44 Hình 3.24.So sánh chỉ số QVC của học sinh nam trường THPT Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác .... 45 Hình 3.25.So sánh chỉ số QVC của học sinh nữ trường THPT Đinh Tiên Hoàng với nghi
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý người và động vật
Người hướng dẫn khoa học
TS DƯƠNG THỊ ANH ĐÀO
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thiện khóa luận này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu từ thầy cô, bạn bè và người thân
Đầu tiên tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Dương Thị Anh Đào
là người đã tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ths Phạm Thị Kim Dung, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và truyền thụ kiến thức để tôi hoàn thành được nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã hỗ trợ về tinh thần cũng như về vật chất trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả những người thân, bạn bè đã giúp đỡ và động viên để tôi hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình hoàn thành khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận được đầy đủ hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Thảo Nga
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong khóa luận tốt nghiệp
này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS
Dương Thị Anh Đào Các số liệu, căn cứ, kết quả nêu trong đề tài là
hoàn toàn trung thực, không sao chép, không trùng lặp với các kết
quả nghiên cứu trước Nội dung đề tài chưa được công bố trong bất
kì công trình khoa học nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Thảo Nga
Trang 4MỤC LỤC
Contents
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Nhiệm vụ của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu chung về hình thái - thể lực cơ thể người 3
1.2 Tình hình nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực trên thế giới 4
1.3 Tình hình nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực ở Việt Nam 5
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 11
2.2.2 Các chỉ số nghiên cứu 11
2.2.3 Phương pháp xác định các chỉ số 12
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 14
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 Các chỉ số hình thái 16
3.1.1 Chiều cao đứng 16
3.1.2 Cân nặng 20
3.1.3 Vòng ngực trung bình 23
3.1.4 Vòng bụng 27
3.1.5 Vòng cánh tay phải co 28
3.1.6 Vòng đùi phải 31
3.2 Chỉ số thể lực 35
Trang 53.2.1 Chỉ số BMI 35
3.2.2 Chỉ số Pignet 39
3.2.3 Chỉ số QVC 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi và giới tính 11 Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 16 Bảng 3.2 So sánh chiều cao đứng của học sinh trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 18 Bảng 3.3 Cân nặng của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 20 Bảng 3.4 So sánh cân nặng của học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng
với nghiên cứu khác 22 Bảng 3.5 Vòng ngực trung bình của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 24 Bảng 3.6 So sánh vòng ngực trung bình của học sinh trường THPT Đinh
Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 25 Bảng 3.7 Vòng bụng của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 27 Bảng 3.8 Vòng cánh tay phải co của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 28 Bảng 3.9 So sánh vòng cánh tay phải co của học sinh trường THPT
Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 30 Bảng 3.10 Vòng đùi phải của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 32 Bảng 3.11 So sánh vòng đùi phải của học sinh trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 33 Bảng 3.12 BMI của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 35 Bảng 3.13 So sánh BMI của học sinhtrường THPT Đinh Tiên Hoàng
với nghiên cứu khác 37 Bảng 3.14.Chỉ số Pignet của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 39 Bảng 3.15 So sánh Pignet của học sinhtrường THPT Đinh Tiên Hoàng
với nghiên cứu khác 41 Bảng 3.16.Chỉ số QVC của học sinh theo lứa tuổi và giới tính 43
Trang 8Bảng 3.17.So sánh chỉ số QVC của học sinh trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 44
Trang 9Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 22 Hình 3.6 Biểu đồ so sánh cân nặng của học sinh nữtrường THPT Đinh
Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 23 Hình 3.7 Biểu đồ vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổivà giới
tính 25 Hình 3.8.Biểu đồ so sánh vòng ngực trung bình của học sinh nam trường
THPT Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 26 Hình 3.9 Biểu đồ so sánh vòng ngực trung bình của học sinh nữ trường
THPT Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 26 Hình 3.10 Biểu đồ vòng bụng của học sinh theo tuổi và giới tính 28 Hình 3.11 Biểu đồ vòng cánh tay phải co của học sinh theo tuổi và giới
tính 29 Hình 3.12 Biểu đồ so sánh vòng cánh tay phải co của học sinh nam
trường THPT Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 30 Hình 3.13 Biểu đồ so sánh vòng cánh tay phải co của học sinh nữtrường
THPT Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 31 Hình 3.14 Biểu đồ vòng đùi phải của học sinh theo tuổi và giới tính 32 Hình 3.15 Biểu đồ so sánh vòng đùi phải của học sinh nam trường THPT
Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 34
Trang 10Hình 3.16.Biểu đồ so sánh vòng đùi phải của học sinh nữ trường THPT
Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác 34 Hình 3.17 Biểu đồ BMI của học sinh theo tuổi và giới tính 37 Hình 3.18 So sánh BMI của học sinh nam trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 38 Hình 3.19 So sánh BMI của học sinh nữ trường THPT Đinh Tiên Hoàng
với nghiên cứu khác 38 Hình 3.20 Biểu đồ Pignet của học sinh theo tuổi và giới tính 40 Hình 3.21 So sánh Pignet của học sinh nam trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 41 Hình 3.22 So sánh Pignet của học sinh nữ trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 42 Hình 3.23 Biểu đồ QVC của học sinh theo tuổi và giới tính 44 Hình 3.24.So sánh chỉ số QVC của học sinh nam trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 45 Hình 3.25.So sánh chỉ số QVC của học sinh nữ trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác 45
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta đề ra mục tiêu đến 2020 đưa nước ta từng bước tiến kịp và hội nhập với nền kinh tế khu vực, thế giới Vì vậy muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện không chỉ về mặt trí tuệ, đạo đức, lối sống mà phải là con người cường tráng về thể chất Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
về các chỉ số hình thái, thể lực nói chung và chỉ số hình thái, thể lực nói riêng trên đối tượng học sinh Việt Nam Đáng chú ý là các công trình của Đỗ Hồng Cường [5], Mai Văn Hưng [15], Tạ Thúy Lan [16],Lê Nam Trà [28], [29]
Quá trình sinh trưởng và phát triển của mỗi người từ lúc sinh ra từ hợp
tử, thai nhi đến khi trưởng thành cho đến chết diễn biến theo các giai đoạn khác nhau Có giai đoạn tăng trưởng nhanh, có giai đoạn tăng trưởng tương đối ổn định và có giai đoạn phát triển đồng thời với sinh trưởng, phát triển của mỗi người đều tuân theo những quy luật chung, nhưng cũng thường xuyên biến đổi và phụ thuộc rất nhiều yếu tố trong và ngoài cơ thể: giới tính, bệnh tật, điều kiện sống khác nhau Đặc biệt trong lứa tuổi học sinh THPT những chỉ số hình thái, thể lực luôn thay đổi theo lứa tuổi, giới tính, dân tộc Do đó việc nghiên cứu các chỉ số hình thái, thể lực phải được tiến hành một cách thường xuyên Đối với khu vực Tp Ninh Bình, nơi có vị trí địa lý phía bắc và phía tây giáp huyện Hoa Lư, phía Nam và phía đông nam giáp huyện Yên Khánh, phía đông bắc giáp huyện Ý Yên (Nam Định) Với vị trí nằm chính giữa các tuyến điểm du lịch lớn, giao thông thuận tiện, Tp Ninh Bình là đô thị giàu tiềm năng du lịch, văn hóa, giải trí, ẩm thực, hội nghị và thể thao Văn hóa xã hộicó nhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên, tình hình an ninh chính trị ổn định, công tác xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân đạt được nhiều kết quả tốt Trường
Trang 12THPT Đinh Tiên Hoàng tập trung được cả học sinh thị trấn và nông thôn đồng thời mang tính đại diện Khu vực TP Ninh Bình các công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái, thể lực của học sinh THPT chưa được hoàn thiện,
vì vậy tôi xin tiến hành đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số hình thái, thể lực
của học sinh trường trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình”
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được một số chỉ số về hình thái, thể lực cơ bản của học sinh trường trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng
Kết quả nghiên cứu cung cấp các số liệu về một số chỉ số tăng trưởng
cơ bản góp phần xây dựng các chỉ số sinh học người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu một số chỉ số hình thái, thể lực cơ bản như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, BMI, Pignet, QVC, của học sinh trong độ tuổi 16-18 trường trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá được thực trạng các chỉ số hình thái, thể lực của học sinh trường trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng
Các số liệu nghiên cứu có thể bổ sung vào nguồn thông tin về các chỉ
số sinh học người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về hình thái - thể lực cơ thể người
Hình thái và thể lực là những khái niệm phản ánh cấu trúc tổng hợp của
cơ thể đặc biệt có liên quan chặt chẽ đến khả năng, sức lao động và thẩm mỹ của con người Vì vậy các chỉ số này từ lâu đã có nhiều nhà khoa học quan tâm [13]
Trong mối quan hệ giữa môi trường và sức khỏe, các đặc điểm hình thái thể lực được coi là thước đo một mặt về sức khỏe, mặt khác về khả năng lao động Cùng với sự phát triển của y học và sinh học, các công trình nghiên cứu hình thái thể lực được bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử và đến nay vẫn là vấn đề thời sự khoa học về con người nên việc nghiên cứu hình thái thể lực ngày càng phát triển mạnh mẽ [13]
Chiều cao đứng của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học trước cả giai đoạn hình thành khoa học nhân trắc Ý nghĩa phổ biến hơn cả của chiều cao là ở chỗ được coi như biểu hiện của thể lực và nó là một chỉ tiêu quan trọng trong công tác tuyển chọn vào quân đội, tuyển học sinh, tuyển thợ [13]
Cân nặng cũng được khảo sát thường xuyên trong các nghiên cứu thể lực của con người Cân nặng gồm hai phần: phần cố định chiếm 1/3 khối lượng cơ thể gồm có xương, da, nội tạng, thần kinh và phần không cố định chiếm 2/3 khối lượng cơ thể là khối lượng cơ, khối lượng mỡ và nước [27] Ở người trưởng thành, sự tăng cân chủ yếu là tăng phần không cố định và có liên quan chặt chẽđến chế độ dinh dưỡng [4], [8]
Vòng ngực cũng được coi là đặc trưng cơ bản của thể lực Vòng ngực
là số đo thường dùng với chiều cao và cân nặng để đánh giá thể lực và hệ số
Trang 14tương quan giữa ba số đo Mức độ phát triển của lồng ngực có liên quan đến hoạt động hô hấp và sức khỏe của con người Khác với cân nặng, vòng ngực chỉ tăng nhanh khi cơ thể bước vào giai đoạn dậy thì và phát triển đến một giai đoạn nhất định thì dừng lại Dần dần cuối thế kỷ XIX, vòng ngực trở thành chỉ tiêu quan trọng trong các cuộc tuyển chọn binh lính và nhân công lao động [11]
Thực tế cho thấy, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể và môi trường [11], [12]
1.2 Tình hình nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực trên thế giới
Từ thế kỷ XIII, Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực [13] Sau này các nhà giải phẫu học kiêm họa sỹ thời phục hưng (Leonard de Vinci; Mikenlangielo; Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa vào tác phẩm hội họa của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski (theo [13])
Rudolf Martin, người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn được sử dụng [14] Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P.N Baskirov- “Nhân trắc học”, Evan Dervael- “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A.M Uruxon Song song với sự phát triển của các bộ môn di truyền, sinh lý học, toán học việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn Vấn đề này
Trang 15được thể hiện qua các công trình của X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tomner, M Sepe, G Pedron, M.P Rog-Pernot (theo [15])
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu trong quá trình nghiên cứu
sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kĩ thuật nhân trắc [29] Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sỹ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross - sectional study) được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh
và thực hiện được trên nhiều đối tượng cùng một lúc (theo[15])
Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao của Philiuert Gueneau de Montbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Trong
18 năm liên tục, mỗi năm được đo 2 lần, cách nhau 6 tháng Đây là một nghiên cứu tốt nhất được tiến hành cho đến nay và được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế kỷ XIX (theo [29])
Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P Bowditch ở Mỹ, Paul Godin ở Pháp Năm 1977, hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới (theo [15])
1.3 Tình hình nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về thể lực được tiến hành muộn hơn so với Thế giới Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương” của P Huard và A Bigot (1938) và “Hình thái học người và giải phẫu thẩm mỹ học” của P Huard và Đỗ Xuân Hợp (1943) (theo [15]) có thể coi là những tác phẩm đầu tiên đề cập đến vấn đề nghiên cứu thể lực của người Việt Nam Tuy nhiên các công trình nghiên cứu còn lẻ tẻ với các phương pháp nghiên cứu còn đơn giản
Trang 16Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu các đặc điểm tăng trưởng đã được đẩy mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một số trường đại học và viện nghiên cứu Các hội nghị về lĩnh vực này đã được tổ chức nhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp quốc gia và địa phương được thực hiện Đó là công trình
“Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 do GS Nguyễn Tấn Ghi Trọng chủ biên [26] Đây cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 18 đến 25 Đây mới là các chỉ số sinh học của người miền Bắc song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam Sau này cũng đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh thể của con người Việt Nam
Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cộng sự [10] đã nghiên cứu về sự phát triển chiều cao đứng, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 tới
55 tuổi ở 8 tỉnh thuộc 3 miền của đất nước Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số thu được trong công trình này đều cao hơn hẳn với các chỉ số nghiên cứu trước đó Các tác giả cho thấy chiều cao đứng ở trẻ nam lứa tuổi 16-18 tăng từ 159,94 ÷ 162,15 cm; ở nữ chiều cao đứng tăng từ 151,5 ÷ 152,73 cm; vòng ngực của nam tăng từ 74,89 ÷ 77,9 cm, của nữ tăng từ 75,42 ÷ 79,09
cm Như vậy, ở lứa tuổi từ 16 ÷ 18 chiều cao đứng của nam vượt lên hẳn so với nữ, có lẽ do thời kì này nam đã bước vào tuổi dậy thì Theo khoa học vì nam dậy thì muộn hơnnữ nên lứa tuổi 15 ÷ 18 chiều cao đứng của nam vượt trội so với nữ Trong khi đó kích thước vòng ngực của trẻ nữ luôn cao hơn trẻ nam, điều này cũng phù hợp với sự xuất hiện của các đặc điểm sinh dục thứ cấp ở cơ thể nữ khác với cơ thể nam
Năm 1992, bằng phương pháp nghiên cứu dọc đối với 31 chỉ số nhân trắc học của 100 học sinh phổ thông từ 16-17 tuổi ở Hà Nội, Thẩm Thị Hoàng
Trang 17Điệp [9] đã đưa ra những kết luận rất đáng chú ý về đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh phổ thông Tác giả kết luận rằng chiều cao đứng của học sinh phát triển mạnh nhất lúc 11 -12 tuổi ở nữ và 13-15 tuổi ở nam; còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam Các công trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, cân nặng của cơ thể cũng thay đổi theo quy luật giống như tăng trưởng chiều cao Cân nặng tăng dần theo tuổi, sau đó các chỉ
số này giảm xuống ở các lớp tuổi cao Giữa dân cư thuộc các miền khác nhau cũng có sự khác biệt về cân nặng trung bình của cơ thể Người miền Nam Việt Nam thường có cân nặng cơ thể lớn hơn người miền Bắc Phải chăng, đây chính là ảnh hưởng của môi trường sống đến sự tăng trưởng và phát triển của con người trong các giai đoạn phát triển khác nhau như nhiều tác giả đã nhận định
Năm 1994, Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương và cộng sự [23] đã nghiên cứu một số chỉ tiêu nhân trắc của cư dân trưởng thành (từ 16 tuổi trở lên tại phường Thượng Đình và xã Định Công - Hà Nội) gồm 595 nam và 841
nữ Kết quả cho thấy về chiều cao trong mỗi giới đều có xu hướng tăng trong
đó nam cao hơn nữ rõ rệt ở mọi lứa tuổi Tương tự, với chỉ số cân nặng, nam cũng tăng hơn nữ ở mọi lứa tuổi Vòng ngực trung bình và vòng cánh tay phải
co cũng cao hơn nữ, chứng tỏ sức mạnh về thể lực và cơ bắp Các chỉ số BMI, QVC, Pignet của nữ tốt hơn nam Như vậy cả hai chỉ số Pignet và QVC đều chưa đánh giá đầy đủ sức mạnh cơ bắp mà vẫn chịu ảnh hưởng của sự tích
mỡ Đặc biệt QVC của nữ tốt hơn nam nhiều do nữ có chiều cao thấp và vòng đùi lớn hơn nam
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam lứa tuổi lao động giai đoạn 1981 - 1985” [14] và đi đến kết luận là người Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao thuộc loại trung
Trang 18bình hơi dài, một số chỉ số nhân trắc hình thái có số đo trung bình tăng dần từ bắc vào nam
Năm 1998, Vũ Thị Thanh Bình [1] nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực và chức năng sinh lý của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục
TW 1 (CĐSPTDTW1) đã nhận thấy, sinh viên CĐSPTDTW1 có thể lực tốt hơn sinh viên các trường đại học khác và thuộc loại tốt so với thanh niên Việt Nam nói chung Có thể coi những khác biệt này là do đặc trưng thể lực của sinh viên năng khiếu và tác động của việc rèn luyện thể chất ở cường độ cao
Trần Thị Loan [20] từ năm 1999 đến 2002 nghiên cứu trên học sinh Hà Nội từ 6-17 tuổi đã nhận thấy các chỉ số hình thái gồm chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả từ thập kỉ 80 trở về trước và lớn hơn so với học sinh các tỉnh Thái Bình,
Hà Tây, ngoại thành Hải Phòng Điều này chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái thể lực của học sinh
Trong quyển “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90- thế kỷ XX” [2] các nghiên cứu cũng cho thấy ở lứa tuổi 16-18 có sự khác biệt khá rõ về nhiều chỉ số hình thái, nhân trắc giữa nam và nữ Cụ thể là chiều cao đứng của nam tăng từ 160,29 ÷ 163,4 cm, của nữ tăng từ 152,45 ÷ 152,77
cm Cân nặng của nam tăng từ 45,33 ÷ 49,71 kg, của nữ tăng từ 42,13 ÷ 43,84
kg Vòng ngực trung bình của nam tăng từ 71,44 ÷ 75,08 cm, của nữ tăng từ 69,18 ÷ 72,61 cm Vòng cánh tay phải co của nam tăng từ 23,13 ÷ 25,71 cm, của nữ tăng từ22,48 ÷ 23,87 cm Công trình này cũng đã tiến hành nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc của trẻ lứa tuổi 16-18 và cho thấy BMI ở nam tăng từ 17,67 ÷ 18,64 cm, ở nữ tăng từ 18,14 ÷ 19,05 cm Chỉ số Pignet ở nam giảm
từ 43,29 ÷ 41,27; ở nữ giảm từ 41,19 ÷ 36,35 Chỉ số QVC ở nam giảm từ 16,63 ÷ 11,44, ở nữ giảm từ 9,05 ÷ 6,04
Năm 2006, Trung tâm tâm lý học và sinh lý lứa tuổi thuộc Viện chiến lược và Chương trình giáo dục [31] đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số cơ bản
Trang 19về sinh lý và tâm lý của học sinh phổ thông lứa tuổi từ 8-20 Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng ở học sinh nam và nữ ở mọi lứa tuổi 11-15 và nữ ở mọi lứa tuổi (trừ 16 và 18) đã thoát khỏi trạng thái còi cọc Các số liệu về cân nặng cho thấy sự phân hóa sâu sắc ngay trong nhóm trẻ cùng độ tuổi, bên cạnh trẻ nhẹ cân đã xuất hiện những trẻ có dấu hiệu béo phì, đặc biệt là các trẻ
ở các thành phố lớn, chỉ số Pignet cũng tăng Như vậy là đã có sự chuyển biến tích cực về mặt thể lực của học sinh trong giai đoạn hiện nay Đồng thời các tác giả cũng lưu ý đến BMI ở học sinh nông thôn và nhận thấy tình trạng dinh dưỡng ở nông thôn còn hạn chế
Nghiên cứu ảnh hưởng của 3 vùng sinh thái tại miền Bắc Việt Nam lên các giá trị sinh học cơ bản của sinh viên năm 2003, tác giả Mai Văn Hưng [15] đã khẳng định vai trò của các yếu tố đặc trưng cho vùng như khí hậu, dinh dưỡng, lối sống, phong tục tập quán, đã ảnh hưởng khá mạnh lên các đặc điểm sinh học của con người Như vậy có thể khẳng định vai trò rất quan trọng của các yếu tố đặc trưng cho các vùng sinh thái lên hình thái con người
Sự khác biệt về chủng tộc, điều kiện sống, quá trình rèn luyện thân thể cũng là những yếu tố tác động đến thể lực của sinh viên và thanh niên Nguyễn Quang Mai và cộng sự [22] năm 1998 đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người cho thấy: Chiều cao, cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn nữ sinh ở vùng đồng bằng và thành thị Năm 2000, Đào Mai Luyến [21] nghiên cứu thể lực của người Êđê và người kinh định cư ở Đắc Lắc cho thấy hình thái thể lực của người Êđê tốt hơn người Kinh Tác giả cho rằng đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống ảnh hưởng nhất định đến khả năng tăng trưởng các chỉ số hình thái Ngoài ra, sự rèn luyện thể lực cũng tác động tới chiều cao, cân nặng và kích thước một số vòng của cơ thể [24] Các yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của
cơ thể, đặc biệt là tuổi dậy thì [32] Năm 2008, Đỗ Hồng Cường [5] nghiên cứu các chỉ số chỉ số chiều cao, cân nặng của các học sinh THCS ở tỉnh Hòa
Trang 20Bình thuộc các dân tộc Mường; Thái; Kinh; Tày; Dao và nhận thấy các chỉ số này ở học sinh Mường; Thái; Kinh cao hơn rõ ràng so với học sinh Tày; Dao Tác giả cho rằng điều này liên quan tới nơi cư trú của các em Học sinh các dân tộc Mường; Thái; Kinh sống ở vùng đồng bằng, thành phố, thị trấn, còn
đa số học sinh các dân tộc Tày; Dao sống ở các vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đà Bắc, nơi có các điều kiện kinh tế- xã hội kém phát triển hơn so với thành phố và đồng bằng.Kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Hồng Liệu [19] ở dân tộc Nùng và Mông , Hoàng Quý Tỉnh [33] ở dân tộc Thái, H’mông, Dao cũng cho thấy các phong tục tập quán như dinh dưỡng, thói quen nuôi con theo phương pháp truyền thống, các hủ tục lạc hậu của một số dân tộc ít người đó có những ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển hình thái, thể lực học sinh tại địa phương này
Năm 2013, khi nghiên cứu hình thái – thể lực của học sinh từ 11 đến 17 tuổi các dân tộc ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ, tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc [26] cho rằng ba chỉ số chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh dân tộc Kinh đều lớn hơn so với dân tộc Mường và Sán Dìu
Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây của hoc sinh, sinh viên và thanh niên Việt Nam đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ những năm trước Đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi tốt hơn chắc chắn
đã ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khỏe của con người Việt Nam Học sinh thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn ở nông thôn và miền núi [3], [6], [7] Để giải thích sự khác biệt này có tác giả [16] cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố được cải thiện nên học sinh thành phố thường có chiều cao, cân nặng tốt hơn học sinh ở nông thôn và miền núi cùng lứa tuổi
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 357 học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng, TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình có độ tuổi từ 16-18 tuổi (đang học từ lớp 10 tới lớp 12) có trạng thái tâm lý và sức khỏe bình thường, không có dị tật bẩm sinh và bệnh mãn tính Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính như sau:
Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi và giới tính
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại phòng y tế của trường THPT Đinh Tiên Hoàng, TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Thời gian nghiên cứu từ 10/10/2015-9/4/2016
2.2.2 Các chỉ số được nghiên cứu
Các chỉ số hình thái của học sinh
Trang 22Các chỉ số hình thái như: Chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung
bình (VNTB), vòng bụng, vòng cánh tay phải co, vòng đùi phảiđược xác định theo phương pháp được dùng trong nghiên cứu y, sinh học
+ Chiều cao đứng:Đo từ gót chân sát mặt đất đến đỉnh đầu Học sinh phải đứng tư thế nghiêm trên nền phẳng hai gót chân chạm vào nhau, hai tay buông thẳng, bàn tay úp vào mặt ngoài đùi, đầu phải ở tư thế sao cho đường nối lỗ tai ngoài với mắt trên một đường thẳng nằm ngang, mắt nhìn thẳng đồng thời cần cho bốn điểm: chẩm, lưng,mông và gót chạm vào thước đo Đơn vị đo chiều cao đứng là centimet (cm)
+ Cân nặng: Khi cân mỗi học sinh chỉ được mặc một bộ quần áo mỏng
và không mang bất cứ vật gì khác trên người, bỏ giầy dép và đứng vào giữa bàn cân sao cho trọng tâm rơi vào điểm giữa của cân Dụng cụ đo là một loại cân đồng hồ có độ chính xác đến 0,1 kg Trước khi cân bất kì một học sinh nào cân đều được điều chỉnh để đảm bảo độ chính xác Đơn vị tính trọng lượng cơ thể là kilogam
+ Vòng ngực trung bình: Vòng thước dây phía sau vuông góc với cột sống sát xương bả vai, phía trước quá mũi ức Tiến hành đo khi hít vào gắng sức sau đó lại đo thở ra gắng sức Lấy 2 kết quả đó cộng lại và chia cho 2 để
có kết quả trung bình Dụng cụ đo là thước dây vải Đơn vị đo vòng ngực trung bình là centimet (cm)
+ Vòng bụng: Đo bằng thước dây nêu trên Khi đo đối tượng ở tư thế đứng thẳng, chân dạng hơi rộng Đo chu vi theo mặt phẳng nằm ngang dưới rốn 2 cm, đơn vị đo là cm
Trang 23+ Vòng cánh tay phải co: Đo bằng thước dây nêu trên Khi đo đối tượng ở tư thế ngồi thẳng, tay phải giơ ngang về phía trước, cánh tay gấp lại, bàn tay nắm, đo vòng tối đa của cánh tay, đơn vị đo là cm
+ Vòng đùi: Đo bằng thước dây nêu trên Khi đo đối tượng ở tư thế đứng thẳng, hai chân dang hơi rộng Đo chu vi theo mặt phẳng ngang qua nếp gấp mông-đùi, đơn vị đo là cm
Chỉ số thể lực:
+ BMI (Body Mass Index) còn gọi là chỉ số khối cơ thể dùng so sánh sức nặng tương đối của mọi người có chiều cao khác nhau Vì trọng lượng cơ thể phụ thuộc vào chiều cao và khó có thể tính được tình trạng dinh dưỡng của cơ thể nên người ta đã tìm được mối quan hệ giữa chiều cao và trọng lượng mô tả chính xác tình trạng dinh dưỡng của cơ thể
Chỉ số BMI được tính theo công thức (theo [15]):
BMI = Cân nặng (kg)/[Chiều cao đứng (m)]2
Đánh giá BMI theo FAO (theo [15])
BMI < 16 : thiếu cân độ III
BMI = 16-16,99 : thiếu cân độ II
BMI = 17-18,45 : thiếu cân độ I
BMI = 25-29,99 : quá cân độ I
BMI = 30-39,99 : quá cân độ II
BMI > 40 : quá cân độ III
BMI =18,5- 24,99 : bình thường
+ Chỉ số Pignet: được tính dựa vào ba chỉ số hình thái đặc trưng là chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình Chỉ số này càng nhỏ thì sự phát triển của cơ thể càng tốt Chỉ số có lợi cho người béo và thiệt cho người cao
vì người cao chỉ số này sẽ rất lớn Chỉ số Pignet được dùng thường xuyên ở Việt Nam để đánh giá thể lực của cơ thể
Trang 24Chỉ số Pignet được tính theo công thức(theo [15]):
Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + VNTB (cm)]
Đánh giá chỉ số Pignet theo Nguyễn Quang Quyền
Bằng toán thống kê trên phần mềm Excel
Chúng tôi sử dụng chương trình Microsoft Excel và nhập kết quả thu được trong phiếu điều tra vào máy tính Các số liệu được xử lý trên máy tính
Trang 25bằng phần mềm Excel theo các thuật toán dùng trong thống kê y, sinh học Các giá trị thống kê gồm có: giá trị trung bình ( ̅), độ lệch chuẩn (SD) So sánh hai giá trị trung bình của hai mẫu theo phương pháp Student – Fisher (Kiểm định “z-test” với mức ý nghĩa α= 0,05)
Trang 26
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các chỉ số hình thái
3.1.1 Chiều cao đứng
Chiều cao đứng là một trong những chỉ số sinh học cơ bản nhất phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể người qua các lớp tuổi Các nghiên cứu về lĩnh vực này cho thấy ở lớp tuổi học sinh, chiều cao đứng thay đổi theo lứa tuổi, giới tính và chịu ảnh hưởng của hai yếu tố chính Đó là yếu tố di truyền chủ yếu và yếu tố ngoại cảnh Yếu tố di truyền tác động nhanh và tức thời ở thế hệ con cháu Yếu tố ngoại cảnh tác động từ từ, chậm chạp và cần phải liên tục
3.1.1.1 Chiều cao đứng của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng được thể hiện ở bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính
Các số liệu bảng 3.1 cho thấy:
- Từ 16 đến 18 tuổi chiều cao đứng của học sinh vẫn tiếp tục tăng Cụ thể
là chiều cao đứng học sinh nam tăng từ 161,77 cm lúc 16 tuổi lên164,04 cmlúc
17 tuổi và đạt 165,84 cm lúc 18 tuổi, mỗi năm tăng 2,04 cm Chiều cao học
Trang 27sinh nữ tăng từ 153,10 cm lúc 16 tuổi lên 154,05 cm lúc 17 tuổi và đạt 155,41
cm lúc 18 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 1,16cm
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao đứng theo lứa tuổi ở học sinh nam và học sinh nữ không giống nhau Cụ thể là ở học sinh nam tăng mạnh hơn học sinh nữ (từ tuổi 16 lên 17 tăng 2,27 cm, từ 17 lên 18 tăng 1,8 cm), ở nữ tăng chậm (tuổi 16 lên 17 tăng 0,95 cm, từ 17 lên 18 tăng 1,36 cm)
- Ở cùng một độ tuổi chiều cao đứng của học sinh nam tăng cao hơn học sinh nữ Nguyên nhân là giai đoạn dậy thì của nam kết thúc muộn hơn ở
nữ Trong đó, lứa tuổi có sự chênh lệch nhiều nhất là lứa tuổi 18 (10,42 cm)
và lứa tuổi có sự chênh lệch thấp nhất là 16 tuổi (8,67 cm) Sự khác biệt đều
có ý nghĩa thống kê (P <0,05).Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga [25],
Lê Thùy Linh [18] trên học sinh ở các lứa tuổi này cũng cho kết quả tương tự
Hình 3.1 Biểu đồ chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và giới tính
Trang 283.1.1.2 So sánh chiều cao đứng của học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác
- Qua số liệu ở bảng 3.2, hình 3.2 và hình 3.3, ta thấy chiều cao đứng của học sinh THPT Đinh Tiên Hoàng cao hơn công trình nghiên cứu GTSH TK90 [2], công trình nghiên cứu của Lê Thùy Linh [18] và thấp hơn công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga [25] Điều này có thể giải thích do sự khác nhau về thời điểm nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu thuộc các địa bàn khác nhau và điều kiện sống khác nhau
- Sự tăng chiều cao của học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng hiện nay là do điều kiện kinh tế xã hội của TP Ninh Bình có sự thay đổi mạnh, mức sống nâng cao do đó cải thiện về chất lượng cuộc sống và chế độ dinh dưỡng Hơn nữa nhà trường luôn đẩy mạnh giáo dục thể chất cho học sinh
nên học sinh có điều kiện phát triển cơ thể
Bảng 3.2 So sánh chiều cao đứng của học sinh trường THPT Đinh Tiên
Hoàng với nghiên cứu khác
Giới
tính Tuổi
Vũ Thị Thảo Nga (2016)
Lê Thùy Linh (2012) [18]
NguyễnThị Nga (2011) [25]
GTSH-TK90 [2]
Trang 29Hình 3.2 Biểu đồ so sánh chiều cao đứng của học sinh nam trường THPT
Đinh Tiên Hoàng với nghiên cứu khác
Hình 3.3 Biểu đồ so sánh chiều cao đứng của học sinh nữ trường THPT Đinh
Tiên Hoàng với nghiên cứu khác
Tuổi Chiều cao đứng (cm)
Chiều cao đứng (cm)
Tuổi
Trang 303.1.2 Cân nặng
Cân nặng của cơ thể cũng là một thông số rất quan trọng, được nghiên cứu trong hầu hết các công trình điều tra cơ bản hình thái người Cân nặng cơ thể liên quan nhiều kích thước khác nên thường được dùng để đánh giá sự phát triển của cơ thể Đối với một người bình thường, trong giai đoạn tăng trưởng cân nặng của cơ thể thường xuyên tăng lên, nhưng không đồng đều Cân nặng cơ thể liên quan chặt chẽ với điều kiện kinh tế xã hội và chịu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng cũng như tình trạng sức khỏe và bệnh tật Một người dinh dưỡng tốt thì sẽ tăng cân, do đó cân nặng nói lên phần nào trình độ thể lực
3.1.2.1 Cân nặng của học sinh theo lớp tuổi và giới tính
Kết quả nghiên cứu cân nặng của học sinh trường THPT Đinh Tiên Hoàng được thể hiện ở bảng 3.3 và hình 3.4
Bảng 3.3 Cân nặng (kg) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính
Các số liệu bảng 3.3 cho thấy:
- Cân nặng của học sinh tăng dần từ 16 - 18 tuổi Cân nặng của học sinh nam tăng từ 48,53 kg lúc 16 tuổi lên 50,13 kg lúc 17 tuổi và đạt 53,85 kg lúc 18 tuổi Mỗi năm cân nặng của học sinh nam tăng trung bình 2,66 kg Cân nặng của học sinh nữ tăng từ 43,23 kg lúc 16 tuổi lên 45,15 kg lúc 17 tuổi và đạt 46,2 kg lúc
Trang 3118 tuổi Mỗi năm cân nặng của học sinh nữ tăng trung bình 1,49 kg.Điều này có thể giải thích là khi mới vào trường các học sinh này phải trải qua kì thi tốt nghiệp, thi THPT, sau một thời gian học tập, sinh hoạt, quen dần với cuộc sống thay đổi thì trọng lượng cơ thể tăng dần
- Tốc độ tăng trưởng cân nặng theo tuổi không đều Ở học sinh nam từ lứa tuổi 17 lên 18 (tăng 3,72 kg)có sự tăng nhảy vọt so với lứa tuổi 16 lên 17 (tăng 1,59 kg) Ở học sinh nữ lứa tuổi 16 lên 17 (tăng 1,92 kg) tăng vọt so với lứa tuổi 17 lên 18 (tăng 1,05 kg)
- Để thấy được sự biến động về trọng lượng của học sinh nam và nữ có thể quan sát trên Hình 3.4
Trong cùng một độ tuổi, cân nặng trung bình của học sinh nam luôn cao hơn học sinh nữ Cụ thể, ở lứa tuổi 16 hơn trung bình là 5,31 kg Ở lứa tuổi 17 hơn trung bình là 4,98 kg Ở lứa tuổi 18 hơn trung bình là 7,65 kg Sự khác biệt đều có ý nghĩa thống kê(P < 0,05)
Hình 3.4 Biểu đồ cân nặng của học sinh theo tuổi và giới tính
Tuổi