1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt Nam và tình hình thực tiễn đang tính ở Hà Nội

81 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 10,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chỉ số giá tháng báo cáo so với kỳ gốc được tính bằng cách so sánh trực tiếp giá bình quân tháng báo cáo với giá kỳ gốc năm 2000 của các mặt hàng đại diện từ đó tính chỉ số phân nhóm b

Trang 2

Lời mở đầu:

Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, sự phát triển đó nảy sinh nhiều mối quan hệ trao đổi trên thị trường trong đó sự biến động của giá cả là một trong những nhân

tố quan trọng tác động đến mọi mặt của nền kinh tế xã hội và là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư Vì vậy nhà nước ta điều tiết sản xuất, ổn định giá cả, nhằm đạt hiệu quả cao trong môi trường hợp tác và cạnh tranh thông qua các yếu tố cung cầu, giá cả, sức mua đồng tiền, tỷ giá hối đoái…

Trong nên kinh tế như hiện nay tất yếu phải nói đến giá cả, sự biến động về giá và việc tính chỉ số giá là điều rất cần thiết

Nhìn vào chỉ số giá, mức biến động giá, tỷ lệ lạm phát cao hay thấp chúng ta có thể biết được một cách tổng quan về sự ổn định của nền kinh tế Chỉ số giá là một trong những cơ

sở để lập kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế, ngoài ra nó còn dùng để đánh giá mức sống của các tầng lớp dân cư

Chính vì sự cần thiết của chỉ số giá nên trong quá trình thực tập này em lựa chọn

đề tài nghiên cứu về:

“Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt Nam và tình hình thực tiễn đang tính ở Hà Nội”

Đề tài bao gồm những nội dung sau:

Lời mở đầu

Chương I: Những vấn đề lưý luận chung về chỉ số và hệ thống chỉ số giá cả

Chương II: Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt Nam Chương III: Vận dụng tính cho thành phố Hà Nội qua giai đoạn 2004-2005 Kết luận

Trang 3

Chương I: Những vấn đề lưý luận chung về chỉ số và hệ thống chỉ số giá cả

1_ Giới thiệu về chỉ số

1.1_ Khái niệm và phân loại chỉ số:

1.1.1_Khái niệm chung:

Chỉ số là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa các mức độ của một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp Chỉ số được tính bằng cách so sánh hai mức độ của hiện tượng ở hai khoảng thời gian hoặc không gian khác nhau nhằm nêu nên sự biến động của hiện tượng qua không gian và thời gian

Trong phân tích thống kê, chỉ số được sử dụng để:

Thứ nhất là nghiên cứu sự biến động về mức độ của hiện tượng qua thời gian các chỉ

số này được gọi là chỉ số phát triển

Thứ hai là để nghiên cứu sự biến động của hiện tượng qua không gian các chỉ số này được gọi là chỉ số không gian

Thứ ba là phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch về các chỉ tiêu kinh tế

Thứ tư là xác định vai trò ảnh hưởng biến động của các nhân tố khác nhau tới sự biến động của hiện tượng phức tạp

1.1.2_ Phân loại chỉ số:

Chỉ số có thể chia làm nhiều loại theo các cách phân loại khác nhau

- Xét theo đối tượng mà chỉ số phản ánh:

+ Chỉ số phát triển: Là chỉ số phát triển theo thời gian trong một không gian cụ thể

+ Chỉ số không gian: Là chỉ số phát triển qua không gian trong một thời gian cụ thể + Chỉ số kế hoạch: Gồm chỉ số nhiệm vụ kế hoạch và hoàn thành kế hoạch

- Xét theo phạm vi của tổng thể hiện tượng nghiên cứu:

+ Chỉ số đơn: Phản ánh sự biến động của từng hiện tượng, từng đơn vị cá biệt

+Chỉ số tổng hợp: Phản ánh sự biến động chung của nhiều đơn vị, của nhiều phần tử, nhiều hiện tượng cá biệt

Trang 4

+Chỉ số chỉ tiêu chất luợng: Phản anh sự biến động của một chỉ tiêu chất lượng nào đó +Chỉ số chỉ tiêu số lượng: Phản ánh sự biến động của một chỉ tiêu khối luợng nào đó

1.2_ Khái niệm phương pháp chỉ số:

Trong thống kê, phương pháp chỉ số là phương pháp phân tích thống kê nghiên cứu sự biến động của những hiện tượng kinh tế phức tạp bao gồm nhiều phần tử mà các đại lượng biểu hiện không thể trực tiếp cộng được với nhau

Phương pháp chỉ số có những đặc điểm sau:

- Biểu hiện về lượng của các phần tử trong hiện tượng phức tạp được chuyển về dạng chung có thể trực tiếp cộng được với nhau, dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các nhân tố nghiên cứu với các nhân tố khác

- Khi nghiên cứu sự biến động của một nhân tố, bằng cách giả định các nhân tố khác của hiện tượng phức tạp không biến đổi Phương pháp chỉ số tạo khả năng loại trừ ảnh hưởng biến động của các nhân tố này để khảo sát riêng sự biến động của nhân tố cần nghiên cứu

2_ Lưý luận chung về phương pháp nghiên cứu chỉ số giá

Chỉ số giá cả là chỉ tiêu tương đối phản ánh tình hình biến động của giá cả theo thời gian và không gian

Chỉ số phản ánh tình hình biến động của hiện tượng qua thời gian gọi là chỉ số phát triển, nó bao gồm chỉ số đơn và chỉ số tổng hợp

2.1_ Chỉ số đơn:

Chỉ số đơn phản ánh sự biến động của từng phần tử, từng hiện tượng cá biệt

Chỉ số giá đơn: Cho chúng ta nghiên cứu việc biến động giá cả thời kì này so với thời kỳ gốc của từng mặt hàng

1

p : giá đơn vị sản phẩm (hàng hoá ) kì báo cáo, kì nghiên cứu

Trang 5

2.2_ Chỉ số tổng hợp:

2.2.1_ Chỉ số giá tổng hợp của Laspeyres:

Ta có quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ ở kì gốc

0 0

0 1

.

.

q p

q p

p1.q0: Tổng mức doanh thu hàng hoá kì gốc theo giá kì báo cáo

p0.q0: Tổng mức doanh thu hàng hoá kì gốc

Nếu đặt d0=

0 0.qp

.qp

, d0: là tỷ trọng (hay kết cấu ) doanh thu kì gốc mỗi loại hàng hoá, đơn

vị tính bằng lần

Và D0=

0 0.qp

.qp

.100, D0: là tỷ trọng (hay kết cấu ) doanh thu kì gốc mỗi loại hàng hoá, đơn vị tính bằng %

Thì Chỉ số giá của Laspeyres có dạng:

L P

Trang 6

- Ưu điểm: Chỉ số giá cả của Laspeyres không đòi hỏi phải tính ngay tổng doanh thu các loại hàng hoá kì nghiên cứu (p1.q1) và thường có sẵn các khối lượng kì gốc (q0)

- Nhược điểm:

+Trong thực tế với chỉ số giá cả của Laspeyres quyền số xác định theo lượng hàng hoá tiêu thụ kì gốc thì không tính được số tiền thực tế dân cư đã tiết kiệm được hoặc phải chi thêm

do giá cả biến động ở kì báo cáo vì thực ra hàng hoá đã bán ra theo giá kì gốc và nhân dân

đã bỏ tiền ra mua, vì vậy nó không có ý nghĩa thực tế trong kinh tế

+ Chỉ số giá cả theo Laspeyres không có tính nghịch đảo và tính liên hoàn

2.2.2_ Chỉ số giá tổng hợp của Paashe:

Ngược với Laspeyres ta chọn quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ ở kì báo cáo hay kì nghiên cứu

1 1

.

.

q p

q p

p

I : Chỉ số tổng hợp giá cả của Paashe

p1.q1: Tổng mức doanh thu hàng hoá kì báo cáo

p0.q1: Tổng mức doanh thu hàng hoá kì báo cáo theo giá kì gốc

Nếu đặt d1=

1 1.qp

.qp

d1: là tỷ trọng (hay kết cấu ) doanh thu kì nghiên cứu mỗi loại hàng hoá, đơn vị tính bằng lần

.qp

.qp1 1

Trang 7

Trong nhiều trường hợp, việc tính toán các trị số p0q1 hoặc p1q0 khá khó khăn do không có số lượng hàng hoá từng loại (q0 hoặc p1), ta lại có sẵn các chỉ số đơn, các công thức trên có thể thay đổi như sau để có thể tính toán dễ dàng hơn:

0 0 0 1

0 0

0 1

q p

q p p p q

p

q p

0 0

0 0

.

q p

q p

1 1 1

1 1 0

1 1 1

0

1 1

1

q p i

q p q

p p p

q p q

p

q p

p

(7)

Ưu nhược điểm của phương pháp Paashe

- Ưu điểm:Chỉ số giá cả tổng hợp của Paashe có tính hiện thực vì lượng hàng hoá tiêu thụ ở kỳ báo cáo, kì mà đang được nghiên cứu được chọn làm quyền số Nó thích hợp với thời đại ngày nay khi máy tính đã ngày càng hoàn thiện do đó nó càng được dùng nhiều hơn vì tính hiện thực của nó, mặt khác chỉ số giá tổng hợp của Paashe có quyền số xác định theo lượng hàng hóa tiêu thụ kì báo cáo và cho phép ta tính được số tiền thực tế dân cư đã tiết kiệm đựơc hoặc phải chi ra do biến động ở thời kì báo cáo

- Nhược điểm: Cũng như chỉ số tổng hợp giá cả của Laspeyres, chỉ số giá tổng hợp của Paashe không có tính nghịch đảo và tính liên hoàn

Ví dụ minh hoạ1:

Có hai mặt hàng trên thị trường như sau:

Loại hàng Giá (p) ( USD) Lượng tiêu thụ(q) (tấn) Chỉ số giá

0 1

.

.

q p

q p

* 30

50

* 16 20

* 45

1 0

p q

p

Trang 8

Theo công thức (5) ta có:

65 , 1 40

* 8 25

* 30

40

* 16 25

* 45

.

1 0

1 1

q p

1 1 1

0

1 1

q p p p

q p q

p

q p

1765

1765

2.2.3_Chỉ số giá tổng hợp của Fisher:

Chỉ số giá tổng hợp của Fisher là trung bình nhân của hai chỉ số giá tổng hợp Laspeyres và chỉ số giá tổng hợp Paashe

1 1 0

0

0 1

.

.

*

.

q p

q p q

p

q p I

I

I P F P L p P (8)

Trong đó:

F P

I : chỉ số giá tổng hợp của Fisher

L P

I : Chỉ số giá tổng hợp của Laspeyres

P p

I : Chỉ số giá tổng hợp của Paashe

Trong nhiều trường hợp tính toán với quyền số quá chênh lệch, dẫn đến các kết qủa quá sai lệch giữa hai chỉ số giá tổng hợp Laspeyres và Paashe thì việc dùng chỉ số Fisher là rất cần thiết

Trong ví dụ minh hoạ 1 ở trên ta có:

F P

I = 1 , 7 1 , 65  1 , 675

Ưuđiểm của phơng pháp Fisher:

- Phương pháp Fisher đã khắc phục được những nhược điiểm của phương pháp Laspeyres và phương pháp Passhe là không có tính nghịch đảo và tính liên hoàn

- Trong nhiều trường hợp tính toán với quyền số quá chênh lệch, dẫn đến các kết quả sai lệch giữa hai chỉ số Laspeyres và chỉ số Passhe, thì dùng chỉ số Fisher sẽ giải quyết được sự khác nhau đó và cho kết quả là đáng tin cậy hơn

2.2.4_ Chỉ số giá cả không gian:

Trang 9

Chỉ số không gian được sử dụng trong phân tích và so sánh kinh tế về mặt không gian

2.2.4.1_ Chỉ số giá đơn:

Y X

i : là chỉ số một loại hàng hóa nào đó khi so sánh hàng hoá đó ở địa phương

X với địa phương Y

i : là chỉ số của một loại hàng hoá nào đó khi so sánh hàng hoá đó ở địa

phương Y với địa phương X

PX: là giá cả một loại hàng hoá nào đó ở địa phương X

PY: là giá cả một loại hàng hoá nào đó ở địa phương Y

2.2.4.2_Chỉ số giá tổng hợp:

Chỉ số giá bán lẻ tổng hợp các mặt hàng tại hai thị trường có thể tính theo nhiều quyền số khác nhau và thông thường người ta chọn quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ chung của cả hai thị trường

Y X

Trang 10

1_ Chỉ số giá tiêu dùng

1.1_ Chỉ số giá tiêu dùng:

Là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động của giá tiêu dùng cho sinh hoạt đời sống của cá nhân và gia đình Giá gốc so sánh của chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng, hàng năm là giá tiêu dùng bình quân năm 2000 Từ chỉ số giá tiêu dùng so với gốc

cố định 2000, có thể tính chỉ số giá tiêu dùng so với các gốc so sánh khác

Để tính chỉ số giá tiêu dùng, cần thu thập giá của mặt hàng và các dịch vụ đại diện, tiêu dùng phổ biến của dân cư theo một danh mục xác định thường gọi là “rổ” hàng hoá và dịch vụ

Giá của rổ hàng hoá của kì gốc được qui định là 100 và giá của các kì khác được biểu hiện bằng tỷ lệ phần trăm so với gía kì gốc

ví dụ: Tháng 3 năm 2004 so với tháng 2 năm 2004, giá của toàn bộ mặt hàng trong danh mục tăng 0,4% thì chỉ số giá là 100,4%

1.2_ Chỉ số giá tiêu dùng được tính hàng tháng và tính cả năm

- Chỉ số giá tháng báo cáo so với kỳ gốc được tính bằng cách so sánh trực tiếp giá bình quân tháng báo cáo với giá kỳ gốc (năm 2000) của các mặt hàng đại diện từ đó tính chỉ số phân nhóm bằng phương pháp bình quân số học giản đơn của các chỉ số giá mặt hàng và dịch vụ đại diện trong phân nhóm Từ các chỉ số phân nhóm tính các chỉ số nhóm và chỉ số chung bằng phương pháp bình quân gia quyền với quyền số tương ứng

- Chỉ số giá tháng báo cáo so với tháng trước được tính bằng cách lấy chỉ số giá tháng báo cáo so với kỳ gốc chia cho chỉ số giá tháng trước so vơí kỳ gốc

- Chỉ số giá tháng báo cáo so cùng tháng năm trước và tháng 12 năm trước hoặc so với một tháng bất kỳ trước tháng báo cáo được tính từ chỉ số giá tháng báo cáo so với kỳ gốc và chỉ

số giá tháng đó so kỳ gốc

- Chỉ số giá tiêu dùng cả năm so kỳ gốc là bình quân số học giản đơn của chỉ số hàng tháng

so với kỳ gốc của 12 tháng trong năm

Trang 11

2_ Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất

2.1_ Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, thuỷ sản

2.1.1_ Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, thuỷ sản:

Là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động của giá bán ra các sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, và thuỷ sản Giá gốc so sánh của chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm và thuỷ sản là giá bình quân năm 2000

Từ chỉ số giá so với gốc cố định năm 2000, có thể tính cho các gốc so sánh khác

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, thuỷ sản được tính riêng và tính chung cho các nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản

2.1.2_ Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, thuỷ sản được tính hàng tháng và hàng năm

- Chỉ số tháng báo so với kỳ gốc được tính bằng cách so sánh trực tiếp giá bình quân tháng báo cáo với giá kỳ gốc năm 2000 Từ đó tính chỉ số phân nhóm bằng phương pháp bình quân số học giản đơn của các chỉ số giá mặt hàng đại diện trong từng phân nhóm , từ các chỉ số phân nhóm tính chỉ số nhóm và chỉ số chung bằng các phương pháp bình quân gia quyền tương ứng

- Chỉ số giá tháng báo cáo so với tháng trước được tính bằng cách chia chỉ số giá tháng báo cáo so với kỳ gốc cho chỉ số giá tháng trước so với kỳ gốc

- Chỉ số giá năm so kỳ gốc là số bình quân số học giản đơn của chỉ số 12 tháng trong năm

so với kỳ gốc

2.2_ Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp

2.2.1_Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp:

Là chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp Giá gốc so sánh trong chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp là giá bán bình quân năm 2000 Từ chỉ số giá so với gốc

cố định năm 2000, có thể tính cho các gốc so sánh khác

2.2.2_ Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp được tính hàng

tháng, hàng năm

Trang 12

- Chỉ số tháng báo so với kỳ gốc của mặt hàng đại diện được tính bằng cách so sánh trực tiếp giá bình quân tháng báo cáo với giá kỳ gốc năm 2000 Từ đó tính chỉ số phân nhóm bằng phương pháp bình quân số học giản đơn của các chỉ số giá mặt hàng đại diện trong từng phân nhóm , từ các chỉ số phân nhóm tính chỉ số nhóm và chỉ số chung bằng các phương pháp bình quân gia quyền tương ứng

- Chỉ số giá tháng báo cáo so với tháng trước được tính bằng cách chia chỉ số giá tháng báo cáo so với kỳ gốc cho chỉ số giá tháng trước so với kỳ gốc

- Chỉ số giá năm so kỳ gốc là số bình quân số học giản đơn của chỉ số tháng và cả năm

3_Chỉ số giá bán vật tư cho sản xuất

- Chỉ số giá bán vật tư cho sản xuất là chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá bán vật tư cho sản xuất Giá gốc so sánh trong chỉ số giá bán vật tư cho sản xuất là giá bán bình quân năm 2000 Từ chỉ số giá so với gốc cố định năm 2000, có thể

4_Chỉ số giá cước vận tải hàng hóa

- Chỉ số giá cước vận tải hàng hoá là chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu hướng và mức độ biến động của giá cước vânh tải hàng hóa Giá gốc so sánh trong chỉ số giá cứơc vận tải hàng hoá là giá bán bình quân năm 2000 Từ chỉ số giá so với gốc cố định năm 2000, có thể tính cho các gốc so sánh khác

- Chỉ số giá cước vận tải hàng hoá được tính chung và tính riêng cho 4 loại phương tiện vận tải: Đường sắt, ô tô ,đường biển và đường sông thuộc các thành phần kinh tế tương ứng với

4 ngành cấp 4 (Vận tải đường sắt, đường bộ khác, đường ven biển và đường sông) của hệ thống ngành kinh tế quốc dân

- Chỉ số giá cước vận tải hàng hoá được tính hàng quý và cả năm

+ Chỉ số giá quý báo cáo so với quý gốc của từng loại cước đại diện được tính bằng

Trang 13

số nhóm giá cước vận tải bằng phương pháp bình quân số học giản đơn Từ các chỉ số nhóm tính chung bằng phương pháp bình quân gia quyền với quyền số tương ứng của các nhóm giá cước

+ Chỉ số giá quý báo cáo so với quý trước được tính bằng cách chia chỉ số giá quý báo cáo so kỳ gốc cho chỉ số giá quý trước so kỳ gốc

+ Chỉ số giá năm so với kỳ gốc là số bình quân số học giản đơn của chỉ số 4 quý so với kỳ gốc

5_Chỉ số giá xuất khẩu – chỉ số nhập khẩu hàng hóa

5.1_ Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá

- Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá là chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu hướng và mức độ biến động của giá xuất khẩu hàng hoá Giá gốc so sánh của chỉ số xuất khẩu hàng hoá là giá xuất khẩu bình quân năm 2000, từ đó tính chỉ số so với các gốc khác Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá được tính chung và tính riêng cho hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất và một số nhóm hàng hoá theo danh mục mặt hàng xuất khẩu đại diện

- Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá được tính theo điều kiện giá FOB tại biên giới Việt Nam Đồng tiền tính giá là USD, chỉ số giá quý báo cáo so với quý trước được tính bằng cách chia chỉ số quý báo cáo so với kỳ gốc cho chỉ số quý trước so với kỳ gốc.Chỉ số giá năm so

kỳ gốc là số bình quân số học giản đơn của chỉ số 4 quý so với kỳ gốc

5.2_Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá

- Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá là chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu hướng và mức độ biến động của giá nhập khẩu hàng hoá Giá gốc so sánh của chỉ số nhập khẩu hàng hoá là giá nhập khẩu bình quân năm 2000, từ đó tính chỉ số so với các gốc khác Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá được tính chung và tính riêng cho hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất và một số nhóm hàng hoá theo danh mục mặt hàng nhập khẩu đại diện

- Chỉ số giá nhập khẩu được tính cho hàng quý và cả năm Chỉ số giá quý báo cáo so kỳ gốc được tính bằng cách so sánh trực tiếp giá bình quân quý báo cáo với giá kỳ gốc năm

2000, từ đó tính chỉ số phân nhóm bằng phương pháp bình quân số học giản đơn Từ các chỉ số phân nhóm tính các chỉ số nhóm và chỉ số chung bằng phương pháp bình quân gia quyền với quyền số tương ứng, Chỉ số giá quý báo cáo so với quý trước được tính bằng

Trang 14

cách chia chỉ số quý báo cáo so với kỳ gốc cho chỉ số quý trước so với kỳ gốc, chỉ số giá năm so kỳ gốc là số bình quân số học giản đơn của chỉ số 4 quý trong năm so với kỳ gốc

6_Chỉ số vàng và chỉ số giá ngoại tệ

6.1_Chỉ số giá vàng:

- Giá vàng được thu thập để tính chỉ số giá vàng thống nhất cả nước là lấy giá vàng 99,9%

- Chỉ số giá vàng được tính hàng tháng và cả năm:

+ Chỉ số giá vàng hàng tháng được so sánh với 4 gốc: So với kỳ gốc(chọn giá vàng bình quân năm 2000) so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước và so với tháng 12 năm trước

+ Chỉ số giá vàng tháng báo cáo so với kỳ gốc được tính bằng cách so sánh trực tiếp giá vàng tháng báo cáo với giá vàng kỳ gốc, chỉ số giá vàng tháng báo cáo so với kỳ gốc cho chỉ số giá vàng tháng trước so với kỳ gốc

6.2_Chỉ số giá ngoại tệ:

- Giá Đô la Mỹ (USD) là giá đại diện được thu thập để tính chỉ số giá ngoại tệ Giá Đô la

Mỹ (USD) được biểu hiện bằng tỷ giá chuyển đổi tiền USD ra tiền Việt Nam với đơn vị tính là Đồng Việt Nam/1 USD của tờ 50-100 USD

- Phương pháp tính giá Đô la Mỹ bình quân tháng và phương pháp tính chỉ số giá ngoại tệ tương tự như đối với giá vàng nêu trên

Trang 15

Chương II: Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt Nam I_ Khái niệm chung

1_ Giá tiêu dùng và chỉ số giá tiêu dùng

1.1_Giá tiêu dùng:

Giá tiêu dùng là giá mà người tiêu dùng mua hàng hoá hoặc chi trả cho các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho đời sống hàng ngày

Giá tiêu dùng được biểu hiện bằng giá bán lẻ hàng hoá trên thị trường và giá dịch vụ phục

vụ sinh hoạt đời sống, không bao gồm giá đất đai, giá hàng hoá bán cho sản xuất và các công việc có tính chất sản xuất kinh doanh Vì vậy để tính chỉ số giá tiêu dùng, cần thu thập giá của các mặt hàng và các dịch vụ đại diện, tiêu dùng phổ biến của dân cư theo danh mục xác định – thường gọi là “rổ” hàng hoá, dịch vụ

Giá gốc so sánh của chỉ số giá tiêu hàng tháng, hàng năm là giá tiêu dùng bình quân năm

2000 được lập riêng cho hai khu vực thành thị, nông thôn và được cố định để sử dụng từ 4 đến 5 năm

Bảng giá kỳ gốc của từng tỉnh thành phố là bảng giá bình quân năm 2000 của các mặt hàng

và dịch vụ đại diện theo danh mục, được các tỉnh thành phố tổng hợp từ báo cáo “giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng” của 12 tháng trong năm 2000 của từng khu vực thành thị và nông thôn Trong đó, giá bình quân của cả năm của mỗi mặt hàng được tính từ giá của các điểm điều tra theo từng khu vực thành thị và nông thôn, bằng phương pháp bình quân số học giản đơn

Trang 16

3_Chọn danh mục mặt hàng đại diện:

Nền kinh tế nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản ký của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có

sự điều tiết của kế hoạch ở tầm vĩ mô, thông qua quản lý và kiểm soát bằng pháp luật của nhà nước thì nó đã dẫn tới sự tác động, thâm nhập lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế, quá trình buôn bán diễn ra tự do, hàng hoá buôn bán trên thị trường ngày càng phong phú

và đa dạng với nhiều chủng loại và quy cách và phẩm chất khác nhau, có loại hàng hoá bán theo thời vụ nhưng cũng có loại hàng hoá bán theo mùa, theo vụ Mặt khác giá tiêu dùng lại được thống kê trên cơ sở giá bán lẻ của các mặt hàng và dịch vụ đại diện, nhưng quá trình thu thập giá tiêu dùng chúng ta không thể và cũng không cần thiết phải theo dõi, thu thập giá của tất cả các mặt hàng trên thị trường

Để thu thập giá bán lẻ của các mặt hàng và dịch vụ đại diện trên thị trường phục vụ việc tính chỉ số giá tiêu dùng, trước tiên cần xây dựng một danh mục các mặt hàng đại diện chuẩn cả nước

Danh mục này được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau:

- Chọn các loại hàng hoá phổ biến tiêu dùng của dân cư trong giai đoạn hiện nay, trên

cơ sở các thông tin chi tiết về tập quán, thói quyen mua sắm của nhân dân

- Dựa trên cơ cấu tiêu dùng của dân cư (quyền số) những nhóm chỉ tiêu nào chiếm tỷ trọng lớn thì chọn số mặt hàng, dịch vụ cụ thể nhiều hơn

- Chọn các loại hàng hoá dịch vụ có khoảng thời gian tồn tại lâu trên thị trường trên

cơ sở tham khảo ý kiến của người sản xuất, nhà nhập khẩu, các cơ quan quản lý, các công

ty thương mại về các mặt hàng đang lưu thông để xác định khả năng thời gian tồn tại trên thị trường của chúng

Sau một thời gian kể từ năm 1989 cho đến nay cơ cấu hàng hoá trên thị trường đã có nhiêu thay đổi rất lớn do vậy Tổng cục thống kê đã tiến hành rà soát lại danh mục để loại bỏ các loại hàng hoá và dịch vụ đã lạc hậu hoặc ít lưu thông trên thị trường nhưng đồng thời cũng

bổ sung thêm các loại hàng hoá hoặc dịch vụ mới xuất hiện và đang trở thành phổ biến Hiện nay danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện chuẩn để tính chỉ số giá tiêu dùng hiện nay gồm tổng cộng 396 mặt hàng và dịch vụ, trong đó các mặt hàng đại diện được chia thành 10 nhóm cấp 1 (được chia ra thành 2 bộ phận: Hàng hoá tiêu dùng và Dịch vụ tiêu

Trang 17

32/86 nhóm cấp 3 đã được chia thành 75 nhóm cấp cơ sở (cấp 4) ; các nhóm cấp 3 còn lại vẫn giữ nguyên như danh mục trước

Mã số mặt hàng, dịch vụ đại diện được quy đinh bằng 6 chữ số Chữ số đầu biểu thị nhóm cấp 1; Chữ số thứ 2 biểu thị nhóm cấp 2; Chữ số thứ 3 và 4 biểu thị nhóm cấp 3; Chữ số thứ 5 và 6 biểu thị số thứ tự của mặt hàng và dịch vụ đại diện trong nhóm cấp 3

Cụ thể được thể hiện trong phụ mục 1

II_ Phương pháp điều tra thu thập giá

- Đối với hàng hoá, cần xác định rõ tính mô tả của mỗi mặt hàng như: Nhãn hiệu, thành phần cấu tạo, số moden, kiểu dáng cỡ, loại màu, dạng đóng gói…

- Đối với mặt hàng có nhiều nhãn hiệu, chủng loại, quy cách phẩm chất, kích cỡ khác nhau,

dễ bị nhầm lẫn với một số mặt hàng khác các hướng dẫn kỹ để điều tra viên thu thập gía đúng mặt hàng có phẩm chất quy cách đã xác định trong danh mục

- Đối với dịch vụ tuy khó khăn trong việc xác định đặc tính, chất lượng của chúng, tuy nhiên cần chọn những tiêu thức miêu tả nổi bật về từng loại dịch vụ để đưa vào danh mục.Chẳng hạn như: trong dịch vụ y tế, nếu chọn dịch vụ chữa răng thì phảI ghi rõ, công khám răng tại phòng khám tư nhân thông thường hoặc công khám tại phòng khám đa khoa tại phòng khám dịch vụ của bệnh viện

1.2_Không chọn các nhóm mặt hàng không có tên trong danh mục chuẩn của cả nước

2_ Mạng lưới điều tra giá

Việc thu thập giá theo danh mục trên được thực hiện thông qua mạng lưới điều tra giá ở các tỉnh/thành phố trên cả nước; bao gồm các khu vực điều tra và các điểm điều tra

Trong đó:

Trang 18

2.1_ Khu vực điều tra: Gồm chợ và các khu vực tập trung buôn bán của các tỉnh / thành

phố

- Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần chọn các khu vực điểu tra ở cả thành thị và nông thôn Các khu vực điều tra này phảI đủ các mặt hàng và dịch vụ đại diện cho tiêu dùng của địa phương để cung cấp giá cho việc tính chỉ số giá khu vực nông thôn, thành thị

2.2_Điểm điều tra: Là sạp hàng, quầy hàng, cửa hàng bán lẻ hàng hoá hoặc dịch vụ, là văn

phòng quản lý giao thông, trường học, bệnh viện, cơ sở kinh doanh du lịch, thể dục, thể thao, giải trí …có địa điểm lkinh doanh ổn định, thuộc các thành phần kinh tế

Điểm điều tra cấn được chọn trong khu vực điều tra

Cần định kỳ xem xét lại các điểm điều tra giá để đảm bảo thu thập đủ số lượng, đúng chất lượng quy cách phẩm cấp các loại hàng hoá dịch vụ đã quy định tại mỗi điểm

Giá các loại hàng hoá và dịch vụ qua các kỳ điều tra cần được thu thập tại những điểm điều tra cố định Trường hợp một số mặt hàng tươI sống không có quầy hàng cố định thì điều tra viên cần chú ý lấy giá trong khu vực cố định tập trung loại hàng hoá đó

Đối với mỗi khu vực điều tra: Mỗi mặt hàng hoá thuộc nhóm lương thực - thực phẩm được điều tra ít nhất tại 3 điểm điều tra, các mặt hàng dịch vụ chỉ cần điều tra ở 1 điểm điều tra, các mặt hàng khác được điều tra ít nhất tại 2 điểm điều tra

3_Số lượng khu vực, điểm điều tra

- Số lượng khu vực điều tra quy định như sau:

+ Hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh chọn 6 khu vực điều tra

+ Các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa chọn 2 khu vực điểm điều tra

+ Các tỉnh thành phố còn lại chọn từ 3-5 khu vực điều tra

-Số điểm điều tra, điều tra viên quy định như sau:

+ Tuỳ theo tình hình cụ thể và số lượng, loại mặt hàng điều tra, số người bán hàng tại từng khu vực để xác định để xác định số điểm điều tra cần thiết trong mỗi khu vực

Trang 19

+ Đối với những mặt hàng thường có sự khác biệt nhau về giá (do có thể mặc cả) cần chọn

số điểm điều tra nhiều hơn so với những mặt hàng giá tương đối ổn định.ví dụ như nhóm hàng thực phẩm cần cần chọn nhiều điểm điều tra hơn nhóm báo chí vì giá báo chí thường

ổn định hơn

+ Mỗi điều tra viên phụ trách thu thập giá của khoảng 100 mặt hàng

+ Mỗi khu vực điều tra thành thị (Chợ hoặc khu phố tập trung kinh doanh…) cần 3-4 điều tra viên, mỗi khu vực điều tra nông thôn (chợ huyện cần 2-3 điều tra viên)

- Chú ý chọn các khu vực điều tra ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn và bố trí điều tra viên sao cho đảm bảo thu thập đủ giá của các mặt hàng theo danh mục của địa phương

4_Phương pháp điều tra giá tiêu dùng

Để có chỉ số giá tiêu dùng phản ánh đúng mức độ biến động của giá cả trên thị trường, việc thu thập giá đóng vai trò rất quan trọng Chính vì vậy từ nhiêu năm nay, phương pháp điều tra giá đã được xác định là điều tra trực tiếp, do các điều tra viên ở các tỉnh thành phố thực hiện Cách làm như sau:

-Căn cứ vào danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện của tỉnh thành phố để chọn khu vực, điểm điều tra và phân công cho từng điều tra viên cần thu thập gía các mặt hàng, dịch vụ cụ thể

-Tại mỗi điểm điều tra viên cần trực tiếp theo dõi, quan sát, ghi chép giá hàng hoá hoặc dịch vụ mà khách hàng thực trả tiền, ghi vào sổ trung gian hoặc ghi trực tiếp vào biểu điều tra (biểu 1.1)(Xem phụ lục 2)

- Khi điều tra giá cần lưu ý kết hợp quan sát, hỏi cả người mua và người bán, chú ý các trường hợp người bán hàng hay nói giá cao, khách hàng mua mặc cả…

- Nếu mặt hàng nào tập quán mua bán của địa phương khác với đơn vị tính trong danh mục điều tra viên cần quy đổi lại theo đơn vị chuẩn cho thống nhất

- Cuối ngày điều tra, điều tra viên phảI kiểm tra lại số liệu đã ghi chép trong sổ trung gian

để ghi vào biểu điều tra hoặc kiểm tra lại biêủ điều tra đã ghi và nộp cho cục thống kê địa phương vào ngày hôm sau

-Thời gian thích hợp để lấy giá là lúc diễn ra bình thường nhất trong ngày thời gian đến các điểm điều tra cần được quy định thống nhất giữa các kỳ điều tra

Trang 20

- Trong trường hợp hàng hoá hoặc dịch vụ không phát sinh trong kỳ điều tra do tính thời vụ hoặc lý do nào khác (hàng kém phẩm chất, lỗi mốt, thay đỗi mẫu mã…) cần ghi chú rõ để

cơ quan thống kê xử lý

- Nếu kỳ điều tra trùng vào những ngày lễ tết, nhu cầu tiêu dùng thường tăng cao, giá thu thập được sẽ phản ánh cả sự tăng giá thuần tuý và sự tăng giá do nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh đột biến Trong trường hợp này, cần kết hợp quan sát, lấy giá trước và sau thời điểm quy định để đưa ra mức giá trong kỳ phản ánh đúng xu hướng, loại trừ bớt ảnh hưởng của các yếu tố đột biến

5_ Thời gian điều tra giá

Theo quy định chung mỗi tháng phảI điều tra 3 kỳ để thu thập giá,vào các ngày sau đây:

Kỳ 1 vào ngày 25 tháng trước tháng báo cáo

Kỳ 2 vào ngày 05 tháng báo cáo

Kỳ 3 vào ngày 15 tháng báo cáo

Tuy nhiên do sự biến động giá cả theo thời gian của các loại mặt hàng có khác nhau nên giảm bớt khối lượng công việc thu thập giá, lần này có quy định giảm bớt kỳ điều tra cho một số mặt hàng do nhà nước quản lý giá và một số mặt hàng giá ít thay đôỉ trong một khoảng thời gian ngắn

Theo đó: Chỉ còn 92 mặt hàng, dịch vụ thu thập 3 kỳ /tháng; 286 mặt hàng thu thập 1 kỳ / tháng; 14 mặt hàng thu thập giá khi nhà nước có điều chỉnh giá

Quy định thời điểm thu thập giá những mặt hàng chỉ thu thập giá 1 kỳ/ tháng thu thập vào

kỳ 3 (ngày 15 tháng báo cáo).Những mặt hàng do nhà nước quản lý thu thập giá của ngày điều chỉnh, sao đó tính lại gía bình quân tháng theo số ngày trong tháng

III_Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt Nam

Chỉ số giá tiêu dùng được tính từ giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng (rổ hàng hoá và dịch vụ đại diện) với quyền số là cơ cấu chi tiêu của các hộ gia đình

Chỉ số giá tiêu dùng được tính hàng tháng, cho từng tỉnh, thành phố và cả nước (bao gồm chỉ số của khu vực thành thị, nông thôn, chỉ số chung của từng tỉnh/ thành phố, các vùng kinh tế và cả nước)

Trang 21

Trong điều kiện về vật chất, kỹ thuật, nguồn kinh phí hiện nay và cũng phù hợp với phương pháp nhiều nước, chỉ số giá tiêu dùng của nước ta hiện nay được tính theo công thức Laspeyres – với quyền số và giá kỳ gốc là năm 2000 và sữ cố định khoảng 5 năm

Công thức tổng quát:

100 100

.

.

2000 2000 2000

2000

2000

x p

p x D x

p q

p q

2000 2000 2000

p q

p q

Để tính chỉ số tiêu dùng / tháng cần thực hiện các bước sau đây :

- Lập bảng giá kỳ gốc (năm 2000)

- Lập bảng quyền số cố định kỳ gốc (năm 2000)

- Thu thập giá bán lẻ các mặt hàng và dịch vụ đại diện

- Tính giá bình quân hàng tháng theo từng khu vực (thành thị, nông thôn) của các tỉnh thành phố

- Tính chỉ số giá cấp tỉnh /thành phố theo từng khu vực thành thị, nông thôn và chung cho cả tỉnh

- Tính chỉ số giá cấp vùng kinh tế theo từng khu vực thành thị, nông thôn và chung cả vùng

- Tính chỉ số giá cả nước theo từng khu vực thành thị, nông thôn và chung cả nước

Trang 22

bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng” của 12 tháng trong năm 2000 của từng khu vực thành thị và nông thôn; Trong đó giá bình quân cả năm của mỗi mặt hàng được tính từ giá của các điểm điều tra theo từng khu vực thành thị và nông thôn, bằng phương pháp bình quân số học giản đơn

Bảng quyền số cố định gồm hai phần: Quyền số ngang và quyền số dọc:

-Quyền số ngang: Tỷ trọng tiêu dùng của từng khu vực thành thị và nông thôn so với

cả tỉnh, thành phố, chỉ tính các nhóm hàng cấp cơ sở (cấp 4 – mã 5 số)

- Quyền số dọc: Là tỷ trọng từng nhóm hàng so với tổng chi bình quân nhân khẩu/ năm của từng khu vực thành thị, nông thôn và cả tỉnh, tính theo tỷ lệ phần chục nghìn (0/10000)

3_Tính Chỉ số giá tiêu dùng cấp tỉnh, thành phố ở Việt Nam

.Chỉ số tiêu dùng được tính cho mỗi tỉnh / thành phố và cả nước trên cơ sở chỉ số giá của khu vực thành thị và khu vực nông thôn

.Chỉ số giá của mỗi tỉnh/ thành phố được tính theo các bước sau:

- Tính giá bình quân từng kỳ điều tra cho khu vực thành thị, nông thôn và cả tỉnh / thành phố

- Tính giá giá bình quân tháng cho khu vực nông thôn, thành thị và cả tỉnh/ thành phố

- Tính chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng cho khu vực thành thị, nông thôn và cả tỉnh/ thành phố

Trang 23

3.1_Tính giá bình quân từng kỳ điều tra của các mặt hàng và dịch vụ theo hai khu vực thành thị và nông thôn:

Đây là giá bình quân không gian giữa các điểm điều tra của mỗi mặt hàng hoặc dịch

vụ đại diện của một kỳ (ngày) điều tra, được tổng hợp từ các biểu điều tra do các điểm gửi

về, theo công thức tổng quát như sau:

m

P P

m

d jd jk

P : là giá cá thể của mặt hàng j phát sinh tại điểm điều tra “d” của kỳ điều tra k

m: là số điểm điều tra của mặt hàng j ở kỳ điều tra

4400 4200

Trang 24

- Giá Vải ka ki b/q 41100

2

42200 40000

Chú ý rằng trong cách tính giá bình quân các mặt hàng và dịch vụ ở trên thì mẫu số phải là

số điểm điều tra giá quy định cho mỗi loại mặt hàng

3.2_Tính giá bình quân tháng của các mặt hàng và dịch vụ đại diện theo hai khu vực thành thị và nông thôn

Giá bình quân tháng khu vực thành thị và nông thôn được tính theo công thức tổng quát sau :

n

P P

n

k jk jt

P là giá bình quân kỳ điều tra của khu vực thành thị (nông thôn) của mặt hàng j tại các

kỳ điều tra trong tháng

n: là số kỳ điều tra của các mặt hàng j trong tháng

Cụ thể là: Giá bình quân tháng của các mặt hàng và dịch vụ đại diện được tính bằng phương pháp bình quân số học giản đơn của giá các mặt hàng, dịch vụ đại diện của 3 kỳ điều tra

2

Bình quân Kỳ

3

Bình quân Tháng(3kỳ)

Trang 25

d jd jt

P : Là giá cá thể của mặt hàng j phát sinh tại điểm điều tra “d” của kỳ điều tra k

r : là số điểm điều tra cả hai khu vực thành thị và nông thôn của mặt hàng j cả tháng

Giá bình quân tháng của các mặt hàng và dịch vụ đại diện này tính ra nhằm lập biểu ”Giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng" Biểu này do các Cục thống kê các tỉnh và thành phố lập và gửi về Tổng cục thống kê vào ngày 17 của tháng báo cáo, cụ thể nó được thể hiện tại phụ lục 4

Trang 26

3.4_Tính chỉ số giá tiêu dùng/tháng (riêng cho từng khu vực thành thị và nông thôn)

Chỉ số giá tiêu dùng/ tháng được tính nhằm mục lập biểu 2.2/TKG – “Chỉ số giá tiêu dùng” của các cục thống kê các tỉnh, thành phố nhằm phản ánh và đưa đầy đủ thông tin về mức biến động giá các mặt hàng và dịch vụ tại thời điểm hiện tại của địa bàn tỉnh

3.4.1_ Tháng báo cáo so với kỳ gốc

Tính chỉ số giá tiêu dùng tháng báo cáo so với kì gốc theo trình tự sau:

+ Bước 1: Tính chỉ số giá cá thể của các mặt hàng và dịch vụ đại diện của hai khu vực

thành thị và nông thôn theo công thức tổng quát sau:

1000 0

P

P i

j

jt jt

vụ đại diện

ví dụ minh hoạ 3: Tính chỉ số giá so với kỳ gốc của mặt hàng “Thịt lợn nạc thăn” ở khu vực

thành thị tháng 4 năm 2003 như sau:

Mặt hàng đại diện Mã số đơn vị Giá tháng

báo cáo

Giá kỳ gốc

Trang 27

Nhìn vào bảng trên ta thấy Chỉ số giá mặt hàng “thịt lợn nạc thăn” được tính như sau:

đó ta có thể có được toàn bộ chỉ số giá của toàn bộ mặt hàng và dịch vụ nhằm mục đích tính chỉ số giá của nhóm cấp 4, cấp 3, cấp 2, cấp 1, và chỉ số giá chung khu vực thành thị (nông thôn) của tỉnh, thành phố

+ Bước 2: Tính chỉ số giá của nhóm cấp 4 của hai khu vực thành thị và nông thôn:

Chỉ số giá tiêu dùng của nhóm cấp 4 của hai khu vực thành thị và nông thôn được tính theo công thức tổng quát sau:

1001

x y

i I

y

j pj IV

i : là chỉ số cá thể của mặt hàng hoặc dịch vụ đại diện j trong nhóm cấp 4 cần tính

y: là số mặt hàng đại diện tham gia tính chỉ số nhóm cấp 4

Trong công thức 18 ở trên thì chỉ số giá nhóm cấp 4 được tính theo phương pháp bình quân

số học giản đơn của chỉ số gía cá thể của các mặt hàng đại diện

Ví du minh hoạ 4: Tính chỉ số giá nhóm “Thịt gia súc tươi sống” tháng 4 năm 2003 so với

kỳ gốc của khu vực thành thị của tỉnh X như sau:

Mặt hàng đại diện Mã số đơn vị Giá tháng

báo cáo

Giá kỳ gốc

Trang 28

86 , 117 39 , 117 32 , 126

x 120.52%

Như vậy chỉ số nhóm cấp 4 thịt lợn tươI sống tháng 4 năm 2003 khu vực thành thị của tỉnh

X là trung bình cộng giản đơn của 3 chỉ số giá cá thể thuộc mặt hàng đại diện của nhóm

“thịt lợn tươi sống”

+ Bước 3:Tính chỉ số giá nhóm cấp 3, cấp 2, cấp1 và chỉ số giá chung so với kỳ gốc của

từng khu thành thị và nông thôn:

h

x

x x P P

D

D I I

1 0

1 0

h: là số nhóm tham gia tính chỉ số trong nhóm cần tính

Công thức 19 cho thấy việc tính chỉ số giá của các nhóm cấp 3, cấp 2, cấp 1 là tương tự nhau chỉ số nhóm cấp cần tính sẽ bằng bình quân số học gia quyền giữ chỉ số nhóm cấp dưới cấp cần tính với quyền số tương ứng

Cụ thể là:

 Tính chỉ số nhóm cấp 3: Lấy chỉ số nhóm cấp 4 (đã tính ở ví dụ minh hoạ 4 ở trên) để tính chỉ số nhóm cấp 3 bằng phương pháp bình quân số học gia quyền giữa chỉ số nhóm cấp 4 với quyền số tương ứng

Trang 29

Ví dụ minh hoạ 5: Tính chỉ số nhóm cấp 3 của nhóm hàng “thóc gạo” tháng 4 năm 2003

khu vực thành thị của tỉnh X như sau:

cố định(%)

Chỉ số tháng so với gốc

106,6

103,12 110,79 94,46 89,32

Cột 1: Quyền sô cố đinh - phản ánh tỷ trọng tiêu dùng các nhóm trên tổng chi của hộ gia đình

Cột 2: Chỉ số giá tháng của nhóm cấp 4 so với kỳ gốc

Như vậy chỉ số giá nhóm cấp 3 –“thóc gạo” được tính như sau:

%6,1061004

,059,183,667,0

4,032,8959,146,9483,679,11067,012

x x

Trong bảng ở ví dụ trên thì kết quả tính chỉ số giá nhóm cấp 3 là dòng đầu tiên in đậm trong bảng

 Tính chỉ số giá nhóm cấp 2: Lấy chỉ số giá nhóm cấp 3 đã tính ở trên và quyền số cố định tương ứng trong nhóm để tính chỉ số nhóm cấp 2 theo phương pháp bình quân số học gia quyền

Ví dụ minh hoạ 6: Tính chỉ số giá nhóm cấp 2 – Lương thực tháng 4 năm 2003 so với kỳ

gốc của khu vực thành thị của tỉnh X:

Trang 30

Nhóm và phân nhóm Mã số Quyền số

cố định(%)

Chỉ số tháng so với gốc

108,73

106,6 101,89 119,44

Cột 1: Quyền số cố định – Tỷ trọng tiêu dùng các nhóm trên tổng chi của hộ gia đình

Cột 2: Chỉ số giá của nhóm cấp 3 so với kỳ gốc

Chỉ số gía của nhóm cấp 3-lương thực là:

%73,10810039

,117,043,6

39,144,11917,089,10143,6

x

 Tính chỉ số giá nhóm cấp 1: Lấy chỉ số giá nhóm cấp 2 đã tính ở trên và quyền số cố định tương ứng trong nhóm để tính chỉ số nhóm cấp 1 theo phương pháp bình quân số học gia quyền

Ví dụ minh hoạ 7: Tính chỉ số giá nhóm cấp 1 – Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 4 năm

2003 so với kỳ gốc của khu vực thành thị của tỉnh X:

cố định(%)

Chỉ số tháng so với gốc

104,57

108,73 102,20 109,37

Trang 31

Chỉ số giá nhóm “hàng ăn và dịch vụ ăn uống” khu vực thành thị của tỉnh X được tính như sau:

%57,10410077

,45

87,737,10991,2920,10299,773

Chỉ số chung

I.Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

II.Đồ uống và thuốc lá

104,84

108,73 102,41 89,12 106,34 101,32 103,48 106,19 97,28 93,94 113,04

Chỉ số giá tiêu dùng chung của khu vực thành thị của tỉnh X được tính như sau:

Trang 32

98,934,10691,612,8953,341,10277,4573

53,377,45

73,719,10628,248,10345,832

,

%84,10410064

,418,3

53,377,45

64,404,11318,394,9353,728

Đối với khu vực nông thôn thì cách tính tương tự như cách tính của khu vực thành thị

+ Bước 4: Tính chỉ số giá toàn tỉnh, thành phố

Chỉ số giá toàn tỉnh, thành phố cũng được tính từ chỉ số của các nhóm hàng từ cấp 4 trở lên Trong đó thì:

- Chỉ số giá các nhóm hàng cấp 4 cả tỉnh được tính từ chỉ số giá nhóm cấp 4 của hai khu vực thành thị và nông thôn với quyền số ngang giữa hai khu vực thành thị và nông thôn, theo phương pháp bình quân số học gia quyền

- Cách tính chỉ số giá nhóm cấp 3, cấp 2, cấp 1, và chỉ số giá chung cung tương tự như cách tính ở trên

- Quyền số được sử dụng để tính chỉ số giá chung của toàn tỉnh, thành phố là quyền

2000 /

I

I I

i pk

pk i k pk

Trang 33

Công thức tổng quát:

100

12 1

2000 / 1

12 1 2000 /

1

I

I I

i pic

i pic

I : là chỉ số giá tháng i của năm trước so với năm gốc 2000

Ví dụ minh hoạ 9: khi tính chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2003 so với năm 2002 ta tính như

sau:

Trang 34

Giả sử ta đã có dãy số liệu chỉ số giá tiêu dùng tháng của cả 2 năm 2003 và năm 2002; năm gốc 2000=100

6,1238100

5,1049,99

3,981,982,97

2,1107,106

1009,998,99

là chỉ số giá hàng tháng của năm đó so với năm gốc (2000)

IV_Phương pháp xử lý một số trường hợp đặc biệt

1_Mặt hàng hoặc dịch vụ theo bảng giá kỳ gốc không còn xuất hiện ở kỳ báo cáo, cần thay thế bằng mặt hàng khác

Nếu trong quá trình điều tra thu thập giá có một mặt hàng đại diện nào đó không còn lưu thông trên thị trường, do đó sẽ rất ảnh hưởng đến quá trình tính chỉ số giá tiêu dùng cần

Trang 35

thay thế bằng mặt hàng khác có tính đại diện hơn Bởi vậy khi gặp trường hợp như vậy chúng ta sẽ xử lý như sau:

- Trước hết, tính chỉ số so với gốc của nhóm cấp 4 không có mặt hàng mới tham gia

- Tính lại giá kỳ gốc của mặt hàng mới bằng cách: Lấy giá kỳ báo cáo của mặt hàng mới chia cho chỉ số nhóm cấp 4 vừa tính Ghi giá đó vào bảng giá gốc thay cho giá gốc của mặt hàng cũ

Ví dụ minh hoạ 10: giả sử trong bảng giá gốc của tỉnh X nhóm cấp 4 ”Bánh, mứt, kẹo” mã

số 0218 có mặt hàng “Bánh quy Vinabico” nhưng đến tháng 4 năm 2003 trên thị trường không còn tiêu dùng mặt hàng bánh quy Vinabico nữa mà thay bằng “Bánh quy bơ Sài Gòn 250g/hộp Vấn đề đặt ra là cần thay thế bánh quy Vinabico trong danh mục bằng bánh quy

bơ Sài Gòn; do đó cần tính lại giá giá kỳ gốc 2000 cho mặt hàng bánh quy bơ Sài Gòn 250g/hộp.Cách tính như sau:

Mặt hàng đại diện Mã số đơn vị Giá kỳ

báo cáo

Giá kỳ gốc

-Từ bảng trên ta thấy chỉ số giá nhóm Bánh, mứt, kẹo so với kỳ gốc được tính như sau:

% 4 , 117 3

39 , 117 81 , 114 120

Trang 36

4,117

2_Mặt hàng đại diện mang tính thời vụ

Đối với những mặt hàng có tính thời vụ như rau quả tươi, quần áo đồng phục học sinh…khi hết mùa thường không còn bán trên thị trường, nhưng nếu mặt hàng nào vào mùa tiếp theo không còn xuất hiện theo đúng mẫu mã mùa trước thì cần được xử lý như với trường hợp mặt hàng thay thế, ngược lại nếu vào mùa sau có khả năng xuất hiện trở lại thì trường hợp này chúng ta phải áp dụng phương pháp lấy “giá chờ”, tức là lấy ngay mức giá tháng trước của mặt hàng đó và tiếp tục dùng giá chờ đó cho đến khi mặt hàng đó xuất hiện trở lại trên thị trường

Ví dụ minh hoạ 11: Giả sử ta có nhóm rau các loại ở kỳ điều tra vào các thời vụ của tỉnh X

như sau :

tính

Giá kỳ gốc

Giá tháng 1/2003

Giá tháng 6/2003

Chỉ số giá T6/2003

111,75 118,92 106,25 103,125

102,08 103,41

Trang 37

Nhìn bảng trên ta thấy có một số mặt hàng không xuất hiện vào tháng 6 năm 2003 nhưng vẫn tính được chỉ số giá tháng đó so với kỳ gốc, bằng cách lấy giá của tháng 1 năm 2003 thay cho tháng 6 năm 2003 Cụ thể là chỉ số giá của nhóm rau các loại được tính như sau: Chỉ số giá tháng của nhóm rau các loại:

% 68 , 108 9

85 , 103 41 , 103 08 , 102 125 , 103 25 , 106 92 , 118 75 , 111 120 69

Chương III: vận dụng tính cho thành phố Hà Nội năm 2004

I_Vận dụng phương pháp tính chỉ số tiêu dùng tính cho thành phố Hà Nội năm 2004

Cục Thống kê thành phố Hà Nội là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thống kê, giúp Tổng cục Thống kê thống nhất quản lý công tác thống kê tại thành phố theo quy định của tổng cục thống kê Việc tính chỉ số giá tiêu dùng ở cục thống kê thành phố Hà Nội, được vận dụng theo phương pháp tính chung của cả nước do Tổng cục thống kê đưa ra

Trong chuyên đề này đề cập cách tính chỉ số giá tiêu dùng nhưng không tính sự biến động giá cả của tất cả các mặt hàng, dịch vụ đại diện mà chỉ tính chỉ số giá tiêu dùng đại diện cho một số mặt hàng và dịch vụ….Mục đích của chương này là tính chỉ số gía tiêu dùng và phân tích sự biến động giá cả của 10 nhóm hàng cấp 1 và chỉ số giá tiêu dùng chung của tháng 12 năm 2004 tại Hà Nội

1_Tổ chức mạng luới, thu thập thông tin về giá cả hàng hoá và dịch vụ

1.1_Điểm điều tra và danh mục mặt hàng đại diện

Căn cứ vào bảng danh mục mặt hàng và dịch vụ đại diện chuẩn do Tổng cục thống kê đưa

ra, căn cứ vào tình hình phát triển tại địa bàn Hà Nội Cục thống kê Hà Nội đã xây dựng bảng danh mục mặt hàng và dịch vụ đại diện riêng cho thành phố Hà Nội Dựa vào bảng danh mục đại diện này cục thống kê đã lựa chọn địa điểm điều tra như sau:

- Mạng lưới chợ được chọn tại thành phố Hà Nội cũng được chia ra theo hai khu vực thành thị và nông thôn

Trang 38

+ Tại khu vực thành thị bao gồm 12 điểm chợ cụ thể là: Chợ Thành Công, Chợ Bưởi, Chợ Hàng Bè, Chợ Nguyễn Cao, Chợ Ngã Tư Sở, khu vực chợ Thanh Xuân Bắc, Cầu Giấy, Chợ Mai Động, Khu vực Hoàn Kiếm, Bạch Mai, Trung tâm thương mại Ngã Tư Sở, trung tâm thương mại Cầu Giấy

+ Tại khu vực Nông thôn bao gồm 7 điểm chợ cụ thể là: Khu vực chợ thị trấn Sóc Sơn, chợ Tó(Đông Anh), Chợ keo, Chợ TT Cầu Diễn, Chợ thị trấn Văn Điển, chợ thị trấn Gia Lâm

cũ, trung tâm thương mại Đông Anh

 Tại hai khu vực thành thị và nông thôn được chia ra như trên thì mỗi điển chợ được bố trí một cán bộ điều tra viên trực tiếp phụ trách điều tra giá tại khu vực của mình và chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả điều tra trước Cục Thống kê Hà Nội

1.2_Thời gian điều tra, phương pháp điều tra, biểu mẫu

1.2.1_Thời gian điều tra

Giá cả hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng được thu thập và 3 kỳ trong tháng:

+ Kỳ 1 vào ngày 25 tháng trước tháng báo cáo + Kỳ 2 vào ngày 5 tháng báo cáo

+ Kỳ 3 vào ngày 14 tháng báo cáo Tuy nhiên do sự biến động về giá theo thời gian của các loại mặt hàng có khác nhau, nên

để giảm bớt khối lượng công việc của điều tra viên thì cục thống kê Hà Nội đã chọn 90 mặt hàng, dịch vụ thu thập 3 kỳ/ tháng; 252 mặt hàng, dịch vụ thập 1 kỳ/ tháng Ngoài ra những mặt hàng nào nhà nước cần điều tra thì sẽ được điều chỉnh

1.2.2_Phương pháp điều tra giá tại cục thống kê Hà Nội

- Để thu thập giá cả các mặt hàng và dịch vụ tiêu dùng đại diện, các điều tra viên trực tiếp đến các điểm điều tra đại diện vào thời điểm mua bán tập trung trong ngày, theo dõi, quan sát, ghi chép giá khách hàng thực trả và ghi vào sổ trung gian, các điều tra viên là cán bộ các quận các huyện mỗi người chịu trách nhiệm thu thập giá về một số loại hàng hoá và dịch vụ đại diện

- Để kiểm tra lại độ chính xác của giá cả hàng hóa khi các quận, huyện trực thuộc thành phố Hà Nội gửi lên cán bộ phụ trách phần giá cả của cục thống kê Hà Nội đi điều tra lại ở

Trang 39

giá tại cục thống kê Hà Nội tiến hành tính, phân tích chỉ số giá tiêu dùng và lập bảng biểu gửi về cho Tổng cục thống kê vào ngày 17 tháng báo cáo

1.2.3_Biểu mẫu

- Biểu mẫu điều tra của cục Thống kê Hà Nội là biểu 1.1/ĐTG – “Biểu điều tra giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng” do các điểm điều tra đại diện gửi về cho cục Thống kê Hà Nội

- Ngoài ra cục thống kê Hà Nội còn phải làm 2 biểu là: Biểu 2.1/TKG – “ Giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng” và biểu 2.2/TKG – “ Chỉ số giá tiêu dùng” để nộp về cho Tổng cục thống kê vào ngày 17 tháng báo cáo theo quy định của Tổng cục Thống kê

2_ Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng tại thành phố Hà Nội

2.1_ Phương pháp tính giá bình quân kỳ điều tra của các mặt hàng, dịch vụ đại diện

Để tính giá bình quân kỳ điều tra của các mặt hàng và dịch vụ đại diện cục thống kê

Hà Nội đã sử dụng phương pháp bình quân số học giản đơn khi mang tất cả giá của mặt hàng điều tra tại các điểm cộng lại rồi chia cho số điểm điều tra

Cụ thể vào tháng 12 năm 2004 sau khi đã kiểm tra lại số liệu đã điều tra cục thống

kê Hà Nội tiến hành tính giá bình quân của các mặt hàng trong phân nhóm thóc gạo như sau:

Trang 40

Bảng 1: Giá tiêu dùng chung cả thành phố tháng 12 năm 2004

tẻ

ngon 010122 4110 4200 4250 4050 3900 4100 3750 4350 4250 3800 3850 4250 4000 4200 4075-Gạo

tám

thơm

Nam

Định 010123 7100 6850 6750 7250 7300 7155 6950 6895 6955 7250 7450 7150 7050 7125 7088Nếp

thườn

g 010131 6850 6550 7150 6925 6600 7200 6550 7100 6750 6580 6725 6725 7100 7050 6845

Qua bảng 1 ở trên ta thấy trong phân nhóm thóc gạo thì Cục Thống kê thành phố Hà Nội tiến hành thu thập giá của 4 mặt hàng đại diện thuộc phân nhóm cấp 4 là : Thóc tẻ thường, gạo tẻ ngon, Gạo tám thơm Nam Định, nếp thường Tại 14 điểm điều tra Trong bảng 1 trên đây là giá của các mặt hàng đại diện trong phân nhóm thóc gạo mà thành phố

Hà Nội đã điều tra được vào kỳ 3 của tháng 12 năm 2004

Ngày đăng: 22/03/2017, 06:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w