Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MAI TUẤN PHƯỢNG
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN CÔ TÔ,
TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MAI TUẤN PHƯỢNG
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN CÔ TÔ,
TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Từ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào trước đây
Quảng Ninh, ngày …… tháng…… năm 2015
Tác giả luận văn
Mai Tuấn Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, toàn thể các
Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả theo học tại trường và tạo điều kiện thuận lợi nhất để trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ sự cảm ơn
chân thành, sâu sắc tới TS Nguyễn Từ vì sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác
giả trong quá trình thực hiện luận văn
thập số liệu để hoàn thiện bản luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Quảng Ninh, ngày …… tháng…… năm 2015
Tác giả luận văn
Mai Tuấn Phƣợng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Nông nghiệp và nông thôn 5
1.1.2 Những vấn đề chủ yếu về nông thôn mới 9
1.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 17
1.1.4 Các bước xây dựng nông thôn mới 18
1.1.5 Nội dung Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về chương trình xây dựng nông thôn mới 24
1.2.2 Bài học kinh nghiệm đối với huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh 30
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
Trang 62.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 33
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 34
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 34
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Chương 3 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN CÔ TÔ 41
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cô Tô ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện 41
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
3.1.2 Các đặc điểm về điều kiện kinh tế- xã hội 45
3.1.3 Một số đánh giá chung về đặc điểm địa bàn huyện Cô Tô có ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện 49
3.2 Thực trạng nông nghiệp - nông thôn huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2014 51
3.2.1 Những chủ trương, chính sách về phát triển nông thôn của huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh 51
3.2.2 Thực trạng nông nghiệp - nông thôn huyện Cô Tô giai đoạn 2010-2014 51
3.2.3 Thực trạng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện 55
3.3 Thực trạng đầu tư xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 57
3.3.1 Quy hoạch và thực hiện quy hoạch 57
3.3.2 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn 59
3.3.3 Chỉ tiêu Kinh tế và tổ chức sản xuất 64
3.3.4 Văn hóa - xã hội và môi trường 68
Trang 73.3.5 Hệ thống chính trị 72
3.3.6 Thúc đẩy, hỗ trợ phát triển sản xuất 73
3.4 Đánh giá thực trạng công tác hoạch định xây dựng nông thôn của huyện Cô Tô giai đoạn 2010 - 2014 75
3.4.1 Những mặt đã làm được 76
3.4.2 Những tồn tại, hạn chế và khó khăn 76
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN CÔ TÔ - TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020 78
4.1 Quan điểm và mục tiêu xây dựng nông thôn mới huyện CôTô - tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 78
4.1.1 Quan điểm 78
4.1.2 Mục tiêu 79
4.2 Các giải pháp xây dựng nông thôn mới huyện CôTô - tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 81
4.2.1 Về công tác chỉ đạo điều hành 81
4.2.2 Công tác tuyên truyền, vận động 83
4.2.3 Phát triển kinh tế, ổn định an sinh xã hội 84
4.2.4 Tổ chức tiếp nhận và huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn mới 86
4.2.5 Phát triển sản xuất hàng hoá và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả để tăng thu nhập cho người dân 87
4.2.6 Giải pháp phát triển văn hoá, xã hội và môi trường 90
4.2.7 Củng cố, nâng cao chất lượng và vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở 92
4.2.8 Hoàn chỉnh quy hoạch và thực hiện quản lý theo quy hoạch 93
4.3 Một số kiến nghị 93
4.3.1 Kiến nghị với Trung ương 94
4.3.2 Kiến nghị với tỉnh 94
Trang 84.3.3 Đối với huyện Cô Tô và cộng đồng dân cư 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 102
Trang 9DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BGD&ĐT : Bộ giáo dục và đào tạo
BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường
BVHTT : Bộ văn hóa thông tin
CN-TTCN : Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại học
DĐĐT : Dồn điền đổi thửa
GTVT : Giao thông vận tải
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTX : Hợp tác xã
KTQD : Kinh tế quốc dân
MTQG : Mục tiêu quốc gia
NN-ND-NT : Nông nghiệp - nông dân - nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân
VH-TT-DL : Văn hóa - thể thao - Du lịch
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình thực hiện tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch đến
năm 2014 58 Bảng 3.2: Kết quả xây dựng hạ tầng nông thôn huyện Cô Tô tính đến năm 2014 63 Bảng 3.3: Các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất 65 Bảng 3.4: Tình hình thực hiện các tiêu chí về văn hóa - xã hội và môi trường
đến năm 2014 68 Bảng 3.5: Hệ thống chính trị tại địa phương và quốc phòng, an ninh 72
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước, lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường Dân chủ cơ sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy
Trang 12hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Do đó đòi hỏi phải có sự đột phá trên tất các lĩnh vực kinh tế, văn hoá,
xã hội, môi trường nhằm phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
Cô Tô là một huyện đảo thuộc vào diện khó khăn bậc nhất của tỉnh Quảng Ninh Trước đây, cuộc sống của nhân dân Cô Tô gặp muôn vàn khó khăn, thiếu nước ngọt, thiếu điện, thiếu tàu thuyền kết nối đảo với đất liền, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, phương tiện sản xuất nhỏ lẻ, manh mún… Trong những năm đầu mới thành lập huyện đã có nhiều hộ bỏ đảo trở về quê
cũ ở đất liền Nhưng những ai quay trở lại Cô Tô vào thời gian này đều ngỡ ngàng trước sự đổi thay ở nơi đây Huyện Cô Tô xác định được công nhận hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới chỉ là sự ghi nhận ban đầu,
là nấc thang đầu tiên trên con đường phát triển của huyện đảo Mục tiêu của huyện đảo Cô Tô trong giai đoạn tới là tiếp tục xây dựng nông thôn mới ở một tầm cao mới, xây dựng Cô Tô trở thành một huyện điểm văn hóa nông thôn; phấn đấu hoàn thành tất cả các quy hoạch chiến lược của huyện; tăng cường kêu gọi, thu hút đầu tư để từng bước thực hiện ước mơ xây dựng Cô
Tô trở thành đô thị sinh thái biển của tỉnh Quảng Ninh
Nhằm góp phần tích cực tìm ra các giải pháp tốt nhất trong điều kiện thực
tế của huyện để phục vụ việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện từ nay
đến năm 2020, việc nghiên cứu đề tài: “Các giải pháp xây dựng nông thôn mới
Trang 13huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020” là vô cùng cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Xây dựng chương trình nông thôn mới ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ 2015 đến năm 2020
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chương trình xây dựng nông thôn mới;
- Đánh giá tổng quan thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Cô
Tô, tỉnh Quảng Ninh
- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng nông thôn mới của huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất các giải pháp thực hiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, đề tài đi sâu phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Cô Tô
+ Nội dung: Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới theo 5 nhóm chỉ tiêu với 19 tiêu chí
+ Về thời gian: Nghiên cứu việc xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2014
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản và thực tiễn về nông thôn mới
- Đánh giá kết quả, tìm ra tồn tại, hạn chế cùng các nguyên nhân trong quá trình thực hiện vận dụng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại huyện
Trang 14Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh Đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển mô hình nông thôn mới trong điều kiện kinh tế xã hội huyện Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020
- Luận văn sẽ là luận cứ khoa học đối với lãnh đạo huyện Cô Tô nhằm xây dựng và phát triển mô hình nông thôn mới; là tài liệu tham khảo cho sinh viên và học viên cao học ngành kinh tế, quản lý và phát triển nông thôn
5 Bố cục của luận văn
Nội dung của luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2014
Chương 4: Giải pháp phát triển mô hình nông thôn mới trên địa bàn huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Nông nghiệp và nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm nông nghiệp và nông thôn
* Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình Theo nghĩa rộng nông nghiệp còn bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch.Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lại tạo
Trang 16giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là
sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi
Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine )
* Khái niệm nông thôn
Ở mỗi nước có các quan niệm khác nhau về nông thôn (vùng nông thôn) do điều kiện KT-XH, điều kiện tự nhiên khác nhau Trong từ điểm tiếng
việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1994, nông thôn được định nghĩa
là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông Còn trong từ điển Bách
khoa Xô Viết của Nhà xuất bản Bách Khoa Liên Xô năm 1986 định nghĩa
thành thị là khu vực dân cư làm các ngành nghề ngoài nông nghiệp Hai định
nghĩa này mới chỉ nói lên một đặc điểm cơ bản khác nhau giữa nông thôn và thành thị
Song trên thực tế, chúng ta thấy nông thôn và thành thị không chỉ có sự khác nhau về đặc điểm nghề nghiệp và dân cư mà còn có sự khác nhau về nhiều đặc điểm khác như tự nhiên, kinh tế và xã hội Do vậy, để xác định đâu là vùng nông thôn, đâu là thành thành thị, chúng ta phải xét trên nhiều khía cạnh
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: Nông thôn là vùng khác với
Trang 17thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật
độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có tình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn Từ đây, chúng ta
có thể đưa ra một khái niệm chung về vùng nông thôn như sau : Nông thôn là vùng đất đai rộng với một cộng đồng dân cư chủ yếu làm nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, có trình
độ học vấn, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp, thu nhập và
mức sống của dân cư thấp hơn đô thị
Như vậy, khái niệm về vùng nông thôn phải bao gồm tổng hợp nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau, mà từng mặt, từng tiêu chí riêng lẻ không thể nói lên một cách đầy đủ Mặt khác chúng ta thấy, khái niệm này cũng chưa phải đã hoàn chỉnh, nếu không đặt nó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi vùng, mỗi nước và mỗi thời kỳ
1.1.1.2 Vai trò của nông nghiệp và nông thôn
Như khái niệm ở trên cho thấy nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về các mặt tự nhiên - kinh tế - xã hội và có vai trò ổn định về mặt kinh tế - chính trị - xã hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu cho đời sống con người như lương thực, thực phẩm mà không người sản xuất ra vật chất nào có thể thay thế được Ngoài ra nông nghiệp còn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu, cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu
Trong lịch sử phát triển của thế giới, bất cứ ở nước nào dù giàu hay nghèo, nông nghiệp đều có trị trí quan trọng trong nền kinh tế Sự phát triển nông nghiệp tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại lệ, tùy theo lợi thế của mình
mà mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp bằng cách thu ngoại
tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nông nghiệp
và các ngành khác trong nền KTQD
Trang 18Nông nghiệp nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của con người Nông nghiệp phát triển là một trong những nhân tố bảo đảm cho các ngành công nghiệp hóa học, cơ khí, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ sản xuất và đời sống phát triển Ở hầu hết các nước đang phát triển, NNNT là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ Như vậy có thể nói trong hoạt động của nền KTQD, các lĩnh vực sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ luôn có mối liên
hệ ràng buộc và cộng sinh Sự liên hệ này thể hiện ở chỗ không những nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, vốn và lao động cho công nghiệp và dịch vụ mà còn là thị trường rộng lớn của công nghiệp, dịch vụ Mối liên hệ này còn được thể hiện ở cả những vấn đề khoa học và công nghệ được áp dụng trong quá trình sản xuất, chúng có tác dụng như đòn bẩy để cho cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ phát triển
Hoạt động của nông nghiệp còn có tác dụng bảo tồn và cải tạo tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái Sản xuất nông, lâm nghiệp luôn gắn liền với việc sử dụng có hiệu quả và quản lý tốt các tài nguyên như đất đai, rừng, biển, động thực vật, Một nền nông nghiệp phát triển, ngoài việc tăng trưởng cao còn phải bảo vệ tài nguyên, chống giảm cấp về môi trường, bảo
vệ đa dạng sinh học Đó là yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững
Việt Nam là một nước nông nghiệp, vị trí vai trò của nông nghiệp càng trở lên quan trọng trong nền KTQD, mặc dù xu hướng chung là tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp trong tổng GDP sẽ giảm dần trong quá trình tăng trưởng nền kinh tế, nhưng vai trò của nông nghiệp, nông thôn vẫn luôn được khẳng định trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Hiện nay ở Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển trên thế giới vẫn còn tình trạng lợi ích mang lại trong quá trình tăng trưởng kinh tế đổ dồn về thành thị hơn là về nông thôn Vấn đề đã trở nên rõ ràng là nếu không tập trung đầu tư có hiệu quả và lâu dài vào ngành nông nghiệp và nông thôn
Trang 19thì sẽ có nguy cơ tăng thêm độ chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị và sẽ làm trầm trọng hơn sự phá hủy các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hơn thế nữa với khoảng 76% dân số sống ở vùng nông thôn cũng chứa đựng một lượng lao động khá lớn, nếu không giải quyết tốt công ăn việc làm thì sẽ tăng thêm sự bất ổn định về chính trị của đất nước Mặt khác tình trạng nghèo đói ở Việt Nam vẫn chủ yếu là ở các vùng nông thôn (người nghèo ở nông thôn chiếm 90% tổng số người nghèo trong cả nước) Tình trạng nghèo ở nông thôn càng trở lên trầm trọng hơn do tăng tự nhiên về dân
số với tỷ lệ cao Vì vậy, tập trung vào chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn: Xây dựng cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, tạo thêm công ăn việc làm là điều kiện tiên quyết cho phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam
1.1.2 Những vấn đề chủ yếu về nông thôn mới
1.1.2.1 Bối cảnh ra đời và một số quan điểm về nông thôn mới
Ngay sau khi nước ta thành lập năm 1945, mặc dù vẫn tập trung chỉ đạo cho công cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tới xây dựng và phát triển nông thôn, Người nêu rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của nông thôn: “Nông thôn giàu
có sẽ mua nhiều hàng hoá của công nghiệp sản xuất ra, đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển, công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn” Hồ Chủ Tịch coi phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn của mọi vấn đề kinh tế xã hội
Bác Hồ luôn coi nông dân là lực lượng to lớn của cách mạng, xây dựng khối liên minh công nông do Đảng lãnh đạo để đoàn kết dân tộc, là cơ sở, là chỗ dựa quan trọng chiến tranh bảo vệ, giải phóng và xây dựng đất nước
Thực tiễn trong bảo vệ, xây dựng đất nước, trong phát triển kinh tế ở nước ta đến nay cho thấy, cùng với chính sách đổi mới, mở cửa đã minh
Trang 20chứng điều nhận định trên Nền nông nghiệp nước ta không những đảm bảo lương thực đủ ăn cho 90 triệu người dân nước ta mà còn xuất khẩu một lượng lớn hàng nông sản Qua nhiều kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được quan tâm đặc biệt Xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, nhận thức của Đảng và Nhà nước ngày càng được nâng cao, càng được quan tâm tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể phát triển chung của đất nước Hiện nay lực lượng nông dân vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, là lực lượng quan trọng của cách mạng, mà chính nông nghiệp, nông dân nước ta luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta Nông nghiệp mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị,
xã hội Cho đến nay sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu
để đi vào sự hội nhập kinh tế quốc tế và sự hội nhập toàn cầu của nước ta
Đến Hội nghị Trung ương 7 khóa X của Đảng đã thông qua Nghị quyết
số 26-NQ/TW khẳng định rõ nét về nông nghiệp - nông dân - nông thôn ND-NT) với các nội dung cơ bản:
(NN Vị trí chiến lược của NN-ND-NT trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Vấn đề NN-ND-NT phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ NN-ND-NT, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt
- Phát triển nông nghiệp - nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
Trang 21chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đại, rừng, biển; khai thác tốt điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp - nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp - nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân
- Giải quyết vấn đề NN-ND-NT là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tinh thần yếu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân
1.1.2.2 Khái niệm về nông thôn mới
Nông thôn mới là một vùng nông thôn có nền sản xuất tiếp thu được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của nông thôn truyền thống Hiện nay, chưa có một định
nghĩa chính thức về nông thôn mới Tuy nhiên có thể hiểu là: “Mô hình nông
thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng trên cơ sở nông thôn cũ (truyền thống, đã có) nhưng manh tính tiên tiến về mọi mặt” -Theo PGS -
TSKH Phan Xuân Sơn ( đăng trên Tạp chí cộng sản)
Xây dựng nông thôn mới là một đòi hỏi khách quan để đáp ứng nhu cầu tất yếu ngày càng cao của con người Từng giai đoạn lịch sử, xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn có khác nhau sao cho phù hợp với nhu cầu của con người Đối với nước ta hiện nay cần phải xây dựng nông
Trang 22thôn mới, là một nông thôn giàu đẹp, văn minh, sản xuất phát triển, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
Nông thôn mới trước hết là một vùng nông thôn chứ không phải đô thị
Là vùng nông thôn có những nét hiện đại mà nông thôn truyền thống không
có, nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới
Xây dựng nông thôn mới hiện nay có sự khác biệt so với các chương trình, dự án đầu tư cho nông thôn đã triển khai trước đây ở bốn mặt như sau:
Một là, nội dung xây dựng nông thôn mới (NTM) với sự phát triển nông thôn toàn diện, trước đây xây dựng nông thôn thường thông qua chương trình hay dự án chỉ giải quyết một số khía cạnh riêng lẻ
Hai là, Cơ chế phối hợp đồng bộ, trên cơ sở phát huy tổng lực của xã hội cho quá trình xây dựng NTM
Ba là, nguồn lực dựa vào nội lực và do cộng đồng địa phương làm chủ
Sử dụng phương châm phát huy nội lực là chính, lấy sức dân lo cuộc sống cho dân Trước đây, việc huy động nguồn nội lực có nhiều hạn chế, chưa phát huy hiệu quả năng lực của người dân và cộng đồng
Bốn là, xây dựng các xã điểm NTM làm cơ sở để nhân rộng cho các
xã khác
1.1.2.3 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2020
- Mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế,
kỹ thuật từng bước hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; An ninh trật
tự được giữ vững; Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 23- Mục tiêu cụ thể: Theo Bộ tiêu chí quốc gia (TCQG) về nông thôn mới:
+ Đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới
+ Đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới
1.1.2.4 Đặc trưng của nông thôn mới
Mục đích của xây dựng mô hình NTM là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị Việc xây dựng nông thôn mới là một trong nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, nông thôn mới của nước ta có những đặc trưng cơ bản:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất, văn hóa dân cư được nâng cao
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc giữ gìn và phát huy
- An ninh tốt, quản lý dân chủ
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
1.1.2.5 Đặc điểm nông thôn mới
- Được quy hoạch một cách rõ ràng: Trong thực tế, khu vực nông thôn
luôn phát triển tự do, không theo chuẩn mực hay quy hoạch, gây ra sự lộn xộn trong cảnh quan Theo Bộ tiêu chí Quốc gia, một xã đạt chuẩn nông thôn mới phải có 3 loại quy hoạch: quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất, nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ, Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội - môi trường theo tiêu chuẩn mới Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
Trang 24- Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội từng bước được hiện đại hóa
Hiện nay, cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội của khu vực nông thôn vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn, gây khó khăn cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh
Vì vậy, để các xã đạt chuẩn nông thôn mới hệ thống cơ sở hạ tầng phải từng bước hiện đại hóa để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân
- Kinh tế phát triển, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến Qua điều
tra cho thấy, các hình thức sản xuất ở khu vực nông thôn hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, công cụ lao động thô sơ, chủ yếu là thủ công, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao., thu nhập của người dân còn thấp Nhưng theo tiêu chuẩn của một xã nông thôn mới thì thu nhập bình quân đầu người của người dân phải cao gấp 1,5 lần thu nhập bình quân đầu người của tỉnh, riêng Thành phố Hà Nội chỉ tiêu này còn có sự thay đổi theo tính riêng của Thành phố là thu nhập bình quân đầu người của người dân cao gấp 1,5 lần khu vực nông thôn, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến giúp cho kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của dân cư nông thôn
- Các điều kiện văn hóa- xã hội- môi trường- được nâng cao nhằm
đảm bảo chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn Một trong các đặc điểm
của một xã nông thôn mới đó là chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được đảm bảo Vì hiện nay, đa số cư dân nông thôn chưa được hưởng thụ điều kiện văn hóa - xã hội- môi trường đảm bảo, đời sống văn hóa còn nghèo nàn, điều kiện xã hội còn thấp và đặc biệt là về môi trường, người dân phải chịu đựng sự ô nhiễm ngày càng gia tăng
- Tình hình an ninh trật tự địa phương được đảm bảo Trong điều kiện
đô thị hóa ngày càng nhanh như hiện nay thì hệ quả của nó cũng nhanh chóng
Trang 25lan rộng nếu chính quyền không có biện pháp thỏa đáng Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của một xã nông thôn mới
1.1.2.6 Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới
- So với xây dựng nông thôn trước đây, xây dựng nông thôn mới là chính sách về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn
đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí Vùng nông thôn với cơ cấu mới, mang những nét đặc trưng của một vùng nông thôn phát triển theo hướng đô thị hóa mà biểu hiện cụ thể đó là sự phát triển nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH sản xuất Ở đó nền sản xuất không chỉ đơn thuần là sản xuất các ngành nông nghiệp mà có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch… Xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo:
- Sản xuất nông nghiệp hiện đại: Sản xuất chủ yếu ở nông thôn là nông nghiệp, sản xuất các sản phẩm nông sản dồi dào với chất lượng cao Sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp có sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp hiện đại với phát triển công nghiệp và các ngành khác, đưa sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thành sản xuất hàng hoá thực sự, tạo thuận lợi để hội nhập nền kinh tế thế giới Có sự phân định rõ ràng giữa nông thôn và thành thị trong mối quan hệ hỗ trợ và thúc đẩy
- Giữ gìn nét truyền thống của văn hóa Việt: Nước ta với truyền thống văn hóa lúa nước nên những phong tục tập quán lâu đời gắn bó rất nhiều với sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp nông thôn Hay nói cách khác, các phương thức sản xuất, tập quán sinh sống cũng như cơ cấu tổ chức mang tính đặc thù
Trang 26của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hoá mang đậm màu sắc Việt Nam Văn hoá quê hương với những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giản dị tiết kiệm, thật thà chân chất, yêu quý quê hương…, tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù Nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương Việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được hình thành từ lâu đời thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn
có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn
- Giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, Việc con người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến ô nhiễm môi trường và phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu từ môi trường đem lại Xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo giữ gìn và cải tạo môi trường tự nhiên vốn có của nông thôn truyền thống, đồng thời làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường
1.1.2.7 Yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới
- Việc thực hiện xây dựng NTM theo 19 tiêu chí, thay đổi toàn diện bộ mặt nông nghiệp - nông thôn do đó phải có một Ban chỉ đạo đủ sức mạnh gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
- Khối lượng vật tư, tiền vốn đầu tư cho xây dựng NTM phải đủ lớn và không chỉ dựa vào nguồn Ngân sách
- Cơ chế chính sách về đất đai phải tạo ra được thương hiệu hàng hoá cho sản phẩm nông nghiệp Thị trường sản phẩm nông nghiệp phát triển sẽ góp phần thúc đẩy nông thôn phát triển theo hướng bền vững
- Bản thân người nông dân - chủ thể xây dựng NTM phải xác định trách nhiệm của mình trong việc xây dựng NTM, Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng cơ chế,
Trang 27chính sách, hỗ trợ tiền vốn (cho vay, đầu tư một phần) Bản quy hoạch xây dựng NTM phải được người dân coi như "Bản hương ước của làng, xã" và do chính người dân đứng ra thực hiện
- Có cơ chế, chính sách để các nhà đầu tư mạnh dạn tham gia đầu tư vào các dự án xây dựng NTM Các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mang lại hiệu quả còn thấp và tính rủi ro cao, chủ yếu mang tính xã hội do vậy cần có chính sách ưu đãi
1.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
- Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới thực hiện 19 tiêu chí của Bộ TCQG về nông thôn mới đã ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
- Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách,
cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể
do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
- Nguyên tắc 3: Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
- Nguyên tắc 4: Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và
cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Nguyên tắc 5: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm
Trang 28chủ của người dân và công đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
- Nguyên tắc 6: Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
1.1.4 Các bước xây dựng nông thôn mới
Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020, Chính phủ đã có Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng nông thôn mới 2010-2020 Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới sẽ được triển khai trên địa bàn cấp xã trong phạm vi cả nước nhằm phát triển nông thôn toàn diện, bao gồm nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở, có những yêu cầu riêng đối với từng vùng sinh thái, vùng kinh tế -
xã hội khác nhau Để hỗ trợ cho công tác chỉ đạo xây dựng nông thôn mới ở cấp xã Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn biên soạn cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” giới thiệu và hướng dẫn các bước công việc chính trong xây dựng nông thôn mới ở cấp xã, cụ thể:
Bước 1: Thành lập Ban Chỉ đạo và Ban quản lý Chương trình NTM Bước 2: Tổ chức tuyên truyền, học tập nghiên cứu các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng NTM
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí
Bước 4: Lập đề án (kế hoạch) xây dựng NTM của xã (gồm kế hoạch
Trang 29tổng thể đến 2020, kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 và kế hoạch từng năm cho giai đoạn 2010-2015)
Bước 5: Xây dựng quy hoạch NTM của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án (kế hoạch)
Bước 7: Hoàn thiện, giám sát, đánh giá và báo cáo định kỳ về tình hình
thực hiện dự án
1.1.5 Nội dung Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
1.1.5.1 Xã nông thôn mới
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành "Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới" bao gồm 19 tiêu chí với 39 chỉ tiêu và được chia thành 5 nhóm cụ thể: nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi
trường và về hệ thống chính trị Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng
19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: quy hoạch và
thực hiện quy hoạch; giao thông; thủy lợi; điện; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; thu nhập bình quân đầu người/năm; tỷ lệ hộ nghèo; cơ cấu lao động; hình thức tổ chức sản xuất; giáo dục; y tế; văn hóa; môi trường; hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh;
an ninh, trật tự xã hội
Với 19 tiêu chí, mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã để được công nhận đạt xã nông thôn mới Ví dụ, về tiêu chí giao thông, 1 xã thuộc Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt 100% đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải
Trang 30Tiêu chí này đối với xã vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên là 70% còn đối với xã vùng Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ là 50%
Về hộ nghèo, xã vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt tiêu chuẩn tỷ lệ hộ nghèo <3%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ
<5%, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long <7% và Trung du miền núi phía Bắc <10%
Bộ tiêu chí cũng quy định, tất cả các xã nông thôn mới đều phải có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; có nhà văn hóa
và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch; có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, có Internet đến thôn; có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả và không có nhà tạm, dột nát
1.1.5.2 Huyện nông thôn mới
Để được công nhận là huyện nông thôn mới, phải có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới
1.1.5.3 Tỉnh nông thôn mới
Nếu tỉnh có 80% số huyện nông thôn mới thì sẽ đạt tỉnh nông thôn mới
1.1.5.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Nội dung xây dựng NTM được thể hiện trong chương trình MTQG xây dựng NTM (Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010), gồm 11 nội dung sau:
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
+Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng NTM, thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020;
+ Nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu
Trang 31dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
+ Nội dung: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hoá); Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn
xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí NTM và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hoá thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hoá xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45%
số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn chỉnh trụ sở xã
và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn; Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến
2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hoá) Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hoá hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10; 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;
+ Nội dung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, có hiệu quả kinh tế cao; Tăng cường công tác khuyến nông; Đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
Trang 32thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; Cơ giới hoá nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm "mỗi làng một sản phẩm", phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương; Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
- Giảm nghèo và An sinh xã hội
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM; + Nội dung: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Tiếp tục triển khai Chương trình MTQG về giảm nghèo; Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
- Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
+Nội dung: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
- Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cư dân nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
Trang 33+ Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực Y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
- Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn
+ Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hoá xã, thôn và 45% số xã
có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hoá xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn
+ Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NTM
về văn hoá, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
- Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân
cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến
2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị -
xã hội trên địa bàn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số
Trang 34xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới; Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này; Bổ sung chức năng, nhiệm
vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu; Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh
xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về chương trình xây dựng nông thôn mới
1.2.1.1 Kinh nghiệm của huyện Vĩnh Linh - Quảng trị
Xã Vĩnh Kim (Vĩnh Linh, Quảng Trị) đã huy động có hiệu quả các nguồn lực khác nhau để xây dựng NTM, từ đó từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống cho người dân, sớm hoàn thành các tiêu chí về xây dựng NTM Với phương châm “Lấy dân để vận động dân”, từ khi chương trình xây dựng NTM được triển khai, địa phương đã huy động được đông đảo người dân hăng hái tham gia Đồng thời kết hợp sử dụng tốt các nguồn lực hỗ trợ để xây dựng NTM
Trang 35Qua 3 năm triển khai xây dựng NTM, xã đã phối hợp, lồng ghép, huy động được trên 83 tỷ đồng, trong đó vốn nhân dân đóng góp được trên 19,8 tỷ đồng, chiếm trên 23% Theo đó, nhân dân đã đóng góp tiền mặt, ngày công, hiện vật vào thực hiện các tiêu chí như quy hoạch, giao thông, thuỷ lợi, nhà ở dân cư, thu nhập và phát triển kinh tế Các nguồn vốn khác từ các chương trình, dự án, vốn hỗ trợ của doanh nghiệp góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng,
hỗ trợ sản xuất
Đến thời điểm này, xã Triệu Trạch (Triệu Phong) đã hoàn thành 11/19 tiêu chí trong xây dựng NTM Trong quá trình triển khai, địa phương này đã huy động tốt mọi nguồn lực để thực hiện, đặc biệt là tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ cao của người dân trong xây dựng NTM Cụ thể, tính đến nay, tổng kinh phí huy động là 24,5 tỷ đồng Trong đó, vốn ngân sách cấp 3,44 tỷ đồng chiếm 14%; vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM: 2,18
tỷ đồng chiếm 8,9%; vốn nhân dân đóng góp: 1,72 tỷ đồng chiếm 7%; vốn thôn, HTX: 0,41 tỷ đồng chiếm 1,7%; vốn lồng ghép các dự án: 9,2 tỷ đồng chiếm 38% và vốn tín dụng nhà nước: 7,5 tỷ đồng chiếm 30% Trong thời gian tới, để hoàn thành chương trình xây dựng NTM, xã Triệu Trạch sẽ tiếp tục huy động mạnh mẽ nội lực của địa phương về tài chính và sự đóng góp ngày công của nhân dân Đồng thời thực hiện lồng ghép các dự án đầu tư, kêu gọi sự giúp đỡ của các doanh nghiệp, con em đi làm ăn xa đóng góp xây dựng quê hương
Xác định rõ xây dựng NTM là một chương trình mục tiêu quốc gia chứ không phải là một dự án đầu tư, do vậy nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước phục vụ xây dựng NTM chỉ mang tính hỗ trợ Thời gian qua, nhìn chung các địa phương trong tỉnh đã huy động nhiều nguồn lực để hoàn thành các tiêu chí Đa số các xã đã khai thác tốt nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình,
dự án đang triển khai trên địa bàn như: vốn từ chương trình giảm nghèo; nước sạch và vệ sinh môi trường; kiên cố hoá kênh mương; phát triển cơ sở hạ tầng
Trang 36nuôi trồng thuỷ sản Nguồn vốn vay từ các ngân hàng, vốn hỗ trợ của doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế tập thể Đặc biệt, việc chủ động huy động sức dân, phát huy nội lực của địa phương đã giúp các xã thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng NTM Theo báo cáo của các địa phương và ngân hàng nhà nước Chi nhánh Quảng Trị, năm 2014, tổng nguồn lực huy động xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh đạt trên 2.773 tỷ đồng Trong đó, vốn trực tiếp cho chương trình xây dựng NTM trên 87,2 tỷ đồng; vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án trên 102,9 tỷ đồng; vốn tín dụng 2.561 tỷ đồng; vốn huy động từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác trên 11,4 tỷ đồng Đặc biệt, vốn huy động từ cộng đồng dân cư đạt trên 10 tỷ đồng, trong đó vốn huy động bằng tiền trên 5,6 tỷ đồng, ngày công trên 1,8 tỷ đồng, tài sản là 815 triệu đồng và hiến đất trên 1,6 tỷ đồng Nhờ huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực nên hiện trạng xây dựng NTM sau hơn 3 năm triển khai tại các địa phương đã
có sự thay đổi rõ nét Tính đến tháng 6/2014, toàn tỉnh có 6 xã đạt từ 15-18 tiêu chí, chiếm 5,1%, tăng 2 xã so với năm 2013; có 7 xã đạt từ 13-14 tiêu chí, chiếm 5,98%; 36 xã đạt từ 10-12 tiêu chí, chiếm 30,7%; 54 xã đạt từ 5-9 tiêu chí, giảm 13 xã so với năm 2013 và 14 xã đạt dưới 5 tiêu chí
Trong thời gian tới, tỉnh sẽ triển khai thực hiện Nghị quyết huy động các nguồn lực và quy định mức hỗ trợ trong xây dựng NTM của tỉnh đến năm
2020 Xây dựng quy định về hỗ trợ bù lãi suất vốn vay cho các hộ gia đình, cá nhân, chủ trang trại, HTX, tổ hợp tác vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh theo đề án NTM Chỉ đạo các ngành tham mưu UBND tỉnh ban hành thiết kế mẫu, thiết kế điển hình các công trình xây dựng cơ bản nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thuộc nhiệm vụ ngành quản lý trên toàn tỉnh theo cơ chế đầu tư đặc thù tại Quyết định số 498/QĐ- TTg ngày 21/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 03/2013/TT- BKHĐT ngày 07/8/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 37Ngoài ra, trong vấn đề huy động nguồn lực, thiết nghĩ các xã cần ưu tiên triển khai lồng ghép tốt nguồn vốn từ các chương trình, dự án tại địa phương cùng với nguồn vốn từ chương trình xây dựng NTM để phát huy hiệu quả đầu tư Đồng thời cần phát huy tốt nội lực của địa phương, nhất là sự đóng góp của cộng đồng dân cư để thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM Các
xã cũng cần hướng dẫn, tạo mọi điều kiện cho người dân và các tổ chức kinh
tế được vay vốn tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập Cần có chính sách kêu gọi doanh nghiệp cùng tham gia đầu tư nguồn lực để xây dựng NTM
Khi thực hiện tốt công tác huy động nguồn lực, vấn đề quan trọng đặt
ra cho các địa phương là sử dụng nguồn vốn hợp lý trong lộ trình xây dựng NTM Đặc biệt cần tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư, đảm bảo việc đầu tư hiệu quả, đúng trọng tâm theo đề án xây dựng NTM
1.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Giang
Thực hiện chủ trương về xây dựng nông thôn mới (NTM) của Đảng, Tỉnh ủy Hà Giang đã tập trung lãnh đạo HĐND, UBND tỉnh cụ thể hóa thành
6 chương trình, 16 đề án, 9 dự án và 4 kế hoạch Trong đó có các nghị quyết, quyết định, kế hoạch quan trọng như: Nghị quyết số 74/2012/NQ-HĐND, ngày 12-12-2012 của HĐND tỉnh về việc ban hành mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho các công trình thuộc chương trình xây dựng NTM; Quyết định
số 784/QĐ-UBND, ngày 02-5-2013 của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ cụ thể và quản lý đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, giai đoạn 2013 - 2020; Quyết định số 1670/QĐ-UBND, ngày 14-8-2013 của UBND tỉnh quy định về quản lý, lập dự toán thanh toán, quyết toán các công trình thuộc chương trình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2013 - 2020; Kế hoạch số 41/KH-UBND, ngày 23-02-2013 của UBND tỉnh về đột phá thực hiện chương trình xây dựng NTM năm 2013
Trang 38Xác định công tác quy hoạch trong xây dựng NTM là khâu đột phá, Tỉnh ủy lãnh đạo UBND tỉnh, các sở, ngành chức năng lập quy hoạch và yêu cầu công tác quy hoạch phải đi trước một bước trong xây dựng NTM Hiện nay tỉnh đã điều chỉnh bổ sung và công bố các loại quy hoạch như: quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu quốc gia Thanh Thủy thành cửa khẩu quốc tế; quy hoạch, tôn tạo, bảo tồn những giá trị văn hóa, địa chất, địa mạo của Công viên địa chất toàn cầu - cao nguyên đá Đồng Văn; quy hoạch ngành nghề phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với du lịch, dịch vụ Thành tựu nổi bật trong công tác quy hoạch xây dựng NTM là đã hoàn thành đồ án quy hoạch 177/177 xã trong tỉnh, trong đó 110 xã đã công bố quy hoạch xã NTM, triển khai cắm mốc quy hoạch cho tất cả các xã đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng xã NTM Đã phê duyệt đề án xã NTM cho 132/177 xã
Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền phát huy các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn Trong 2 năm 2010 - 2011, chính quyền các cấp sử dụng nguồn vốn của Trung ương, địa phương và vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 40 xã điểm để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Tổng nguồn vốn huy động là 1.947.322 triệu đồng Đồng thời, cấp ủy, chính quyền các địa phương lãnh đạo thực hiện tốt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, vận động nhân dân hiến đất, hiến cây trồng xây dựng các tuyến đường liên thôn, liên xóm, phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân Nhân dân đã tự nguyện hiến 456.991 m2 đất, 855.123 ngày công lao động, mở mới 322 km đường đất, đá Qua ba năm thực hiện xây dựng kết cấu
hạ tầng nông thôn, đến nay toàn tỉnh đã làm được 300 km đường giao thông nông thôn các loại; xây mới được 8.922 công trình vệ sinh; 3.934 bể nước; 8,8
km kênh mương; láng bó nền nhà cho 4.707 hộ; di dời được 13.766 chuồng trại gia súc ra xa nhà Hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu hiện có 905 công trình,
Trang 3920 hồ chứa nước, bảo đảm tưới cho 71% diện tích lúa đông xuân, 64,8% diện tích lúa mùa và gần 3.000 ha diện tích rau màu
Những năm qua tỉnh Hà Giang đã có nhiều chủ trương lớn lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thể hiện trong Chương trình số 48-CTr/TU, ngày 01-10-2013 của BCH Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05-8-2008 của BCH Trung ương Đảng (khóa X)
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tỉnh ủy chủ trương xây dựng nền nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch và dịch vụ ở nông thôn Bước đầu hình thành được những vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn như vùng chè trên 16.000 ha, sản lượng đạt 43.000 tấn; cây cam, quýt trên 4.300 ha, sản lượng đạt 22.000 tấn; cây xoài gần 1.000 ha; cây đậu tương 18.000 ha Thực hiện thâm canh trên 80% diện tích lúa và trên 70% diện tích ngô, tăng vụ đưa hệ số
sử dụng đất từ 1,7 lần (2008) lên 2,1 lần năm 2012 Chuyển đổi diện tích đất hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cỏ phát triển chăn nuôi gia súc trên 12.000 ha tập trung chủ yếu tại bốn huyện vùng cao núi đá, tổng đàn trâu đạt trên 147.000 con, đàn bò trên 84.000 con, đàn dê trên 150.000 con Phát triển mạnh trồng rừng, hình thành vùng nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến giấy, gỗ ván sàn, gỗ ép các loại tại các huyện vùng thấp
Tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thâm canh quy mô lớn theo mô hình cánh đồng mẫu Tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng mô hình thí điểm ở một số xã để rút kinh nghiệm triển khai ra diện rộng Hiện nay tỉnh đã có nhiều mô hình sản xuất cánh đồng mẫu trồng lúa, ngô, lạc với phương châm 5 cùng (cùng thời vụ, cùng giống, cùng chăm sóc, cùng phòng trừ sâu bệnh, cùng thu hoạch); mô hình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP; mô hình chăn nuôi trâu, bò hàng hóa; dự án phát triển cây dược liệu để sớm đưa Hà Giang trở thành trung tâm cây dược liệu của cả nước
Hà Giang rất chú trọng lãnh đạo đầu tư hỗ trợ cho người dân khu vực
Trang 40nông thôn, nhất là những vùng khó khăn, bảo đảm các điều kiện sinh hoạt tối thiểu về điện, nước sinh hoạt và nhà ở Tính đến nay tỷ lệ người dân sử dụng nước hợp vệ sinh trên 70%; tỷ lệ hộ sử dụng điện 73,6%; các xã đã cơ bản xóa nhà dột nát Do có sự giúp đỡ của Trung ương, sự đầu tư có trọng điểm của tỉnh, kinh tế đã có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 7,5 triệu đồng/năm, 11,1 triệu đồng/năm vào năm 2012 Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 41,8%, đến năm 2012 còn 30,13%
Tỉnh ủy Hà Giang luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị
cơ sở vững mạnh, giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
ở nông thôn Tỉnh thường xuyên quan tâm xây dựng, phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nông thôn trong quá trình xây dựng NTM; Tỉnh ủy đã lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực tham gia chương trình xây dựng NTM, nhất là tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn, động viên sức mạnh toàn dân, xây dựng NTM theo các tiêu chí đã đề ra
Nhờ sự chủ động trong lãnh đạo, việc xây dựng NTM ở Hà Giang đã thu được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Chỉ riêng lĩnh vực xây dựng các điển hình NTM, sau ba năm thực hiện, đã và đang triển khai thực hiện
598 mô hình, trong đó có trên 50 mô hình được đánh giá là tốt, được chỉ đạo nhân rộng
1.2.2 Bài học kinh nghiệm đối với huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
Ngay sau khi Đảng và Nhà nước có chủ chương phát triển nông thôn trong tình hình mới, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng chương trình hành động số
22 - CTr/TU của Tỉnh uỷ Quảng Ninh về thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình xây dựng nông thôn mới, triển khai xây dựng mô hình phát triển nông thôn tại một số địa phương và đạt được những thành quả khá quan trọng khẳng định chủ