Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)Yếu tố khẩu ngữ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN BÍCH NGỌC
YẾU TỐ KHẨU NGỮ TRONG
HƯƠNG RỪNG CÀ MAU CỦA SƠN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN BÍCH NGỌC
YẾU TỐ KHẨU NGỮ
TRONG HƯƠNG RỪNG CÀ MAU CỦA SƠN NAM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Cao Cương
Trang 3Thái Nguyên, ngày 25 thánh 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu cũng như kết quả nghiên cứu là của riêng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 8 năm 2015
Người cam đoan
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Bố cục luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1 Dẫn nhập 8
1.2 Một số khái niệm ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học 8
1.2.1 Ngôn ngữ toàn dân 8
1.2.2 Tiếng địa phương 9
1.2.3 Ngôn ngữ văn hóa Ngôn ngữ văn học Ngôn ngữ văn chương 10
1.2.4 Khẩu ngữ 15
1.2.5 Chủ đề 22
1.2.6 Chi tiết nghệ thuật 23
1.2.7 Hình tượng nhân vật 24
1.3 Nhà văn Sơn Nam và Hương rừng Cà Mau 25
1.3.1 Nhà văn Sơn Nam 25
1.3.2 Hương rừng Cà Mau 26
1.4 Tiểu kết 27
Chương 2 TÍNH KHẨU NGỮ THỂ HIỆN TRONG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG
Trang 62.1 Dẫn nhập 30
2.2 Danh sách từ ngữ Nam Bộ trong HRCM 31
Cơ sở dữ liệu Error! Bookmark not defined 2.2.1 Nhóm tương ứng ngữ âm với từ toàn dân 32
2.2.2 Nhóm không có tương ứng về ngữ âm với từ toàn dân 39
2.3 Tiểu kết 45
Chương 3 TÍNH KHẨU NGỮ THỂ HIỆN TRONG CÁC LỚP TỪ VÀ TÊN GỌI 46
3.1 Dẫn nhập 46
3.2 Danh từ 46
3.2.1 Danh từ chung: loài cây 47
3.2.2 Danh từ chung: loài vật 49
3.2.3 Danh từ riêng: tên đất, tên người 54
3.3 Đại từ 70
3.4 Tiểu từ cuối câu 75
3.5 Cấu trúc vị từ 79
3.6 Thành ngữ, quán ngữ 85
3.6.1 Thành ngữ 85
3.6.2 Quán ngữ 88
3.7 Tiểu kết 89
KẾT LUẬN 92
THƯ MỤC THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 100
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Để giao tiếp và sáng tạo, con người có thể dùng âm thanh hoặc chữ viết, nhưng giao tiếp và sáng tạo bằng âm thanh vẫn là tự nhiên và phổ dụng hơn, vì lịch sử giao tiếp bằng âm thanh đã có hàng triệu năm trong khi thói quen dùng chữ viết mới bắt đầu từ dăm ngàn năm lại đây
Những năm gần đây, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về từ khẩu ngữ và tác dụng của nó được dùng trong các tác phẩm văn chương như
các tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga (2000), Những từ ngữ mang sắc thái khẩu
ngữ trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Nguyễn Thị Điệp (2009), Dấu
ấn văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam, Luận văn Cao học, Đại học
Cần Thơ, Trần Thị Hạnh (2012), Sơn Nam trong tiến trình văn học Nam Bộ,
www.yersin.edu.vn/Uploads/2013/03/Thong_Tin_KH_So_01_091.pdf, Nguyễn
Văn Nở, Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015), Cách vận dụng từ địa phương trong
tabid/100/newstab/468/default.aspx, Phạm Thị Thu Thủy (2011), Dấu ấn Nam
Bộ trong tập truyện ngắn "Mùa len trâu" của nhà văn Sơn Nam,
www.tonvinhvanhoadoc.vn, Nguyễn Nghiêm Phương (2009), Màu sắc Nam Bộ
trong ngôn ngữ truyện ký Sơn Nam, Luận văn Cao học, ĐHSP Tp Hồ Chí
Minh, Lê Thị Thùy Trang (2003), Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn
1954-1975, Luận văn Cao học, ĐHSP Tp Hồ Chí Minh Những tác giả trên đã
nói về tác dụng của khẩu ngữ, về nhà văn Sơn Nam một nhà văn đã mang đậm chất Nam Bộ Nối tiếp cách tiếp cận này, chúng tôi chọn đề tài để nghiên cứu :
Yếu tố khẩu ngữ trong Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam Mong muốn khắc
sâu hơn nữa giá trị, tác dụng của khẩu ngữ được Sơn Nam sử dụng trong sáng tác của mình, cụ thể, chúng tôi đi tìm hiểu về yếu tố khẩu ngữ, tác dụng của nó
mà tác giả sử dụng trong tập truyện Hương Rừng Cà Mau
Trang 9HRCM của Sơn Nam là tuyển tập truyện ngắn về những người nông dân
Nam Bộ sống cách nay năm sáu chục năm Việc nghiên cứu hệ thống từ ngữ, cách kết nối cú pháp và kết nối đoạn trong từng tác phẩm có thể giúp chúng ta hiểu được những dụng công của tác giả trong việc tận dụng các yếu tố khẩu ngữ cho xây dựng nhân vật và các hoàn cảnh điển hình Xuất phát từ mong muốn
này, chúng tôi chọn đề tài “Yếu tố khẩu ngữ trong HRCM của Sơn Nam”
2 Lịch sử nghiên cứu
Mặc dù xuất hiện rất sớm trên văn đàn Miền Nam, nhưng trước 1975 Sơn Nam ít được giới học giả Sài Gòn nhắc tới Có lẽ bên cạnh lí do về vấn đề chính trị, còn có vấn đề về phong cách viết của ông, cái phong cách có phần ngược với xu thế văn chương thời thượng hồi đó ở vùng tạm chiếm, dưới ách
Mỹ Ngụy
Sơn Nam chỉ được chú ý và được đánh giá cao sau ngày đất nước được giải phóng, khi trào lưu trở về nguồn đã trở thành một xu hướng mới của thời đại Chỉ khoảng sau 10 năm đất nước thống nhất, nhiều tác phẩm của ông đã
được tái bản, trong đó nổi tiếng nhất là HRCM
Trong lời tựa cho HRCM tập 1, nhà thơ Viễn Phương coi Sơn Nam là một cây bút xuất sắc và tiêu biểu cho văn chương Nam Bộ thế kỉ XX Trong
Các tác gia văn học Việt Nam, viết năm 1992, các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Đình Chú, Nguyên An đã coi HRCM là tác phẩm tiêu biểu nhất, đặc sắc nhất của Sơn Nam Từ điển văn học bộ mới in năm 2004 cho tác phẩm này
là "đã đem lại cho nhiều thế hệ người đọc những xúc cảm thẩm mĩ bổ ích, những gợi ý chân thành cao quý về đất nước và tình người" [27,1566] Với
Trần Hữu Tá, HRCM đã chứng tỏ được tác giả của nó là "một người cầm bút có
dáng vẻ và hương sắc riêng" [45,72]
Bàn về phong cách nghệ thuật của Sơn Nam trong HRCM, Từ điển văn
học, bộ mới, cho rằng: "Truyện ngắn của Sơn Nam có cốt cách, ý vị riêng …
Tác giả viết hết sức thoải mái, tự nhiên, như lời kể trong bữa nhậu bằng ngôn
Trang 10ngữ đời thường Phương ngữ được dùng vừa phải, đúng chỗ Con người và vùng đất "nê địa" Cà Mau cứ thế hiện lên trên từng trang viết của ông, cuốn hút, say người." [27, 1566] Bước sang thế kỉ XXI, các nghiên cứu về Sơn Nam tiếp tục đi theo hướng này nhưng dưới một tiếp cận mới: nghiên cứu thi pháp Phong cách Sơn Nam được các nhà nghiên cứu cụ thể và chi tiết hóa qua những dụng công của ông trong sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Nam Bộ Các công trình nghiên cứu đều có khát vọng chung là mong muốn cắt nghĩa cho thật khoa học cái gọi là "hương sắc riêng", cách "viết như nói" của Sơn Nam
Truyện ngắn Sơn Nam gồm "một thế giới nhân vật phong phú và đa dạng", từ những người lao động chăm chỉ đến những kẻ quen sống dựa dẫm, lười biếng; từ những người thật thà, chân chỉ đến những kẻ bịp bợm, sống lang bạt kì hồ; từ những người còn nặng lòng với đất nước, quê hương đến những kẻ rắp tâm làm tay sai cho ngoại bang Ứng với mỗi một loại nhân vật là một loại
tính cách Theo Lê Thị Thùy Trang, 2003, trong HRCM, các nhân vật đều ít
được mô tả ngoại hình Thay vào đó là cách mô tả đặc biệt riêng của Sơn Nam: thông qua lời nói, thái độ, hành động Nhưng cái làm nên ấn tượng Sơn Nam nhất trong lòng người đọc là nghệ thuật sử dụng tiếng địa phương Nam Bộ "Đó là cách diễn đạt khéo léo mà không cầu kì, mộc mạc, chân thành, giản dị, dễ hiểu mà không kém mượt mà, không làm mất đi tính thẩm mĩ của văn học" [56, 113]
"Nhiều tác phẩm trong HRCM mang đậm khẩu khí Nam Bộ Ở những tác phẩm
này gần như tác giả đã sao chụp nguyên mẫu ngoài cuộc sống" [56, 116]
Nguyễn Văn Nở và Nguyễn Thị Tuyết Hoa, 2015, cho rằng, "Một trong những yếu tố làm nên sức hấp dẫn trong truyện ngắn của Sơn Nam là cách vận dụng ngôn ngữ của ông, đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ Lớp từ vựng trong phương ngữ Nam Bộ được vận dụng để miêu tả trong truyện ngắn Sơn Nam rất
đa dạng." Theo các tác giả này, " …một số lớp từ sau: lớp từ xưng hô, lớp từ định danh một số động vật, thực vật, lớp từ chỉ đặc điểm địa hình, hiện tượng
Trang 11tự nhiên, lớp từ chỉ vật thể nhân tạo được dùng phổ biến trong cách nói năng của người Nam Bộ Bởi lẽ đây là lớp từ phản ánh trực tiếp đặc điểm vùng đất, cuộc sống lao động sản xuất, nét sinh hoạt văn hóa cùng cách ứng xử trong giao tiếp của người Nam Bộ" [39]
Theo Trần Thị Hạnh, "đặc biệt, Sơn Nam trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ bình dân đã có những bước tiến đáng ghi nhận" [21, 45] và bà lí giải điều đó như sau: "… vẫn là lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ nhưng nó không làm cho người đọc các vùng khác khó hiểu Ông không sử dụng ngôn ngữ quá cũ, mà thông qua giọng điệu, cách ví dụ vẫn thể hiện được cá tính Nam Bộ" [21, 45]
Tóm lại, việc nghiên cứu Sơn Nam trong những năm đầu của thế kỉ đã
có chiều sâu: đi theo hướng thi pháp Các tác giả nghiên cứu dần đi tới được những đồng thuận khi đánh giá nghệ thuật văn chương của ông Từ phương diện xây dựng kết cấu và cốt truyện thì thật ra truyện ngắn Sơn Nam không có những đóng góp thật đặc biệt Tuy nhiên, cái đặc sắc trong các truyện của ông lại nằm ở cách sử dụng sáng tạo vốn từ địa phương, cách đặt tên nhân danh và địa danh độc đáo và lối kể chuyện đượm màu sắc dân gian Chính cái độc đáo này đã đưa Sơn Nam vào một vị trí thật đặc biệt của trong tiến trình văn chương Nam Bộ Gộp các yếu tố này cho dễ gọi trong một danh từ chuyên môn chung hơn, ta có thể nói: đó là sự thành công từ chất liệu khẩu ngữ trong từng sáng tác
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Xác định các yếu tố làm nên cái gọi là chất liệu khẩu ngữ trong HRCM
- Làm rõ đặc điểm phân bố của các yếu tố khẩu ngữ trong HRCM Qua
đó thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học trong một tác phẩm văn chương
- Tìm hiểu bước đầu tác dụng nghệ thuật của các yếu tố khẩu ngữ trong
HRCM
Trang 123.2 Nhiệm vụ
- Xác định đặc điểm cấu trúc khẩu ngữ trong HRCM
- Tìm hiểu tác dụng nghệ thuật của các yếu tố khẩu ngữ trong HRCM
Tìm hiểu các mặt tích cực và hạn chế của yếu tố này trong sáng tạo văn
chương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Một trong những yếu tố tạo nên giá trị nghệ thuật của một tác phẩm văn học là chất liệu ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng Thông thường, chất liệu này là ngôn ngữ chuẩn mực, ngôn ngữ văn chương, nơi hạn chế đến thấp nhất cách sử dụng vốn từ địa phương và cách diễn đạt theo ngôn ngữ nói, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Tuy nhiên tiến trình văn học Việt Nam đã từng được chứng kiến tình trạng có những tác giả dùng ngôn ngữ nói làm phương tiện biểu đạt văn chương Những tác giả này có người thành công nhưng cũng có người chưa thật thành công Chẳng hạn hiện tượng dùng ngôn ngữ nói của Hồ Xuân Hương tạo nên dòng thơ Nôm tuyệt tác trong quá khứ là một ví dụ thành công Còn ở địa hạt văn xuôi thế kỉ XX người ta cũng đã ghi nhận được hàng loạt các tác giả
có nhiều tìm tòi trong sử dụng ngôn ngữ bình dân như Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Văn Bổng, Sơn Nam hoặc các trường hợp Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Tư sau này Để tìm hiểu bí quyết nào giúp nhà văn
sử dụng ngôn ngữ nói trong sáng tác lại gặt hái được thành công, trước hết cần tìm hiểu sự phân bố các yếu tố khẩu ngữ có trong tác phẩm của họ và cách khai thác chúng cho mục đích thẩm mĩ Chúng tôi chọn các tập truyện ngắn của Sơn Nam cho việc tìm hiểu bước đầu này
Tên tuổi của nhà văn Sơn Nam gắn liền với tập truyện HRCM Năm
1962 tập truyện được Nhà xuất bản Phù Sa xuất bản, chỉ gồm 18 truyện, Sau đó
nó được nhiều nhà xuất bản tái bản nhiều lần, cả trước lẫn sau giải phóng Đến
2001 Nhà xuất bản Trẻ nhân khi tái bản đã tập hợp những truyện ngắn khác nữa
Trang 13của ông và xuất bản thêm 2 tập mới Ngoài 18 truyện trước đây, HRCM có thêm 47 truyện ngắn nữa 18 truyện cũ từ 1962 được đặt tên là HRCM, Tập
Một Hai tập tiếp sau là HRCM, Tập Hai và Tập Ba.Tập 2: 26 truyện;Tập Ba:21
truyện Hiện nay dưới tiêu đề HRCM là một tổng tập truyện ngắn dày dặn gồm
65 truyện, gấp hơn 3 lần số truyện xuất bản lần đầu Trong công trình này cả 3
tập HRCM này là ngữ liệu cơ sở dùng cho phân tích các đặc điểm khẩu ngữ mà
nhà văn đã sử dụng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chất khẩu ngữ của HRCM được bộc lộ qua:
a Vốn từ ngữ địa phương
b Cấu trúc cú pháp đặc trưng của ngôn ngữ nói theo phong cách Nam Bộ
Hai yếu tố này sẽ được phân tích trong công trình
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây::
5.1 Phương pháp thống kê: Những yếu tố khẩu ngữ tiêu biểu xuất hiện trong
HRCM được lên danh sách kèm với tần số xuất hiện (TSXH) của chúng Nhờ các phân tích thống kê có thể phát hiện ra dược mức độ sử dụng và hiệu lực
thông tin của chúng trong HRCM
5.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Các yếu tố khẩu ngữ được tập hợp
theo các dạng đơn vị khác nhau có trong hệ thống ngôn ngữ và xem xét nội dung biểu đạt chính của chúng theo phương pháp phân tích ngữ nghĩa ở từng ngữ cảnh có thể
5.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt các yếu tố khẩu ngữ vào văn bản
và các hoàn cảnh cụ thể để xem xét tác dụng của các yếu tố này trong liên kết văn bản và qua đó tìm hiểu các hiệu lực dụng ngôn của chúng
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Ý nghĩa lí luận
Trang 14- Nhằm khẳng định vai trò tích cực của chất liệu khẩu ngữ trong truyện ngắn Sơn Nam, nói riêng và truyện ngắn Việt Nam, nói chung
Trong việc xác định phong cách một tác giả, bên cạnh việc quan tâm đến các yếu tố nghệ thuật liên quan đến xây dựng nhân vật, tính cách nhân vật và phác họa các hoàn cảnh xuất hiện nhân vật, người nghiên cứu cần có cái nhìn chi tiết hơn nữa về chất liệu ngôn ngữ mà nhà văn ưa thích dùng trong sáng tác
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Bước đầu tìm hiểu đặc điểm cấu trúc của cái gọi là chất liệu khẩu ngữ
- Khẳng định vai trò ngôn ngữ cá nhân nhà văn trong sáng tác văn chương
- Giới thiệu thủ pháp phân tích ngôn ngữ cho xác định phong cách
- Góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí của Sơn Nam trong tiến trình truyện ngắn Việt Nam hiện đại
7 Bố cục luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Vốn từ ngữ Nam Bộ trong HRCM
Chương 3: Những lớp từ ngữ đặc biệt
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Dẫn nhập
Như là các khái niệm công cụ cho khảo sát hiện tượng khẩu ngữ trong
HRCM của Sơn Nam, chương này xin trình bày một số khái niệm ngôn ngữ học
và nghiên cứu văn học liên quan trực tiếp với đề tài Đó là các khái niệm ngôn ngữ học về loại hình ngôn ngữ chức năng với tư cách là các hệ thống con trong
hệ thống ngôn ngữ một tộc người và các khái niệm sơ giản về cấu trúc nghệ thuật trong một tác phẩm văn học Chương cũng dành phần còn lại cho giới
thiệu về Sơn Nam và tác phẩm HRCM
1.2 Một số khái niệm ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học
1.2.1 Ngôn ngữ toàn dân
Trong quá trình tộc người, khi hội đủ các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định thi tiếng nói tộc người bước sang giai đoạn phát triển trở thành phương tiện giao tiếp chung cho cả một quốc gia Đến lượt chúng, những tiếng nói trong các vùng dân cư khác nhau trở thành phương ngữ (tiếng địa phương) của quốc gia Cái ngôn ngữ bao trùm lên, được dùng như phương tiện giao tiếp chung giữa các địa phương chính là ngôn ngữ toàn dân của một quốc gia
Mặc dù có những khác biệt nhất định về giọng nói giữa các địa phương, nhưng nòng cốt một ngôn ngữ toàn dân đã được hình thành trên cơ sở vốn từ vựng chung Đó là những từ ngữ được tất cả thành viên nói năng trong một quốc gia hiểu và sử dụng một cách tự nhiên Chúng được dùng theo phong cách trung hòa Đối lập với vốn từ này là các lớp từ được dùng hạn chế như từ địa phương, từ nghề nghiệp, tiếng lóng , thuật ngữ… Vốn từ của ngôn ngữ toàn dân được xây dựng trên lớp từ cơ bản và làm cơ sở thống nhất ngôn ngữ và quốc gia Nó cũng chính là nòng cốt của vốn được sử dụng trong ngôn ngữ văn học, khi tiếng nói của một dân tộc dấn thêm một bước nữa trong tiến trình phát triển của mình để thành một ngôn ngữ thống nhất và được chuẩn hóa
Trang 161.2.2 Tiếng địa phương
Đối lập với ngôn ngữ toàn dân là tiếng địa phương, thứ tiếng nói được dùng hạn chế trong một vùng nhất định Những khác biệt về ngữ âm, từ vựng
và ngữ pháp trong so sánh giữa các vùng miền cho phép tách chia các tiếng địa phương trong cùng một ngôn ngữ Sự khác biệt về ngữ pháp giữa các tiếng địa phương thường ít được bộc lộ hoặc nếu có cũng không gây nên những ấn tượng quá đặc biệt đối với người tiếp nhận Ấn tượng nổi bật là nằm ở các khác biệt
về ngữ âm và từ vựng
Giọng nói cùng những biểu hiện âm thanh khác lạ là đặc điểm dễ nhận ra nhất khi giao tiếp với người ở địa phương khác Đó chính là các biểu hiện về mặt ngữ âm của một tiếng địa phương Những đặc điểm ngữ âm khác biệt này
là biểu hiện bề mặt, còn các đặc điểm âm vị chung cho tất cả các tiếng địa phương của cùng một ngôn ngữ thì được định vị ở cấu trúc sâu, ở tầng nền cấu trúc một ngôn ngữ Chính mối quan hệ này giữa hai tầng cấu trúc đã cho phép những người nói các tiếng địa phương khác nhau vẫn hiểu nhau được Ở cấp độ
từ vựng học, ngoài phần chung vốn từ trong ngôn ngữ toàn dân, mỗi tiếng địa phương đều có những từ ngữ đặc trưng riêng của mình Đó là những thông tin quan trọng về địa lí, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và nhất là về phong tục và tập
quán của một địa phương Theo Dẫn luận ngôn ngữ học, "Từ địa phương là
những từ ngữ dùng hạn chế ở một hoặc vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diển tả lại
đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật” [20; 14] Còn Từ điển giải
thích thuật ngữ ngôn ngữ thì đưa ra một định nghĩa ngắn nhưng tổng quát
hơn:“Từ địa phương không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng đất nhất định Chúng mang sắc thái địa phương Người của địa phương này không hiểu từ của địa phương khác” [62; 399]
Trang 17Về nguyên tắc, nói chung, ở những phong cách viết như hành chính công
vụ, chính luận báo chí hoặc khoa học kĩ thuật thì không thể sử dụng vốn từ địa phương được Tuy nhiên, trong sáng tác văn chương, đôi khi vốn từ địa phương lại có tác dụng quan trọng Nhờ vốn từ địa phương được sử dụng một cách có chọn lọc, nhà văn có thể mô tả và bộc lộ cụ thể và sinh động hệ thống các tính cách nhân vật và những môi trường sống khác nhau của họ
Theo bản chất tín hiệu của từ ngữ, người ta phân vốn từ địa phương thành hai loại: từ địa phương ngữ âm và từ địa phương từ vựng Nếu khác biệt giữa từ địa phương và từ toàn dân chỉ dừng trên bề mặt thì đó là các từ địa
phương ngữ âm Ví dụ thiệt, lịnh, đờn, thiếm… trong tiếng Nam Bộ tương đương với các từ toàn dân như thật, lệnh, đàn, thím …Những tương đương này
là có quy luật Còn khi các từ địa phương không tìm thấy những từ tương ứng
về mặt ngữ âm trong tiếng toàn dân thì đó chính là các từ đặc hữu của địa
phương đó Chúng là các từ địa phương từ vựng như: bần, măng cụt, len trâu,
càm ràm, mẻ ung, nhậu, lé đé…
Trong các trích dẫn sau:
- “Hồi đầu mùa, tao biểu giao trâu cho họ len đi miệt khác kiếm cỏ Mà
mày ngăn cản Bây giờ tới nước này rồi…”[HRCM.1.131]
- “Mày ăn trộm búa nữa hả? Ráng mà đỡ Nè!” [HRCM.1.216]
-“Ghiền rồi hả mậy?”[HRCM.1.140]
Những từ địa phương Nam Bộ được in đậm Trong số này, biểu, nè, ghiền,
mậy là những từ địa phương ngữ âm; còn miệt, ráng là từ địa phương từ vựng
Trong thực tế, từ địa phương ngữ âm luôn chiếm tỉ lệ áp đảo, còn từ từ vựng thì thường có số lượng ít hơn rất nhiều Những từ địa phương từ vựng cung cấp nhiều thông tin về một vùng đất Đó là các từ chỉ những sản vật đặc hữu, lối tư duy và tính cách riêng của một vùng dân cư do điều kiện xã hội-
kinh tế trong tiến trình lịch sử cụ thể đưa lại
Trang 18Khi một nhà nước đã hình thành thì do áp lực hệ thống chữ viết mà các thổ ngữ, phương ngữ dần quy tụ thống nhất vào ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ này, đến lượt nó, do những đòi hỏi ngày càng gay gắt của kinh tế - xã hội tất yếu bị chuẩn mực hóa Đấy là một quá trình diễn ra lâu dài ở cả bình diện cấu trúc lẫn bình diện chức năng Về cấu trúc đó là sự thống nhất giữa các thành viên trong cộng đồng nói năng về hình thức âm thanh của từ, về hệ thống từ vựng và về hệ thống từ pháp và cú pháp Còn về chức năng đó là xuất hiện những quy định bắt buộc sử dụng ngôn ngữ đã chuẩn hóa cho từng khu vực giao tiếp nhất định Những khu vực giao tiếp quen thuộc trước đây bằng ngôn ngữ viết sẽ được ngôn ngữ chuẩn hóa tiếp quản và mở rộng ra tiếp theo yêu cầu của xã hội hiện đại
Theo Trường phái ngôn ngữ học chức năng Praha, ngôn ngữ đã trải qua
quá trình chuẩn hóa như vậy được gọi là ngôn ngữ văn hóa Thuật ngữ này tương đương với thuật ngữ ngôn ngữ văn học ở nước ta quen dùng "Ngôn ngữ
văn học là ngôn ngữ mẫu mực đã được chuẩn hóa, phục vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, và giữ vai trò to lớn trong việc hình thành
và phát triển tư duy, phát triển tâm lí, trí tuệ và toàn bộ hoạt động tinh thần của con người, còn gọi là ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ tiêu chuẩn”[35,127]
Tuy nhiên, thuật ngữ ngôn ngữ văn học, mặt khác, lại trùng với khái niệm "ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học" Để tránh nhầm lẫn, ở đây chung ta tạm gọi đó là ngôn ngữ văn chương
Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học, như màu sắc đối với hội họa,
âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc Trong sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng Ngôn ngữ của tác phẩm văn học chính là ngôn ngữ của đời sống, ngôn ngữ toàn dân đã được nâng đến trình độ nghệ thuật Trong văn chương, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là những tấm gương sáng về mặt hiểu biết về
Trang 19ngôn ngữ của nhân dân Bằng ngôn ngữ, nhà văn cụ thể hóa, vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách nhân vật và cốt truyện Lời M.Gorki
“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với
các sự việc, hiện tượng của cuộc sống là chất liệu văn học.”
Ngôn ngữ hiện thực trong đời sống có những điểm khác biệt quan trọng với ngôn ngữ văn chương Theo M Gorki, ngôn ngữ bình dân là tiếng nói
“nguyên liệu”, còn ngôn ngữ văn chương là thứ tiếng nói đã được nhào luyện tinh xảo Mỗi tác phẩm văn chương đều lấy thực tế làm khuôn mẫu để phản ánh Đó là những cảnh huống con người thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau, nhiều mục đích và phương thức sống khác nhau tồn tại thực trong một xã hội
Để phản ánh được thực tế đa dạng và muôn màu này ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải là phương tiện đa giọng điệu Trong một phương thức phản ánh đặc thù, ngôn ngữ văn chương là kết quả của môt quá trình lao động và học tập không mệt mỏi của nhà văn Nó vừa là kết tinh của truyền thống sử dung ngôn từ của cả dân tộc lại vừa là kết quả sáng tạo của cá nhân của nhà văn Khác với ngôn ngữ trong đời sống thực và cả những dạng ngôn ngữ chức năng khác nhau được dùng trong các phong cách viết, ngôn ngữ văn chương có những đặc trưng riêng sau đây:
1 Biểu cảm
Ngôn ngữ trong các môi trường như luật pháp, nhà nước hay trong ngành nghề, trong khoa học luôn phải khách quan, không phụ thuộc vào tình cảm thái độ của người dùng Đó là thứ ngôn ngữ của công việc, của các thuật ngữ vừa trừu tượng, khái quát vừa trung tính về phong cách Còn ngôn ngữ trong môi trường sáng tạo nghệ thuật thì trước hết là thứ ngôn ngữ có thể nói được thế giới nội tâm của người viết Người viết có rung cảm thật sự trước thế giới hiện thực thì mới nạp đầy nguồn cảm hứng cho sáng tạo Sự rung cảm đó, suy cho cùng, bắt nguồn từ tình cảm thái độ của tác giả trước cuộc sống Do vậy ngôn ngữ văn chương mang tính chủ quan Ngôn ngữ văn học là phương
Trang 20tiện bộc lộ thế giới quan người viết, thế giới tâm hồn của anh ta và đậm đặc cá tính riêng có của nhà văn Và trên hết đó là thứ ngôn ngữ của tình cảm
Các hình tượng văn học, hệ thống tính cách nhân vật được mô tả một cách nhân văn, cụ thể, cần là những sản phẩm độc đáo, không vay mượn, do chính người viết tạo dựng Chúng có sứ mệnh tác động mạnh mẽ đến người đọc
và kêu gọi sự cảm thông, rung cảm của người đọc trước những số phận, hoàn cảnh nhân vật mà một tác phẩm xây dựng nên Để có sức mạnh truyền cảm, sức lan tỏa như vậy, nhà văn phải chọn được chất liệu ngôn ngữ phù hợp: ngôn ngữ biểu cảm
2 Hình tượng
Triết học, chính trị, khoa học là khu vực làm việc với các khái niệm được
xã hội quy định một cách chuẩn xác vì yêu cầu của các giao tiếp ở những khu vực này là yêu cầu về thông tin trí tuệ Những khái niệm được thể hiện qua các thuật ngữ khoa học, đảm bảo mối quan hệ 1 đối 1 giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Những hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, đồng nghĩa, những lối nói ví von so sánh hoặc các biện pháp ẩn dụ hóa trong giao tiếp bằng thuật ngữ, do vậy, bị loại trừ Nhưng do vậy, nó cũng loại trừ luôn cả tính biểu cảm ẩn chứa trong từng từ ngữ Thay vào đó là tính trừu tượng và khách quan hóa cao độ của phương tiện giao tiếp
Ngược lại trong văn chương, ngôn ngữ có đích là để tạo nên một không gian thẩm mĩ cho việc tiếp thụ của người đọc Ngôn ngữ được lựa chọn do vậy phải đầy màu sắc, đa dạng về hình ảnh và đa thanh Nhờ khắc họa các tính cách nhân vật một cách cụ thể và chi tiết mà nhà văn đưa đến cho người đọc các khía cạnh khác nhau của chủ đề và tìm cách để thuyết phục được người đọc Trong văn chương, phương thức sáng tạo riêng đó chính là nhờ vào hệ thống các hình tượng Chẳng hạn, để mô tả khách quan và lô gic sự cố khô hạn kéo dài, báo cáo công vụ đưa các số liệu về ngày mưa/ không mưa, số lượng hồ trữ nước đã cạn trong một địa phương Còn trong văn chương, thay vì các số liệu, nhà văn
Trang 21dùng ngôn ngữ để hình tượng hóa Chẳng hạn như dòng thơ sau đây của Xuân
Diệu: "Con đỉa vắt qua mô đất chết " Hình tượng con đỉa, sinh vật sống dai
dẳng nhất, bất chấp mọi khắc nghiệt đời sống, khi bò qua mô đất khô hạn cũng
bị vắt khô theo Lời nói có hình tượng đạt tới giá trị thẩm mĩ cao, vì đó mới là cái đích của văn chương Do phải phản ánh hiện thực theo cách của hình tượng, nên tư duy của nhà văn cũng phải là tư duy hình tượng và ngôn ngữ mà họ dùng cũng phải là ngôn ngữ hình tượng
Chế Lan Viên trong Trời đã lạnh rồi, khi khắc họa cảnh cuối thu, viết:
"Roi trên cành chừng đã đi qua
Chen lá lục quả bàng vàng đã chín
Cỏ có dễ mềm hơn vì sương sớm
Cúc bên đường nghiêng những giọt sương hoa"
Đoạn này cảnh ngụ tình, vì nó nhắc những cảnh trí mà tác giả và người
vợ trẻ đã từng lưu khắc nhiều kỉ niệm lứa đôi Trong đó có trái roi, trái bàng, có khóm cỏ, bông cúc cùng những giọt sương đầu mùa là những sản vật, những chi tiết quen thuộc đất trời Miền Bắc khi sắp sang đông Tác giả khéo chọn những màu sắc đứng cạnh nhau, trong đó màu vàng được tôn lên thành màu chủ đạo, vừa gợi mùa thu vừa ngụ ý về biệt li, xa vắng Tác giả dùng các từ
chừng, có dễ mô tả chính xác nhận cảm của mình về cảnh chuyển mùa Thật
gượng nhẹ và tinh tế Những từ ngữ trong cả đoạn thơ hợp với tư duy hình
Trang 22tượng Và để đạt được điều đó, từ ngữ phải thật chính xác và hợp lí cả về lượng lẫn chất
4 Đa thanh
Ngôn ngữ văn chương không đơn điệu mà đa thanh vì thực tế khách quan muôn hình, muôn vẻ Văn chương qua các lớp lang hình tượng phải bộc
lộ được tính đa dạng và phong phú đó Hệ thống hình tượng được biểu lộ qua
hệ thống tính cách nhân vật Mỗi nhân vật do hoàn cảnh xuất thân, tuổi tác, giới tính và đặc điểm thụ đắc ngôn ngữ không như nhau nên ngôn ngữ mà họ dùng cũng không thể cùng là một ngôn ngữ được Đó là các giọng nói, ngôn ngữ cá nhân mà nhà văn phải có nhiệm vụ phản ánh trung thực trong tác phẩm của mình Nhà văn hiểu rằng, ngôn ngữ nhân vật cũng là một bộ phận quan trọng không tách rời của tính cách nhân vật Hệ thống từ ngữ mà tác giả sử dụng, do vậy, biểu lộ những giọng điệu khác nhau, của các tính cách khác nhau, ở những tầng lớp xã hội, ở những vùng miền khác nhau
Ở những phong cách viết khác, người viết phải tuân theo đặc điểm hành chức của hệ thống ngôn ngữ chuyên ngành Đó là lớp từ chuyên dùng cho một chuyên ngành và đã được chuẩn hóa Các yếu tố khẩu ngữ, tiếng địa phương, các từ thông tục, quán ngữ thậm chí cả những yếu tố dân gian đầy trí tuệ và hấp dẫn như các thành ngữ, tục ngữ cũng không có cơ hội xuất hiện trong các văn bản "đã được làm sạch" này Nếu không, văn bản được viết nên sẽ vi phạm nguyên tắc chuẩn mực hóa của chính ngôn ngữ đang được sử dụng
1.2.4 Khẩu ngữ
Hai hình thức truyền tải ngôn ngữ, âm thanh và chữ viết, tạo nên hai dạng ngôn ngữ chính của một ngôn ngữ Đó là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Chúng khác nhau cả về hình thức lẫn mục đích sử dụng Nếu ngôn ngữ nói thường được dùng cho giao tiếp thường nhật vì ưu thế chuẩn bị và đáp ứng nhanh thì ngôn ngữ viết lại được tận dụng trong giao tiếp "chính thức" vì có các
ưu thế:
Trang 23- Có thể khắc phục được các rào cản không, thời gian mà giao tiếp âm thanh không thể vượt qua
- Người phát và người nhận có thời gian chuẩn bị và giải mã thông điệp Không nhất thiết họ phải phản ứng tức thì như trong giao tiếp trực tiếp qua âm thanh
Dạng phổ biến nhất của ngôn ngữ viết là ngôn ngữ sách vở, còn của
ngôn ngữ nói là khẩu ngữ Theo Từ điển tiếng Việt, khẩu ngữ "là dạng lời nói
thường, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có phong cách đối lập với phong cách viết” [60, 196] "Đó là một hệ thống kí hiệu có thể được thể hiện bằng âm thanh và có chức năng đáp lại một kích thích tố hữu quan (thường đòi hỏi phản ứng ngay lúc ấy) một cách năng động, tức là sự phản ứng phải hoàn chỉnh và nêu rõ mặt cảm xúc cũng như nội dung của các sự kiện hữu quan" [60, 70]
Ngay trước công nguyên, vấn đề khẩu ngữ đã được nhắc tới khi Virgile đưa ra mô hình bánh xe (bánh xe phong cách Virgile) nhằm phân loại các dạng lời nói Theo Virgile, lời nói cụ thể tùy theo mục đích và môi trường sử dụng
mà được xếp vào một trong ba phong cách: cao quý (acrolect) như lời nói thi
ca, các anh hùng ca; trung bình (mesolect) như lời nói trong giao tiếp, nhất là giữa những nông dân; hoặc thấp kém (basilect) như lời nói trong giao tiếp đời thường Phong cách thấp kém ngụ ý lời nói không liên quan với những điều cao
quý, cao thượng mà chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu giao tiếp thường nhật mà dưới con mắt thi nhân là những lời "tầm thường", không ý vị
Tiếp nối ý tưởng này, nhưng tinh tế và khoa học hơn, vào giữa thế kỉ
XX, Trường phái ngôn ngữ học Praha đưa ra quan niệm về tầng chức năng ngôn ngữ Theo họ, tầng chức năng phản ánh nhu cầu con người trong giao tiếp
và vì vậy không có phẩm chất cao quý hay tầm thường tự thân trong các tầng chức năng Mỗi một chức năng hóa thân thành một phong cách và lời nói chính
là biểu hiện cụ thể của phong cách đó Các tầng chức năng càng mở rộng và phát triển thì ngôn ngữ càng phong phú và càng có cơ sở vững chắc làm nảy
Trang 24sinh các dạng ngôn ngữ khác nhau Trong các dạng lời nói của một ngôn ngữ,
đáng quan tâm nhất là: ngôn ngữ viết (ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ văn học) và
ngôn ngữ nói (khẩu ngữ, ngôn ngữ thông tục)
Khẩu ngữ, bao hàm hai thuộc tính:
- Về mặt vật lí: được bộc lộ bằng âm thanh
- Về mặt chức năng: dùng trong giao tiếp đời thường
Những từ ngữ có trong khẩu ngữ thường trực trong vốn từ của người nói
và xuất hiện ngay tức thì khi người nói cần huy động để đáp ứng hay đưa ra các thông điệp trong trao đổi bằng lời Nói cách khác, các từ ngữ thuộc về khẩu ngữ là các cấu trúc ngôn ngữ tự nhiên nhất Chúng được thu nạp không qua con đường học vấn mà qua tích lũy kinh nghiệm trong giao tiếp tự nhiên Chúng có trong vốn từ tối thiểu của mọi thành viên cộng đồng nhằm đảm bảo nhu cầu giao tiếp thiết yếu, mang tính liên nhân của họ Chính vì nguồn gốc tự nhiên nên các từ ngữ thuộc khu vực khẩu ngữ thường giàu hình ảnh và biểu cảm
Chính nhờ mô tả bằng khẩu ngữ mà cảnh và người ở vùng đất phương Nam, tâm trạng và cảnh ngộ của những người con xa xứ thời mở đất khi còn
"muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh" được bộc lộ ra một cách
trực tiếp và tự nhiên Chất liệu này được thể hiện rõ nhất qua lối diễn đạt không màu mè kiểu cách, đặc "dân quê", và qua sự điểm xuyết khéo léo những thành ngữ, tục ngữ hàm chứa những triết lí dân gian thường thấy trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Nam Bộ Có thể nói HRCM đã tập hợp được tương đối đầy đủ các không gian điển hình cho khung cảnh sống của người Nam Bộ
Đó là những khung cảnh đơn sơ từ nông thôn tới đô thị, từ ruộng đồng tới sông nước, từ xóm ấp tới chợ búa, từ sinh hoạt hàng ngày đến các tụ họp thưởng thức nghệ thuật hoặc các sinh hoạt tập thể, mang tính cộng đồng Bất kì không gian nào trong tập truyện cũng đều khá đặc biệt và thấm đẫm chất Nam Bộ Sơn Nam khi thì dùng bút pháp ước lệ, tượng trưng, khi thì dùng cách mô tả hiện thực để khắc họa những cảnh trí đặc biệt này Đi với bút pháp ước lệ,
Trang 25tượng trưng, ngôn ngữ được chọn ít nhấn nhá và đặc biệt là thường trở về với ngôn ngữ toàn dân, ít cảm xúc hơn Chẳng hạn như cảnh tiến vào rừng sâu của
người ăn ong trong truyện Hương rừng: "Xuồng dừng lại giây lát nghỉ trưa rồi
mái dầm lại tiếp tục khoát dòng nước đỏ ngòm, tuy chảy mạnh nhưng tứ bề gió
khuất nên không gợn sóng Đôi bờ quanh co, hoa lá nghiêng mình, giao đầu, bắt tay nhau che kín bóng mặt trời
Trong đoạn trích, vốn từ địa phương thật nghèo nàn Các diễn đạt được xây dựng trên các kết hợp cú pháp chuẩn mực của văn viết; không dùng cách nói của khẩu ngữ Có lẽ do vậy mà đoạn tả trên mặc dù có nhiều hình ảnh đẹp nhưng không lạ và ít gây được xúc cảm đặc biệt cho người đọc Nó giống một đoạn văn tả cảnh thông thường hay gặp trong các tác phẩm ưa dùng ngôn ngữ văn chương, chuẩn hóa
Sơn Nam thật tung tẩy khi trở về được khẩu khí quen thuộc của mình: lối nói bình dân Đó là cách nói tận dụng khẩu ngữ Nam Bộ Khung cảnh được phác họa mặc dù đơn sơ, nhưng thật sống động Và với cung cách đó, phong cách Sơn Nam mới đặc biệt được tạo ra
Có nguồn gốc từ trạng thái cổ xưa, khi ngôn ngữ mới chỉ có dạng biểu đạt là âm thanh, nên mối quan hệ giữa hình thức và nội dung (giữa âm thanh và
ý nghĩa) của vốn từ ngữ này thường đơn giản và tự nhiên Từ phía người tiếp nhận, quá trình giải thuyết nghĩa diễn ngôn bằng khẩu ngữ lệ thuộc sâu sắc vào các đặc điểm ngữ cảnh và ngữ điệu mà người nói sử dụng Để phù hợp cao nhất với các ngữ cảnh mà nó xuất hiện, từ ngữ thuộc lớp khẩu ngữ thường được cấu trúc lỏng lẻo hơn so với cấu trúc từ ngữ trong ngôn ngữ viết Đó là những cấu trúc dễ biến đổi và khá linh hoạt, tạo nhiều "đất' cho thể hiện ngữ điệu đi kèm Trong lời nói hàng ngày người nói có thể chèn yếu tố phụ hoặc cải biến cấu trúc để từ một cấu trúc từ ngữ ổn định, chuẩn mực thành những dạng cấu trúc lỏng hơn, dễ thể hiện các cảm xúc theo ngữ điệu phù hợp hơn:
Trang 26chính thức không bao giờ được phép xuất hiện Chẳng hạn như đ mẹ, mẹ kiếp,
nước mẹ gì, khốn kiếp… Lớp từ khẩu ngữ hoàn toàn khu biệt với ngôn ngữ gọt
giũa, gia công trong ngôn ngữ viết Sự khác biệt này được ngôn ngữ học xã hội gọi là sự đối lập giữa vốn từ thuộc giao tiếp chính thức/ phi chính thức
Cách chêm xen hư từ, từ đệm hoặc cách nói lặp yếu tố, cấu trúc cú pháp cũng là đặc trưng của cú pháp khẩu ngữ Đó là chiến lược nói năng phù hợp với
lối giao tiếp vẫn diễn ra hàng ngày: “ vừa nói vừa nghĩ”, "vừa nói vừa thăm dò"
Ví dụ:
"Ông Tư tằng hắng rồi bắt đầu vào chuyện:
- Nói gì bây giờ? Thôi thì nói chuyện sự tích câu hát…"[HRCM, 3, 213]
"Ông Năm hỏi:
Trang 27- Có khó gì đâu Nhưng … mà khó lắm!" [HRCM.1.92]
Để tăng lực tác động của lời với người nghe, trong khẩu ngữ, người nói còn thường sử dụng :
- so sánh, ví von Ví dụ:
"Cái việc hò hát cũng như cái việc luộc thịt heo vậy Ai làm cũng được
Cách thức dễ ợt Nhưng mà công phu lắm." [HRCMM.1.93]
- khuếch đại, khoa trương mà cơ sở của nó là tận dụng thành ngữ, quán
ngữ như: run như cầy sấy đen như cột nhà cháy, nắng như thiêu như đốt, trắng
như ngó sen…như câu đáp của ông khách ông Cả, bà Cả "từ mạn trên xuống"
trong đoạn thoại sau:
sử dụng trong giao tiếp hàng ngày Chúng có tần suất cao, được sử dụng một cách
tự nhiên, quen thuộc với mọi tầng lớp trong một cộng đồng nói năng
Theo Trường phái Praha, các thuộc tính này thường tác dụng đồng thời khi nhận diện một lời nói Nhưng có khi chúng tác động "lệch pha" nhau thì đưa đến những sản phẩm lời nói đặc biệt, chẳng hạn như những trao đổi thư từ giữa các cá nhân hay những phát biểu trước đám đông, hoặc bài giảng trên lớp học…Do đó, không thể dựa vào biểu hiện vật chất để xác định bản chất dạng ngôn ngữ của lời nói Cái có tác dụng quyết định trong phân loại ở đây là mục đích và tính chất của một hoạt động giao tiếp Chính chức năng giao tiếp đã
Trang 28quyết định bản chất của lời nói Khi lời nói được dùng vào việc trao đổi cá nhân, mang tính đời thường trong đời sống mỗi cá nhân thì nó thuộc về phong cách sinh hoạt hay đời thường và lời nói phù hợp nhất là ngôn ngữ phi chính
thức, lời nói thông tục, hay gọn hơn là khẩu ngữ Còn khi ngôn ngữ dùng trong
những giao tiếp cộng đồng thì lời nói thuộc về những phong cách "bậc cao" như hành chính công vụ, phổ biến kiến thức hoặc sáng tác văn chương Và dạng lời nói thích hợp nhất với những phong cách này là ngôn ngữ chính thức,
ngôn ngữ chuẩn mực, hay còn gọi là ngôn ngữ văn học
Trong tác phẩm văn học tồn tại nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau từ
trang trọng, đài các tới giản dị, bình dân Người nghệ sĩ tùy theo cái tạng và tùy
theo trường hợp mà lựa chọn hệ thống ngôn ngữ cho phù hợp Trong các tác phẩm văn chương hiện đại khẩu ngữ có một vị trí rất đặc biệt Khẩu ngữ làm nên màu sắc khó lẫn của những đối thoại giữa các nhân vật, tạo nên cái hồn cho mỗi tác phẩm.Văn xuôi thông thường là môi trường thuận lợi cho việc sử dụng khẩu ngữ Văn xuôi sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày, ngôn ngữ sinh động như đúng như nó đang diễn tiến để làm chất liệu xây dựng tác phẩm Đó là một hiện tượng rất điển hình trong thời hiện đại Tuy nhiên, hiện tượng này khó có thể quan sát được trong thi ca truyền thống nước ta Thi ca truyền thống chịu sự quy định của hệ thống thi pháp trung đại - coi hệ thống ngôn ngữ là bất biến, là
đã được đặt khuôn thước sẵn Đó là thứ ngôn ngữ công thức, ước lệ tượng trưng, sùng cổ và nệ cổ, uyên bác và được cách điệu hóa Một lí do quan trọng khác nữa là lực lượng sáng tác cũng như tiếp nhận thi ca truyền thống chủ yếu tập trung vào tầng lớp trên, tầng lớp “có chữ” của xã hội Đối với họ, ngôn ngữ bình dân là thấp kém và xa lạ với các cảm nhận thẩm mĩ của họ
Chỉ từ sau thế kỷ XV, khẩu ngữ mới bắt đầu có vai trò nhất định trong sáng tác văn chương Đó là các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, và nhiều tác phẩm thơ Nôm khuyết danh.Việc đưa khẩu ngữ vào
Trang 29áng tác đã làm tác phẩm văn học gần gũi, dễ hiểu hơn với người đọc Do vậy dễ lan truyền và phổ biến hơn văn chương bác học thời kì trước đó
Các nhà văn lớn luôn luôn chú ý khai thác vốn ngôn ngữ dân gian để vươn tới sự gần gũi với hiện thực Đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ nhân vật càng gần thực thế giao tiếp ngôn ngữ hàng ngày bao nhiêu, người ta càng thấy nhân vật đó thật bấy nhiêu Ngôn ngữ của người lao động khác ngôn ngữ của trí thức, của nông dân khác của công nhân, của những người bình thường trong xã hội khác với của giới giang hồ
Các tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự do nhu cầu miêu tả hiện thực chân thực, sống động cho phép giữ nguyên sự có mặt của các đơn vị từ vựng khẩu ngữ trong lời thoại của nhân vật Vì vậy, các đoạn thoại là nơi chứa đựng lớn nhất các hình thức khẩu ngữ Các truyện ngắn thuộc trường phái miêu tả hiện thực thường rất chú ý tới khả năng biểu đạt của các đơn vị từ vựng khẩu ngữ, vì thế tần số sử dụng các đơn vị này là rất cao, đặc biệt trong các tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn lớn, trang nào của họ hầu như cũng có vài từ khẩu ngữ Các từ này không chỉ nằm trong các đoạn thoại mà còn có cả trong các đoạn văn miêu tả, nhằm biểu thị thái độ riêng của nhà văn và đạt đến mục đích gây ấn tượng ở người đọc Thông qua sự tồn tại của những đơn vị khẩu ngữ trong các loại hình văn học nghệ thuật mà giá trị của những đơn vị đó đã được củng cố Chúng có cơ hội tồn tại lâu dài và một cách có ý nghĩa nhất ngay trong hình thức ngôn ngữ luôn được xã hội coi trọng là ngôn ngữ viết Có thể nói, ngôn ngữ quần chúng là kho của cải vô giá, là nguồn bổ sung vô tận cho nhà văn trong sáng tác tác phẩm Bởi hơn ai hết, nhân dân chính là người thầy lớn
về ngôn ngữ, và chính là những người lao động trực tiếp là những người có lối nói rất sáng tạo Trong mưu kế sinh nhai, trong công việc làm ăn vật lộn với đất
với trời, “ ngôn ngữ của họ cũng sinh động theo công việc, biến đổi và luôn
sáng tạo” [14,99]
1.2.5 Chủ đề
Trang 30Sự thôi thúc từ bên trong tạo động lực cho tác giả sáng tạo nên những tác phẩm văn chương Những thôi thúc này trong lí thuyết nghệ thuật học được gọi
là những động lực tinh thần của một tác phẩm Một tác phẩm ra đời luôn nhắm tới một vấn đề gì đó mang tính triết học, đạo đức hoặc ý thức hệ mà đối với người viết hoặc cả xã hội đang là vấn đề bức bối nhất Khác với tư tưởng và nội dung chính hàm chứa trong một công trình khoa học hay một luận đề kinh tế -
xã hội, chủ đề văn chương trong một tác phẩm luôn luôn được tiếp cận một cách có nghệ thuật Từ hệ thống đề tài cụ thể đến hệ thống nhân vật, các hoàn cảnh điển hình sản sinh ra các tính cách nhân vật, chủ đề tác phẩm được bộc lộ
ra Tác giả không phát biểu trực tiếp về chủ đề mà nhường quyền đó cho các nhân vật và số phận của họ trong tác phẩm
1.2.6 Chi tiết nghệ thuật
Các chi tiết trong một tác phẩm văn chương luôn hàm chứa các tiềm năng bộc lộ về cảm xúc và tư tưởng Tùy theo sự biểu hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích làm xác minh cấu tứ nghệ thuật của nhà văn trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm Hình tượng nghệ thuật cụ thể, gợi cảm và sống động là nhờ các chi tiết về môi trường, phong cảnh, về cử chỉ, phản ứng nội tâm, hành vi lời nói Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, với truyền thống văn hóa nghệ thuật nhất định Trong tác phẩm có chi tiết nghệ thuật chỉ đóng vai trò vật liệu xây dựng, làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp
lí, nhưng cũng có những chi tiết nghệ thuật thể hiện tập trung cho cấu tứ của tác giả Các chi tiết nghệ thuật này thường được tác giả nhấn mạnh, tô đậm, lặp lại thông qua hàng loạt các biện pháp nghệ thuật khác nhau Trong truyện ngắn
"Miễu Bà Chúa Xứ" chi tiết: "đứa bé chăn trâu thuở trước là ông Tư Đạt ở Gò
Mả Lạn buổi này" [HRCM.1.124] được tác giả làm như vô tình nhắc đến là một
chi tiết nghệ thuật đắt giá, bởi vì nó làm cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy
hơn: ông Tư Đạt là nhân chứng duy nhất còn sót lại trong vụ càn "đêm mùng
Trang 31bảy tháng chạp" năm xưa của lính Pháp Hay trong "Cô Út về rừng", chi tiết
"muỗi kêu như sáo thổi" ở miệt Cạnh Đền rốt cuộc lại là chi tiết nghệ thuật qua
trả lời của vợ chồng anh hàng xóm cô Út với ông bà Cả:
"- Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm Chạng vạng là cả nhà, vợ chồng con cái
rúc vô mùng…nói chuyện Ít ai đi đâu
Ai nấy phá lên cười to Đến lúc bấy giờ, ông Cảbà Cả mới hiểu thêm một
sự bí mật quan trọng của tiếng "muỗi kêu như sáo thổi" ở Cạnh Đền Nó làm hại sức khỏe con người Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi" [HRCM.1.116]
1.2.7 Hình tượng nhân vật
Hình tượng nhân vật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện
và cải tạo hiện thực theo quy luật của hiện thực Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là
để nhận thức, và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm của mình giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Nhưng khác với các nhà khoa học, người nghệ sĩ- nhà văn không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niêm trừu tượng, bằng công lí, công thức, mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng của xã hội đáng để ta suy ngẫm về tính cách và số phận về tình đời, tình người thông qua nhân vật điển hình
Như vậy, hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật, đó là hình tượng con người với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải là sao chép y nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nhà văn, sao cho các hình tượng truyền được tới độc giả
ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nhà văn day dứt trăn trở Hình tượng nghệ thuật
Trang 32vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được của một loại người hay môt quá trình đời sống theo quan niệm của nhà văn Hình tượng nghệ thuật không chỉ phản ánh các khách thể thực tại từ nó, mà phản ánh toàn bộ mối quan hệ sống động giữa chủ thể và khách thể Người đọc không chỉ thưởng thức bức tranh hiện thực, mà còn thưởng thức cả nét vẽ, màu sắc, nụ cười, sự suy tư ẩn đằng sau bức tranh hiện thực ấy
Như vậy, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình cảm, hiện thực và lí tưởng… Và chính vì thế hình tượng còn là mối quan hê xã hội - thẩm
mĩ vô cùng phức tạp Trước hết là quan hệ giữa các yếu tố và chỉnh thể của bức tranh đời sống đươc tái hiên qua hình tượng Tiếp theo là quan hệ giữa thế giới nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh.Về phương diện này, hình tượng không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó để tạo ra một thế giới mới, chưa từng
có trong hiện thực Đó là quan hệ giữa tác giả với hình tượng, với cuộc sống, nhân vật trong tác phẩm Một mặt hình tượng là hình thức, là kí hiệu của một tư tưởng, tình cảm Mặt khác, nó chính là nội dung, là sản phẩm sáng tạo của nhà văn Có cuộc sống riêng, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của ai Và cuối cùng là mối quan hệ giữa tác giả và, tác phăm với công chúng nghệ thuật, giữa hình tượng với ngôn ngữ của một nền văn hóa
Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một chất liệu riêng biệt để xây dựng hình tượng Chất liệu của hội họa là đường nét,màu sắc, của kiến trúc là mảng khối, của âm nhạc là giai điệu, âm thanh Còn văn học lấy ngôn từ là chất liệu Hình tượng nghê thuật là là hình tượng ngôn từ
1.3 Nhà văn Sơn Nam và Hương rừng Cà Mau
1.3.1 Nhà văn Sơn Nam
Ông tên thật là Phạm Minh Tài sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926, tại làng Đông Thái, quận An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Đông Thái, huyện An
Trang 33Biên, tỉnh Kiên Giang) Do sự nhầm lẫn của nhân viên hộ tịch, tên khai sinh của ông bị viết sai thành Phạm Minh Tày Ông qua đời vào ngày 13 tháng
8 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thuở nhỏ ông học tiểu học tại quê nhà, rồi học trung học tại Cần Thơ Năm 1945, ông tham gia Thanh niên Tiền phong, giành lấy chính quyền ở địa phương, rồi lần lượt tham gia công tác ở Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh, phòng Chính trị Quân khu, phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ Bút danh Sơn Nam ra đời trong thời gian này, để tưởng nhớ người phụ nữ Khơ
Me đã cho ông bú mớm thời thơ ấu (Sơn là một họ lớn của người Khơ Me, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam) Sau Hiệp định Genève 1954,
ông về lại Rạch Giá Năm 1955, ông lên Sài Gòn cộng tác với các báo: Nhân
loại, Công Lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống Năm 1960-1961, bị chính
quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam ở nhà lao Phú Lợi (Thủ Dầu Một, Bình Dương) Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn và khảo cứu về Nam Bộ Sau
1975, ông tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
Nhà văn Sơn Nam đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn, ông được nhiều người gọi yêu là "ông già Nam Bộ", "ông già Ba Tri", "ông già đi bộ’, "pho từ điển sống về miền Nam" hay là "nhà Nam Bộ học" Các sáng tác của ông giúp ích trên nhiều phương diện như: lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội nghệ thuật, ngôn ngữ… Hơn 60 năm cầm bút và để lại gồm 50 đầu sách, ông xứng đáng là niềm tự hào của vùng đất châu thổ sông Cửu Long Về những cống hiến của Sơn Nam
1.3.2 Hương rừng Cà Mau
Sơn Nam sáng tác theo nhiều thể loại khác nhau, nhưng thành công nhất
là ở thể loại truyện ngắn Theo ông "Truyện ngắn phải viết linh hoạt, khó che
giấu tư tưởng của mình, độc giả thẳng thắn phê bình nó với cái giọng sổ toẹt:
vô duyên, truyện này chẳng có cái gì cả! Viêt truyện ngắn, phải vận dụng nội
Trang 34lực nhằm toát lên cái phong thái nô đùa, thong dong, thậm chí ngây ngô, nhưng là cái ngây ngô khổ luyện, có định hướng" [HRCM.3 6]
Tác phẩm gồm những mẩu truyện ký viết về những mảnh đời thường của đất, của nước, của rừng, của ruộng và của những số phận con người tưởng chừng rất tầm thường, nhưng dưới ngòi bút của nhà văn Sơn Nam đã vụt hiện thành những điểm sáng, lấp lánh trên bức tranh sơn thủy của miền cực Nam Tổ Quốc Với cách viết độc đáo, đặc biệt, cách tận dụng khẩu ngữ như chất liệu
chính trong sáng tác, ông đã đưa HRCM lên tầm cao mới của ngôn ngữ văn học
Nam Bộ
Bên cạnh đó HRCM còn là nơi bộc lộ ngôn ngữ dân dã giàu sức biểu cảm, ông đã từng nói “ Không phải cứ ghi âm lại cuộc nói chuyện của người
Nam Bộ là thành văn chương được đâu ” Văn chương Nam Bộ có một nét
đặc trưng riêng, đó là thứ văn chương gần với ngôn ngữ nói, không nặng trau chuốt mặn mà để làm mất đi vẻ đẹp đời thường và nó còn có những góc cạnh của nó Do đó ngôn ngữ được Sơn Nam thể hiện trong tập truyện vừa dân dã vừa mang tính biểu cảm y như tính cách của con người Nam Bộ vậy Ông sử dụng một khối lượng đồ sộ ngôn ngữ Nam Bộ dân dã mà ta có thể bắt gặp ở bất
cứ trang truyện nào: Kinh, rạch, bả, ổng, thiếm, mần, miệt đới Có thể nói, tập truyện HRCM bằng tất cả giọng văn chân tình, nhẹ nhàng, đa dạng nhưng nổi
bật nét đẹp xưa bình dị của người Nam Bộ Do vậy, tìm hiểu về giá trị của khẩu ngữ được sử dụng trong tập truyện này để thấy được sự gần gũi, mộc mạc của lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng không mất đi tính nghệ thuât, chất văn trong sáng tác của nhà văn Sơn Nam
Ngày nay, cho dù thế giới văn chương hiện lên muôn màu, muôn vẻ, nhưng trong lòng bạn đọc yêu văn chương khi nghĩ về nhà văn Sơn Nam vẫn
lưu giữ hình ảnh một nhà văn đặc biệt quê mùa, theo lối bác Hai Lúa Nam Bộ
1.4 Tiểu kết
Trang 35Theo tiến trình tự thân một ngôn ngữ, tiếng nói của cư dân từng khu vực địa lí trong một quốc gia sẽ hội tụ lại và chung sức dựng nên ngôn ngữ toàn dân Khi đã hình thành một ngôn ngữ toàn dân thì xuất hiện thế đối cực giữa phương ngữ và tiếng phổ thông (toàn dân) Ngôn ngữ toàn dân phát triển đáp ứng nhu cầu thống nhất quốc gia bên trong một xã hội hiện đại sẽ bước sang giai đoạn chuẩn mực hóa Chính quá trình chuẩn mực hóa này mà ngôn ngữ được phân thân, ra thành nhiều ngôn ngữ chức năng đáp ứng nhu cầu giao tiếp
đa dạng và tinh tế của xã hội Trong các tầng ngôn ngữ chức năng đáng quan tâm ở đây là ngôn ngữ văn chương Do đặc thù là sáng tạo bằng hình tượng và vươn lên giá trị thẩm mĩ của cộng đồng và nhân loại nên ngôn ngữ văn chương không bị phân lập cao như những tầng ngôn ngữ chức năng khác, Để đảm bảo vai trò riêng của mình, ngôn ngữ văn chương có các đặc trưng quan trọng như: hình tượng, chính xác, biểu cảm và đa thanh Đây chính là lí do tại sao mặc dù là kết quả của quá trình chuẩn hóa nghiệt ngã nhưng ngôn ngữ văn chương lại bao chứa được cả các yếu tố “tiêu cực” như khẩu ngữ, biệt ngữ, tiếng địa phương…
Mỗi một tác phẩm văn chương đều có hệ thống chủ đề, hệ thống hình tượng riêng của mình Để khắc họa tính cách nhân vật, nhà văn ngoài việc huy động các kĩ thuật viết văn còn phải có khả năng chọn lựa chất liệu ngôn ngữ phù hợp với chủ đề và hệ thống hình tượng của tác phẩm Trong sự huy động chất liệu ngôn ngữ cho sáng tác, không loại trừ khả năng nhà văn tận dụng chất liệu khẩu ngữ và tiếng địa phương cho sáng tác phẩm của mình Vấn đề là mặc
dù chọn những yếu tố "tiêu cực" của quá trình chuẩn hóa làm chất liệu sáng tác nhưng nhà văn đã không dùng chất liệu này một cách tự nhiên chủ nghĩa mà có tính toán trong thiết kế sao cho vừa phát huy được thế mạnh của nó lại vừa không phương hại đến quyền lợi độc giả
HRCM của Sơn Nam được chọn làm đề tài do vị trí khá đặc biệt của nó
trong tiến trình văn học Nam Bộ Sơn Nam là một tác giả có tuyên ngôn thẳng
thắn về phong cách "viết như nói" của mình Điều mấu chốt làm nên điểm độc
Trang 36sáng của tập truyện là cách huy động vốn từ địa phương, cách gọi tên người, tên đất cùng hàng loạt các lối nói đặc trưng của người Nam Bộ mà ông đã khéo léo đưa vào tác phẩm Thành công lớn nhất của tác giả trong tập truyện là sử dụng sáng tạo khẩu ngữ Nam Bộ trong tạo dựng hệ thống nhân vật mang tính
cách Nam Bộ
Trang 37Chương 2 TÍNH KHẨU NGỮ THỂ HIỆN TRONG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG 2.1 Dẫn nhập
Ở Thay lời tựa trong tập 1, HRCM, Sơn Nam từng viết:
… Hơi Vọng Cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò … ơ theo nước chảy, chan hòa
Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…
Những ray rứt ấy theo ông suốt cả đời và thực tế đã góp phần dựng nên
một văn phong "rặt Nam Bộ" Theo Huỳnh Công Tín, trong bài viết mừng
thượng thọ nhà văn (2006), "đó là một thứ văn chương gần với ngôn ngữ nói,
không nặng trau chuốt mượt mà để làm mất đi bản sắc đời thường, với những
"góc cạnh" của nó" [53]
Theo chúng tôi, cụ thể trong HRCM, để trung thành với phong cách văn
chương theo lối riêng này, tác giả đã khai thác một cách sáng tạo từ ngữ và trung thành với đặc điểm riêng của lối cú pháp Nam Bộ Những cố gắng này đã khắc họa phong cách khẩu ngữ trong văn chương của ông
Trong luận văn này, phân tích yếu tố khẩu ngữ trong HRCM được tiến
hành qua 2 bước
Bước 1: xây dựng cơ sở dữ liệu khái quát tính khẩu ngữ thể hiện trong từ ngữ
địa phương
Bước 2: Tính khẩu ngữ thể hiện trong các lớp từ và tên gọi
Chương 2 phản ánh các kết quả phân tích trong bước 1 Tính khẩu ngữ được rút ra qua đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân về mặt ngữ âm Chúng được
Trang 38sắp xếp lại theo thứ bậc TSXH Nội dung thứ hai ở chương 2 là bàn luận về đặc trưng phân bố từ loại của vốn từ
Ở bước 2, trọn chương 3, đưa ra những nhận xét liên quan đến một số đặc điểm từ vựng - ngữ pháp của những nhóm từ ngữ Nam Bộ đặc hữu khiến
trong HRCM có nhiều dấu ấn đặc biệt về khẩu ngữ Nam Bộ
2.2 Danh sách từ ngữ Nam Bộ trong HRCM
Trong HRCM, theo thống kê sơ bộ, Sơn Nam đã dùng 549 đơn vị từ ngữ địa phương Nam Bộ với TSXH là 2732 lượt Những đơn vị từ ngữ này có thể là
từ hoặc cụm từ Tiêu chuẩn để chọn chúng vào bản danh sách là chúng phải có tính thành ngữ Các cụm từ quá lỏng lẻo và tự do bị loại khỏi cơ sở dữ liệu
Trong bảng danh sách ở Phụ lục, các từ ngữ được sắp xếp theo quy ước thường dùng trong Ngôn ngữ học thống kê Trước hết chúng được xếp theo thứ
tự bậc TSXH Từ cùng một bậc được sắp xếp theo lượng truyện có xuất hiện chúng; những từ cùng bậc TSXH và lượng truyện thì được xếp theo thứ tự chữ
cái TSXH cao nhất trong vốn từ ngữ này là từ ổng (161 lần) và thấp nhất là từ
xụ mặt (1 lần) Kết quả khảo sát cho thấy: Bảng 2.1 dưới đây về quan hệ giữa
số lượng từ ngữ Nam Bộ, TSXH và hiệu lực thông tin của chúng:
Bảng 2.1:TSXH từ ngữ Nam Bộ HRCM và phân bậc TSXH theo hiệu lực thông tin
Chiếm % (tổng TS)
Trang 392 -161 383 69.76% 2566 93.92%
18 đơn vị từ ngữ đầu tiên có TSXH từ 21 đến 161 (chiếm 3.28% danh sách)
mà tổng TS đã lên tới 679, tức chiếm ~ 1/4 tổng lần xuất hiện các từ trong danh sách 73 từ ngữ đầu tiên từ TS 9 đến 161, chiếm 13.11% danh sách từ ngữ, nhưng quét tới 1/2 tổng TS Để có được số lần xuất hiện các từ trong danh sách tăng gấp 3.78 lần (93.92% danh sách), số lượng từ của danh sách phải tăng gấp 21.28 lần (toàn bộ từ ngữ có TSXH từ 2 đến 161)
Để tiện cho việc xem xét một số tương quan lượng gắn với các đặc điểm
từ vựng- ngữ pháp, chúng tôi đã tiến hành tách bảng danh sách tổng quát này ra hai nhóm nhỏ hơn, dựa trên quan hệ ngữ âm với các từ trong ngôn ngữ toàn dân
Cụ thể là, tồn tại 2 nhóm từ ngữ Nam Bộ sau đây trong danh sách chung:
1 Các từ ngữ có tương ứng ngữ âm với từ toàn dân
2 Các từ ngữ không có tương ứng ngữ âm với từ toàn dân
2.2.1 Nhóm tương ứng ngữ âm với từ toàn dân
Trong đoạn: "Chú lục mấy cái hủ để tìm nếp, chú hốt tạm vài nắm lúa, bắt
chảo lên bếp, nhúm lửa mà rang" [HRCM 1, 246], các từ địa phương Nam Bộ
được đánh dấu bằng in đậm Những từ này so với tiếng toàn dân, về nghĩa khá gần nhau, nhưng về âm thanh, thì một bộ phận nào đó có khác biệt Những khác biệt này được lặp đi lặp lại trong nhiều cặp từ khác nhau Ví dụ:
a Khác thanh điệu giữa hủ (NB) và hũ (TD) còn thấy trong:
ngủn ngơn (NB) ~ cũn cỡn (TD) thỏm (NB) ~ lõm (TD)
xả (tóc) (NB) ~ xoã (tóc)(TD)
b Khác âm chính giữa hốt (NB) và hót (TD) còn có ở các cặp:
cua ốp (NB) ~ cua óp (TD)
Trang 40rốc (NB) ~ róc (TD) xốn (mắt) (NB) ~ xót (mắt)(TD)
c Khác âm chính giữa nhúm (NB) và nhóm (TD) còn xuất hiện ở các cặp:
chụp (NB) ~ chộp (TD) cui cút (NB) ~ côi cút (TD) dũi (NB) ~ dỗi (TD)
d Khác âm cuối giữa bắt (NB) và bắc (TD) cũng còn thấy ở:
bắt tó (NB) ~ bắc tréo (TD) chặt áo (vô thùng) (NB) ~ mặc áo bỏ vào quần (TD) mắc (NB) ~ đắt (TD)
Những khác biệt này đến từ các giai đoạn phát triển lịch sử của tiếng Việt Chúng là những biến đổi ngữ âm có quy luật Ngữ âm học lịch sử gọi đó
là các tương ứng ngữ âm
Nhóm từ ngữ Nam Bộ ngữ âm chiếm 35.84% tổng số từ trong danh sách; tổng TSXH của chúng là 989 lượt, chiếm 34.97% tổng số lượt của từ địa phương nói chung Bảng 2.2 thể hiện tương quan thống kê giữa TSXH, bậc và
số lượng từ ngữ và hiệu lực thông tin của các từ ngữ trong nhóm này:
Bảng 2.2: TSXH từ ngữ Nam Bộ ngữ âm
Vùng (từ… đến) Tổng
(tần số)
Chiếm % (tổng TS) Số từ ngữ
Chiếm % (tổng từ ngữ)