1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp

99 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 831,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghệ nuôi trồng, đánh bắt và chế biến còn lạc hậu, khó có khả năng đầu tư lớn, trong khi những đòi hỏi về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng thủy sản xuất khẩu của

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế có vai trò quan trọng Chính vì thế, đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế, trong đó có thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa là một trong các mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của nhiều quốc gia, nhất là những nước đang công nghiệp hoá như Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: Nhà nước khuyến khích xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ lực có lợi thế so sánh thông qua vận hành quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu về thông tin, tìm kiếm khách hàng, tham dự triển lãm, hội chợ Đại Hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định lại điều đó

Những năm gần đây, khác với thị trường nhiều loại hàng hoá thực phẩm khác, thị trường thủy sản thế giới có xu hướng tăng trưởng mạnh, đa dạng và phong phú về chủng loại sản phẩm Thuỷ sản trở thành mặt hàng chủ lực được nhập khẩu vào nhiều thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc v.v

Trong 15 năm qua, từ khi cơ chế xuất khẩu được đổi mới sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã phát triển vượt bậc cả về kim ngạch và cơ cấu mặt hàng, từ năm

1990 đến 2002 tăng trung bình hàng năm 18,1% Theo thống kê của FAO, đến năm 2003, Việt Nam đã trở thành một trong 20 nước đánh bắt thủy sản lớn nhất thế giới, đứng thứ 25 trong hàng ngũ những nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới Nếu tính trong khu vực Đông Nam á, Việt Nam đứng thứ tư sau Thái Lan, Inđônêxia và Singapo Ngành thủy sản Việt Nam đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt Nam hội nhập nhanh hơn vào kinh tế khu vực và thế giới

Đã Nẵng là thành phố ven biển lớn, giữ vị trí trọng yếu về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng của khu vực miền Trung -Tây Nguyên nói chung và vùng kinh tế động lực miền trung nói riêng Với các lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên biển và nguồn nhân lực, thủy sản là một thế mạnh góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Các lợi thế này đã có những tác động tích cực làm tăng tốc độ tăng

Trang 3

trưởng các chỉ tiêu kinh tế xã hội của Đà Nẵng, nâng cao khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu của thành phố và cả khu vực ven biển miền Trung những năm qua

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế, Đà Nẵng cũng đang gặp nhiều thách thức, đó là khí hậu khắc nghiệt, mưa bão và hạn hán thường xuyên xảy ra, diện tích hẹp, độ dốc lớn, nghiêng từ Tây sang Đông dẫn đến hiện tượng xói mòn, lượng phù sa thấp, vùng bờ biển

có ít các vành đai bảo vệ nên luôn bị biển xâm thực gây ảnh hưởng đến các công trình nuôi trồng thủy sản Lực lượng lao động có dồi dào nhưng chất lượng còn hạn chế, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển chậm, nhất là chưa có nhiều cảng cá, các trung tâm bán buôn cá còn ít dẫn đến làm tăng chi phí vận chuyển và bảo quản trong quá trình chế biến và xúc tiến thương mại Công nghệ nuôi trồng, đánh bắt

và chế biến còn lạc hậu, khó có khả năng đầu tư lớn, trong khi những đòi hỏi về chất lượng

và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng thủy sản xuất khẩu của thị trường thế giới ngày càng cao và khắt khe

Để Đà Nẵng trở thành trung tâm xuất khẩu thuỷ sản của khu vực cần có những nghiên cứu, đánh giá tiềm năng, lợi thế, thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Thành phố này,

từ đó đề xuất các giải pháp liên ngành đẩy mạnh năng lực xuất khẩu thuỷ sản của Thành

phố, qua đó, hổ trợ phát triển kinh tế của Đà Nẵng nói riêng của khu vực nói chung Đề tài: " Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp " được

chọn nghiên cứu trong luận văn là để góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của thành phố

Đà Nẵng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực xuất khẩu thủy sản của nước ta cũng như khu vực ven biển miền Trung Đó là:

- PGS, TS Đỗ Đức Bình: Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 62, tháng 8/2002

- TS Lê Thị Anh Vân: Về các chính sách thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong thời gian tới - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 67, tháng 01/2003

- PGS, TS Hoàng Thị Chỉnh: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Mỹ - Những vấn đề đang đặt ra và các giải pháp - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 67, tháng 01/2003

Trang 4

- TS Lâm Minh Châu: Xuất khẩu thủy sản miền Trung - Những lợi thế và giải pháp phát triển - Tạp chí kinh tế và phát triển, số 91, tháng 01/2005

- TS Nguyễn Thị Thanh Hà và Th.s Nguyễn Văn Tiền: Ngành thủy sản Việt Nam - Thực trạng và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế - Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là tìm ra những giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản của

thành phố Đà Nẵng trong những năm tới

Thực hiện với mục đích đó luận văn có nhiệm vụ:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về xuất khẩu thủy sản trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy sản của thành phố Đà Nẵng những năm qua

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu phát triển xuất khẩu thủy sản của thành phố Đà Nẵng đến 2015

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của thành phố

Đà Nẵng và các giải pháp của thành phố đối với doanh nghiệp dưới tác động chính sách

của nhà nước về sản xuất và xuất khẩu

- Phạm vi nghiên cứu đề tài trong luận văn

Trang 5

+ Về không gian: Hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của các thành phần kinh tế của Đà Nẵng ở các thị trường trọng điểm như EU, Nhật Bản, Mỹ

+ Về nội dung: tập trung chủ yếu vào hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Đà Nẵng

+ Về thời gian: Từ 2005 đến 2010

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu trong luận văn

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào điều kiện thực tế của ngành ở địa phương Trong các phân tích cụ thể sử dụng các phương pháp: hệ thống hoá, điều tra, phân tích, tổng hợp, các công trình, dữ liệu thống kê hiện có Đồng thời, đề tài cũng kế thừa và sử dụng thống kê so sánh có chọn lọc những thông tin trong một số công trình nghiên cứu của một số tác giả trước

6 Dự kiến những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về xuất khẩu hàng thủy sản trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm cho lĩnh vực xuất khẩu thuỷ sản của thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất một số giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm

3 chương, 8 tiết

Trang 6

Chương 1

MộT Số VấN Đề CHUNG

về hoạt động xuất khẩu thủy sản

1.1 Vai trò và nội dung của xuất khẩu thủy sản

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm xuất khẩu thủy sản

1.1.1.1 Khái niệm xuất khẩu thuỷ sản

Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia hoặc thị trường nội địa vào khu chế xuất trong nước

Thuỷ sản là ngành sản xuất ra các loại sản phẩm, mà nguyên liệu chính khai thác từ Biển, sông và hồ…,và nuôi trồng Sản phẩm thuỷ sản là một phần năng lượng chính, nó duy trì đời sống của con người, góp phần đảm bảo sức khoẻ cho người lao động, bổ sung

và nâng cao sức lao động, ngoài những đặc điểm chung còn có những đặc điểm riêng thể hiện ưu thế của nó, đó là thành phần chất đạm cao, ít mỡ, giàu chất khoáng dễ tiêu hoá…

và ngày càng trở thành một loại thực phẩm có nhu cầu cao trên thế giới, các sản phẩm của ngành thuỷ sản đa dạng, phong phú bao gồm: các loại tôm, cá, mực từ biển, sông, hồ và các nhuyễn thể khác Từ nhu cầu cuộc sống đòi hỏi sản phẩm luôn được nâng cao từ chất lượng, công nghệ chế biến, vệ sinh… vì vậy, ngành thuỷ sản phải tách rời thành hai bộ phận riêng biệt là ngành nuôi trồng khai thác và ngành công nghiệp thuỷ sản (bao gồm công nghiệp chế biến và công nghiệp khai thác), để phục vụ cho hai bộ phận trên còn có các hoạt động kinh doanh và dịch vụ khác làm các chức năng hậu cần và hỗ trợ khác cho ngành

Từ suy luận trên ta có thể hiểu: Xuất khẩu thuỷ sản là việc đem bán những sản phẩm thuỷ sản đã qua chế biến hoặc chưa chế biến, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hay còn thô từ các nhà máy trong nước xuất ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ về cho đất nước, cho doanh nghiệp.Đối với Nhà nước tăng tích luỹ cho nhà nước, nâng cao mức sống cho nhân dân

Trang 7

Đối với doanh nghiệp: nhập trang thiết bị công nghệ mới nhằm nâng cao qui mô sản xuất, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp

Xuất khẩu thuỷ sản là xuất khẩu sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thuỷ sản mà thiên nhiên ưu đãi, trong đó thêm những lợi thế so sánh về lao động kết tinh trong sản phẩm giữa các quốc gia thông qua trao đổi hàng hoá Sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam đưa ra thị trường thế giới cũng được kết tinh bởi hao phí lao động của những ngư dân, công nhân chế biến công nghiệp và những lợi thế về điều kiện tự nhiên.Sản phẩm thuỷ sản được bán ra và thu được ngoại tệ mạnh có thể chi dùng cho quốc kế dân sinh hay củng cố

và nâng cao trình độ kỹ thuật thông qua nhập trang thiết bị, công nghệ hiện đại nhằm tiến hành CNH,HĐH đất nước Người tiêu dùng mua sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam được hưỡng lợi thông qua giá rẻ, chất lượng cao do lợi thế tương đối

1.1.1.2 Đặc điểm của xuất khẩu thủy sản Việt Nam

+ Thủy sản là hàng hóa mang tính thời vụ, phụ thuộc vào thời tiết, ngư trường nên xuất khẩu thủy sản cũng mang tính thời vụ

Sản phẩm xuất khẩu của ngành thuỷ sản chủ yếu là những sinh vật sống dưới biển nhưng sản lượng là bao nhiêu chúng ta không thể xác định cụ thể, chính vì vậy chúng ta vừa khai thác vừa không quên nuôi trồng và tái tạo nguồn nguyên liệu của biển Chỉ có như vậy mới đảm bảo nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu Thời tiết, khí hậu, dòng nước chảy là những điều kiện ảnh hưởng đến các sinh vật sống trong môi trường nước nên chúng di chuyển theo qui luật sinh tồn từ vùng này sang vùng khác, điều đó muốn nói rằng xuất khẩu thuỷ sản cũng mang tính thời vụ Ngày nay khoa học công nghệ ngày càng phát triển đã hỗ trợ việc nuôi trồng thuỷ sản ổn định hơn, nguyên liệu đa dạng, phong phú

Thuỷ sản là mặt hàng tươi sống, nếu bảo quản không tốt sẽ dẫn đến tình trạng ươn hỏng vì vậy công nghệ bảo quản rất quan trọng Hiện nay công nghệ cấp đông và kho lạnh bảo quản rất hiện đại, chúng có thể bảo quản hàng trong nhiệt độ từ -20oC đến -50oC Với nhiệt độ này hàng tươi sống có thể để rất lâu từ một năm đến hai năm và lâu hơn nữa, sản phẩm thuỷ sản có thể bảo quản và xuất đi các nước trong thời gian dài, sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng vẫn tươi và đẹp

+ Xuất khẩu thủy sản đòi hỏi tính liên ngành cao, có mối liên hệ chặt chẽ đồng bộ các khâu: khai thác, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu

Trang 8

Hàng thuỷ sản Việt Nam ngày càng được nhiều nước trên thế giới quan tâm và ưa chuộng do doanh nghiệp đã tích cực đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm và khâu tiếp thị ngày càng được chú trọng

Một thời gian dài, chúng ta tập trung khai thác và đánh bắt thuỷ sản gần bờ với sản lượng lớn làm cho nguyên liệu gần như cạn kiệt Để đảm bảo nguyên liệu đủ cho sản xuất chế biến và xuất khẩu, chúng ta phải chuyển đổi vùng đánh bắt, đánh bắt xa hơn, dài ngày hơn vớí qui mô lớn hơn Song song với việc đánh bắt xa bờ thì cần phải trang bị đầy đủ các thiết bị công nghệ, tàu thuyền sao cho phù hợp với việc đánh bắt xa bờ.Vừa qua chúng

ta thực hiện chủ trương của Nhà nước với chương trình đánh bắt xa bờ, tuy hiệu quả chưa cao nhưng cũng góp phần giảm áp lực khai thác ven bờ, và sự chuyển dịch từ đánh bắt gần

bờ sang đánh bắt xa bờ đồng nghĩa với sự chuyển dịch từ đánh bắt với giá trị thấp sang đánh bắt với giá trị cao, về công nghệ khai thác đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá ngừ đại dương, mực đại dương, cá đáy xa bờ Cùng với việc đánh bắt xa bờ, khoa học công nghệ về nuôi trồng thuỷ sản của nước ta trong thời gian qua cũng mang tính đột phá như: công nghệ sản xuất nhân tạo giống tôm sú, tôm he chân trắng, tôm rảo, tôm càng xanh và ươm nuôi tôm hùm, công nghệ nuôi tôm quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh công nghiệp; công nghệ tạo giống cá Tra, Ba sa, Rô phi đơn tính , đã tạo ra một cuộc cách mạng trong sản xuất nguyên liệu có giá trị cao phục vụ chế biến xuất khẩu Nhiều sản phẩm đặc sản khác cũng đã được sinh sản nhân tạo thành công ở Việt Nam giúp cho nghề nuôi thuỷ sản nước mặn, lợ và nước ngọt có cơ hội đa dạng hoá các loài nuôi như: ốc hương, Cua biển, Ghẹ, Cá giò, Mực, cá Song, cá Hồng Mỹ, ếch, Ba ba Các tiến bộ này

đã và đang được người dân các địa phương tiếp thu và phát triển mạnh đáp ứng cho nhu cầu thị trường Một số tỉnh vùng miền Trung như Thừa thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cũng bước đầu triển khai áp dụng ở qui mô thử nghiệm và kết quả khá khả quan

Việc ứng dụng các mô hình nuôi khép kín, ít thay nước, sử dụng các chế phẩm sinh học trong xử lý môi trường nuôi đã giúp hạn chế rủi ro do dịch bệnh gây ra, nâng cao năng suất nuôi, giảm chi phí môi trường và góp phần cho sự phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản và tạo nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biển thuỷ sản thường xuyên và liên tục

Trang 9

Để đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường đòi hỏi phải mở rộng nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt

xa bờ

Hiện nay trên thế giới, công nghệ chế biến thuỷ sản rất nhiều tiến bộ vượt bậc, đã cho ra đời công nghệ chế biến dùng áp lực cao, công nghệ chế tạo bao bì đóng gói hải sản tươi, bán lẻ có thể kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm, tươi lâu hơn so với điều kiện ướp lạnh bình thường.Trong lĩnh vực bảo quản nguyên liệu, ngoài nước đá cây, đá vẩy người ta còn sản xuất nước đá dạng keo sệt làm tăng hiệu quả bảo quản tươi Tại Việt Nam, gần đây

đã có những nghiên cứu về bảo quản nguyên liệu khi tàu ra khơi đánh bắt xa bờ, ứng dụng lắp hệ thống làm lạnh nước biển trên tàu đánh bắt cá ngừ đại dương Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ này vào thực tế sản xuất còn nhiều hạn chế

Về chế biến: cách tiếp cận và áp dụng công nghệ chế biến sản phẩm mới thông dụng

và có hiệu quả nhất của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam hiện nay là học thông qua các đối tác (khách hàng hướng dẫn, các doanh nghiệp trong nước hỗ trợ lẫn nhau), tự nghiên cứu sau khi được xem mẫu mã sản phẩm tại hội chợ quốc tế, hoặc mẫu có sẵn của khách hàng Để thực hiện được công việc này, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nghệ có trình độ và năng lực tương xứng

Bên cạnh sự phát triển các nhà máy chế biến thuỷ sản ngày càng nhiều nếu không

có biện pháp bảo vệ môi trường thì chất thải công nghiệp sẽ bị ô nhiểm nặng và ảnh hưởng nghiêm trọng tới nghề nuôi thuỷ sản của khu vực và quá trình này đặt ngành thuỷ sản trước những thách thức không nhỏ về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe hơn Để đảm bảo phát triển XKTS gắn liền với khả năng và nguồn cung cấp nguyên liệu sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm và thị hiếu của các thị trường, nhà nước đã xây dựng và ban hành hàng loạt tiêu chuẩn về điều kiện sản xuất và an toàn vệ sinh từ khâu chế biến đến khâu sản xuất nguyên liệu, thu mua và dịch vụ cho nghề cá như: 32 tiêu chuẩn về diều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm cho tất cả loại hình sản xuất theo cả chuỗi sản xuất, 28 tiêu chuẩn ngành 102/1997 về phương pháp thử đối với hầu hết các chỉ tiêu về chất lượng an toàn vệ sinh thuỷ sản

Đã ban hành qui chế và thực hiện chương trình kiểm soát độc tố sinh học của vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 vỏ và chương trình kiểm soát dư lượng hoá chất đối với các vùng nuôi thuỷ sản Đến nay cả hai chương trình nói trên đã được EU công nhận với 18 vùng

Trang 10

nhuyễn thể trong danh sách nhóm 01 các nước được phép xuất khẩu vào EU, từ đó tạo tiền

đề được nhiều nước công nhận và có quan hệ hợp tác như Hàn Quốc, úc, Đài Loan, Canada Ngoài ra nhiều tiêu chuẩn ngành về phụ gia, ghi nhãn, bao gói và phương pháp kiểm nghiệm đã và đang được ban hành

Ngành thuỷ sản đã xây dựng và ban hành các quy định về thủ tục, nội dung và phương pháp cũng như các chế tài xử phạt đầy đủ cho hoạt động quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh gồm:

- Các qui chế kiểm tra công nhận điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh cơ sở sản xuất kinh doanh thuỷ sản;

- Qui chế kiểm tra chứng nhận chất lượng sản phẩm;

- Qui chế kiểm soát dư lượng một số hoá chất độc hại trong sản phẩm thuỷ sản;

- Qui chế kiểm soát điều kiện an toàn vệ sinh vùng thu hoạch nhuyễn thể hai mãnh vỏ;

- Các qui chế quản lý vùng nuôi tôm, cá an toàn

* Nâng cấp, đổi mới trang thiết bị

Hướng dẫn các cơ sở sản xuất đầu tư nâng cấp nhà xưởng, đổi mới trang thiết bị, tập huấn về thực hiện các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm;

*Nâng cao năng lực của cơ quan kiểm soát an toàn vệ sinh

- Tập trung nâng cấp trung tâm kiểm tra chất lượng và an toàn vệ sinh thuỷ sản (NAFIQACEN) Các phòng quản lý chất lượng của trung tâm hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu kiểm tra

- Tăng cường đào tạo cán bộ quản lý, thanh tra viên, kiểm nghiệm viên trong nước

và nước ngoài

- Nâng cao vai trò và vị trí của cơ quan này trong hoạt động đối ngoại và trong nước Đã ký kết các thoả thuận công nhận về an toàn vệ sinh thực phẩm với Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, EU, và Mỹ cũng công nhận năng lực cơ quan này;

* Kiểm soát từng công đoạn theo cả quá trình sản xuất

Trong xuất nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh, bán lẻ, sử dụng thức ăn, thuốc thú y, hoá chất, chế phẩm sinh học dùng trong thuỷ sản;

Trang 11

- Trong nuôi trồng thuỷ sản: thực hiện chương trình kiểm soát dư lượng kháng sinh độc hại

- Trong chế biến thuỷ sản: thực hiện kiểm tra về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm (bao gồm cả việc áp dụng HACCP) các cơ sở sản xuất kinh doanh thuỷ sản

- Thực trạng khai thác thuỷ sản tuy không tăng nhiều qua các năm (năm 1998 sản lượng khai thác đạt 1.155.000 tấn, đến năm 2004 đạt 1.724.200 tấn, tăng bình quân 4,67%/năm), nhưng bằng việc hướng dẫn và phối hợp giữa chế biến xuất khẩu với khai thác hải sản, ngư dân đã chuyển dần từ việc khai thác theo số lượng sang những đối tượng có giá trị xuất khẩu Trước tác động nhiên liệu liên tục tăng trong thời gian qua, nhiều tàu thuyền đã chuyển hướng khai thác nhưng vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao, khai thác hải sản tốn ít nhiên liệu, chất lượng cao và lựa chọn đối tượng khai thác có giá trị xuất khẩu

Nhiều loại cá trước đây không xuất khẩu được nay nhờ có thị trường và đổi mới công nghệ chế biến, đổi mới quản lý an toàn vệ sinh mà trở thành đối tượng khai thác có hiệu quả như: cá bò, cá ngân chỉ vàng, cá ngừ sọc dưa, cá cơm và các loại cá tạp thịt trắng

1.1.2 Vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với phát triển kinh tế - xã hội

Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã góp phần tạo nên một hình ảnh Việt Nam khác trước với nhiều quốc gia và bạn bè trên thế giới Đến nay, thuỷ sản Việt Nam đã có mặt tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã đến được các thị trường tiêu thụ thuỷ sản với những yêu cầu khắc khe về vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện có

171 doanh nghiệp được cấp code xuất hàng vào thị trường EU - thị trường khó tính bậc nhất này, có 295 doanh nghiệp được Hàn quốc cho phép xuất khẩu hàng thuỷ sản vào Hàn quốc và 300 doanh nghiệp áp dụng HACCP đủ điều kiện xuất hàng thuỷ sản vào Mỹ

Để xác định vai trò của ngành thuỷ sản xuất khẩu, không chỉ được xác định bởi thị trường mà còn được Nhà nước đánh giá cao và thông qua Hội nghị và được đưa vào nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng Ngày 15/06/2000 Chính phủ đã ra nghị quyết số 09/2000/NQ-CP trong đó xác định hướng phát triển ngành thuỷ sản xuất khẩu thành ngành kinh tế mũi nhọn trong những năm tới

Bảng 1.1: 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Việt Nam

Trang 12

Nguồn: Bộ Thương mại

Xuất khẩu thuỷ sản ngày càng phát triển và phát triển nhanh chóng cả về lượng và

về chất, tính đến năm 2005 ngành thuỷ sản đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong vai trò xuất khẩu, giá trị đạt 2.738 triệu USD chiếm hơn 10% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc

Với vai trò chủ lực trong các ngành xuất khẩu, XKTS đã góp một phần công sức của ngành trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như sau:

1.1.2.1 Tạo nguồn vốn để tái sản xuất trong nội bộ ngành theo hướng đổi mới trang thiết bị, công nghệ và tăng thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân

Trong sự phát triển kinh tế theo xu hướng CNH,HĐH đất nước, để phù hợp với điều kiện phát triển chung của thế giới đòi hỏi chúng ta phải hiện đại hoá việc khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ hậu cần ngành thuỷ sản Do đó cần phải nhập khẩu một lượng lớn thiết bị từ nước ngoài về Vậy, nguồn ngoại tệ lấy ở đâu?.Nguồn đó thường dựa vào các nguồn chủ yếu là: Vay, viện trợ, đầu tư từ nước ngoài, và xuất khẩu Nguồn vay phải trả, nguồn viện trợ và đầu tư có hạn, nên nguồn chính từ xuất khẩu là rất quan trọng cho nhập khẩu ở Việt Nam Xuất khẩu thuỷ sản là một trong những ngành xuất khẩu mạnh, đã đóng góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển đất nước.Chúng tôi cho rằng không chỉ

Trang 13

Chính phủ, Bộ Thuỷ sản nhận thức đầy đủ những tiềm năng xuất khẩu, và nguồn thu ngoại

tệ từ ngành thuỷ sản để có chính sách và đầu tư cho ngành thuỷ sản đúng mức mà còn phải làm cho các ngành và những người dân có liên quan ý thức được điều đó để bảo vệ, nuôi trồng, khai thác, có hiệu quả nguồn lới thuỷ sản

Bảng 1.2: Tốc độ tăng trưởng về KNXK thuỷ sản Việt Nam

Nguồn: Hội chế biến và XKTS Việt Nam

1.1.2.2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy lợi thế so sánh của đất nước

Ngày nay, để phát triển kinh tế các quốc gia phải tận dụng được lợi thế của nền sản xuất trong nước Xuất khẩu những hàng hoá thuộc thế mạnh của nền sản xuất trong nước mình và nhập khẩu những hàng hoá mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng nhu cầu hoặc không mang lại hiệu quả Chung qui, các quốc gia phải thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam

Trong chiến lược phát triển kinh tế, Việt Nam đã đưa ra chiến lược hướng về xuất khẩu và xuất khẩu trở thành động lực trong sự phát triển kinh tế Những yếu tố tiềm năng của Việt Nam là tài nguyên thiên nhiên và lao động, còn những yếu tố thiếu hụt là: vốn, thị trường và khả năng quản lý.Chiến lược hướng về xuất khẩu thực chất là giải pháp mở cửa nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng

Trang 14

trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trong khu vực

XKTS đã làm tốt vai trò cầu nối giữa sản xuất với thị trường, thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu trong nội bộ ngành, Trong nuôi trồng kích thích được bộ phận nuôi trồng chuyển dịch từ nuôi trồng cổ truyền sang nuôi hiện đại và nhân giống các loại sản phẩm có giá trị cao như: Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá cam, tôm hùm, cá mú, nhuyễn thể cũng như khai thác hải sản, cân đối giữa khai thác gần bờ và khai thác xa bờ và đã nâng cao chất lượng khai thác loại sản phẩm có giá trị cao như cá ngừ đại dương, mực, Thực hiện chủ trương đánh bắt xa bờ theo quyết định 159/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tăng đầu tư đóng tàu công suất lớn để đánh bắt, khai thác thuỷ sản xa bờ và trang bị thiết bị bảo quản nguyên liệu sau khi khai thác, hạn chế những phế phẩm bị bỏ đi do công nghệ bảo quản lạc hậu Nguyên liệu dần đáp ứng đủ cho Nhà máy, góp phần thay đổi tư duy làm ăn

cá thể của ngư dân mà chuyển thành các tổ chức như: tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã

Bằng việc triển khai mạnh hoạt động xúc tiến thượng mại, đổi mới công nghệ thiết

bị máy móc, áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo các tiêu chuẩn tiến tiến của thế giới, đã nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ, kỹ thuật, đổi mới quản lý doanh nghiệp, đưa chế biến thuỷ sản trở thành ngành sản xuất công nghiệp hiện đại, có đủ năng lực chủ động hội nhập và cạnh tranh quốc tế

1.1.2.3 Giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

Nước ta có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển kinh tế thuỷ sản, phải coi đây là một trong những hướng đi chủ đạo của kinh tế biển và ven biển nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội cải thiện đời sống cư dân và thay đổi bộ mặt của nông thôn ven biển, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho ngư dân và cho nền kinh tế quốc dân, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của đất nước Hiện nay theo thống kê của Bộ Thuỷ sản cho thấy, tổng số lao động trong ngành thuỷ sản có khoảng gần 4 triệu người [6, tr.07], tỷ lệ lao động nữ chiếm khoảng 64%trong nuôi trồng Theo điều tra, trong chế biến thuỷ sản chiếm đến 82%, lao động dịch vụ có tỷ lệ nữ khá cao nhưng chưa có thống kê cụ thể [7, tr.41]

1.1.2.4 Góp phần mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại

Trang 15

Đại hội Đảng lần thứ X (18/04/2006) với chính sách đối ngoại khẳng định rằng

"Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực " Xuất khẩu là bước đi mũi nhọn của hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất khẩu đi trước tạo điều kiện để thúc đẩy những quan hệ khác phát triển

Phát triển của ngành thuỷ sản nói chung, của XKTS nói riêng đã hoà mình vào thời

kỳ phát triển mới trên thương trường Quốc tế Năm 2001 quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản chỉ là 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2005 con số này lên 105 nước Quan

hệ thương mại được mở rộng sang Mỹ và các nước EU là đóng góp đáng kể của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế của nền kinh tế nước ta

Qua quan hệ thương mại quốc tế, mở rộng đối ngoại và từ đó nâng cao uy tín của đất nước trên thương trường quốc tế góp phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước

và trên quan hệ này đã tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận gần hơn, hiểu đầy đủ hơn về pháp luật và thông lệ quốc tế giúp cho nền kinh tế Việt Nam thâm nhập ngày càng sâu, rộng hơn vào khu vực và thế giới

1.1.3 Nội dung của hoạt động xuất khẩu thủy sản

Hoạt động XKTS cũng như hoạt động xuất khẩu hàng hoá khác, phải tiến hành hàng loạt các công việc bắt đầu từ nghiên cứu thị trường xuất khẩu thuỷ sản, chuẩn bị hàng, tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu, thực hiện hợp đồng đã ký và đánh giá lại hoạt động xuất khẩu để tiếp tục rút kinh nghiệm cho các lô hàng xuất khẩu tiếp theo

1.1.3.1 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu thủy sản

Nghiên cứu thị trường xuất khẩu là công việc đầu tiên và cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh thuỷ sản xuất khẩu Mục đích của nghiên cứu thị trường XKTS là để xác định khả năng tiêu thụ những loại hàng thuỷ sản trên địa bàn nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định Trên cơ sở đó nâng cao khả năng cung cấp để thoả mãn nhu cầu của thị trường Nghiên cứu thị trường xuất khẩu thuỷ sản còn giúp doanh nghiệp biết được xu hướng và sự biến đổi nhu cầu thị hiếu của khách hàng, sự phản ứng của họ đối với sản phẩm thuỷ sản của mình

Tiến hành nghiên cứu thị trường XKTS thế giới cần trả lời vấn đề sau:

Trang 16

Đâu là thị trường có triển vọng đối với sản phẩm xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam Khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường đó ra sao.Thị trường đang cần những mặt hàng thuỷ sản nào, mẫu mã, chủng loại, tập quán, thị hiếu của người tiêu dùng như thế nào Mặt hàng đang ở thời kỳ nào trong chu kỳ sống của sản phẩm.Tình hình cung cấp thuỷ sản cho thị trường đó của các nước khác như thế nào và tình hình sản xuất, cung cấp của các doanh nghiệp Việt Nam ra sao Luật pháp và các qui định bắt buộc khi đưa thuỷ sản vào thị trường đó.Hệ thống phân phối tiêu thụ thuỷ sản xuất khẩu trên thị trường đó như thế nào Nghiên cứu tỉ suất ngoại tệ để lựa chọn mặt hàng kinh doanh

Nghiên cứu thị trường XKTS thông qua các phương pháp nghiên cứu tại phòng làm việc, và nghiên cứu tại hiện trường Kết quả nghiên cứu thị trường XKTS tốt sẽ cho phép doanh nghiệp tổ chức sản xuất, chế biến những sản phẩm thuỷ sản thích ứng với thị trường, về số lượng, chất lượng, giá cả, mẩu mã, và thời gian mà thị trường yêu cầu

Kết quả nghiên cứu thị trường sẽ là cơ sở giúp doanh nghiệp hoạch định chiến lược, xây dựng phương án và lựa chọn phương án giao dịch hiệu quả

- Lựa chọn mặt hàng và thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh

- Đề ra mục tiêu cụ thể như bán hàng cho ai (đối tác nào có lợi), giá cả, khối lượng bao nhiêu

- Để tránh rủi ro trong kinh doanh và đạt được lợi nhuận cao nhất đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ, đánh giá khách hàng, uy tín đối tác trên thương trường, tài chính như thế nào, chữ tín trong quan hệ

Bước II:

- Nghiên cứu nguồn hàng, và từ đó nắm được khả năng cung cấp lượng hàng xuất

khẩu của nhà cung cấp, nắm được loại hàng chủng loại, kích cở, mẩu mã, chất lượng, giá

Trang 17

cả, thời vụ , bên cạnh đó phải thông báo tiêu chuẩn kỹ thuật của mặt hàng về VSATTP theo qui định nào cho phù hợp với tiêu chuẩn của thị trường mà nhà nhập khẩu yêu cầu, hoặc doanh nghiệp XKTS dựa trên tiêu chuẩn đã nghiên cứu thị trường đó để hướng dẫn

kỹ thuật cho nhà sản xuất

1.1.3.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng

Để tiến tới việc ký kết hợp đồng mua bán với nhau giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu thường phải qua quá trình giao dịch, thương lượng về các điều kiện giao dịch Trong buôn bán quốc tế, giao dịch được tiến hành các bước sau: hỏi giá, phát giá (chào hàng), đặt hàng, hoàn giá, chấp nhận, xác nhận

Để xây dựng mối quan hệ tốt giữa người xuất khẩu với khách hàng, các bên có thể tiến hành giao dịch đàm phán bằng cách gặp gỡ nhau trực tiếp, thông qua thư từ giao dịch hoặc qua điện thoại, Internet

Việc giao dịch, đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới ký kết hợp đồng xuất khẩu Quyền hạn và nghĩa vụ của từng bên phải được thể hiện đầy đủ trong hợp đồng, đảm bảo tuân thủ luật pháp quốc gia của hai nước và luật pháp quốc tế Những điều khoản trong hợp đồng XKTS phải rõ ràng chặt chẽ: Tên hàng, số lượng, chất lượng, điều kiện giao hàng, giá cả, điều kiện thanh toán, thời gian thanh toán, bảo hành, bảo hiểm, điều kiện và

xữ lý rủi ro, bao bì, ký hiệu,

Việc thực hiện hợp đồng XKTS đòi hỏi phải tiến hành từng bước thật thận trọng, chu đáo nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh vì bất cứ một sai sót nào trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu đều dẫn đến hậu quả đáng tiếc như chậm tiến độ giao hàng, ảnh hưởng đến chất lượng dẫn đến tranh chấp khiếu kiện, ảnh hưởng uy tín của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh trong xuất khẩu và gây tổn thất về kinh tế

Đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng xuất khẩu: Mục đích của công việc này là xem xét hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, xem xét những nhược điểm gặp phải để giúp cho việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu thuỷ sản sau này tốt hơn Để đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng xuất khẩu cần dựa vào các chỉ tiêu như: doanh thu xuất khẩu, lợi nhuận xuất khẩu, mức doanh lợi xuất khẩu, các chi phí cho hoạt động xuất khẩu

1.1.3.4 Thanh lý hợp đồng và giải quyết vụ việc phát sinh

Trang 18

Sau khi thực hiện xong hợp đồng với đối tác là nước ngoài (bên nhận hàng và bên nhận tiền), có nghĩa là hợp đồng đã chấm dứt

Nếu sự cố xảy ra khi và chỉ khi một bên không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng mà làm thiệt hại cho bên kia thì bên thiệt hại có quyền phát đơn kiện.Trường hợp này

sẽ được pháp luật Nhà nước mà giữa hai bên đã thống nhất với nhau ghi trong hợp đồng để giải quyết (nếu có tranh chấp) Kết luận của của cơ quan có thẩm quyền đó tuyên bố sẽ có giá trị cho những cuộc tranh cãi sau này (nếu có)

1.2 Đặc điểm về thị trường xuất khẩu thủy sản và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của nước ta

1.2.1 Đặc điểm thị trường xuất khẩu thủy sản (nhu cầu, thị hiếu, quy mô, thuế, tính ổn định, pháp luật )

Đến nay sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 119 nước và vùng lãnh thổ, trong đó chủ yếu tập trung ở các thị trường lớn như: Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc

Nước truyền thống nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới là Nhật Bản chiếm 22,5% thế giới, 13.453/59.695 triệu USD và đến năm 2003 là 12.395/67.250 triệu USD chiếm 18,43% và chiếm 18,4%, 12.766/69.267 (FAO 2005)

Thứ hai là Hoa Kỳ năm 2001 là 10.289 tỷ USD, 2003 là 11.655 tỷ USD và 2004 là 12.004 tỷ USD chiếm 17-18% thị trường thế giới Các nước phát triển Tây Âu (đặc biệt các nước thuộc liên minh châu Âu) chiếm tỷ trọng xuất khẩu là 37% thế giới và nhập khẩu

là 25.933 tỷ USD năm 2005 Hiện nay, người ta thấy có tên của các nước đang phát triển như Hồng Kông, Thái Lan, Trung Quốc Từ năm 1995 đến nay, tiêu thụ thuỷ sản của mỗi gia đình Trung Quốc tăng lên gấp 3,5 lần Hơn thế nữa, Trung Quốc được coi là thị trường

dễ tính.Thị trường này chấp nhận tiêu thụ những sản phẩm xuất khẩu đi EU bị trả lại do bao bì hỏng, có thể nói đây là một thuận lợi căn bản cho các doanh nghiệp nuôi trồng và chế biến thuỷ sản xuất khẩu ở Việt Nam [30, tr.17]

Ngày nay, các nhà xuất khẩu thuỷ sản không biết mệt mỏi trong những nỗ lực tìm kiếm khách hàng, cố gắng hiểu đối thủ cạnh tranh và hiểu chính mình Để đưa ra một chương trình đầy tính sáng tạo và hiệu quả nhằm thoả mãn tốt nhất mong muốn của khách

Trang 19

xuất khẩu thuỷ sản các nhà xuất khẩu có thể đúc kết ra được những nguyên nhân, những giải pháp về sản phẩm, giá cả, kênh phân phối và khuyếch trương trong hoạt động của mình để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các khách hàng trên thế giới Nó chỉ cho các doanh nghiệp biết sự khác biệt giữa mình với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giới về giá cả,về trình độ công nghệ,về khả năng cạnh tranh cũng như về các lợi thế so sánh

Với ưu thế về tài nguyên biển, ngành thuỷ sản Việt Nam đóng vai trò là một ngành kinh tế mũi nhọn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản trên cơ sở nghiên cứu các ứng dụng công nghệ kết hợp với lợi thế so sánh của ngành là một trong những yêu cầu đặt ra Các lợi thế đó cần được tận dụng theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, công nghệ khai thác, nuôi trồng và chế biến nhằm tạo ra sản phẩm về thuỷ sản tốt hơn các nước khác trên thế giới về chất lượng, mẩu mã, có giá thành thấp Từ đó áp dụng đồng bộ các giải pháp về giá cả, về sản phẩm,về phân phối

và hoạt động khuyếch trương, đồng thời nâng cao trình độ lực lượng lao động, đầu tư công nghệ nhằm tăng cường thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thuỷ sản, khẵng định với thế giới về hàng hoá và con người Việt Nam

Quản lý của Nhà nước và các chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các nhịp độ hoạt động XKTS Trên thực tế hiện nay vai trò quản lý nhà nước về xuất khẩu đối với các doanh nghiệp như sau:

Thiết lập trật tự cho công tác xuất khẩu thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, văn bản tạo hành lang pháp lý để các nhà xuất khẩu thuỷ sản trên cơ sở thực hiện hành vi xuất khẩu của mình

Thiết lập hệ thống tổ chức để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xuất khẩu Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, định mức của các hoạt động xuất khẩu, lấy tiêu chuẩn quốc tế làm nền tảng của mình có sự điều tiết của nhà nước cho phù hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam

Trên nền tảng của luật quốc tế và luật Việt Nam đã điều tiết để kiểm tra, kiểm soát những hoạt động xuất khẩu

Đội ngũ cán bộ quản lý làm công tác xuất khẩu phải biết ngoại ngữ đọc được luật quốc tế, am hiểu về luật Việt Nam, biết về chính sách hổ trợ cho các doanh nghiệp làm

Trang 20

công tác xuất khẩu, mở rộng mối quan hệ quốc tế và các nước trong khu vực, đồng thời không được sách nhiễu các nhà xuất khẩu

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Để khai thác triệt để tiềm năng thuỷ sản, tránh nguy cơ can kiệt tài nguyên, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất và XKTS, phải giải quyết những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản bằng hành động quyết liệt của các doanh nghiệp và ngư dân, với sự tổ chức phối hợp có hiệu quả của các hiệp hội và vai trò quản lý thúc đẩy, hổ trợ thiết thực của Nhà nước

1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên và môi trường đánh bắt, lực lượng đánh bắt, chế biến, cung ứng hàng thuỷ sản

Nước ta trải dài trên 13 độ vĩ bắc kề sát biển đông, bờ biển dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) dài 3260 km với 112 cửa sông lạch Theo công bố của chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 1977, biển ta gồm nội hải, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và hàng ngàn đảo lớn nhỏ

Môi trường nước mặn xa bờ: bao gồm vùng nước ngoài khơi thuộc vùng đặc quyền kinh tế Mặc dù chưa nghiên cứu kỹ về mặt nguồn lợi nhưng những năm gần đây ngư dân

đã khai thác rất mạnh cả 4 vùng biển khơi (Vịnh Bắc Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Đông Nam

Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan) Nhìn chung, nguồn lợi thuỷ sản nước ta mang tính phân tán, quần tụ, dàn nhỏ nên rất khó tổ chức khai thác công nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao Thêm vào đó khí hậu thuỷ văn của vùng biển này rất khắc nghiệt, nhiều dông bão làm cho quá trình khai thác gặp rất nhiều rủi ro và tăng thêm chi phí sản xuất

Môi trường nước mặn gần bờ là vùng sinh thái quan trọng nhất đối với các loại thuỷ sinh vật vì nó có nguồn thức ăn cao nhất do các cửa sông, lạch đem lại phù sa và các chất vô

cơ, hữu cơ hoà tan làm thức ăn tốt cho các sinh vật bậc thấp và đến lượt mình các sinh vật bậc thấp là thức ăn cho tôm cá Vì vậy, vùng này trở thành bãi sinh sản, cư trú và phát triển của nhiều loại thuỷ sản

Môi trường nước lợ: bao gồm vùng nước cửa sông,ven biển và rừng ngập mặn, đầm phá Đây là nơi cư trú, sinh sản, sinh trưởng của nhiều loài tôm cá có giá trị kinh tế cao

Trang 21

Biển Việt Nam có khoản 2.036 loài cá, trong đó có trên 130 loài có giá trị thương mại, 105 loài tôm, hơn 1.000 loài nhuyễn thể, Cá biển Việt Nam sống phân tán, ít tập trung thành đàn lớn nên ảnh hưởng đến năng suất đánh bắt Cá tập trung thành đàn theo mùa vụ và thường phân bổ theo độ sâu 20m nước trở ra Phần lớn là đàn cá nhỏ, chiếm 84,2%, đàn cá lớn chỉ có 0,8% trong tổng số các đàn cá, còn lại 15% là cá trung bình Đối tượng đánh bắt chính có khác nhau ở mỗi vùng biển khác nhau

Qua những kết quả nghiên cứu gần đây, trữ lượng cá biển Việt Nam khoản 4,1 triệu tấn, khả năng khai thác bền vững 1,7 triệu tấn

Cơ cấu đội tàu đánh bắt hải sản: Tính đến năm 2003 toàn ngành thuỷ sản có khoảng 137.715 tàu, trong đó có 53.630 tàu thuyền thủ công, 84.085 tàu lắp máy trong đó công suất là 4.001,736CV [7, tr.79]; phần lớn tập trung ở các tỉnh Nam Bộ (điều đáng chú ý hệ thống bảo quản sau thu hoạch phần lớn các tàu còn sơ sài và lạc hậu, chỉ gần đây ở Nam Định, Phú Yên, Vũng Tàu có một số tàu lắp đặt máy đá vẩy làm bằng nước biển lạnh, còn hầu hết bảo quản bằng kinh nghiệm dân gian cổ truyền, cá, tôm thu hoạch được ướp bằng muối, nước đá nên chất lượng sản phẩm không tốt, giá thành cao Vì vậy, có tới 65-70% tổng sản lượng cá khai thác chỉ dùng cho nhu cầu thực phẩm nội địa Riêng nghề cá xa bờ chỉ có trên 20% tổng sản lượng được dùng để xuất khẩu, số còn lại dùng cho nội địa hoặc chế biến bột cá, thức ăn gia súc)

Cơ cấu nghề nghiệp: nghề nghiệp khai thác hải sản ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng Hiện nay có trên 20 loại nghề nghiệp khác nhau được xếp vào 5 họ chính sau: nghề lưới kéo (30,6%), nghề lưới rê (21,3%), nghề câu (18,6%), nghề vây (7,5%)và các nghề khác (22,0%)

Tổ chức khai thác: hiên nay có khoảng 580.000 lao động đánh bắt hải sản; có 452 HTX và 4300 tổ hợp tác khai thác hải sản, đã thu hút gần 36.650 lao động Trong 580.000 lao động nghề cá có 60.000lao động (10,5%) là lực lượng đánh bắt xa bờ, số còn lại là lao động trên các tàu khai thác ven bờ Như vậy ta thấy áp lực đánh bắt ven bờ là quá lớn

Hầu hết các lao động đánh bắt hải sản không qua đào tạo, họ chỉ học tập lẫn nhau qua quá trình đi biển hay dạng cha truyền con nối do đó chỉ thạo nghề thuần tuý và các kinh nghiệm đánh bắt cổ truyền, thiếu kiến thức chuyên môn hàng hải và các công nghệ khai thác hiện đại Một số có kinh nghiệm đánh bắt cao, nhưng cũng chưa đủ về mặt số

Trang 22

lượng, cũng như năng lực tổ chức đánh bắt xa bờ có hiệu quả, vì họ chưa quen ngư trường

xa bờ, chưa có khả năng để điều hành những con tàu có công suất lớn và các trang thiết bị hàng hải hiện đại

Nuôi trồng thuỷ sản: từ năm 1999 đến 2005, trong cả nước đã chuyển đổi 377.269

ha đất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản.Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số ngành nghề sản xuất nông nghiệp khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa mà còn là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản cả nước đến năm 2005 là 959.945 ha, tăng hơn năm

1999 là 435.327 ha (tăng 82,8%)

Về sản lượng tăng liên tục, năm 1999 sản lượng là 480.767 tấn, năm 2000 là 589.595 tấn, năm 2001 là 709.891 tấn, năm 2002 là 844.810 tấn, năm 2003 là 1.003.095 tấn, năm 2004 đạt 1.202.486 tấn Năm 2005, ước đạt 1.437.350 tấn (gấp 3 lần năm 1999; trong đó sản lượng nuôi nước mặn, lợ là 546.716 tấn (tăng 1,5 so năm 2000), sản lượng nuôi nước ngọt là 890.640 tấn (tăng gấp 4 lần so năm 2000) [23, tr.5]

Chế biến xuất khẩu: công nghiệp chế biến thuỷ sản ngày càng được tăng cường cả

về số lượng, công suất và trình độ công nghệ, trong đó hình thành các khu tập trung các nhà máy chế biến thuỷ sản gắn liền với các nguồn cung cấp nguyên liệu và các dịch vụ phục vụ cho xuất khẩu, như cảng, kho thương mại, vận chuyển

Gần như các cơ sở chế biến lớn đã được nâng cấp mở rộng và đầu tư chiều sâu, nhiều cơ sở chế biến mới ra đời, với thiết bị công nghệ tiên tiến.Hiện nay cả nước có 439

cơ sở chế biến xuất khẩu, trong đó 296 cơ sở chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu, 101cơ

sở chế biến hàng khô, 23 cơ sở sản xuất đồ hộp Công xuất chế biến đông lạnh từ 800 tấn /ngày năm 1998 lên trên 4.262 tấn/ngày năm 2004 (tương ứng trên 1 triệu tấn năm) Phần lớn cơ sở chế biến thuỷ sản hiện nay đã ngang tầm với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và đã tiếp cận trình độ công nghệ của thế giới; một số cơ sở đã đầu tư dây chuyền IQF siêu tốc

Nhờ thay đổi thiết bị công nghệ và phát triển thị trường, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu đã thay đổi tích cực ngày càng đa dạng hơn, tỷ trọng sản phẩm ăn liền, sản phẩm giá trị gia tăng

đã tăng từ 17,5% lên 40-45% vào năm 2005

Trang 23

Việc đa dạng các mặt hàng xuất khẩu đã tạo sự gắn kết ngày một tốt hơn giữa người sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu Sự mở mang thị trường và nâng cao trình độ công nghệ, trình độ chế biến xuất khẩu đã trực tiếp tác động đến việc chủ động lựa chọn đối tượng nuôi và khai thác, phục vụ chế biến xuất khẩu, đem lại hiệu quả cao hơn, góp phần tăng thu nhập cho người sản xuất nguyên liệu

1.2.2.2 Quản lý nhà nước về xuất khẩu thuỷ sản

Để hoạt động xuất khẩu thuỷ sản ngày càng sôi động hơn và mang lại hiệu quả cao nhất, kích thích ngành thuỷ sản phát triển, đòi hỏi Nhà nước cần phát huy vai trò quản lý của mình tác động vào các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản Người thay mặt Nhà nước là Bộ thuỷ sản với chức năng quản lý vĩ mô cần định hướng cho các doanh nghiệp trong nước lẫn các nhà đầu tư nước ngoài đi cho đúng quĩ đạo theo luật

Về pháp luật:

- Chúng ta tiếp tục nghiên cứu, hiệu chỉnh hệ thống luật của ta nhằm hoàn thiện (bổ sung các điều mới) và loại bỏ một số điều mà nó đã lạc hậu nhằm phù hợp với quy định của thương mại thế giới

- Luật Thương mại, luật đầu tư cần mở rộng phạm vi, thêm các qui định để đảm bảo nguyên tắc hội nhập WTO, làm rõ chức năng quản lý nhà nước trong xuất khẩu

- Tạo môi trường pháp lý ổn định, cải thiện thủ tục hành chính, khuyến khích, hướng dẫn các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư lâu dài, gây dựng niềm tin cho doanh nghiệp

Về môi trường:

- Quản lý tốt việc đánh bắt hải sản xa bờ và nuôi trồng thuỷ sản để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu

Trang 24

- Đẩy mạnh xúc tiến hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường thế giới

- Thúc đẩy hợp tác kinh tế - kỹ thuật với nước ngoài trong sản xuất và chế biến hàng thuỷ sản xuất khẩu; đẩy nhanh tiến độ hội nhập khu vực và thế giới

- Vận dụng linh hoạt chính sách tài chính tín dụng khuyến khích xuất khẩu hàng thuỷ sản (miễn giảm các loại thuế đối với sản xuất và xuất khẩu hàng thuỷ sản, có chính sách tài trợ xuất khẩu và thành lập quĩ hỗ trợ sản xuất -xuất khẩu hàng thuỷ sản)

Về thông tin:

- Nhà nước phải hỗ trợ thông tin về thị trường, thông tin về luật pháp, phong tục tập quản, thị hiếu từng thị trường, quảng bá thương hiệu, marketing và lập các trang Web, đồng thời Bộ cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia hội chợ quốc tế hàng năm mở

ra ở nước ngoài, thành lập các Hiệp hội nghề cá để hỗ trợ lẫn nhau và không bị phá giá, chèn ép lẫn nhau trên thương trường để doanh nghiệp không bị thiếu thông tin và ảnh hưởng về thị trường

Về nguồn lực:

Để nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp chế biến -xuất khẩu thuỷ sản, đòi hỏi Nhà nước phải liên tục mở các khoá đào tạo tay nghề một cách chính qui cung ứng cho doanh nghiệp.Đây là vấn đề đặt ra ở các doanh nghiệp của ta vì trình độ quản lý và trình độ tay nghề của bộ phận lao động rất yếu sinh ra kém hiệu quả kinh tế trong sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu (từ yếu kém làm cho giá thành cao, giảm

đi sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường)

+ Chính sách của Đà Nẵng:

Ngày 3 tháng 4 năm 2006 UBND Thành phố Đà Nẵng đã ban hành Chỉ thị 08/2006/CT-UBND về "ngăn chặn nghề cào bay và các hoạt động khai thác thuỷ sản trái phép tại tuyến bờ, tuyến lộng" Theo đó Thành phố sẽ mở đợt cao điểm tuyên truyền Chỉ thị 10/2005/CT-BTS ngày 8/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản về việc ngăn chặn nghề cào bay và các hoạt động khai thác thuỷ sản trái phép tại tuyến bờ, tuyến lộng

Thời gian qua, trong lĩnh vực đánh bắt hải sản của ngư dân Đà Nẵng, nghề lưới kéo

có mắt lớn, độ mở miệng lưới rộng và cao, sử dụng tàu lắp máy công suất lớn (ngư dân gọi nghề cào bay) đã phát triển nhanh.Tuy nhiên những người làm nghề cào bay dã cho tàu khai thác tuyến bờ, tuyến lộng và khu vực cấm đánh bắt gây ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ

Trang 25

sản ven bờ cũng như quá trình sinh sản, sinh trưởng của các loài thuỷ sản, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của một số ngư dân nghèo làm các nghề thủ công, truyền thống ven bờ, gây bất bình trong cộng đồng ngư dân Việc thắt chặt quản lý hoạt động khai thác chắc chắn sẽ ngăn chặn được các hành vi trên [15, tr.24-25]

Quyết định số 133/2004/QĐ-UB ngày 4 tháng 8 năm 2004 của UBND TP Đà Nẵng khẳng định: Xây dựng Đà Nẵng trở thành Trung tâm kinh tế biển của khu vực Theo đó, cần tập trung giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:

Xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế biển (cảng biển hàng hoá, cảng khu dịch vụ khai thác, chế biến, hậu cần nghề cá ) thu hút nguồn nguyên liệu chế biến thuỷ sản, thu hút đầu tư (vốn, khoa học,công nghệ ) Phát triển đội tàu công suất lớn với trang thiết bị hiện đại gắn việc tổ chức sản xuất theo hướng hình thành các tổ hợp tác hỗ trợ nhau trên biển

Xây dựng hệ thống thông tin liên lạc nhằm quản lý các đoàn tàu trên biển, để hướng dẫn ngư trường, phòng chống thiên tai, rủi ro và hỗ trợ công tác tìm kíếm cứu nạn, cứu hộ thuận lợi

Hình thành các trung tâm giao dịch mua bán hàng thuỷ sản, trung tâm đào tạo huấn luyện, trung tâm chế biến, trung tâm trú bão neo đậu tàu thuyền và cứu hộ cứu nạn

Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng chủ yếu là nuôi trồng công nghiệp đi đôi với việc quản lý môi trường nuôi, nhằm đảm bảo sản phẩm sạch đáp ứng yêu cầu chế biến xuất khẩu

Đẩy mạnh chế biến thuỷ sản xuất khẩu bằng cách tập trung đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ cao, phát triển thêm các nhà máy chế biến

Tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng trọng điểm các công trình

Tăng cường các hoạt động giám sát môi trường đối với các hoạt động phát triển kinh tế thuỷ sản và có biện pháp ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường nhằm bảo tồn

và giữ gìn môi trường tự nhiên phục vụ cho phát triển kinh tế du lịch biển

1.2.2.3 Năng lực của các doanh nghiệp

Để hàng hoá ngày càng nhiều và càng đa dạng đồng thời tỉ lệ sản phẩm công nghiệp, sản phẩm chứa hàm lượng kỹ thuật cao buộc các doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư các dây chuyền công nghệ hiện đại, công nghệ tiến tiến Để nâng cao tỉ trọng công

Trang 26

nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản, một số doanh nghiệp đã quan tâm thay đổi cơ sở hạ tầng thay đổi dây chuyền công nghệ tự động hoá, bán tự động, dây chuyền cấp đông IQF, cấp đông nhanh, thay đổi mẫu mã, bao bì,

Nhu cầu nguồn vốn cho ngành thuỷ sản là rất lớn trong đó mức độ đầu tư của Nhà nước có giới hạn số còn lại phải dựa vào các doanh nghiệp, các chủ vựa, các nguồn vốn từ đầu tư trong nước và nước ngoài

Đối với nguồn vốn trong nước: Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất-kinh doanh xuất nhập khẩu thuỷ sản để thúc đẩy và thu hút nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực này

Nhà nước có chính sách ưu tiên, ưu đãi về vốn cho khu vực còn gặp nhiều khó khăn

ở vùng ven biển, hải đảo, vùng giáp biên, khai thác vùng khơi, vùng nghèo như các tỉnh bắc trung bộ, đầu tư mạnh vào vùng trọng điểm nghề cá như đồng bằng sông cửu long, Nam Trung bộ

Đối với vốn nước ngoài (kể cả với Việt kiều): Để thu hút được nguồn vốn nước ngoài, nhà nước cần hoàn thiện các chính sách và cơ chế đầu tư, các định chế quản lý, mở rộng các hoạt động tư vấn đầu tư, tạo môi trường thuận lợi và hấp dẫn hơn, sớm xem xét

và có quyết định hợp tác đầu tư khai thác, chế biến - dịch vụ và thương mại thuỷ sản với đối tác đầu tư sao cho hai bên cùng có lợi

Nhà nước cần ưu đãi cho các doanh nghiệp có các dự án đầu tư nhập công nghệ sản xuất giống một số loài thuỷ sản quí hiếm, khó cho sinh sản trong nuôi Bên cạnh đó, cần

ưu tiên cho các doanh nghiệp trong việc đào tạo cán bộ và công nhân có tay nghề cao phù hợp với trình độ công nghệ hiện đại và khuyến khích phát triển các trung tâm phân tích thị trường, công nghệ Để đẩy mạnh công tác hoạch định các chương trình mở rộng đầu tư và xác định xu hướng cho tương lai và khuyến ngư nhiều hơn nữa

Sự biến động của thế giới:

Theo IMF lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm 2006 sẽ đạt 4,9%so với múc tăng dự đoán hồi tháng 9/05 trong đó tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản

và một số nền kinh tế Châu á khác là nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Dự báo này cung cấp thêm cơ sở để nhận định rằng sức tiêu thụ hàng hoá, trong đó có hải sản sẽ tăng lên trong thời gian tới [11, tr 2]

Trang 27

Nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản thị trường Mỹ trong quí I năm 2006 đã tăng lên cho dù giá nhập khẩu tăng cao hơn.Theo số liệu của cục nghề cá biển quốc gia Mỹ (NMFS), 3 tháng đầu năm 2006 tổng lượng thuỷ sản các loại nhập khẩu của nước này đã đạt 593 ngìn tấn, trị giá hơn 3 tỷ USD, tăng 3% về lượng và tăng 11,1% về trị giá so với cùng kỳ năm

2005 Xét theo chủng loại, nhập khẩu tôm vào Mỹ đạt 124.575 tấn, trị giá 859,4 triệu USD, tăng 10,8% về khối lượng và 10,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2005 Nhập khẩu cá da trơn vào Mỹ trong quí I năm 2006 cũng tăng hơn 2 lần [13, tr 2]

Các hộ nuôi tôm ở Inđônêxia đã đề nghị chính phủ nước này duy trì lệnh cấm nhập khẩu tôm từ nước ngoài.Chủ tịch hiệp hội ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản nước này cho rằng sản lượng tôm của Inđônêxia đủ để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến trong nước

Số liệu thông kê của tổng cục hải quan Việt Nam cho thấy kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2006 đạt 845 triệu USD, tăng 25,7% so cùng kỳ năm 2004.Số liệu này cho thấy ngành thuỷ sản đã nỗ lực vượt qua khó khăn để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, hoàn thành kế hoạch xuất khẩu ngay từ những tháng đầu năm 2006 [13, tr.2]

Những thông tin trên cho thấy sự biến động liên tục của thị trường thuỷ sản trên thế giới từ giá cả, kim ngạch xuất nhập thuỷ sản của từng quốc gia, sự tranh mua tranh bán, cạnh tranh giá cả và bảo hộ mậu dịch, rào cản thuế quan , trước ngưỡng cửa WTO sẽ như thế nào với ngành thuỷ sản nói riêng và kinh tế đất nước ta nói chung Thách thức và cơ hội đan xen lấn nhau, để tiến tới hội nhập ta phải nâng cao năng lực xuất khẩu và hội nhập nhanh vào xu thế chung của thế giới

1.3 Kinh nghiệm xuất khẩu thuỷ sản ở một số địa phương trong nước

+ Kinh nghiệm xuất khẩu của thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại chính của cả nước, là mũi nhọn trong vai trò tiên phong xúc tiến thương mại Là một trong những Thành phố phát triển công nghệ thông tin như vũ bão Việc ứng dụng những thành tựu mới nhất của nó là điều kiện không thể thiếu để giúp doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh khi đối mặt với những thách thức to lớn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 28

Từ những thành tựu của khoa học công nghệ, nó giúp nhà doanh nghiệp nên chọn công nghệ nào phù hợp với thị trường để “đi tắt đón đầu” Việc ứng dụng, đổi mới công nghệ sẽ giúp cho các doanh nghiệp nâng cao được chất lượng, giảm giá thành, đa dạng hoá sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu

Cải cách hành chính, điều chỉnh, bổ sung những vấn đề thuộc cơ chế và pháp luật

để tạo động lực mới, nâng cao vai trò doanh nghiệp trong công tác xuất khẩu mà Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện sớm trong nhiều năm qua góp phần giải quyết công ăn việc làm, đặc biệt hiện đại hoá các ngành dịch vụ hỗ trợ các loại dịch vụ phục vụ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công nghiệp hoá ngang tầm với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực kinh tế trọng điểm phía nam và cả nước

+ Kinh nghiệm xuất khẩu của thành phố Khánh Hoà

Khánh hoà là một tỉnh công nghiệp đang phát triển mạnh, nhất là công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu.Bởi tỉnh có nghề cá mạnh nhất nước vì vùng biển khánh hoà có cơ

sở thức ăn phong phú nên hội tụ rất nhiều thuỷ vật quí hiếm mà các vùng biển khác không

có như: Điệp, sò lông, bào ngư, vẹn cỏ xanh và một số loại cá có sản lượng cao và có giá trị xuất khẩu lớn như: cá thu, ngừ, nhám, bạc má và các loài thuỷ sản khác cũng có sản lượng tương đối dồi dào so với các tỉnh miền Trung Bên cạnh đó, tiềm năng đất đai, thuỷ vực dành cho nuôi trồng thuỷ sản rất lớn Vì vậy, nguyên liệu thuỷ sản cho các nhà máy chế biến xuất khẩu thuỷ sản rất bền vững

Ngoài thiên nhiên ưu đãi lãnh đạo tỉnh Khánh Hoà còn dựa trên chính sách chủ trương của Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư khai thác đánh bắt và nuôi trồng hải sản xuất khẩu Những chủ trương chính sách lớn của Nhà nước được cụ thể hóa như sau:

* Về phát triển nuôi trồng thuỷ sản: (QĐ 224/1999/QĐ-TTg)

* Về Chương trình đánh bắt xa bờ (Thông báo số 17/TB ngày 27/02/1997 của Văn phòng Chính phủ)

* Về Chương trình phát triển xuất khẩu thuỷ sản (QĐ 251/1998/QĐ-TTg)

* Về chương trình Quản lý chất lượng sản phẩm (HACCAP, ISO) qua quyết định

QĐ 732/1998/QĐ-BTS và QĐ 664/1999/QĐ-BTS

Trang 29

* Về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản Quyết định số 103/2000/QĐ-BTS ngày 25/08/2000 và thông tư hướng dẫn thực hiện 04/2000/TT-BTS ngày 03/11/2000)

* Về qui chế kiểm tra và công nhận chất lượng hàng hoá (Quyết định số 650/2000/QĐ-BTS)

Trên cơ sở chủ trương chính sách hành lang pháp lý rõ ràng, tỉnh Khánh Hoà đã huy động một khối lượng vốn từ đầu tư, xây dựng, mở rộng cơ sở sản xuất chế biến đào tạo một đội ngũ công nhân lành nghề, hình thành một thế hệ ngư dân, nông dân mới có tri thức

kỹ thuật kinh nghiệm trong đánh bắt và sản xuất

+ Kinh nghiệm xuất khẩu của Kiên Giang

Tỉnh Kiên Giang có bờ biển dài gần 200km, có 105 hòn đảo lớn nhỏ trong đó Đảo Phú Quốc là đảo lớn nhất có diện tích 57,013 ha Khí hậu và nhiệt độ trong năm khá ổn định, chế độ nóng ẩm quanh năm là điều kiện thuận lợi cho sản xuất ngư nghiệp Riêng hệ thống sông ngòi và kênh rạch chảy ra vịnh Thái Lan hàng năm đã cung cấp nguồn dinh dưỡng làm giàu thức ăn cho các loài thuỷ sản và gần cửa sông là nơi sinh sản và sinh trưởng của nhiều loại thuỷ sản thuận lợi cho nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản phát triển

Biển Kiên giang nằm gọn trong vịnh Thái Lan, đặc trưng của vịnh các dòng nước chảy vòng tròn theo chiều thuận, nghịch với chiều kim đồng hồ làm cho nguồn thức ăn luôn biến đổi trộn lẫn nhau Vịnh nông, đáy tương đối bằng phẳng, giàu nguồn thức ăn Kiên Giang được thiên nhiên ưu đãi về tiềm năng hải sản, bên cạnh đó nuôi trồng thuỷ sản cũng là một nghề truyền thống của Kiên Giang như: Nuôi cá ao hầm, nuôi cá vuông (kết hợp cấy lúa và nuôi cá), nuôi tôm nước lợ, nuôi đồi mồi, sò huyết, Nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên vùng thềm lục địa như: sò, nghêu, rong biển cũng phong phú với trữ lượng lớn và

Trang 30

giá thành hạ chất lượng cao kích thích người nuôi mở rộng qui mô nuôi, trồng phục vụ cho sản xuất và chế biến xuất khẩu

+ Bài học kinh nghiệm rút ra cho Đà Nẵng

Qua nghiên cứu chính sách, phương hướng phát triển sản xuất chế biến của một số tỉnh, mỗi địa phương có một thế mạnh tiềm năng riêng và dựa vào thế mạnh đó mỗi địa phương phát triển theo lợi thế của mình Để Đà Nẵng trở thành Thành phố công nghiệp là chổ dựa của công nghiệp sản xuất và xuất khẩu của miền Trung Đà Nẵng cần phát huy vai trò tiên phong của mình, biết kết hợp tất cả các thế mạnh tiềm năng của mình và những hướng đi của các địa phương có thế mạnh, ưu điểm như địa phương mình

* Về nguyên liệu: vừa khai thác vừa bảo vệ nguồn nguyên liệu tự nhiên, đa dạng hoá mặt hàng, nâng cao tỉ lệ tinh trong sản phẩm

* Về khách hàng: Lưu giữ khách hàng cũ, tìm lại khách hàng đã mất, bổ sung những khách hàng mới

* Về thị trường: giữ vững thị trường truyền thống, mở rộng, từng bước chiếm lĩnh thị trường mới, nâng cao thương hiệu riêng của từng doanh nghiệp

* Về thông tin: Tăng cường công tác marketing, tiếp thị, quảng bá trên tất cả các kênh thông tin (kể cả các mối quan hệ Việt Kiều)

* Về công nghệ: Mở rộng nhà xưởng, thay đổi thiết bị, công nghệ, qui trình kỹ thuật tiên tiến đáp ứng được yêu cầu thị trường

* Về con người: Nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ phụ trách kỹ thuật, trình

độ của công nhân sản xuất; đào tạo và bổ sung đội ngũ trẻ đầy đủ kiến thức phục vụ sản xuất, xuất khẩu

* Về cơ chế chính sách: Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp

Trang 31

Xây dựng Thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của

cả nước; là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương nghiệp, du lịch, và dịch vụ, là Thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính-viễn thông, tài chính- ngân hàng; một trong những trung tâm văn hoá thể thao, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung;

là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước [15, tr.06]

2.1.1 ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng

* Đặc điểm tự nhiên về địa lý:

Thành phố Đà Nẵng nằm ở 15o 55’ đến 16o 14’ vĩ bắc, 107o18’đến 108o20’ kinh Đông, Bắc giáp Thừa thiên Huế, Tây Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông, Nằm ở vào trung độ nước Việt Nam, trên trục giao thông về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách thủ đô Hà Nội khoảng 764 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam

Thành phố có diện tích tự nhiên là 1.255.53km2; trong đó các quận nội thành chiếm diện tích 213,05km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48km2

Về địa hình Thành phố vừa có núi, có biển, sông và đồng bằng

* Đặc điểm khí hậu:

Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu Miền Bắc và Miền Nam Mỗi năm có hai mùa rỏ rệt, mùa mưa kéo dài từ thàng 08 đến tháng 12 và mùa khô từ

Trang 32

thàng 01 đến tháng 07, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Đà Nẵng vào cuối năm thường xuất hiện những cơn bão dữ dội vào tháng 09,10,11,12; các đợt bão thương kèm theo mưa to, gây lũ lụt cho một số khu vực, làm ảnh hưởng mùa màng và thiệt hại về vật chất rất lớn cho người dân

* Tài nguyên biển, sông, hồ:

Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30km, có vịnh nước sâu, với các cửa ra biển như: Liên Chiểu, Tiên Sa với diện tích ngư trường khoảng 15.000 m2 Có vùng lãnh hải thềm lục địa trải dài 125 km tạo thành vành đai nước nông rộng lớn thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp biển

Khả năng phát triển kinh tế thuỷ hải sản rất lớn Qua điều tra sơ bộ cho thấy vùng biển Đà Nẵng có trử lượng hải sản rất lớn, khả năng khai thác hàng năm khoảng 60 >70 ngàn tấn Hiện nay mới chỉ khai thác được 27 >30 ngàn tấn

Thành phố có hơn 2.107 ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản cho phép phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp, với các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: Tôm sú, tôm hùm, cá cam, tạo nguyên liệu cung cấp cho nhu cầu chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa ngày càng tăng

* Dân số và tỷ lệ người làm trong ngành nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản:

Dân số trung bình năm 2005 là 781.023 người, so với năm 2000 tăng 9,03%; cơ cấu dân số: khu vực thành thị 79,515%, nông thôn 20,49% Dân cư Thành phố phân bố không đều giữa các quận, huyện, giữa các vùng đồng bằng với vùng trung du, miền núi Mật độ dân số trung bình toàn Thành phố là 609 người /km2 trong đó quận nội thành rất cao: 2.853 người /km2, khu vực nông thôn chỉ có 212người /km2

Tổng số người trong độ tuổi lao động hiện có 384.000 người chiếm 44,01% dân số, trong đó lao động có việc làm là 362.000người, chiếm 94,2%

Hiện nay, Thành phố có khoảng 20.000 lao động nghề cá(gồm nuôi trồng, khai thác

và chế biến thuỷ sản) Giá cả sức lao động trong lĩnh vực thuỷ sản vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới, đây là một lợi thế cạnh tranh trong quá trình hội nhập Tuy nhiên lao động thuỷ sản chủ yếu là lao động giản đơn, trình độ văn hoá thấp, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển mới

Bảng 2.1: Lao động và trình độ lao động chế biến của TP Đà Nẵng

Trang 33

Nguồn: Sở Thuỷ sản Nông - Lâm Đà Nẵng-2005

Bảng 2.2: Trình độ lao động trong các cơ sở chế biến thuỷ sản năn 2005 của TP Đà

nghiệp

102 22,67

PTTH 150 33,33 Dưới PHTH

02 Lao Động trực tiếp 7.650 94,44

Công nhân bậc 01 4.235 55,36 Công nhân bậc 02 1.030 13,46 Công nhân bậc 03 895 11,70 Công nhân bậc 04 trở lên 14.490 19,48

Nguồn: Sở Thuỷ sản Nông - Lâm Đà Nẵng-2005

* Trình độ phát triển kinh tế và khả năng đầu tư cho ngành nuôi trồng, khai thác:

Thành phố Đà Nẵng cùng cả nước đang có những bước phát triển mạnh mẽ trong quan hệ xuất nhập khẩu với toàn thế giới Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của toàn Thành phố từ 229,9USD năm 1997 đến năm 2004 là 420,2 USD Nếu chỉ xét các

Trang 34

doanh nghiệp địa phương của Thành phố thì bình quân từ năm 1997 đến năm 2004 mỗi năm xuất siêu khoản 35,6 triệu USD Các mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp chủ yếu vẫn là hàng may mặc, giày dép và hàng thuỷ sản;

từ năm 1999 đến năm 2002 hàng thuỷ sản luôn chiếm tỷ trọng trên 20% cao nhất là 46,7% năm 2001 Đối với mặt hàng thuỷ sản đây là nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của địa phương(năm 2004 nhóm hàng này chiếm tỷ trọng 26,78% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn), tốc độ tăng bình quân hàng năm 2000 - 2004 là 10,6%,

và năm 2004 tốc độ tăng cao là 33,53% tương ứng với trị giá tăng so năm 2003 là: 20,814 triệu USD) Đà Nẵng là Trung tâm kinh tế khu vực Miền Trung với một bờ biển dài có các đầm nước mặn, lợ nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, hơn nữa mặt hàng này lại được ưa chuộng tại một số nước như: Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hông Kông Đó là điều kiện thuận lợi để Đà Nẵng phát huy thế mạnh, tuy nhiên cũng cần phải nâng cao tính cạnh tranh của hàng thuỷ sản, về chất lượng chủng loại, từ nuôi trồng cho đến khâu chế biến [15, tr.48]

Đà Nẵng có 17 phường hoạt động nghề cá, phân bổ ở 5 quận với 19.540 hộ và 59.410 nhân khẩu chung nghề cá với khu vực Miền Trung và cả nước

Sản lượng hải sản khai thác năm 2005 được 40.500 tấn so với năm 2002 tăng 7.000 tấn Năng lực đánh bắt hải sản từng bước được nâng lên đến năm 2005 số lượng tàu đánh

cá có 2.030 chiếc, trong đó loại tàu từ 90CV trở lên có 187chiếc chiếm tỉ lệ 9,2%, tàu từ 45> dưới 90CV có 432 chiếm tỉ lệ 52%, còn lại dưới 45CV có 1.414 chiếc, chiếm 68,8%

So với năm 2002 số lượng tàu cá trên 90CV tăng 106 chiếc, tầu 45CV đến dưới 90CV tăng

12 chiếc và tổng công suất tàu cá đã tăng thêm 10.950CV

Nghề khai thác hải sản của Đà Nẵng tuy đã có bước chuyển hướng khai thác vùng khơi, song số lượng tàu công suất nhỏ (dưới 45CV) khai thác vùng bờ vẫn còn nhiều Cơ cấu tàu thuyền đã có bước chuyển dịch theo hướng vươn khơi, đánh bắt các đối tượng giá trị

kinh tế cao, hạn chế dần khai thác ven bờ Chuyển đổi cơ cấu khai thác qua việc lựa chọn ngư trường, loại hình nghề nghiệpvà sản phẩm để nâng cao giá trị hàng hoá, sử dụng hợp lý nguồn lợi, giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững [17, tr.192] Ngoài

chương trình đầu tư đánh bắt xa bờ, hàng năm ngư dân tự nâng cấp hàng chục chiếc tàu loại từ 20>33CV/chiếc lên 45>60CV/chiếc, nên sản lượng khai thác vùng khơi dần tăng

Trang 35

lên qua các năm Trong khai thác trên biển hiện nay các tàu được thành lập theo tổ, bước đầu đã thành lập được39 tổ đội khai thác tương hỗ trên biển, với 272 chiếc Việc khai thác theo hình thức liên kết tổ, đội, không chỉ phát huy hiệu quả về kinh tế mà còn có ý nghĩa tương hỗ, tương trợ lẫn nhau trên biển, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng, chủ quyền vùng biển của Tổ Quốc Qua điều tra thực tế cho thấy đội tàu có công suất từ 45CV trở lên được trang bị phương tiện thông tin liên lạc, 60% phương tiện máy định vị, 25%trang bị máy dò cá,và 100% trang bị phao cứu sinh và thiết bị an toàn hàng hải trong khai thác Đối với tàu 33CV trở xuống chiếm 75% tổng số tàu thuyền khai thác nhưng hầu hết chưa có trang thiết bị nói trên nên hiệu quả khai thác chưa cao

Bảng 2.3: Cơ cấu tàu thyền khai thác từ 2001 đến 2005 của TP Đà Nẵng

Nguồn: Sở Thuỷ sản Nông - Lâm Đà Nẵng-2005

Về nuôi trồng: sản lượng năm 2005 đạt 1.060 tấn (trong đó tôm Sú 520 tấn, cá nước

ngọt 540 tấn), tăng1,69 lần so năm 2002 Từ khi Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc TW, nghề nuôi mới được chú ý đầu tư, và trở thành một trung tâm phát triển toàn diện nghề nuôi nhất là nuôi tôm Sú và cá nước ngọt như cá Ba Sa,Cá rô phi đơn tính Riêng trong việc sản xuất tôm sú giống và thức ăn nuôi tôm tại chổ, với trên 200 trại sản xuất và cung cấp 1,2 >1,5 triệu con giống P15 cho các doanh nghiệp nuôi tôm cả nước

Đà Nẵng vừa có sông, vừa có biển nên rất phát triển công việc nuôi trồng thuỷ sản trên 3 loại mặt nước: Mặn, lợ, và ngọt, qua đó 1.500 lao động được giải quyết công ăn việc làm và mức thu nhập so với ngành nghề nông khác tăng từ 4 đến 10 lần, sử dụng hợp lý các tài nguyên mặt nước hiện có, góp phần tạo ra giá trị sản lượng 24 > 25 tỉ đồng/ năm, đóng góp nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu

Bảng 2.4: Tình hình nuôi trồng thuỷ sản từ năm 2002 đến 2005

của TP Đà Nẵng

Trang 36

STT Nội dung ĐVT 2002 2003 2004 2005

Nước ngọt “ 471 498 472 550 Nước Lợ “ 250 271 256,5 255 a/Nuôi Tôm “ 248 268 253 250 b/ Nhuyễn thể “ 2 3 3,5 5

Nguồn: Sở Thuỷ sản Nông - Lâm Đà Nẵng-2005

2.1.2 ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội đến xuất khẩu của Thành phố

Đà Nẵng

Sự ổn định về chính trị, không khí đồng thuận xã hội và tinh thần năng động sáng tạo là nét nỗi bật của bối cảnh tình hình Thành phố Đà Nẵng, tác động tích cực đến việc thực hiện những chủ trương chímh sách Đảng và Nhà nước của Đảng bộ và chính quyền Thành phố, hướng vào mục tiêu xây dựng và phát triển Thành phố giàu mạnh,văn minh

Sự phát triển cơ sở vật chất giáo dục, y tế, văn hoá xã hội:

Sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hoá trong những năm qua được Thành phố quan tâm đầu tư, giai đoạn 1997- 2005 đã dành khoản kinh phí 100.659 triệu đồng cho việc xây dựng mới và nâng cấp trường học, bình quân hàng năm đầu tư 12.5 tỷ đồng, đáp ứng nhu cầu trường lớp dạy và học Về y tế có 100% trạm y tế cấp xã được nâng cấp hoặc xây mới

và đầu tư trang thiết bị, cũng như đều có Bác sĩ, cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu cho Nhân dân.Lĩnh vực văn hoá, thể thao cũng đã đầu tư được nhiều công trình văn hoá, các khu vui chơi giải trí ở khu trung tâm các xã Nhiều xã đã hình thành và tổ chức hoạt động tốt trung tâm học tập cộng đồng, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực

Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của TP Đà Nẵng

(2001-2005)

Trang 37

- Thuỷ sản Nông Lâm 545,77 573,43 606,21 635,70 668,90

- Công nghiệp xây

Nguồn: Sở Thuỷ sản Nông - Lâm Đà Nẵng-2005

Đà Nẵng được đánh giá là Thành phố có sự tăng trưởng cao, bình quân thời kỳ 2001-2005 đạt 13%, trong đó công nghiệp - xây dựng 17,6%, thương mại dịch vụ tăng 10%, thuỷ sản nông lâm tăng 5,17% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ và nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp -xây dựng tăng từ 40,6% năm 2000 lên 48,2% năm 2005 và tương ứng thuỷ sản nông lâm giảm từ 7,4% xuống 5,7% năm 2005

Biểu 2.6: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2005

41

Trang 38

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 17,5%, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 ước đạt 640USD, gấp 1,7 lần

so với bình quân cả nước Một số mặt hàng xuất khẩu tăng khá, nhất là các sản phẩm chủ lực như: Hải sản đông lạnh, sản phẩm may mặc, đồ chơi trẻ em, xăm lốp ôtô, giày da cơ cấu thị trường tương đối ổn định, phát triển mạnh ở các thị trường lớn, khó tính: thị trường

EU chiếm 28,2%, Mỹ 24,8%, Nhật 16,8%, thị trường khác 30,2 % [15]

Về sản xuất thuỷ sản nông lâm tăng trưởng khá, theo hướng thâm canh, năng suất chất lượng cao Cơ cấu kinh tế thuỷ sản nông lâm chuyển dịch theo hướng tích cực, trong tổng giá trị sản xuất, tỷ trọng thuỷ sản tăng từ 58% năm 2002 lên 65,1% năm 2005, ngược lại nông lâm nghiệp giảm tương ứng từ 42% xuống 34,9% trong tổng giá trị sản xuất thuỷ

Trang 39

xuống còn 57% năm 2005, ngược lại ngành chăn nuôi tăng tương ứng từ 40% lên 43% và trong ngành trồng trọt thì tỷ trọng giá trị sản xuất rau quả thực phẩm tăng từ 14% năm

2002 lên 21% năm 2005, ngược lại tỷ trọng sản xuất lương thực, cây công nghiệp giảm tương ứng [23]

- Dịch vụ cho xuất khẩu thuỷ sản: Cơ sở hạ tầng, tài chính, ngân hàng, tư vấn …

Hoạt động của các lĩnh vực: Du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông,vận tải đều có bước phát triển tốt

Ngành du lịch được tập trung đầu tư những công trình sản phẩm mới như: Khách sạn nhà hàng cao cấp Furama, du lịch sinh thái núi Sơn Trà, Khu du lịch Non Nước, mở rộng

du lịch Bà Nà Du lịch tạo tiền đề mở rộng hướng xuất khẩu tại chổ góp phần nâng cao tính dịch vụ hỗ trợ cho công tác xuất khẩu

Dich vụ hậu cần và đầu tư hạ tầng nghề cá, ngoài việc củng cố phát huy hiệu quả cảng cá Thuận Phước, đã đầu tư xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động âu thuyền Thọ Quang, bình quân tiếp nhận 150 tàu cá ngày đáp ứng tốt nhu cầu neo đậu trú bão an toàn không chỉ cho tàu Đà Nẵng mà còn cho cả khu vực Đã xây dựng khu công nghiệp chế biến thuỷ sản Thọ Quang dự kiến phục vụ cho 20 nhà máy chế biến xuất khẩu đến nay đã

có 10 doanh nghiệp đầu tư và đã hoạt động

Đang triển khai dự án đầu tư xây dựng trung tâm huấn luyện nghề cá khu vực miền Trung tại Đà Nẵng với qui mô 600 học viên / khoá

Đang triển khai qui hoạch, chuẩn bị đầu tư 2 vùng chuyên canh nuôi cá nước ngọt tập trung hướng tới xuất khẩu, qui mô 215 ha

Về chính sách tài chính: trên cơ sở chính sách chung, lãnh đạo Thành phố vận dụng

linh hoạt về địa phương mình và tư vấn cho các doanh nghiệp nắm được các chính sách tài chính tín dụng khuyến khích xuất khẩu hàng thuỷ sản bao gồm:

+ Miễn giảm các loại thuế đối với sản xuất xuất khẩu hàng thuỷ sản

+ Có chính sách tài trợ xuất khẩu và thành lập quỹ hỗ trợ sản xuất -xuất khẩu hàng thuỷ sản và phát triển thị trường

+ khuyến khích các loại hình doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, kết hợp xuất nhập khẩu và vận dụng linh hoạt các phương thức mua bán quốc tế

Trang 40

Lãnh đạo Thành phố có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn trung, dài hạn để đầu tư trang thiết bị hiện đại, mở rộng sản xuất và xuất khẩu nhưng phải có chọn lọc Nhà nước phải có tư vấn hỗ trợ thông tin công nghệ cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, việc vay vốn còn nhiều thủ tục, mất nhiều thời gian chờ đợi, ảnh hưởng đến nhiều cơ hội và hiệu quả đầu tư, chính điều đó làm hạn chế tính năng động sáng tạo của doanh nghiệp

2.1.3 Số lượng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản ở

Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng có lợi thế phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản so với các tỉnh trong khu vực miền Trung Trong thời gian qua, XKTS từng bước chiếm ưu thế và trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng, lợi thế để phát triển, nhờ vậy đã tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế Đến nay, hầu hết các doanh nghiệp đều được cấp giấy chứng nhận hoặc tiếp cận với các tiêu chuẩn về HACCP, tuy nhiên về tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000, ISO

14000 chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, hiện có 05 nhà máy chế biến Thành phố đáp ứng yêu cầu xuất khẩu vào thị trường EU, Mỹ, có 7/9 nhà máy đáp ứng yêu cầu vào thị trường Hàn Quốc

2.1.3.1 Số lượng doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản ở Đà Nẵng

Theo số liệu thống kê đến 31/12/2005, trên địa bàn Thành phố có 427 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, trong đó công nghiệp chế biến thuỷ sản là 15 doanh nghiệp và 9 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.Với chủ trương của Thành phố đẩy mạnh, phát triển nghề

cá theo hướng hiện đại, tập trung phát triển hậu cần nghề cá nên Thành phố đã đầu tư xây dựng khu công nghiệp dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang, với qui mô 60 ha, đáp ứng cho 20 doanh nghiệp qui mô lớn, đến nay có 11/15 doanh nghiệp chế biến đã đầu tư và vào hoạt động tại khu công nghiệp

Về cơ cấu loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước có 5 doanh nghiệp, trong đó có 3 doanh nghiệp TW, doanh nghiệp địa phương là 02 doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 01 doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH là 09 doanh nghiệp, chủ yếu là mới thành lập sau năm 2000, nhờ chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân của Thành phố, trong đó có 02 doanh nghiệp mới thành lập

và đưa vào hoạt động năm 2005.Nhìn chung năng lực chế biến của Thành phố Đà Nẵng

Ngày đăng: 22/03/2017, 06:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Đỗ Đức Bình (2002), "Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (62), tr.23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Đỗ Đức Bình
Năm: 2002
2. Bộ Thuỷ Sản (1996), Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Thuỷ Sản
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Bộ Thủy sản - Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản (3/2000), Tóm tắt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010
5. Bộ Thuỷ sản (2002), "Nghề cá và thị trường thuỷ sản Mỹ", Chuyên đề Thuỷ sản, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề cá và thị trường thuỷ sản Mỹ
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Năm: 2002
6. Bộ Thuỷ sản (2005), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 2004, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2005 của ngành thuỷ sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 2004, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 2005 của ngành thuỷ sản
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Năm: 2005
7. Bộ Thủy sản (2005), Về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá
Tác giả: Bộ Thủy sản
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
8. Bộ Thủy sản (10/2005), Quy hoạch phát triển thủy sản ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia thời kỳ 2005-2020, Tập 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển thủy sản ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia thời kỳ 2005-2020
9. Bộ Thương mại - Trung tâm Thông tin thương mại (16/12/2005), "Một số thông tin đáng lưu ý", Thông tin thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin đáng lưu ý
10. Bộ Thương mại - Trung tâm Thông tin thương mại (13/02/2006), "Một số thông tin đáng lưu ý", Thông tin thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin đáng lưu ý
11. Bộ Thương mại - Trung tâm Thông tin thương mại (10/04/2006), "Một số thông tin đáng lưu ý", Thông tin thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin đáng lưu ý
12. Bộ Thương mại - Trung tâm Thông tin thương mại (17/04/2006), "Một số thông tin đáng lưu ý", Thông tin thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin đáng lưu ý
13. Bộ Thương mại - Trung tâm Thông tin thương mại (22/05/2006), "Một số thông tin đáng lưu ý", Thông tin thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin đáng lưu ý
14. TS. Lâm Minh Châu (2005), "Xuất khẩu thuỷ sản miền Trung - Những lợi thế và giải pháp phát triển", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (91), tr.16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu thuỷ sản miền Trung - Những lợi thế và giải pháp phát triển
Tác giả: TS. Lâm Minh Châu
Năm: 2005
15. Cục thống kê Đà Nẵng (1/2005), Thành phố Đà Nẵng 30 năm xây dựng và phát triển(1975-2005), Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Đà Nẵng 30 năm xây dựng và phát triển "(1975-2005)
16. PGS.Nguyễn Đăng Dũng - TS. Nguyễn Ngọc Đào (2002), Luật kinh doanh quốc tế, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật kinh doanh quốc tế
Tác giả: PGS.Nguyễn Đăng Dũng - TS. Nguyễn Ngọc Đào
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2002
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Nguyễn Thị Thanh Hà - Nguyễn Văn Tiền (2005), "Ngành thủy sản Việt Nam: thực trạng và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (321) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thủy sản Việt Nam: thực trạng và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà - Nguyễn Văn Tiền
Năm: 2005
19. Trần Thế Hoàng (2005), "Những thách thức của ngành thủy sản Việt Nam trong hội nhập kinh tế", Tạp chí Phát triển kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức của ngành thủy sản Việt Nam trong hội nhập kinh tế
Tác giả: Trần Thế Hoàng
Năm: 2005
20. Hoàng Thị Ngân Loan (2005), "Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy", Tạp chí Kinh tế và dự báo, (3), tr.12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy
Tác giả: Hoàng Thị Ngân Loan
Năm: 2005
21. Nguyễn Thị Hồng Minh (2006), "Chuyển đổi và cổ phần hoá khu vực kinh tế quốc doanh để tạo sức sống mới", Tạp chí thương mại Thuỷ sản, (02), tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi và cổ phần hoá khu vực kinh tế quốc doanh để tạo sức sống mới
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Tốc độ tăng trưởng về KNXK thuỷ sản Việt Nam - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng về KNXK thuỷ sản Việt Nam (Trang 13)
Bảng 2.2: Trình độ lao động trong các cơ sở chế biến thuỷ sản năn 2005 của TP Đà - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2 Trình độ lao động trong các cơ sở chế biến thuỷ sản năn 2005 của TP Đà (Trang 33)
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của TP Đà Nẵng - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của TP Đà Nẵng (Trang 36)
Bảng 2.7: Tình hình doanh nghiệp chế biển thuỷ sản Đà Nẵng - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7 Tình hình doanh nghiệp chế biển thuỷ sản Đà Nẵng (Trang 41)
Bảng 2.8: Cơ cấu sản lượng sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu TP Đà Nẵng - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8 Cơ cấu sản lượng sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu TP Đà Nẵng (Trang 44)
Bảng 2.9: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản của thành phố Đà Nẵng - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản của thành phố Đà Nẵng (Trang 46)
Bảng 2.10:  Giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản qua các năm - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.10 Giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản qua các năm (Trang 50)
Bảng 3.1:  Nhu cầu thuỷ sản thế giới năm 2010 - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.1 Nhu cầu thuỷ sản thế giới năm 2010 (Trang 60)
Bảng 3.3: Các nhóm mặt hàng thủy sản nhập khẩu của Nhật Bản 2002-2005 - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.3 Các nhóm mặt hàng thủy sản nhập khẩu của Nhật Bản 2002-2005 (Trang 61)
Bảng 3.4: Các mặt hàng TS của VN xuất khẩu sang Nhật Bản 2000-2005 - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.4 Các mặt hàng TS của VN xuất khẩu sang Nhật Bản 2000-2005 (Trang 62)
Bảng 3.6: Mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.6 Mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ (Trang 64)
Bảng 3.7: Sản lượng xuất khẩu thủy sản của EU - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.7 Sản lượng xuất khẩu thủy sản của EU (Trang 65)
Bảng 3.9: Thị phần thuỷ sản Việt Nam so với một số nước trên thị trường EU giai - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.9 Thị phần thuỷ sản Việt Nam so với một số nước trên thị trường EU giai (Trang 66)
Bảng 3.10:  Nhập khẩu thuỷ sản của Trung Quốc (tấn) - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.10 Nhập khẩu thuỷ sản của Trung Quốc (tấn) (Trang 67)
Bảng 3.12: Khả năng cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến - Phát triển Xuất khẩu thủy sản ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Bảng 3.12 Khả năng cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w