năng kinh doanh, quá trình này giúp cho việc xem xét việc nhượng quyền sở hữu các rủi ro Thay đổi trong chính sách và lập dự phòng được xem là có lợi trong quá trình này Xử lý rủi ro là một quá trình rất quan trọng, nếu lập kế hoạch và thực hiện có hiệu quả sẽ giúp trong việc giảm những cú sốc và tiêu cực của rủi

ro Giám sát rủi ro và xem xét lại là một hoạt động làm nền tảng cho thành công chiến lược kinh doanh, cung cấp các lợi ích lâu dài và chắc chắn sẽ cung cấp bài học cho các hoạt động trong tương lai của DN

Xử lý rủi ro được coi là khâu rất quan trọng trong quản trị rủi ro của DN,

DN có thể lựa chọn xử lý rủi ro bằng cách trích lập dự phòng, sử dụng công cụ

tài chính phái sinh (Hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi) và sử dụng giá trị hợp lý tùy theo loại rủi ro và tổn thất phát sinh Trong luận án tác giả không bàn sâu về phương pháp xử lý rủi ro thông qua

sử dụng công cụ tài chính phái sinh và giá trị hợp lý mà chỉ tập trung vào phương pháp xử lý rủi ro thông qua việc trích lập dự phòng Như vậy, những phần nội dung tiếp sau của luận án được tiếp cận theo phương pháp trích lập dự phòng

1.1.2 Nội dung, đặc điểm của các khoản dự phòng nợ phải trả

Trong khuôn mẫu trình bày BCTC được ban hành năm 1989, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đưa ra khái niệm: “Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của một đơn vị phát sinh từ một sự kiện trong quá khứ mà việc thanh toán sẽ dẫn đến dòng ra của nguồn lực bao hàm lợi ích kinh tế của đơn vị”

Dự phòng nợ phải trả là một phần của các khoản nợ phải trả và theo đoạn

10 của IAS 37 định nghĩa:“Một khoản dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian” Theo đó, dự phòng là một trách nhiệm không chắc chắn về mặt giá trị và thời gian Trách nhiệm này là một nghĩa vụ hiện tại Header Page 31 of 166.

Footer Page 31 of 166.

Trang 32

22

của đơn vị phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ, mà việc thanh toán sẽ dẫn đến

một giảm sút những lợi ích kinh tế của đơn vị

Theo chuẩn mực BCTC FRS 12 của Anh, “Một khoản dự phòng là khoản

nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian, được giải quyết bằng việc

chuyển nhượng các lợi ích kinh tế”

Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18 “Một khoản dự phòng là khoản

nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian”

Về cơ bản, các quan điểm về dự phòng đều thống nhất cho rằng dự phòng được xem khoản trích lập nghĩa vụ kinh tế có thể xảy ra, nhưng không chắc chắn của một DN Đồng nhất với các quan điểm về dự phòng đã trình bày ở trên, tác

giả cho rằng “Dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc

thời gian”

Một khoản dự phòng nợ phải trả có các đặc điểm chủ yếu sau:

Một là, một khoản dự phòng phải gắn với nghĩa vụ hiện tại Nghĩa vụ hiện

tại này là kết quả của các sự kiện trong quá khứ Thông tin về dự phòng nợ phải trả vừa phản ánh quá khứ (sự kiện đã xảy ra), vừa phản ánh hiện tại (nghĩa vụ hiện tại) và giúp dự báo tương lai (việc thanh toán nghĩa vụ được thực hiện) tình hình tài chính, khả năng thanh khoản của đơn vị Nghĩa vụ hiện tại có thể là nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ cam kết Ở đây khái niệm nghĩa vụ được hiểu theo nghĩa khá rộng, bao quát cả các nghĩa vụ pháp lý phát sinh khi đơn vị tham gia vào các quan hệ kinh tế được đảm bảo pháp luật như: Nghĩa vụ trả tiền lương, tiền công cho người lao động, nghĩa vụ trả nợ và lãi vay, nghĩa vụ trả nợ tiền mua hàng hóa, dịch vụ, nghĩa vụ nộp thuế Những nghĩa vụ pháp lý này thường rõ ràng và thỏa mãn điều kiện ghi nhận một khoản nợ Ngoài ra, với mục tiêu phản ánh trung thực và đúng bản chất tình hình tài chính của đơn vị, kế toán còn xem xét ghi nhận các nghĩa vụ mang tính cam kết Xét về mức độ ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và khả năng thanh toán, nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ cam kết đều dẫn đến hệ quả đơn vị phải hy sinh nguồn lực để thanh toán Vì vậy, theo quan điểm kế toán động, các nghĩa vụ này đều cần được ghi nhận Tuy nhiên, việc Header Page 32 of 166.

Footer Page 32 of 166.

Trang 33

23

nhận biết và xem xét ghi nhận các nghĩa vụ mang tính cam kết như: Nghĩa vụ khen thưởng, phúc lợi, nghĩa vụ bồi thường nhưng chưa xác định, nghĩa vụ với cộng đồng, nghĩa vụ về xử lý môi trường, thường khá phức tạp và mang nhiều tính xét đoán trong từng tình huống gắn với các điều kiện cụ thể về sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa kinh doanh

Hai là, một khoản dự phòng thực chất là một khoản nợ phải trả, do vậy

gần như chắc chắn nó sẽ phát sinh, nhưng chỉ không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian xảy ra khoản dự phòng đó Đây chính là một điểm khác biệt giữa một khoản dự phòng nợ phải trả so với một khoản nợ tiềm tàng và các khoản nợ phải trả thông thường khác

Các khoản dự phòng phải trả là các khoản đã được ghi nhận là các khoản

nợ phải trả vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó Và do giả định đưa ra một ước tính đáng tin cậy nên các khoản dự phòng cần phải được xem xét và điều chỉnh lại vào cuối mỗi kỳ kế toán lập BCĐKT để phản ánh đầy

đủ và hợp lý nghĩa vụ nhận nợ của DN

Các khoản nợ tiềm tàng theo IAS 37 định nghĩa là: “Một nghĩa vụ nợ có khả năng phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra và sự tồn tại của nghĩa vụ nợ này sẽ chỉ được xác nhận bởi khả năng xảy ra hoặc không xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà DN không kiểm soát được Hoặc nợ tiềm tàng là nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra nhưng chưa được ghi nhận vì không chắc chắn có sự giảm sút về lợi ích kinh tế do việc phải thanh toán nghĩa vụ nợ hoặc giá trị của nghĩa vụ nợ đó không được xác định một cách đáng tin cậy và đầy đủ.”

Như vậy, một khoản dự phòng nợ phải trả mang tính chắc chắn cao hơn một khoản nợ tiềm tàng Một khoản nợ tiềm tàng thường xảy ra không theo dự kiến ban đầu, do đó chúng phải được ước tính thường xuyên để xác định xem liệu sự giảm sút kinh tế có xảy ra hay không Nếu sự giảm sút lợi ích kinh tế trong tương lai có thể xảy ra có liên quan đến một khoản mục trước đây là một Header Page 33 of 166.

Footer Page 33 of 166.

Trang 34

24

khoản nợ tiềm tàng, thì phải ghi nhận khoản dự phòng đó vào BCTC của kỳ kế toán có khả năng thay đổi ngoại trừ trường hợp không đưa ra được cách ước tính đáng tin cậy Về mức độ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của DN thì các khoản

nợ tiềm tàng thấp hơn so với dự phòng, vì thế nó sẽ không được ghi nhận là một khoản nợ trên BCTC, nhưng vẫn phải công bố trong Thuyết minh BCTC nhằm giúp người sử dụng thông tin tài chính đưa ra nhận định sâu sắc hơn về tình hình tài chính của DN

Mặt khác, dự phòng nợ phải trả là khoản nợ phải trả chưa chắc chắn về giá trị hoặc thời gian thanh toán, nghĩa là dựa trên số ước tính đáng tin cậy ghi nhận giá trị nghĩa vụ nợ như một ước tính kế toán Còn các khoản nợ phải trả thông thường được xác định gần như chắc chắn về giá trị và thời gian thanh toán, đó là những khoản nợ mà DN xác định được cả người trả tiền và số tiền phải trả, như

nợ người bán, nợ lao động, nợ tiền thuế,

Ba là, nghĩa vụ gắn với một khoản dự phòng phải được ước tính một cách

đáng tin cậy Vì một khoản dự phòng nợ phải trả thường liên quan đến nghĩa vụ mang tính pháp lý hoặc cam kết Thông thường, đối với các khoản dự phòng có tính pháp lý, các yếu tố định lượng liên quan trong đó có giá trị khoản nợ đều có căn cứ rõ ràng và việc xác định nghĩa vụ pháp lý thường khá đơn giản Ngược lại, việc xác định một nghĩa vụ mang tính cam kết thường gặp khó khăn hơn là việc xác định một nghĩa vụ mang tính pháp lý Mặc dù vậy, nghĩa vụ này có thể được ước tính một cách đáng tin cậy Việc ước tính giá trị và thời gian của các khoản nợ này thường được thực hiện theo các mô hình ước tính khác nhau được chấp nhận dựa trên các cơ sở dữ liệu tin cậy Đó là các mô hình kế toán như xác xuất thống kê, mô hình chiết khấu dòng tiền, mô hình hồi quy, Ngược lại, nếu việc ước tính không đáng tin cậy thì nghĩa vụ không được ghi nhận

Header Page 34 of 166.

Footer Page 34 of 166.

Trang 35

25

1.1.3 Nội dung, đặc điểm của tổn thất tài sản và dự phòng tổn thất tài sản

Tổn thất tài sản được xem là sự suy giảm giá trị của một tài sản do giá trị

có thể thu hồi của nó nhỏ hơn giá trị sổ sách Việc ghi nhận các khoản tổn thất tài sản là đảm bảo nguyên tắc thận trọng trong việc định giá tài sản được công bố thông tin trên BCTC Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu DN phải ghi nhận các khoản tổn thất liên quan đến các tài sản mà DN đang nắm giữ nếu có những bằng chứng đáng tin cậy về sự tổn thất có thể xảy ra và giá trị khoản tổn thất được xác định một cách đáng tin cậy Trong DN tài sản bị tổn thất bao gồm: Hàng tồn kho, nợ phải thu, các khoản đầu tư tài chính, TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, bất động

đặc điểm chính như sau:

Một là, tổn thất tài sản có đặc điểm là thể hiện sự suy giảm lợi ích kinh tế

trong DN Sự suy giảm lợi ích kinh tế của tài sản có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan, các nguyên nhân này được khái quát như sau:

(1) Nguyên nhân về thị trường: Do giá trị thuần có thể thực hiện được của tài sản bị đánh giá thấp so với giá gốc của tài sản được ghi trên sổ sách kế toán Khi trường hợp này xảy ra, giá trị của tài sản sẽ bị suy giảm và DN phải đánh giá tài sản theo giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng (những tài sản này trong DN bao gồm hàng tồn kho, đầu tư chứng khoán ngắn hạn)

(2) Nguyên nhân về điều kiện sử dụng tài sản: Nguyên nhân này xảy ra khi tài sản mà DN đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng điều kiện khai thác tài sản lại không được như mong đợi (những tài sản trong trường hợp này có thể là: TSCĐ mà DN sử dụng không đem lại lợi ích kinh tế; TSCĐ không

sử dụng được, bị hỏng hóc hoặc phát huy không hết công suất; Các khoản đầu tư vào DN khác nhưng bị lỗ; Bất động sản đầu tư không cho thuê được do thị trường bất động sản bị giảm giá, )

(3) Nguyên nhân về thay đổi chính sách vĩ mô của Nhà nước tác động đến: Những chính sách vĩ mô của Nhà nước như chính sách tiền tệ, chính sách giá cả, có thể làm cho giá trị của tài sản bị giảm sút Đây là những nguyên nhân Header Page 35 of 166.

Footer Page 35 of 166.

Trang 36

Hai là, giá trị của các khoản tổn thất tài sản chỉ mang tính ước tính Để

xác định được giá trị các khoản tổn thất tài sản thực tế phát sinh, DN phải sử dụng công cụ là ước tính kế toán Mặc dù các ước tính kế toán đó sẽ đưa ra kết quả không chính xác tuyệt đối, nhưng sẽ là cơ sở bằng chứng đáng tin cậy để DN

có thể ghi nhận các khoản tổn thất tài sản đó

Ba là, việc ghi nhận các khoản tổn thất tài sản đảm bảo được tinh thần

thận trọng trong kế toán vì tại thời điểm lập BCTC, giá trị thực sự của các loại tài sản của DN có thể thấp hơn so với giá gốc của chúng Và trong tương lai thì DN

có thể sẽ phải gánh chịu những tổn thất thực sự khi đem bán các tài sản trên hoặc xác định chắc chắn không thu hồi được nợ Do vậy, nguyên tắc thận trọng của kế toán đặt ra yêu cầu DN phải ghi nhận các khoản tổn thất tài sản liên quan đến các tài sản DN đang nắm giữ nếu có những bằng chứng đáng tin cậy về sự tổn thất có thể xảy ra và giá trị khoản tổn thất được xác định một cách đáng tin cậy

Bốn là, việc ghi nhận các khoản tổn thất tài sản khắc phục được hạn chế

của các mô hình kế toán, đặc biệt là mô hình kế toán trên cơ sở giá gốc Mô hình giá gốc được xác định là mô hình tính giá truyền thống của kế toán Việc sử dụng giá gốc để đo lường, ghi nhận các yếu tố trình bày trên BCTC có ưu điểm là đảm bảo tính tin cậy, dễ hiểu và tính có thể sánh Tuy nhiên, mô hình giá gốc cũng có những hạn chế nhất định như không có được những thông tin tài chính

Qua phần nghiên cứu các đặc điểm trên có thể thấy rằng bản chất của tổn thất tài sản là suy giảm giá trị của tài sản Xét về phương diện kế toán thì có hai cách để ghi nhận sự suy giảm giá trị này là: Ghi nhận tổn thất tài sản thông qua trích lập dự phòng tổn thất tài sản và tổn thất tài sản Trong đó, trích lập dự Header Page 36 of 166.

Footer Page 36 of 166.

Trang 37

27

phòng tổn thất tài sản được thực hiện với các tài sản như hàng tồn kho, nợ phải thu, đầu tư tài chính, Còn tổn thất tài sản được thực hiện với đất đai, máy móc thiết bị, bất động sản đầu tư, lợi thế thương mại Hai cách ghi nhận này sẽ chi phối đến các thủ tục kế toán như: thiết kế tài khoản, sổ kế toán và trình bày thông tin về các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trên các BCTC của DN

Như vậy, dự phòng tổn thất tài sản là một khoản chi phí mà DN ghi nhận trước để dự phòng cho giá trị tài sản bị tổn thất trong tương lai Về bản chất, một khoản dự phòng tổn thất tài sản là khoản lỗ nhận thấy trước, do đó khi lập dự phòng kế toán phải ghi tăng chi phí Việc lập dự phòng tổn thất tài sản cũng được chi phối bởi nguyên tắc thận trọng trong kế toán Khi có những bằng chứng đáng tin cậy hoặc các xét đoán về sự tổn thất có thể xảy ra và giá trị khoản tổn thất

được xác định một cách đáng tin cậy thì DN phải ghi nhận khoản tổn thất đó

Như đã phân tích ở các nội dung trước, những nội dung lý thuyết luận án tìm hiểu và trình bày phục vụ cho nghiên cứu trong các DNXL dưới góc độ là nhà thầu xây dựng với những đặc thù riêng nên các khoản như tổn thất hàng hóa tồn kho, các khoản đầu tư tài chính, bất động sản đầu tư, lợi thế thương mại không phát sinh hoặc không phải là vấn đề có tính phổ biến nên trong những nội dung trình bày tiếp theo, luận án tập trung vào nghiên cứu dự phòng nợ phải thu khó đòi và tổn thất TSCĐ

1.2 CÁC CƠ SỞ KẾ TOÁN, LOẠI HÌNH KẾ TOÁN, NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN CHI PHỐI ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÁC KHOẢN DỰ PHÕNG VÀ TỔN THẤT TÀI SẢN

1.2.1 Cơ sở kế toán

Cơ sở kế toán ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tác động đến các yếu tố tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí mà có thể gắn hoặc không gắn với luồng tiền thu chi thực tế Có hai cơ sở kế toán căn bản là cơ sở kế toán tiền mặt

và cơ sở kế toán dồn tích, trong khi cơ sở kế toán tiền mặt yêu cầu ghi nhận các giao dịch sự kiện phải gắn với luồng tiền thực thu, thực chi của đơn vị nhưng ngược lại cơ sở kế toán dồn tích việc ghi nhận các giao dịch sự kiện không phải Header Page 37 of 166.

Footer Page 37 of 166.

Trang 38

28

gắn với luồng tiền thực thu, thực chi của đơn vị Trong phạm vi của luận án, tác giả chỉ nghiên cứu cơ sở kế toán dồn tích là cơ sở có ảnh hưởng trực tiếp đến kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản

Theo cơ sở kế toán dồn tích, việc đánh giá và hạch toán tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động dựa trên cơ sở phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ (trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản, công nợ), bất kể đã thu hay chi tiền chưa Như vậy, theo nguyên tắc này hạch toán tăng (giảm) tài sản khi nhận (chuyển) tài sản hoặc quyền và trách nhiệm đối với tài sản đó (không kể đó

là tiền hay hiện vật); đánh giá tất cả các tài sản có góp phần vào quá trình hoạt động của đơn vị tạo ra sản phẩm và kết quả hoạt động; doanh thu được ghi nhận khi đơn vị đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản, hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng và nhận được tiền hay quyền thu tiền; chi phí được ghi nhận khi đơn vị có các nghiệp vụ phát sinh chi phí, bất kể dưới hình thức là tiền, tài sản hay công nợ,…

Do không có sự trùng hợp giữa luồng tiền thu vào và doanh thu trong một niên độ, bởi vì có những khoản thu tiền không phải là doanh thu Cũng tương tự như vậy, thường tồn tại một chênh lệch giữa chi tiêu và chi phí, vì có những khoản chi tiền nhưng không phải là chi phí Từ đó, kế toán trên cơ sở dồn tích cho phép theo dõi những quá trình kế toán kéo dài trong các niên độ kế tiếp Ví

dụ, nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, các khoản dự phòng và tổn thất tài sản Chẳng hạn, việc biết rõ số nợ tồn đọng (liên quan các khoản phải thu) và mức độ kéo dài nợ quá hạn theo từng đối tượng sẽ cho phép ghi nhận và tập trung sự chú

ý để đề ra các biện pháp cần thiết nhằm thu hồi nợ, đồng thời có cơ sở dự đoán phần dự phòng cho các khoản nợ xấu, khó đòi Ngoài ra, kế toán trên cơ sở dồn tích còn cho phép ghi nhận các tài sản phi tiền tệ mà kế toán trên cơ sở tiền mặt không ghi nhận như hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính

1.2.2 Loại hình kế toán

Trong giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, kế toán phát triển trở thành một ngành khoa học Các lý thuyết kế toán được phát triển và vận dụng Header Page 38 of 166.

Footer Page 38 of 166.

Trang 39

29

trong thực tiễn hình thành một số loại hình kế toán: Kế toán tĩnh, Kế toán động,

Kế toán vi mô, Kế toán vĩ mô, Kế toán thuế, Kế toán hiện tại hóa Trong phạm vi luận án, tác giả chỉ đề cập đến loại hình kế toán động là loại hình ảnh hưởng trực tiếp nhất đến kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản

Loại hình kế toán động có ưu điểm là đã phản ánh và đánh giá thường xuyên được tất cả các tài sản, nguồn vốn và các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động của DN, phù hợp với thu nhập đem lại cho DN Do đó, kế toán động xác định được đầy đủ quy mô tài sản, nguồn vốn, các khoản nợ của DN và cho phép đánh giá được kết quả hoạt động giữa các kỳ hạch toán, khắc phục được những hạn chế của loại hình kế toán tĩnh Tuy nhiên, loại hình này cũng có nhược điểm là hạn chế tính khách quan trong việc phân kỳ các hoạt động kinh doanh dẫn đến kết quả hoạt động xác định được có thể có độ tin cậy không cao, có sự phân biệt giữa lợi nhuận tạo ra trong kỳ với lượng tiền lưu chuyển thuần trong kỳ

Theo loại hình kế toán động, nghĩa vụ của DN được phản ánh bao quát và rộng hơn loại hình kế toán tĩnh Khái niệm nghĩa vụ trong kế toán động bao gồm hai nghĩa vụ: nghĩa vụ cam kết và nghĩa vụ pháp lý Các nghĩa vụ cam kết thường chưa rõ ràng, nên DN phải xem xét có thỏa mãn các tiêu chí để ghi nhận các khoản nợ hay không Nếu thỏa mãn các điều kiện ghi nhận thì được gọi là các khoản dự phòng Như vậy, thực chất của các khoản dự phòng nợ phải trả chính là nghĩa vụ cam kết Và các khoản dự phòng nợ phải trả này chỉ phát sinh trong loại hình kế toán động, không tồn tại ở loại hình kế toán tĩnh

Đối với tài sản ngắn hạn, vì các tài sản của DN trong loại hình kế toán động được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc, không ghi nhận theo giá thị trường nên để đảm bảo nguyên tắc thận trọng trong kế toán là không đánh giá cao hơn giá trị của tài sản, cuối kỳ khi giá thị trường của tài sản bị giảm thấp hơn giá gốc,

DN phải lập dự phòng cho các tài sản bị giảm giá

Đối với tài sản dài hạn, vì các tài sản được ghi nhận theo giá gốc theo loại hình kế toán động, nên tại thời điểm lập BCĐKT, nếu có những dấu hiệu cho thấy tài sản có thể bị giảm giá trị, DN phải ước tính giá trị có thể thu hồi được Header Page 39 of 166.

Footer Page 39 of 166.

Trang 40

30

của tài sản Các tài sản dài hạn ghi nhận theo giá trị hợp lý như: Bất động sản đầu

tư, tài sản sinh học liên quan đến hoạt động nông nghiệp được đo lường theo giá trị hợp lý,… thì không xét đến khoản tổn thất tài sản

Như vậy, chỉ có kế toán trên cơ sở dồn tích và loại hình kế toán động thì các khoản dự phòng và tổn thất tài sản mới xuất hiện và được ghi nhận trong hệ thống kế toán Kế toán trên cơ sở dồn tích và loại hình kế toán động sẽ chi phối đến việc ghi nhận và xác định giá trị các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trên BCTC của DN

1.2.3 Các nguyên tắc kế toán chi phối đến sự hình thành các khoản dự phòng và tổn thất tài sản

Các nguyên tắc kế toán được hiểu là các tuyên bố được chấp nhận yêu cầu quy trình, phương pháp kế toán phải được thực hiện theo những khuôn khổ nhất định Các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất được hình thành chi phối tới việc ghi nhận, đo lường và trình bày thông tin về các đối tượng kế toán cụ thể Như đã phân tích ở trên, dựa vào cơ sở dồn tích và gắn với loại hình kế toán động sẽ làm phát sinh nhiều nguyên tắc kế toán như: nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc trọng yếu, nguyên tắc phù hợp,… Về cơ bản, các nguyên tắc kế toán này đều chi phối đến sự hình thành các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong DN

Nguyên tắc nền tảng đầu tiên là nguyên tắc giá gốc Nguyên tắc giá gốc đòi hỏi các đối tượng kế toán phải được ghi nhận ban đầu để trình bày trên BCTC theo giá gốc Sau ghi nhận ban đầu, giá gốc vẫn được duy trì mà không được điều chỉnh theo diễn biến của thị trường Giá gốc được xác định tại thời điểm các đối tượng kế toán được ghi nhận và được xác định cụ thể phù hợp với

sự hình thành từng đối tượng kế toán Từ đó các kỹ thuật xác định giá gốc của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí được phát triển

Về logic, nguyên tắc giá gốc gắn liền với loại hình kế toán động với giả định cơ bản là “Hoạt động liên tục” Với giả định này, các tài sản của đơn vị kế toán không được nắm giữ với mục đích bán mà sẽ được sử dụng trong tương lai, Header Page 40 of 166.

Footer Page 40 of 166.

Ngày đăng: 22/03/2017, 06:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ  Tên sơ đồ  Trang - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
n sơ đồ Trang (Trang 10)
Sơ đồ 1.1 – Sơ đồ ra quyết định - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Sơ đồ 1.1 – Sơ đồ ra quyết định (Trang 48)
Sơ đồ 1.2 – Sơ đồ trình tự hạch toán dự phòng nợ phải trả - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Sơ đồ 1.2 – Sơ đồ trình tự hạch toán dự phòng nợ phải trả (Trang 59)
Sơ đồ 1.3- Sơ đồ trình tự hạch toán tổn thất tài sản theo quan điểm thứ nhất - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ trình tự hạch toán tổn thất tài sản theo quan điểm thứ nhất (Trang 60)
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu kinh tế của ngành Xây dựng Việt Nam - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu kinh tế của ngành Xây dựng Việt Nam (Trang 83)
Bảng 3.1. Bảng tính tỷ lệ bảo hành CTXL qua các năm tại - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Bảng 3.1. Bảng tính tỷ lệ bảo hành CTXL qua các năm tại (Trang 146)
Bảng 3.6: Bảng kê trích lập dự phòng bảo hành công trình     Công ty............... - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Bảng 3.6 Bảng kê trích lập dự phòng bảo hành công trình Công ty (Trang 155)
Bảng 3.5: Phương án trích lập dự phòng bảo hành công trình     Công ty............... - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Bảng 3.5 Phương án trích lập dự phòng bảo hành công trình Công ty (Trang 155)
Bảng 3.7: Bảng kê trích lập dự phòng hợp đồng có rủi ro lớn     Công ty.............. - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Bảng 3.7 Bảng kê trích lập dự phòng hợp đồng có rủi ro lớn Công ty (Trang 156)
Bảng 3.8. Danh sách các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán  Công ty........... - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Bảng 3.8. Danh sách các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán Công ty (Trang 157)
“Bảng  3.4. Bảng tính tỷ  lệ nợ phải thu khó đòi qua  các  năm tại Công ty cổ  phần  LICOGI 166” đã được đề cập ở phần trên - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
ng 3.4. Bảng tính tỷ lệ nợ phải thu khó đòi qua các năm tại Công ty cổ phần LICOGI 166” đã được đề cập ở phần trên (Trang 159)
Bảng 3.12: Bảng kê tổng hợp các khoản dự phòng và tổn thất tài sản      Công ty.............. - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
Bảng 3.12 Bảng kê tổng hợp các khoản dự phòng và tổn thất tài sản Công ty (Trang 160)
BẢNG TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 3522-DỰ PHÕNG BẢO HÀNH CTXL                                                  Năm:........... - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
3522 DỰ PHÕNG BẢO HÀNH CTXL Năm: (Trang 163)
BẢNG TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 3524-DỰ PHÕNG HỢP ĐỒNG - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
3524 DỰ PHÕNG HỢP ĐỒNG (Trang 164)
BẢNG TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 2293-DỰ PHÕNG PHẢI THU KHÓ ĐÕI - Hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam
2293 DỰ PHÕNG PHẢI THU KHÓ ĐÕI (Trang 165)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w