Khái niệm Vật liệu gốm xây dựng là vật liệu nhân tạo, được sản xuất từ nguyên liệu chính là đất sét, qua quá trình gia công cơ học và gia công nhiệt, làm biến đổi cấu trúc và thành phần
Trang 1ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
………… o0o…………
BÁO CÁO TIỂU LUẬN
KỸ THUẬT XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NÂNG CAO
Trang 2MỤC LỤC
Tiểu luận môn Kỹ thuật xử lý chất thải rắn nâng cao Trang | i
Trang 3I Tổng quan về gốm xây dựng
I.1. Khái niệm
Vật liệu gốm xây dựng là vật liệu nhân tạo, được sản xuất từ nguyên liệu chính là đất sét, qua quá trình gia công cơ học và gia công nhiệt, làm biến đổi cấu trúc và thành phần khoáng, làm xuất hiện những đặc tính phù hợp với yêu cầu sử dụng trong xây dựng Ngoài ra, còn có các phụ gia được bổ sung vào nguyên liệu chính để cải thiện các đặc tính của gốm
I.2. Các nguyên liệu chính sản xuất vật liệu gốm xây dựng
Đất sét là nhóm các khoáng vật, khi trộn với nước cho hỗn hợp có độ dẻo, giữ nguyên hình dạng khi khô và dưới tác dụng của nhiệt, tạo ra sản phẩm sau nung có
độ bền và một số tính chất khác thích hợp cho xây dựng
Thành phần hóa học - khoáng của đất sét bao gồm các nhóm sau:
+ Nhóm Caolinit (Al2O3.2SiO2.2H2O) gồm: 46.54% SiO2, 39.5% Al2O3, 13.96%
I.3. Phân loại:
- Dựa theo công dụng chia gốm xây dựng thành:
+ Vật liệu xây: gạch đặc, gạch rỗng (2 lỗ, 4 lỗ…);
+ Vật liệu lợp: các loại ngói;
+ Vật liệu ốp: ốp tường nhà, ốp cầu thang, ốp trang trí…;
+ Vật liệu lát: gạch lát nền, lát đường, lát vỉa hè…
- Dựa theo phương pháp sản xuất chia gốm xây dựng thành:
+ Gốm tinh: có cấu trúc hạt mịn, sản xuất phức tạp, chẳng hạn như gạch trang trí…
+ Gốm thô: có cấu trúc hạt lớn, sản xuất đơn giản, chẳng hạn như gạch xây, ngói…
I.4. Các đặc tính của gốm xây dựng
Đối với mẫu gốm thành phẩm dùng cho xây dựng, cần có những đặc tính sau:
vật liệu…
Độ bền nén của sản phẩm được tính theo công thức Rcompr = P / S
Trong đó: P - Tải trọng tối đa đạt được trong quá trình kiểm tra;
S - Diện tích mặt cắt ngang của mẫu (không tính diện tích trống)Cường độ uốn cong của gốm được tính theo công thức: Rflex = 3PL / 2BH2
Trong đó: P - Tải trọng tối đa đạt được trong quá trình thử nghiệm;
L - Khoảng cách giữa các trục của các trụ đỡ;
B - Chiều rộng mẫu;
H - Chiều cao mẫu ở giữa một độ uốn mà không có lớp bằng phẳng
Trang 4- Khả năng hấp thụ nước: dùng để đánh giá độ truyền nhiệt và những tính chất khác của vật liệu như độ rỗng của vật liệu hay mật độ.
- Khả năng chống chịu đông rã: là hỗn hợp được thay đổi nhiệt độ từ nhiệt độ phòng đến 105oC, khả năng chống chịu này tính theo chu kỳ và không nhỏ hơn 10 chu kỳ đông rã
- Độ co rút khi sấy, nung: ảnh hưởng đến vật liệu và tạo ra những vết nứt không mong muốn
- Mật độ: là khối lượng thể tích, dùng để xác định độ đặc rỗng của vật liệu, có thể xác định độ ẩm, cường độ, hệ số truyền nhiệt của vật liệu
- Độ truyền nhiệt: là tính chất của vật liệu cho truyền từ phía có nhiệt độ cao sang phía có nhiệt độ thấp hơn
- Nhiệt dung: là lượng nhiệt vật liệu dung nạp vào khi được nung nóng
- Độ rỗng: ảnh hưởng đến mật độ, độ bền, độ hấp thu nước và độ truyền nhiệt…
- Độ dẫn điện…
I.5. Ưu điểm và nhược điểm của vật liệu gốm
- Ưu điểm:
+ Có độ bền và tuổi thọ cao;
+ Được làm từ nguồn nguyên liệu địa phương sẵn có và rẻ tiền;
+ Công nghệ đơn giản, dễ thực hiện và giá thành thấp
- Nhược điểm:
+ Giòn, dễ vỡ và tương đối nặng;
+ Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, ảnh hưởng không tốt đến môi trường từ việc phát thải khí…
Từ những nhược điểm trên, các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu và phát minh ra nhiều loại gạch, vừa hạn chế được các nhược điểm này, vừa tận dụng được nguồn chất thải vô cơ có sẵn để tạo ra loại gốm xây dựng hiệu quả và thân thiện với môi trường
II Tổng quan chất thải công nghiệp vô cơ dùng cho sản xuất gốm và tình
hình xử lý chúng
II.1. Tổng quan thải công nghiệp vô cơ dùng cho sản xuất gốm
Sự tăng trưởng của nền kinh tế và công nghiệp trong những thập kỷ qua đã làm gia tăng các loại rác thải khác nhau (đô thị, công nghiệp, xây dựng ) bất chấp các chính sách quản lý chất thải đã được thông qua trong nước và trên thế giới
Việc bán phá giá hoặc quản lý không hợp lý chất thải từ các ngành sản xuất khác nhau đã có tác động đáng kể đến môi trường, dẫn đến ô nhiễm nước, đất, không khí và tiếng ồn và các biến chứng khác Khi đó, việc bổ sung vào các vấn đề môi trường hiện có cần tiêu thụ một lượng chi phí để xử lý
Tuy nhiên, nếu rác thải được quản lý một cách chính xác thì nó có thể được chuyển đổi thành nguồn lực góp phần tiết kiệm nguyên vật liệu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ khí hậu, thúc đẩy sự phát triển bền vững
Vật liệu xây dựng truyền thống như bê tông, gạch, khối rỗng, khối rắn, ngói… đang được sản xuất từ các nguồn tài nguyên hữu hạn hiện có Điều này gây tổn hại đến môi trường bởi việc không ngừng khái phá và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Hơn nữa, các chất độc hại khác như nồng độ cao cacbon monoxit, oxit lưu huỳnh, oxit nitơ và các vấn đề về hạt bụi lơ lửng luôn được thải vào khí quyển trong quá trình sản xuất vật liệu xây dựng Việc phát thải các chất độc hại vào môi Tiểu luận môn Kỹ thuật xử lý chất thải rắn nâng cao Trang | 4
Trang 5trường gây ô nhiễm không khí, nước, đất không những ảnh hưởng đến động thực vật, cảnh quan thiên nhiên mà còn tác động mạnh mẽ đến sức khoẻ con người.
Chi phí vật liệu xây dựng ngày càng tăng do nhu cầu cao, khan hiếm nguyên vật liệu và giá năng lượng cao Từ quan điểm của việc tiết kiệm năng lượng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn, việc sử dụng các thành phần thay thế trong vật liệu xây dựng hiện nay là một vấn đề toàn cầu Vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển rộng rãi hướng tới việc khám phá các thành phần mới là cần thiết để bổ sung vào nguyên vật liệu ban đầu để sản xuất vật liệu xây dựng bền vững và thân thiện với môi trường
Sau đây là một số chất thải công nghiệp vô cơ dùng để bổ sung cho quá trình sản xuất gốm thành phẩm:
II.1.1. Chất thải từ công nghiệp khai thác và chế biến
Chất thải, phế liệu từ chế biến khoáng sản ở các nhà máy khai thác mỏ thường tích tụ trong đống lớn và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đặc biệtđối với lượng lớn chất thải được sản xuất trong quá trình khai thác và chế biến ở các mỏ
Có rất nhiều rủi ro liên quan đến chất thải từ quá trình khai thác và chế biến, chẳng hạn:
- Tình trạng không ổn định của kỹ thuật địa chất về độ dốc và xói mòn đống phế liệu;
- Sự bùng cháy tự phát của đất phế thải của than đá (đất sau khi đã sàn lọc
để lấy quặng) và sau đó là các vụ nổ, dẫn đến tử vong và gây thương tích;
- Tạo ra axit và giải phóng kim loại có thể ảnh hưởng đến đất và chất lượng nước mặt và nước ngầm;
- Ô nhiễm không khí gây ra bởi bụi, CO2… dẫn đến những thay đổi đối với
hệ sinh thái và gây xáo trộn môi trường sống;
- Tác động rõ ràng đến tính thẩm mỹ của cảnh quan xung quanh
Các chất thải, bùn thải từ khai thác và chế biến quặng sắt, khai thác than đá…, chất thải từ quá trình làm giàu đá quartzite sắt, quặng molypden… đã được các nhà nghiên cứu chú ý đến và đã nghiên cứu tạo ra các sản phẩm gốm xây dựng có hiệu quả
Chẳng hạn, chất thải Mn-Fe từ nhà máy để sản xuất bằng điện phân oxit mangan được sử dụng cho sản xuất gạch, ngói và gạch lát nền Việc bổ sung 5-7.5% khối lượng của chất thải này vào đất sét và nung ở 950-1100oC có thể làm giảm sự hấp thụ nước và tăng Rflex của gốm Bằng cách thay đổi các phụ gia, có thể có được gốm nâu sáng và màu nâu sẫm (Solopov, 2010)
Theo Efimov, 2000, chất thải từ việc làm giàu của đá quartzite ferrugin (quặng
có chứa gỉ sắt) và quặng magnetite (quặng sắt từ) đã được sử dụng trong thành phần nguyên liệu gốm Tỷ lệ FeO và Fe2O3 trong chất thải dao động tương ứng trong khoảng 7-8% khối lượng và 9-10% khối lượng Hình thành được các mẫu gạch được làm từ đất sét với đá quartzite ferrugin 10-15 (% khối lượng) hoặc quặng magnetit 15-20 (% khối lượng) có độ cản trở các vết nứt cao hơn, với thời gian sấy giảm 10-15% và độ nén không khí giảm 2-3 % Rcompr và độ chống chịu đông rã của các mẫu gốm với chất thải làm giàu quặng quartzite ferrugin tăng tương ứng từ 20- 21 MPa lên 25-28 MPa và tăng từ 15 -17 đến 35-50 chu kỳ đông/rã Các xu hướng tương tự
Trang 6đã được quan sát đối với các mẫu có phụ gia là quặng magnetite Rcompr tăng từ 26 MPa lên 31 MPa và khả năng chống đông rã tăng từ 15 đến 50 chu kỳ Các hỗn hợp pha trộn đã được thử nghiệm tại một số nhà máy Các đặc tính của gạch được sản xuất ra được trình bày trong Bảng 1.
II.1.2. Chất thải tro và xỉ
Các tro được sử dụng trong công nghệ sản xuất gốm chủ yếu là chất thải đốt than đá trong nhà máy nhiệt điện Thành phần tro phụ thuộc vào nguồn gốc của nhiên liệu bị đốt cháy và điều kiện bảo quản của nó Nó có thể chứa tới 20% khối lượng của các chất hữu cơ Các hạt tro như là hạt nhân khoáng hóa khi nung nóng
Ví dụ, việc thêm tro và xỉ vào nguyên liệu gốm có chứa hơn 15% khối lượng các hạt hữu cơ mà không bị đốt cháy, giúp thúc đẩy quá trình kết tinh không đồng nhất của các tinh thể mullite có dạng lăng trụ ngắn (Kovkov, 2009)
Tro bay bao gồm chủ yếu là pha thủy tinh (45-65% khối lượng), silicon dioxide, nhôm oxit, dư lượng cacbon và các vi chất khác nhau (Kovkov, 2009) Nó cũng chứa mullit, thạch anh, cristobalit và hematit (quặng sắt đỏ) Tro bay và các mảnh vỡ của
nó dưới dạng trung thể nhiều tro xỉ có một khoảng phân tán rộng tùy thuộc vào nhiên liệu đốt và nơi sản xuất Chất thải này có thể hoạt động như chất trơ, chất đốt hoặc chất bổ sung cho nguyên liệu gốm Trong nghiên cứu của Salakhov, 2002, khoảng tối
ưu của phụ gia là 10-15% khối lượng tro của các nhà máy nhiệt điện để tăng độ bền
và mật độ của gạch và tương ứng giảm sự hấp thụ nước của nó
Bụi nhiều tro xỉ có thể chứa các oxit kim loại kiềm trong khoảng 4.5-24.8% khối lượng (Melnikova, 2004) Thêm 5-10% khối lượng bụi chứa nhiều tro xỉ này vào nguyên liệu đất sét cải thiện quy trình nung kết và các đặc tính của mẫu gốm cuối cùng
Thành phần tối ưu có chứa đất sét beidellite, xỉ phốt pho và hỗn hợp tro và xỉ với tỷ lệ pha trộn là 60:25:15 được lựa chọn cho gạch ceramic (Kovkov, 2009) Đất sét Beidellite không phù hợp cho sản xuất gạch, nhưng kết hợp với chất thải này, nó trở thành một nguyên liệu thích hợp Các đặc tính của một viên gạch bằng nguyên liệu gốm như vậy được cho trong Bảng 1
II.1.3. Chất thải kim loại
Chất thải của ngành công nghiệp luyện kim rất đa dạng, bao gồm xỉ, bụi luyện kim, cát từ xưởng đúc thải bỏ… Do các tính hóa học riêng biệt của nó, đặc trưng của khoáng vật và hạt, chúng có thể thay đổi đáng kể tính chất của gốm sứ như màu sắc,
độ bền, nhiệt nung… Chẳng hạn, việc bổ sung các chất phụ gia giúp làm tăng độ bền
và mật độ gạch và giảm lượng hấp thụ nước (Salakhov, 2002) theo % khối lượng như sau: chất thải bụi từ sản xuất của xưởng đúc 2-3, xỉ sắt 3-5, xỉ phốt pho 3-7, chất thải galvanic Al-Na 1-2.5
Xử lý chất thải ở dạng nóng chảy này tạo ra nguy cơ nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường, chủ yếu là đối với nước ngầm Các thành phần chính của dòng hàn là oxit silic, mangan, sắt, canxi, magiê, nhôm, canxi florua, lưu huỳnh, phốt pho, thỉnh thoảng kali, natri, titan, zirconi và cacbon Theo Chen và cộng sự, 2011 và Dovzhenko, 2012 đã cho thấy khả năng xử lý chất thải này bằng cách thêm 5-10% khối lượng của chất thải này vào đất sét kaolinite để sản xuất gạch ceramic Khảo sát được thực hiện mẫu hình trụ 115 x 254 mm bằng cách nén ở 24 MPa, sau đó làm Tiểu luận môn Kỹ thuật xử lý chất thải rắn nâng cao Trang | 6
Trang 7khô chúng trong một ngày tại 110°C và nung chúng ở 950°C trong 2 giờ Kết quả của việc bổ sung chất thải này vào đất sét là sự hấp thụ nước và độ rỗng của một mẫu gốm giảm, đồng thời tăng mật độ và Rflex của gạch thành phẩm.
II.1.4. Chất thải thủy tinh
Nguồn chất thải thủy tinh bao gồm bình chứa, đèn, cửa sổ, panel màn hình, gương, sợi thủy tinh Nhà máy sản xuất thủy tinh chủ động xử lý thủy tinh vụn của
từ quá trình sản xuất, nhưng một lượng lớn chất thải thủy tinh vẫn được tích tụ trong các bãi rác Phần lớn chất này không độc hại, ngoại trừ chất thải của một số loại thủy tinh đặc biệt Tuy nhiên, vấn đề sử dụng chúng là rất nghiêm trọng
Các chất phụ gia thủy tinh với những tính chất của riêng biệt, khi kết hợp với nguyên liệu chính để sản xuất gốm xây dựng, loại chất thải này có thể đóng vai trò của chất gây cháy và làm giảm nhiệt độ khi nung Đồng thời, việc bổ sung thủy tinh vụn còn làm giảm độ xốp, sự hấp thụ nước, làm giảm độ co rút của gốm và cải thiện
độ bền của gốm thành phẩm
Vật liệu gốm này có đặc tính phù hợp cho lót đường thu được trong nghiên cứu của Voronin và cộng sự 2014 bằng cách thêm vào nguyên liệu gốm 30% khối lượng thủy tinh vụn với chất thải chế biến thạch anh và nung ở 1000oC Kết quả thu được với mật độ 2.4 g/cm3, Rcompr = 88 MPa, và khả năng chống chịu đông rã của hơn
300 chu kỳ, nó tốt hơn gạch và bê tông tương tự
II.1.5. Các loại chất thải vô cơ khác
Ngoài ra, còn có các loại chất thải vô cơ khác như phosphor, canxi…từ các nhà máy sản xuất phân bón vô cơ… được sử dụng để bổ sung vào nguyên liệu để sản xuất gốm cải thiện các tính chất của mẫu gốm
Việc bổ sung chất thải sản xuất isopropylene có chứa oxit nhôm vào nguyên liệu gốm làm giảm độ co rút và làm tăng độ bền của gốm (Ashmarin và Mustafin, 2006; Mustafin, 2006)
Chất thải có chứa canxi từ sản xuất phân vô cơ có thể được sử dụng như là một thành phần của nguyên liệu gốm để tăng độ bền và khả năng chống chịu đông
rã Tỷ lệ phụ gia tối ưu là 5% khối lượng (Naymov và cộng sự, 2014; Naumov, 2012) Các mẫu gốm có khả năng chống chịu 100-200 chu kỳ đông/rã thu được sau khi nén
ẩm ở 23-25 MPa và nung ở nhiệt độ Tf là 1020-1050 oC Phụ gia này làm tăng độ bền của mẫu lên 30% Sự hấp thụ nước và màu sắc của gốm này như gạch thông thường (xem Bảng 1)
Phospho là một lượng lớn chất thải từ sản xuất phân lân Việc bổ sung tới 30% khối lượng chất thải này vào nguyên liệu gốm làm cho gạch rỗng (24%) có tính dẫn nhiệt là 0.27 W/mK và mật độ 1.47 g / cm3 (Maslennikova, 2000)
Gạch được hình thành bằng một phương pháp plastic và nung ở nhiệt độ
1050oC Các đặc tính của chúng được đưa ra trong Bảng 1 Bùn sắt từ một nhà máy nhuộm anilin đã được sử dụng để sản xuất gạch có thương hiệu cao (Efimov, 2000) FeO và hàm lượng Fe2O3 trong chất thải dao động trong khoảng tương ứng (phần trăm khối lượng) 10-58 và 12-78 Việc bổ sung từ 5-10% khối lượng của chất thải này vào nguyên liệu gốm được làm từ đất sét làm giảm độ ẩm tạo hình khoảng 2-3% và
Trang 8độ co giãn tuyến tính không khí giảm từ 7% xuống 5%, cũng như tăng khả năng chống rạn nứt của sản phẩm.
Tiểu luận môn Kỹ thuật xử lý chất thải rắn nâng cao Trang | 8
Trang 9Bảng 1 Các đặc tính của mẫu gốm được sản xuất với các phụ gia là chất thải vô cơ
Trang 10Tiểu luận môn Kỹ thuật xử lý chất thải rắn nâng cao Trang | 10
Trang 11Ảnh hưởng của việc bổ sung chất thải vô cơ trong sản xuất gốm xây dựng
Điều quan trọng cần lưu ý là ảnh hưởng của các chất thải vô cơ khi thêm vào trong vật liệu gốm phụ thuộc mạnh mẽ vào đặc tính của đất sét Việc bổ sung các chất thải này vào nguyên liệu đất sét để sản xuất gốm xây dựng góp phần giúp cải thiện nhiệt độ nung, cải thiện độ bền và khả năng hấp thụ nước của vật liệu
Bảng 2 và hình 1 cho thấy ảnh hưởng của các chất phụ gia khoáng hoá (là thành phần của chất thải công nghiệp) về màu sắc của gạch
Ngoài ra, khi thêm các chất thải vô cơ vào thành phần nguyên liệu ban đầu cũng có thể làm gia tăng khí nhà kính như CO2… và có thể giải phóng ra các kim loại trong quá trình rửa trôi chúng, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Do đó, việc sản xuất ra gạch được yêu cầu cao và nghiên cứu nhiều hơn về vấn đề phát thải chất thải ra môi trường Và theo nhiều nghiên cứu, với thành phần và tỷ lệ phù hợp,
Trang 12lượng phát thải khí nhà kính giảm và đạt tiêu chuẩn cũng như là lượng giải phóng kim loại do quá trình rửa trôi cũng không đáng kể.
Bảng 2 Ảnh hưởng của các chất phụ gia khoáng hoá trong đất sét đối với lên màu
của gạch (Yatsenko, 2015)
Tiểu luận môn Kỹ thuật xử lý chất thải rắn nâng cao Trang | 12
Trang 13Hình 1 Mẫu gốm dựa trên bùn thải từ quặng sắt (Stolboushkin, 2015): 1 - không có
phụ gia; Với 5% trọng lượng chất phụ gia trong thành phần sơn: 2 - MgO; 3 - Fe2O3;
4 - V2O5; 5 - NiCO3; 6 - CaCO3; 7 - CuCO3; 8 - CoCl2.6H2O
Ngoài ra, thành phần hóa học của khí quyển ảnh hưởng đến quy trình nung kết gốm và đặc tính của sản phẩm cuối cùng Theo Yatsenko, năm 2015, việc điều chỉnh tính chất oxy hóa - khử của môi trường khí đốt trong lò có thể tạo ra các tông màu sáng và tối trong gạch ceramic từ nguyên liệu đất sét bị biến đổi bới chất thải công nghiệp (xem bảng 3)
Bảng 3 Ảnh hưởng của các điều kiện oxy hoá-khử khác nhau của việc nung gạch
đối với màu sắc của gạch ceramic (Yatsenko, 2015)
Trang 14II.3. Tình hình xử lý chất thải công nghiệp vô cơ
Các chất thải rắn như thủy tinh, kim loại, plastic là một bộ phận lớn chất thải rắn công nghiệp có nguồn gốc từ các hoạt động sản xuất của con người hiện nay Số lượng lớn các chất thải này được tạo ra trên toàn cầu ở cả các nước phát triển và đang phát triển do sự gia tăng dân số, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Theo thống kê của ngân hàng thế giới về quản lý chất thải rắn (the World Bank’s Urban Development and Local Government Unit of the Sustainable Development Network), các thành phố trên thế giới hiện đang sản xuất khoảng 1.3 tỷ tấn chất thải rắn mỗi năm và khối lượng này dự kiến sẽ tăng lên 2.2 tỷ tấn vào năm
2025 Đồng thời, tỷ lệ phát sinh chất thải dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong vòng 20 năm tới ở các nước có thu nhập thấp.Các bảng 4 và 5 chỉ ra ước tính toàn cầu 2012 và tương lai (năm 2025) về thành phần chất thải dựa trên mức thu nhập quốc gia
Bảng 4 Ước tính trên toàn cầu các chất thải từ thu nhập của các nướcnăm 2012
Bảng 5 Ước tính trên toàn cầu các chất thải từ thu nhập của các nướctrong tương
lai (dự đoán đến năm 2025)
Tiểu luận môn Kỹ thuật xử lý chất thải rắn nâng cao Trang | 14
Trang 15Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp và rất thấp, các chất thải này đều bị đốt hoặc chôn lấp Đây
là một cách tiếp cận có thể gây ra nhiều vấn đề môi trường khác nhau như ô nhiễm không khí, phát thải khí nhà kính và chiếm dụng diện tích đất hữu ích Việc gia tăng phí bãi chôn lấp đang làm trầm trọng thêm vấn đề này
Nhu cầu thải bỏ các chất thải này là điều tối quan trọng
để đạt được tính bền vững về môi trường Ngành xây dựng và vật liệu xây dựng xây dựng là một trong những ngành chính khi đảm bảo tính bền vững về môi trường
do tiêu thụ nhiều vật liệu, nên việc sử dụng chất thải rắn trong ngành này có thể là một lựa chọn có thể giải quyết vấn đề rác thải trên
Ở quy mô công nghiệp, hai nhà máy gạch ở Trung Quốc (Fan và cộng sự, 2014) và Ba Lan (Stolecki, 2003) sản xuất hàng năm tương ứng 160 và 20 triệu viên gạch từ đá thải từ mỏ than
III Công nghệ tái chế chất thải công nghiệp vô cơ trong gốm xây dựng
Hệ sinh thái công nghiệp được coi là một hệ thống nổi bật để hướng dẫn các ngành kinh tế sử dụng vật liệu và năng lượng một cách bền vững và giảm phát thải chất ô nhiễm Nó nhằm mục đích thiết lập các chu trình khép kín (tái chế và tái sử dụng) thay vì các hệ thống hở nhằm giảm thiểu các tác động tiềm tàng của các hoạt động đô thị và công nghiệp đối với môi trường Sinh thái công nghiệp xem xét chất thải công nghiệp là sản phẩm phụ hay các vật liệu thay thế có thể cho ngành công nghiệp khác
Tái chế là quá trình tham gia một sản phẩm ở phần cuối của vòng đời hữu ích của nó và sử dụng tất cả hay một phần của nó để làm ra một sản phẩm khác Tái chế
là quá trình tái sản xuất các nguyên liệu đã được chế biến, sản xuất (mà nếu không tái chế thì chúng sẽ trở thành rác thải) trở thành các sảnphẩm mới Điều này kiến chúng ta không cần chôn lấp hay đốt cháyrác và thực tế cũng đã chứng minh, tái chế rác là một ngành công nghệcực kỳ văn minh, một giải pháp khôn ngoan đối với rác
Công nghệ tái chế rác thải công nghiệp vô cơ trong sản xuất gốm xây dựng ở đây chủ yếu là công nghệ để bổ sung loại chất thải này vào nguyên liệu chính là đất sét nhằm mục đích tạo ra gạch cho xây dựng Quy trình sản xuất gạch cho xây dựng được thể hiện trong hình 2